1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động từ thực tiễn tỉnh bình dương

86 185 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 806,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của Bộ luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TĂNG VĂN HOÀNG

TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH TỪ THỰC TIỄN TỈNH

BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TUNG HÌNH SƯ

Hà Nội, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TĂNG VĂN HOÀNG

TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH TỪ THỰC TIỄN TỈNH

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH 8 1.1 Những vấn đề lý luận về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 8 1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 19 Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG ………29 2.2 Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự trong xét xử

vụ án về các tội xâm phạm sức khỏe của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương 29

Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG QUY

ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶCTỔN HẠI VỀ SỨC HỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH………49 3.1 Yêu cầu 49 3.2 Các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của Bộ luật hình sự

về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 56

KẾT LUẬN……… 75

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLHS :Bộ luật hình sự

BLTTHS :Bộ luật tố tụng hình sự

GS TS :Giáo sư Tiến sĩ

TANDTC :Toà án nhân dân tối cao XHCN :Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Con người là vốn quý nhất của xã hội, chính vì vậy, quyền con người nói chung, tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người nói riêng được pháp luật của tất cả quốc gia, trong đó có Việt Nam ghi nhận và bảo vệ

Hiến pháp năm 2013 của nước ta tại Điều 20 có quy định: “mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất

kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phận thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự nhân phẩm” Tháng 12 năm 2013 Việt Nam đã chính thức gia nhập Công ước

quốc tế về chống tra tấn năm 1984 thể hiện quyết tâm của Việt Nam, đảm bảo cho mọi người được hưởng quyền bất khả xâm phạm về thân thể

Để cụ thể hiến pháp năm 2013, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người tại Chương XIV, trong đó nhóm các tội xâm phạm tính mạng của con người gồm 13 tội danh được quy định tại các điều từ Điều 123 đến Điều 133 và các Điều 148,149 BLHS; nhóm các tội xâm phạm sức khỏe của con người gồm 7 tội danh được quy định tại các các điều từ Điều 134 đến Điều 140 BLHS; nhóm các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người gồm 14 tội danh được quy định tại các điều từ Điều 141 đến Điều 147 và các điều từ Điều 150 đến Điều 156 BLHS

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổ hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 135 BLHS năm 2015 So với Điều 105 BLHS năm 1999 về nội dung cấu thành tội phạm thì về cơ bản không có gì thay đổi Tuy nhiên, việc áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội phạm này cho đến nay vẫn tiếp tục gặp không ít khó khăn, vướng mắc

Trang 7

Bình Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam Bộ

và trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có nhiều khu công nghiệp lớn Bên cạnh những thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội, thì Bình Dương cũng

là một trong những địa bàn phức tạp về an ninh trật tự nói chung, về tình hình tội phạm nói riêng, trong đó có tình hình các tội xâm phạm sức khỏe

Mặc dù, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự của tỉnh Bình Dương, nhất là tòa án nhân dân đã nêu cao vai trò, trách nhiệm của mình trong việc điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm sức khỏe của người khác, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, đồng thời không làm oan người vô tội, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau mà việc áp dụng quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sưc khỏe nhất là tội cố ý gây thương tích hoặc gây hại cho sức khỏe của người khác vẫn còn những hạn chế, thiếu sót nhất định, cần phải khắc phục

Vì vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, chuyên sâu những vấn

đề lý luận, quy định của pháp luật thực định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nười khác và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương nhằm làm phong phú thêm những vấn đề lý luận, làm rõ những khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong thực hiện áp dụng qua đó kiến nghị những giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định của bộ luật hình sự năm 2015 về

tội phạm này là một đòi hỏi cấp bách Do đó, tác giả chọn đề tài: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động từ thực tiễn tỉnh Bình Dương” để nghiên cứu làm

luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự

2 Tình hình nghiên cứu

Ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người nói chung, về nhóm tội phạm xâm phạm sức khỏe của con người nói riêng

Trang 8

- Ở cấp độ giáo trình: có giáo trình Luật hình sự Việt Nam – phần các tội phạm do GS.TS Vô Khánh Vinh chủ biên được nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 2014 Trong giáo trình này có đề cập đến những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác, trong đó có tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng tinh thần bị kích động mạnh

Ngoài giáo trình này, còn có các giáo trình luật hình sự Việt Nam – phân các tội phạm của các cơ sở đào tạo ngành luật khác như khoa Luật – Đại học Quốc Gia; Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.v.v cũng đề cập đến tội phạm này ở khía cạnh lý luận và quy định của luật thực định

- Ở cấp độ bình luận khoa học BLHS, có cuốn Bình luận khoa học BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (phần các tội phạm) - quyển 1, do GS.TS Nguyễn Ngọc Hóa chủ biên, được nhà xuất bản tư pháp phát hành năm 2018, trong đó có bình luận tội cố ý gây thương tích gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do tinh thần bị kích động mạnh

- Ở cấp độ luận án, luận văn thạc sĩ: có nhiều luận án, luận văn thạc sĩ

đề cập đến tội phạm này, điển hình là luận án Tiến sĩ: “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sức khỏe từ thực tiễn tỉnh Hải Dương”, trong đó có

đề cập đến vấn đề trách nhiệm hình sự đồi với các tội xâm phạm sức khỏe nói chung, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người người khác do tinh thần bị kích động mạnh

- Ở cấp độ các bài báo cáo khoa học: có rất nhiều các bài báo khoa học liên quan đến chủ đề này đã được công bố tại các tạp chí chuyên ngành, điển

hình là bài: “Bàn về một số quy định của BLHS năm 2015 về các tội xâm phạm sức khỏe” của tác giả Nguyễn Huy Tài – Tạp chí Kiểm sát số 4 – 2018;

Trang 9

bài: “Một số ý kiến về tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 134 BLHS năm 2015” của tác giả Phan Minh Tuyên, Tạp chí Tòa án nhân dân số 12 (Kỳ II tháng 6/2018); bài: “Kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quy định về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác trong BLHS năm 2015 và những giải pháp đảm bảo áp dụng” của tác

giả Nguyễn Duy Hữu, Tạp chí Tòa án nhân dân số 24 (Kỳ II tháng 12/2016);

bài: “Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” của tác giả Vũ Thị Tố Nga, Tạp chí Kiểm sát số 7/2016; bài: “Một số vấn đề cần lưu ý khi áp dụng tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Điều

125 BLHS năm 2015” của tác giả Đặng Thu Hiền, Tạp chí Nghề luật số tháng

5/2016.v.v Như vậy, mặc dù có rất nhiều công trình khoa học đề cập đến tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở các cấp

độ khác nhau Song do mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của các công trình đó thấy rằng, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách

hệ thống, toàn diện, chuyên sâu về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh từ thực tiễn ở một địa bàn cụ thể là tỉnh Bình Dương Qua đây có thể xác định nội dung của luận văn không trùng với các công trình khoa học đã được công bố về chủ đề này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của BLHS năm

1999 và BLHS năm 2015 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và thực tiễn

áp dụng tại tỉnh Bình Dương, luận văn hướng tới việc thiết lập các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của BLHS về tội phạm này

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Phân tích, luận giải làm rõ những vấn đề lý luận về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác

có liên quan

- Bình luận, đánh giá các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người khác, chỉ ra những bất cập, những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng

- Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy địn của BLHS và tội cố

ý gây thương tíc hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, chỉ ra những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân

- Đưa ra các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của BLHS năm 2015 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái bị kích động mạnh

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm:

Những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự và tội cố ý thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái bị kích động mạnh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trong phạm vi lý luận chuyên ngành Luật

hình sự về: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của

Trang 11

người khác trong trạng thái bị kích động mạnh” từ thực tiễn áp dụng các quy

định đó tại tỉnh Bình Dương trong thời gian 2014 – 2018

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm của Đảng và Nhà nước về áp dụng pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tình hình tội phạm

5.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Luận văn sử dụng đồng bộ, kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây để làm rõ những vấn đề thuộc nội dung luận án như: phân tích, tổng hợp,

so sánh, thống kê, chuyên gia

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự về

tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Trang 12

Chương 2: Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về

tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh tại tỉnh Bình Dương

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định của

pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG

TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH

1.1 Những vấn đề lý luận về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1.1.1 Khái niệm

Dựa trên khái niệm về tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS hiện hành và quy định của Điều 135 Bộ luật này, về mặt lý luận có thể hiểu tội cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng

thái tinh thần bị kích động mạnh một cách đầy đủ là “hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định trong BLHS Điều 135 do người có năng lực

và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của con người”

Từ khái niệm này cho thấy, là một trong những tội phạm do BLHS quy định, do vậy có những dấu hiệu chung của tội phạm, đồng thời cũng có những dấu hiệu giống tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 BLHS Tuy nhiên, đây là một trường hợp cố ý thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt, vì thế cũng có những dấu hiệu pháp lý khác với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 BLHS

Trang 14

1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm này

1.1.2.1 Các dấu hiệu định tội

Các dấu hiệu định tội của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được phản ánh trong cấu thành tội phạm cơ bản quy định tại Điều 135 BLHS Đây

là mô hình pháp lý để định tội Căn cứ vào quy định của Pháp luật hình sự Việt Nam, tội phạm này có các dấu hiệu pháp lý đặc trưng cơ bản sau đây:

- Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm:

Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đã làm cho người phạm tội lâm vào tình trạng tinh thần bị kích động mạnh Hành

vi khách quan của tội phạm này chỉ có thể được thực hiện bằng hành động cụ thể như: đâm, chém, đấm, đá.v.v…

Như vậy, hành vi khách quan của tội phạm này có hai loại: hành vi gây thương tích và hành vi gây tổn hại về sức khỏe Hai hành vi này về cơ bản là giống nhau về phương tính thực hiện hành vi, nhưng khác nhau ở hậu quả của hành vi

- Dấu hiệu hậu quả của tội phạm:

Hậu quả của tội phạm này là hậu quả thương tích (hậu quả của hành vi gây thương tích) hoặc hậu quả tổn hại về sức khỏe (hậu quả của hành vi gây tổn hại về sức khỏe của người khác)

Đối với hành vi gây thương tích thì hậu quả do hành vi gây ra phải để lại những thương tích trên cơ thể của người bị hại, còn đối với hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì không để lại thương tích mà chỉ có thể làm giảm đáng kể tình trạng sức khỏe của người bị hại Theo quy định của pháp luật thì người có hành vi gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này trong trường

Trang 15

hợp hành vi của họ đã gây ra hậu quả thương tích hoặc hậu quả tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên, tỷ lệ tổn thương về cơ thể này được BLHS quy định là dấu hiệu bắt buộc để định tội

- Dấu hiệu chủ thể:

Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ

16 tuổi trở lên nhưng phải là người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân Theo quy định của Nghị quyết số 04/HĐTPTANDTC ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phám TANDTC hướng dẫn áp dụng một

số quy định trong phần các tội phạm của BLHS thì: “Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình” [36, tr.2

Theo hướng dẫn này, thì trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trạng thái tâm lý căng thẳng, ức chế thần kinh, làm cho người ở trong trạng thái này không còn nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi

mà họ thực hiện như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức mà điều khiển hành vi tức là chưa đến mức ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 21 BLHS

Nguyên nhân gây ra trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ở người phạm tội phải là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của chính nạn nhân Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng ở đây có thể cấu thành tội phạm, có thể chưa hoặc không cấu thành tội phạm mà chỉ là những vi phạm pháp luật khác Song dù là trong trường hợp nào thì hành vi trái pháp luật của nạn nhân phải ở mức độ nghiêm trọng Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có thể chỉ là một hành vi cụ thể, tức thời dẫn tới trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội Nhưng cũng có trường hợp, hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là chuỗi những hành vi cụ thể khác nhau diễn ra

Trang 16

lặp đi lặp lại trong một thời gian dài và liên tục tác động đến tinh thần của người phạm tội làm cho họ bị dồn nén về tâm lý đến cao độ và lâm vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có thể đối với bản thân người phạm tội hoặc có thể đối với người thân thích của người phạm tội

Ngoài ra theo Nghị quyết 04/HĐTPTANDTC ngày 28-29/11/1986 đã hướng dẫn và áp dụng một số quy định các tội phạm của Bộ luật Hình sự về trạng thái tinh thần bị kích động và hành vi trái pháp luật nghiêm trọng Giết người trong tình trạng bị kích động mạnh - do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người

đó Đây là khung hình phạt giảm nhẹ (khoản 3)

- Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh

Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó tuy làm cho người phạm tội bị kích động mạnh, nhưng nói chung chưa đến mức là phạm tội Nếu hành vi trái pháp luật đó trực tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc lợi ích hợp pháp của người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội hoặc của xã

Trang 17

hội, đã cấu thành tội phạm, thì hành vi chống trả lại gây chết người có thể được xem là trường hợp phòng vệ chính đáng (theo Điều 13) hoặc do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (theo Điều 102)

Trong trường hợp cá biệt hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân cấu thành tội phạm nhưng là tội phạm ít nghiêm trọng (như tội làm nhục

người khác, tội vu khống) thì cũng được coi là giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh và được xử lý theo Điều 101, khoản 3 Thí dụ: hai anh em đồng hao ở chung nhà bố mẹ vợ, người anh thường xuyên làm nhục thô bạo và trắng trợn vu khống người em, đến thời điểm nào đó lại lăng nhục người em nên người anh bị em giết

- Dấu hiệu lỗi của chủ thể:

Lỗi của người phạm tội này có thể là cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp, nhưng chủ yếu là cố ý gián tiếp

Trường hợp cố ý trực tiếp phạm tội này là trường hợp người phạm tội nhận thức được (tuy chưa đầy đủ) tính chất mức độ của hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân, thấy được hậu quả thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe ở mức độ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên, nhưng vẫn mong muốn gây ra hậu quả này cho nạn nhân

Còn trường hợp cố ý gián tiếp phạm tội này là trường hợp người phạm tội nhận thức được tinh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, thấy được hậu quả thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe ở mức độ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra

Khi xác định lỗi của người phạm tội này cần lưu ý: mức độ lỗi của chủ thể là hạn chế, bởi họ thực hiện hành vi phạm tội trong tình trạng khả năng nhận thức và điều khiển hành vi đều hạn chế, mặt khác tình trạng đó lại do

Trang 18

1.1.2.2 Các dấu hiệu định khung hình phạt

Ngoài những dấu hiệu định tội nêu trên, đối với tội phạm này, nhà làm luật còn quy định một số tình tiết là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng,

cụ thể là:

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên

mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% trở lên

Đây là những trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên, nhưng bắt buộc tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người phải từ 31% trở lên, nếu chỉ có một nạn nhân có tỷ lệ tổn thương cơ thể

từ 31% trở lên thì không thuộc trường hợp tăng nặng này

- Gây thương tích hoặc gây tổn hạn cho sức khỏe của người khác mà tỷ

lệ tổn thương cho sức khỏe từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người

Đây là trường hợp nạn nhân có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên Còn trường hợp dẫn đến chết người là trường hợp nạn nhân chết do bị gây thương tích hoặc gây tổn hại về sức khỏe và lỗi của người phạm tội đối với hậu quả chết người là lỗi vô ý (có thể vô ý vì quá tự tin, có thể vô ý do cẩu thả) Như vậy đối với trường hợp này, giữa hành vi gây thương tích, hậu quả thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe với hậu quả chết người phải có mỗi quan

hệ nhân quả với nhau

Trên đây là những dấu hiệu pháp lý đặc trưng, điển hình của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Những dấu hiệu pháp lý này là căn cứ pháp

lý để đối chiếu với những tình tiết thực tế của vụ án khi định tội danh cũng như khi xác định khung hình phạt cần áp dụng

Trang 19

1.1.3 Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với một số tội phạm khác có liên quan

1.1.3.1 Phân biệt với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015

Nghiên cứu dấu hiệu pháp lý của hai tội phạm này cho thấy giữa chúng

có những điểm khác nhau cơ bản sau đây:

- Một là, trạng thái tinh thần của người phạm tội:

+ Ở tội quy định tại Điều 134 BLHS trạng thái tinh thần của người phạm tội khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác không được BLHS quy định là dấu hiệu bắt buộc để định tội

+ Còn ở tội quy định tại Điều 135 BLHS thì “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” của người phạm tội khi thực hiện hành vi gây thương tích

hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân được BLHS quy định là dấu hiệu bắt buộc để định tội

- Hai là, nạn nhân của tội phạm

Nếu nạn nhân của tội quy định tại Điều 134 BLHS là bất kỳ ai thì nạn nhân của tội quy định tại Điều 135 BLHS bắt buộc phải là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội

- Ba là, Mức độ hậu quả gây ra (tỷ lệ tổn thương về cơ thể)

+ Nếu ở tội quy định tại Điều 134 BLHS thì tỷ lệ tổn thương về cơ thể của nạn nhân chỉ từ 11% trở lên là xử lý hình sự

+ Còn ở tội quy định tại Điều 135 BLHS thì tỷ lệ tổn thương về cơ thể của nạn nhân phải từ 31% trở lên mới xử lý hình sự

Trang 20

1.1.3.2 Phân biệt với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích

động mạnh quy định tại Điều 125 Bộ luật hình sự năm

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh so với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 BLHS) có một số điểm giống nhau ở chỗ:

- Trạng thái tinh thần của người phạm tội lúc thực hiện hành vi phạm tội là bị kích động mạnh bởi hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân

- Nạn nhân của cả 2 tội phạm này phải là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội và hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân phải là nguyên nhân làm cho người phạm tội bị kích động mạnh về tinh thần

- Lỗi của người thực hiện hai tội này đều là lỗi cố ý

Tuy nhiên, hai tội này vẫn có sự khác nhau nhất định, cụ thể là:

- Khách thể của tội cố ý giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tính mạng con người; còn khách thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần

bị kích động mạnh chủ yếu là sức khỏe con người

- Hậu quả của giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hậu quả chết người; còn hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hậu quả thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên

- Lỗi, mục đích của người phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần

bị kích động mạnh là cố ý tước đi tính mạng của nạn nhân, do vậy khi thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng của nạn nhân, người phạm tội thấy trước

Trang 21

được hậu quả chết người xảy ra; còn lỗi, mục đích của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe nạn nhân, không mong muốn nạn nhân chết Trường hợp, hành vi gây thương tích và hâu quả của thương tích dẫn đến chết người trong thì hậu quả nằm ngoài ý muốn của người phạm tội (vô ý đối với hậu quả chết người) Tuy nhiên, trong trường hợp người phạm tội không quan tâm đến hậu quả của hành vi mà họ thực hiện là hậu quả chết người hay hậu quả thương tích, tức là

có ý thức phó mặc cho hậu quả xảy ra thì hậu quả thực tế đến đâu người phạm tội phải chịu đến đó Nếu hậu quả là chết người thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125); còn nếu hậu quả xảy ra là hậu quả thương tích hoặc tổn hại

về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135)

1.1.3.3 Phân biệt với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Nghiên cứu các dấu hiệu của hai tội phạm này cho thấy, hai tội phạm này có cùng khách thể là sức khỏe của con người, cùng hình thức lỗi cố ý và cùng chủ thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự

Do vậy, hai tội phạm này chỉ có thể phân biệt được dựa vào các dấu hiệu sau:

- Một là, Nạn nhân của tội phạm:

+ Nạn nhân của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều136 BLHS) bắt buộc phải là người đang thực hiện hành vi xâm phạm lợi ích của nhà nước, của tổ chức, quyền là lợi ích chính đáng của người phạm tội hoặc của người khác, còn nạn nhân của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho

Trang 22

sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chỉ là người đã thực hiện hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội

- Hai là, Lý do phạm tội

+ Ở tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì lý do phạm tội là: muốn bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác cũng như lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức;

+ Còn ở tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì lý do chủ yếu dẫn tới việc phạm tội là do tinh thần của người phạm tội bị kích động mạnh bởi hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân

1.1.3.4 Phân biệt với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” được quy định tại, Điểm e, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Nếu so sánh thấy rằng, cả hai trường hợp này người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội đều ở trong tình trạng tinh thần bị kích động do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra Do vậy, khả năng kiểm soát, điều khiển hành vi hành vi của họ đều bị hạn chế Tuy nhiên, hai trường hợp này khác nhau cơ bản là ở mức độ tinh thần bị kích động

Đối với trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì tinh thần của người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội bị kích động mạnh

Còn ở trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS (tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự) thì tinh thần của người phạm tội tuy cũng bị kích động nhưng chưa đến mức độ kích động mạnh, tức là chưa đến mức làm giảm đáng kể khả năng tự chủ, điều khiển hành vi phạm tội

Trang 23

Mặt khác, tình tiết: “Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” được quy

định là dấu hiệu định tội của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135)

Còn tình tiết: “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành

vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” được BLHS quy định là tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự chung cho mọi trường hợp phạm tội, trong đó có tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS) Do vậy, tình tiết này không có giá trị định tội mà chỉ có giá trị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội

Về nguyên nhân dẫn đến tình trạng tinh thần bị kích động của hai trường hợp này cũng có sự khác nhau nhất định Đối với trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì nguyên nhân dẫn đến tình trạng này

ở người phạm tội là: “hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội”; còn ở

trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS thì nguyên nhân dẫn đến tình trạng bị kích động về tinh thần chỉ là hành vi trái pháp luật của nạn nhân, không đòi hỏi phải ở mức độ kích động mạnh

Tóm lại, có phân biệt được tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với các tội phạm khác có liên quan thì việc định tội danh mới được đúng đắn, hạn chế đến mức thấp nhất sự nhầm lẫn giữa tội phạm này với các tội phạm khác

có liên quan

Trang 24

1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1.2.1 Khái quát quá trình quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ở Việt Nam giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015

1.2.1.1 Giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Để có cơ sở pháp lý đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong đó có các tội xâm phạm sức khỏe con người, Nhà nước ta ngoài việc chấp nhận sử dụng luật lệ của chế độ cũ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới quy định tội phạm và hình phạt

Đối với tội cố ý gây thương tích thì đến tận năm 1955 mới được chính thức quy định tại Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng

Chính phủ Tại Điểm 3 của Thông tư này có quy định: “Đánh bị thương phạt

tù từ 3 tháng đến 5 năm”; “Đánh bị thương có tổ chức hay gây thành cố tật, hay gây chết người có thể phạt tù đến 20 năm” 34, tr 326 Mặc dù việc quy định tội cố ý gây thương tích trong Thông tư này còn hết sức đơn giản, nhưng đây là văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước ta trực tiếp quy định tội phạm xâm hại đến sức khỏe con người

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, góp phần bảo đảm an ninh trật tự, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành sắc luật số 03/SL-76 ngày 15/3/1976 quy định tội phạm và hình phạt đối với 7 nhóm tội phạm khác nhau, trong đó có các tội gây thương tích cho người khác Cũng trong giai đoạn này, Tòa án nhân dân Tối cao đã ban hành Chỉ thị số 07/TANDTC-CT ngày 22/12/1983 về việc xét xử các hành vi xâm

Trang 25

phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Như vậy, trong giai đoạn này, các tội xâm phạm sức khỏe của người khác mới chỉ được quy định trong các văn bản dưới luật bằng các hình thức sắc luật, thông tư… Điều này cũng thể hiện được bước tiến bộ nhất định về kỹ thuật lập pháp hình sự của nước ta

1.2.1.2 Quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm

1999 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Năm 1985, BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 9 chính thức thông qua, đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật hình sự Việt Nam Trong Bộ luật này, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người được chính thức quy định tại Chương II, Phần các tội phạm của Bộ luật này, gồm 18 điều Trong đó có 17 điều quy định các tội phạm cụ thể và hình phạt chính đối với các tội phạm đó (Từ Điều 101 đến Điều 117), một điều quy định hình phạt bổ sung (Điều 118) Chương II BLHS năm 1985 lúc mới ban hành chỉ quy định 03 tội xâm phạm sức khỏe của người khác, gồm: Điều

103 – Tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ; Điều 109 – Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và điều 110 – Tội vô ý gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khỏe của người khác Như vậy, lúc mới ban hành vào năm

1985, Bộ luật này chưa quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh tại một điều luật độc lập của Chương II mà chỉ quy định trường hợp phạm tội này dưới dạng cấu thành tội phạm giảm nhẹ của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại khoản 4 Điều 109 Từ khi BLHS đầu

Trang 26

tiên được ban hành đã qua 4 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991,

1992 và 1997 Các tội xâm phạm sức khỏe của con người được sửa đổi, bổ sung vào lần thứ nhất (năm 1989) Cụ thể là đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 109), Luật sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1985 có bổ sung tại khoản 2, Điều 109 thêm một trường hợp: “Gây thương tích cho nhiều người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người (điểm d) và tại khoản 3, bổ sung thêm cụm từ “hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác”

BLHS năm 1985 ra đời và qua bốn lần sửa đổi, bổ sung thực sự là công

cụ pháp lý quan trọng, góp phần thiết thực trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta trong giai đoạn mới, đánh dấu một mốc mới trong sự phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam Điểm mới trong chính sách hình sự của Nhà nước ta về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự của con người là không chỉ đặt vị trí quan trọng của nhóm tội phạm này chỉ sau nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia mà còn sắp xếp các tội phạm này theo từng nhóm nhỏ dựa vào khách thể mà tội phạm xâm hại để đảm bảo chặt chẽ về mặt kỹ thuật lập pháp

Sau khi BLHS đầu tiên được ban hành, TANDTC đã có một số văn bản hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật này Điển hình là: Nghị quyết số 04/NQTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS; Công văn số 03/TATC ngày 22/10/1987 của TANDTC hướng dẫn về Điều 109/BLHS; Nghị quyết số 01/89-HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của BLHS…

Mặc dù ngay từ ngày được ban hành cho đến khi chấm dứt hiệu lực, BLHS năm 1985 đã có 4 lần sửa đổi, bổ sung nhưng các lần sửa đổi, bổ sung

Trang 27

này chỉ mang tính chất tình thế, đáp ứng yêu cầu trước mắt của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Trong khi đó, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong nước cũng như khu vực và quốc tế đã có nhiều thay đổi, nhiều quy định của BLHS năm 1985 đã trở nên bất cập, đặc biệt là một số hành vi được quy định là tội phạm trong Bộ luật này không còn phù hợp nữa Trong xã hội xuất hiện nhiều hành vi mới nguy hiểm cho xã hội cần phải được tội phạm hóa… Điều đó đặt ra nhu cầu phải ban hành một BLHS mới thay thế BLHS năm 1985 để kịp thời thể chế hóa chính sách hình sự của Đảng

và Nhà nước ta trong giai đoạn mới, bảo đảm hiệu quả cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

Ngày 21/12/1999, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa chính thức thông qua BLHS mới thay thế BLHS năm 1985 (sau đây gọi là BLHS năm 1999) So với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung toàn diện hơn, thể hiện chính sách hình sự mới của Đảng và Nhà nước đối với tội phạm nói chung và đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người nói riêng Trong BLHS năm 1999, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người được quy định tại chương XII – Phần các tội phạm của BLHS (chỉ xếp sau chương các tội xâm phạm an ninh Quốc gia) Chương XII của BLHS năm 1999 quy định 30 tội danh cụ thể từ Điều 93 đến Điều 122, trong đó các tội xâm phạm sức khỏe của con người gồm tội cụ thể được quy định từ Điều 104 đến Điều 109 Những điểm mới cơ bản của BLHS năm 1999 về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người là: 5 tội trong BLHS năm

1985 được BLHS năm 1999 tách thành 12 tội; quy định thêm 4 tội danh mới; chia nhỏ các khung hình phạt và hình phạt bổ sung không quy định riêng tại một điều luật mà đưa vào các điều luật cụ thể và bổ sung thêm hình phạt tiền đối với 3 tội; tăng nặng hình phạt trong 6 tội danh và bổ sung một số tình tiết

Trang 28

tăng nặng định khung; quy định cụ thể tỷ lệ thương tật trong các điều luật [5,tr.47] Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hai cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 109 BLHS năm 1985 được tách thành 3 tội quy định tại các điều:

 Điều 104: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

 Điều 105: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh;

 Điều 106: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Điều 105 quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh như sau:

“1 Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến hai năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a Đối với nhiều người;

b Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ

lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” [5, tr.129]

So với quy định của khoản 4 Điều 109 BLHS năm 1985 thấy rằng, ngoài việc tách trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thành một tội độc lập và quy định tại một đièu luật độc lập, BLHS năm 1999 còn có một

Trang 29

số sửa đổi, bổ sung nhất định về nội dung cấu thành của tội phạm và hình phạt Cụ thể là quy định bổ sung dấu hiệu tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên trong cấu thành tội phạm làm ranh giới giữa xử phạt hành chính và xử lý hình sự; quy định bổ sung cấu thành tội phạm tăng nặng tại khoản 2 Điều 104 với

các tình tiết định khung tăng nặng là: “Đối với nhiều người”, “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác”.1, tr.129 Đồng thời quy định khung hình phạt tăng nặng đối với những trường hợp này có mức phạt tù từ một năm đến năm năm

Việc sửa đổi, bổ sung nêu trên đã thể hiện rõ nét chính sách hình sự, đường lối xử lý có phân biệt, phân hóa của Đảng và Nhà nước ta đối với các tội xâm phạm sức khỏe con ngừơi, đáp ứng yêu cầu nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt của Luật hình sự Việt Nam Đồng thời việc sửa đổi, bổ sung này còn tạo cơ sở pháp lý vững chắc, thống nhất cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, các tội xâm phạm sức khỏe con người nói riêng ở nước ta có hiệu quả

1.2.2 Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần

bị kích động mạnh

BLHS năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua Tại kỳ họp thứ

10 ngày 27/11/2015 để thay thế BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Mặc dù chưa được áp dụng, nhưng Bộ luật này lại tiếp tục sửa đổi, bổ sung vào ngày 26/6/2017 nhằm khắc phục những sai sót kỹ thuật lập pháp và những quy định chưa hợp lý, khó áp dụng trong thực tiễn của Bộ luật này BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 Việc ban hành

cũng như sửa đổi, bổ sung Bộ luật này trong thời gian qua là “nhằm phát huy hơn nữa vai trò của BLHS với tư cách là công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu

Trang 30

trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, bảo vệ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng, đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường xã hội và môi trường sinh thái an toàn, lành mạnh cho mọi người dân Đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế” [tr.22] BLHS năm 2015

Trong BLHS năm 2015, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người được quy định tại Chương XIV, Phần các tội phạm của BLHS Chương này gồm 34 điều (từ Điều 123 đến Điều 156), quy định các tội danh cụ thể, được sắp xếp thành ba nhóm:

- Nhóm các tội xâm phạm tính mạng (gồm 13 tội danh được quy định

tại các điều từ Điều 123 đến Điều 133 và các điều 148, 149 BLHS)

- Nhóm các tội xâm phạm sức hỏe (gồm 7 tội danh được quy định tại các điều từ Điều 134 đến Điều 140 BLHS)

- Nhóm các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự (gồm 14 tội danh được quy định tại các điều từ Điều 141 đến Điều 147 và các điều từ Điều 150 đến Điều 156 BLHS)

So với Chương XII của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), trong Chương XIV của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung của năm 2017) có

bổ sung mới 4 điều, sửa đổi 30 điều

Tại chương này, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 135 BLHS với nội dung là:

“1 Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại về sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương có thể từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân tích của người đó, thì bị phạt tiền từ

Trang 31

10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm”

2 Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù

từ 06 tháng đến 03 năm

a Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên

mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

b Gây thương tích hoặc gây tổn hại về sức khỏe của người khác mà tỷ

lệ tổn thưởng cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người” [tr.112-113]

So với quy định tại Điều 105 BLHS năm 1999, thì Điều 135 BLHS năm 2015 có những sửa đổi, bổ sung mới sau đây:

- Khoản 1 sửa đổi theo hướng bổ sung hình phạt chính là hình phạt tiền (từ 10 triệu – 50 triệu đồng), bãi bỏ (phi hình phạt hóa) hình phạt tù và hình phạt cảnh cáo;

- Khoản 2 điều chỉnh mức phạt theo hướng nhẹ hơn Nếu khoản 2 Điều

105 BLHS năm 1999 quy định phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, thì khoản 2 Điều 135 BLHS năm 2015 quy định phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Ngoài ra, tại khoản 2 của Điều 135 còn thay một số thuật ngữ như: “tỷ

lệ thương tật” thay bằng “tỷ lệ tổn thương cơ thể”; thuật ngữ “đối với nhiều người” thành “đối với 02 người trở lên”

Việc sửa đổi này để phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khắc phục những bất cập, khó khăn trong thực tiễn

áp dụng Mặt khác, việc sửa đổi này còn thể hiện một trong những chủ trương lớn trong cải cách Tư pháp là: “Đổi mới chính sách hình sự theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội” [4,tr.3]

Qua đây thấy rằng, Điều 135 BLHS năm 2015 mới chỉ tập trung sửa đổi quy định về hình phạt và kỹ thuật lập pháp, còn nội dung cấu thành tội

Trang 32

phạm của tội phạm này dường như kế thừa quy định của Điều 105 BLHS năm

1999

Kết luận chương 1

Chương 1 của luận văn tập trung nghiên cứu, luận giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trên các bịnh diện: khái niệm các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, điển hình của tội phạm này (cả những dấu hiệu định tội và những dấu hiệu định khung hình phạt) Thêm vào đó, tại chương này còn đề cập đến vấn đề phân biệt tội phạm này với các tội phạm khác có liên quan Kết quả nghiên cứu này thực sự là cơ sở

lý luận để đánh giá thực tiễn, đồng thời góp phần làm phong phú thêm lý luận chuyên ngành Luật hình sự về một tội phạm cụ thể

Ngoài ra, tại Chương 1 của luận văn còn phân tích, đánh giá quá trình quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong giai đoạn trước khi ban hành BLHS năm 2015 và trong BLHS 2015; chỉ ra những mặt tích cực cũng như những bất cập, những hạn chế của pháp luật hình sự qua các thời kỳ cần phải sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong các giai đoạn khác nhau của đời sống xã hội

Những kết quả nghiên cứu của chương này thực sự là cơ sở lý luận và pháp lý để luận văn xây dựng các giải pháp hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành cũng như giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của BLHS này trong quá trình giải quyết các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức hỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH

SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG

2.1 Khái quát tình hình xét xử các vụ án về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh dự của con người

Theo số liệu thống kê của TAND tỉnh Bình Dương về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh dự của người khác (trong đó có tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh) cho thấy, trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018, TAND của tỉnh Bình Dương đã thu lý giải quyết tổng số 1.276

vụ với 1.937 bị cáo phạm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh, dự của người khác, trong đó: Chuyển hồ sơ là 4 vụ với 5 bị cáo, đình chỉ vụ án là 31 vụ với 48 bị cáo, trả hồ sơ cho Viện kiểm sát là 140 vụ với 270

bị cáo (có 15 vụ Viện kiểm sát không chấp nhận yêu cầu của Tòa án); còn lại đưa ra xét xử tổng số 1.101 vụ với 1.614 bị cáo Trong số vụ án mà TAND tỉnh Bình Dương xét xử có 100 vụ án điểm hoặc xét xử lưu động; 01 vụ xử theo thủ tục rút gọn [tr.36] Ở giai đoạn này, trung bình mỗi năm TAND của tỉnh Bình Dương đã xét xử khoảng 220 vụ với 322 bị cáo và không có vụ án tồn đọng Trong tổng số các vụ án và bị cáo phạm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác mà TAND tỉnh Bình Dương thụ lý giải quyết có: 784 vụ với 1.278 bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người khác (Điều 104 BLHS năm 1999) chiếm 61,44% về số vụ và 65,97% về số bị cáo; 03 vụ với 03 bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105 BLHS năm 1999) chiếm 0,23% số

Trang 34

vụ và 0,15% số bị cáo; 01 vụ với 01 bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106 BLHS năm 1999) chiếm 0,07% về số vụ và 0,05% về số bị cáo Trong tổng số 784 và 1.278 bị cáo phạm các tội xâm phạm sức khỏe của người khác mà TAND tỉnh Bình Dương phải giải quyết có 637 vụ với 1.061 bị cáo đã được xét xử theo quy định tại Điều 104 BLHS năm 1999 (chiếm 81,25% về số vụ và 83,02% về số bị báo); 03 vụ với 03 bị cáo bị xét

xử về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đều được đưa ra xét xử (chiếm 100%); còn 01 vụ với 01 bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức hỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng bị đình chỉ vụ án, không đưa ra xét xử sơ thẩm

2.2 Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự trong xét xử vụ án về các tội xâm phạm sức khỏe của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương

2.2.1 Những kết quả đạt được

Áp dụng pháp luật hình sự trong xét xử vụ án về các tội xâm phạm sức khỏe nói chung, về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nói riêng là hoạt động thực tiễn pháp lý nhằm đưa các quy phạm pháp luật hình sự quy định về các tội phạm này vào đời sống thực tế Nội dung áp dụng pháp luật hình sự của TAND hết sức đa dạng, bởi pháp luật hình sự quy định vấn đề gì về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác thì TAND khi xét xử sơ thẩm các vụ việc này sẽ áp dụng quy định đó để giải quyết vụ án

Song do khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, người nghiên cứu tập trung đánh giá hai nội dung cơ bản của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự,

đó là định tội danh và quyết định hình phạt trong xét xử các vụ án xâm phạm

Trang 35

sức khỏe của người khác, trong đó có các vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Việc đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong xét xử các vụ án này cần đánh giá cả hai phương diện: Những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân nhưng chủ yếu trong định tội danh và quyết định hình phạt

Qua số liệu thống kê được trình bày ở mục 2.1 cho thấy, số vụ án về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác chiếm đa số trong tổng các vụ án

về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người được đưa ra xét xử (788/1.101 vụ với 1.282/1.614 bị cáo) Trong đó số vụ và

bị cáo mà TAND tỉnh Bình Dương xét xử về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là 03 vụ với 03 bị cáo Việc định tội danh và quyết định hình phạt trong xét xử các vụ án này của TAND tỉnh Bình Dương về cơ bản đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Tất cả các vụ án về các tội xâm phạm sức khỏe của người khác mà TAND tỉnh Bình Dương đưa ra xét xử đều được xét xử kịp thờì, nghiêm minh theo quy định của pháp luật Kết quả tích cực này được thể hiện trong cả hoạt động đánh tội danh và cả hoạt động hình phạt Cụ thể là:

* Thứ nhất, Trong định tội danh, do nhận thức đúng đắn bản chất, căn

cứ, quy trình, mục đích, ý nghĩa của hoạt động định tội danh và đánh giá đúng tính chất của hành vi mà các bị cáo thực hiện trên thực tế, cũng như những tình tiết khác có liên quan đến vụ án nên khi xét xử, TAND tỉnh Bình Dương luôn lựa chọn đúng tội danh để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, không để xảy ra nhầm lẫn giữa tội phạm này với tội phạm khác trong trường hợp có nhiều bị cáo trong một vụ án nhưng thực hiện những hành vi phạm tội khác nhau Vụ án sau đây là một minh chứng:

Trang 36

Tại bản án số 01/2018/HS-ST ngày 12/01/2018 của TAND tỉnh Bình Dưng xét xử 03 bị cáo: Nguyễn Đình Tùng, Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Trọng Hiếu về ba tội danh khác nhau Cụ thể là bị cáo Nguyễn Đình Tùng về tội giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS năm 1999, xử phạt bị cáo 10 năm

tù Bị cáo Nguyễn Anh Tuấn về tội cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều

104 BLHS năm 1999, xử phạt bị cáo 02 năm tù Bị cáo Nguyễn Trọng Hiếu

về tội cố ý gây rối trật tự công cộng theo khoản 1 Điều 245 BLHS năm 1999,

xử phạt bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo Trên cơ sở nội dung vụ

án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Khoảng 23 giờ ngày 26/10/2016, tại cửa hàng nội thất Sofa Hoàng Gia Huy II thuộc tổ 17, khu phố Bình Phước A, phường Bình Chuẩn, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, đã xảy ra vụ đánh nhau giữa các bị cáo Nguyễn Đình Tùng, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Trọng HIếu và các bị cáo là Huỳnh Văn Hiệp, Huỳnh Anh Tuấn Sau khi bị cáo Huỳnh Văn Hiệp dùng mũ bảo hiểm xe máy đánh vào đầu, bị cáo Tùng đã lấy con dao bấm đâm ông Huỳnh Văn Hiệp 02 nhát vào người làm ông Hiệp tử vong Bị cáo Nguyễn Anh Tuấn và bị cáo Nguyễn Trọng Hiếu dùng hung khí (thanh gỗ và thanh sắt) hò la, đuổi đánh Huỳnh Anh Tuấn gây náo loạn tại khu vực gây án Khi đuổi kịp Huỳnh Anh Tuấn, bị cáo Nguyễn Anh Tuấn đã dùng thanh gỗ đánh trúng vào mũi người bị hại, gây tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12% Trong vụ án này hành vi của các bị báo đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, gây hậu quả cho tính mạng, sức khỏe của con người Tuy nhiên, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, thỏa thuận thống nhất ý chí trước khi thực hiện hành vi phạm tội, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà bị cáo trực tiếp thực hiện và hậu quả do chính hành vi của họ gây ra

Trang 37

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án này, còn có những quan điểm khác nhau về vấn đề xử lý trách nhiệm hình sự của bị cáo Tùng Cụ thể

là trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Tùng, đề nghị Hội đồng xét

xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93 xử phạt bị cáo Tùng từ 13 năm đến 15

năm tù về tội giết người, có tình tiết tăng nặng hình phạt là “phạm tội có tính chất côn đồ” Luật sư bào chữa cho bị cáo Tùng thì cho rằng, Viện kiểm sát truy tố, đề nghị xét xử bị cáo Tùng phạm tội “có tính chất côn đồ” theo điểm

n khoản 1 Điều 93 BLHS năm 1999 là chưa phù hợp, thiếu khách quan, bởi bị cáo hoàn toàn không có ý định tước đoạt tính mạng của ông Hiệp, tuy cầm dao nhưng bị cáo Tùng chỉ đâm ông Hiệp khi ông dùng mũ bảo hiểm đánh trúng vào trán Khi ông Hiệp dùng mũ bảo hiểm đánh tiếp, bị cáo Tùng lùi lại

và vấp ngã, do ông Hiệp tiếp tục xông vào đánh thì bị cáo Tùng mới dùng dao tự vệ và đâm nhát thứ hai đã trúng ngực ông Hiệp dẫn tới tử vong Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo Tùng không mang tính chất côn đồ

Thêm vào đó luật sư bào chữa cho bị cáo Tùng còn cho rằng, ngoài những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, bị cáo Tùng còn có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác là

“phạm tội trong trường hợp tinh thần bị kích động do hành vi trái pháp luật của bị cáo hoặc người khác gây ra” quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 46 của

BLHS, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định cho bị cáo Tùng một mức

án thấp nhất để bị cáo có cơ hội chuộc lại lỗi lầm

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã quyết định:

+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Tùng phạm tội giết người quy định tại khoản 2 Điều 93 BLHS năm 1999; bị cáo Nguyễn Anh Tuấn phạm tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 2 Điều 104 BLHS năm

Trang 38

1999 và bị cáo Nguyễn Trọng Hiếu phạm tội gây rối trật tự công cộng quy định tại khoản 1 Điều 245 BLHS năm 1999

+ Về hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 93, điểm b, P khoản 1, khoản 2 Điều 46 năm 1999 xử phạt bị cáo Tùng 10 năm tù, áp dụng khoản 1 Điều 104, điểm b, P khoản 1 khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 xử phạt bị cáo Tuấn 02 năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 245, điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 BLHS xử phạt bị cáo Hiếu 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tr.37

Đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội… TAND tỉnh Bình Dương trên cơ sở xác định chính xác một trong những dấu hiệu định tội quan

trọng của tội phạm này là: “Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội” nên việc định tội danh trong trường hợp có

tình tiết định tội này hoàn toàn đúng đắn, không có sự nhầm lẫn với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác quy định tại Điều

đã có hành vi lấy mũ bảo hiểm đập xuống bàn ăn làm đổ mâm cơm mà vợ, chồng Tú đang ăn Sau đó lấy chiếc ghế nhựa đánh trúng mặt chị Liên (vợ anh

Trang 39

Tú) Chị Liên bỏ chạy, Hồng tiếp tục nhặt 01 chiếc bát tô sành ném theo chị Liên Chứng kiến toàn bộ sự việc, Tú tức giận đã chạy đến bàn bán thịt chó lấy 01 con dao (loại dao chặt thịt chó) chém vào vùng đầu, cổ, tay trái của Hồng gây thương tích cho Hồng với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 41% (theo kết luận giám định pháp y) Với tình tiết nêu trên, TAND thị xã Thuận An tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tú phạm tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo khoản 1 điều 105 BLHS năm 1999 Tội danh này cũng phù hợp với tội danh mà Việt kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố

và đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo về tội danh này

Tuy nhiên, Luật sư bảo vệ quyền lợi của người bị hại không thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, bởi các lý do: Căn cứ vào lời khai của người bị hại (ông Hồng) và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án cho thấy, người bị hại chưa gây thương tích cho chị Liên (vợ Tú) và cũng chưa xâm phạm thân thể của bị cáo Tú, do vậy hành vi của người bị hại chưa đủ làm cho bị cáo lâm vào tình trạng tinh thần bị kích động mạnh; bị cáo có đủ thời gian để lựa chọn cách xử xự khác phù hợp với pháp luật; hành vi bị cáo dùng dao gây thương tích đến cùng cho người bị hại là có tính chất côn đồ; bị cáo gây thương tích cho người bị hại tại những vùng trọng yếu của cơ thể con người, có thể dẫn tới chết người… Do đó hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 BLHS năm 1999

Trong khi đó, Luật sư bào chữa của bị cáo Tú lại cho rằng, hành vi bị cáo dùng dao gây thương tích cho người bị hại có tính chất con đồ là không phù hợp vì người bị hại đã có hành vi đập phá, hất đổ mâm cơm mà vợ chồng

Tú đang ngồi ăn và đánh vợ của bị cáo nên bị cáo mới không tự chủ, tự kiềm chế được bản thân trước những hành vi trái pháp luật của người bị hại vì thế mới sử dụng con dao chém gây thương tích cho bị hại Do vậy, việc truy cứu

Trang 40

trách nhiệm bị cáo Tú về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 3 Điều 104 BLHS năm 1999 là không có căn cứ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử chính thức tuyên bố bị cáo

Nguyễn Văn Tú phạm tội: “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” và áp dụng khoản 1 Điều 105; các điểm b, h, o, p khoản 1,

khoản 2 Điều 46; Điều 80 BLHS năm 1999 xử phạt: Nguyễn Văn Tú 01 năm

03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án tr37

Như vậy, đối với vụ án này việc Hội đồng xét xử áp dụng các điều khoản nêu trên của BLHS năm 1999 để định tội danh và áp dụng hình phạt đối với bị cáo Tú là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

* Thứ hai, trong quyết định hình phạt Nghiên cứu số liệu thống kê của

TAND tỉnh Bình Dương thấy rằng, trong tổng số 1.061 bị cáo vị xét xử về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều

104 BLHS năm 1999 có 110 bị cáo bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo (chiếm 10,36%); 599 bị báo bị xử phạt tù từ 03 năm trở xuống (chiếm 56,45%; 304 bị cáo bị xử phạt tù từ trên 03 năm đến 07 năm (chiếm 28,65%);

43 bị cáo bị xử phạt tù từ trên 07 năm đến 15 năm (chiếm 4,05%) Như vậy, hình phạt chính mà TAND tỉnh Bình Dương quyết định áp dụng đối với bị cáo có hình phạt tù, không có các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt Còn trong 03 bị cáo xét xử về tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105 BLHS năm 1999) đều bị TAND xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo Hình phạt mà TAND tại tỉnh Bình Dương quyết định áp dụng đối với các bị cáo phạm tội là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, của

bị cáo các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Loại và mức

Ngày đăng: 21/06/2019, 09:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Văn Beo (2008) Luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm, Nxb Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm
Tác giả: Phạm Văn Beo
Nhà XB: Nxb Đại học Cần Thơ
Năm: 2008
2. Phạm Văn Beo (2008) “Phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 16, tr 25-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Tác giả: Phạm Văn Beo
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2008
3. Bộ Chính trị (2002) Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/11/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp trong thời gian tới, ban hành ngày 02/01/2002 , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/11/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
4. Bộ Chính trị (2005) Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách đến năm 2020, ban hành ngày 02/06/2005 , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
5. Bộ Tư pháp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2000) Số chuyên đề Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số chuyên đề Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Năm: 2000
6. Lê Cảm, Trịnh Tiến Việt (2004) Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
7. Phạm Văn Cần (2000) “Phân biệt dấu hiệu cơ bản của tội giết người và tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người”, Tạp chí Kiểm sát, số 2, tr 14- 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt dấu hiệu cơ bản của tội giết người và tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người
Tác giả: Phạm Văn Cần
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2000
8. Nguyễn Chí Cường (2011) “Một số đề xuất, kiến nghị từ thực tiễn thi hành Điều 104 BLHS”, Tạp chí Kiểm sát ,số 5, tr 47-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đề xuất, kiến nghị từ thực tiễn thi hành Điều 104 BLHS
Tác giả: Nguyễn Chí Cường
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2011
9. Lê Đăng Doanh (2008) “Một số kỹ năng của luật sư trong việc định tội danh của một số tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người”, Tạp chí Nghề luật, số 1, tr 28-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Một số kỹ năng của luật sư trong việc định tội danh của một số tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người”, "Tạp chí Nghề luật
10. Nguyễn Văn Dũng (2018) “Bàn về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác tại Điều 134 BLHS năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2017”, Tạp chí TAND, số 1, tr 19-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác tại Điều 134 BLHS năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Nhà XB: Tạp chí TAND
Năm: 2018
11. Hoàng Thái Duy (2017) “Công ước chống tra tấn và những biện pháp thực thi hiệu quả nghĩa vụ thành viên của Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 11, tr 3-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước chống tra tấn và những biện pháp thực thi hiệu quả nghĩa vụ thành viên của Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thái Duy
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 2017
12. Nguyễn Văn Duyến (2006) “Phân biệt các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”, Tạp chí TAND, số 3, tr 18-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Tác giả: Nguyễn Văn Duyến
Nhà XB: Tạp chí TAND
Năm: 2006
13. Đỗ Đức Hồng Hà (2005) “Phân biệt các loại tội cố ý gây thương tích trong những trường hợp nạn nhân là người có lỗi và cũng có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác hoặc người thân thích của người phạm tội”, Tạp chí TAND, số 24, tr 10-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt các loại tội cố ý gây thương tích trong những trường hợp nạn nhân là người có lỗi và cũng có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác hoặc người thân thích của người phạm tội
Tác giả: Đỗ Đức Hồng Hà
Nhà XB: Tạp chí TAND
Năm: 2005
14. Đỗ Đức Hồng Hà (2004) “Phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích”, Tạp chí TAND, số 3, tr 7-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích
Tác giả: Đỗ Đức Hồng Hà
Nhà XB: Tạp chí TAND
Năm: 2004
15. Đặng Thu Hiền (2016) “Một số vấn đề cần lưu ý khi áp dụng tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Điều 125 BLHS năm 2015”, Tạp chí Nghề luật, số 5, tr 68-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cần lưu ý khi áp dụng tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Điều 125 BLHS năm 2015
Tác giả: Đặng Thu Hiền
Nhà XB: Tạp chí Nghề luật
Năm: 2016
16. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2018) Bình luận khoa học BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần các tội phạm) - Quyển 1, Nxb Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần các tội phạm) - Quyển 1
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Tư Pháp
Năm: 2018
17. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2014) Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Tập 1, Nxb CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Tập 1
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2014
18. Nguyễn Thị Hòa (2017) Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏa của người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hải Phòng, Luận văn Thạc sĩ, Học viện KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏa của người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hải Phòng
19. Nguyễn Mạnh Hùng (Chủ biên) (2018) Bình luận khoa học BLTTHS năm 2005, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLTTHS năm 2005
Nhà XB: Nxb Lao động
20. Trần Minh Hưởng (2011) “Một số những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng Điều 104 BLHS về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”, Tạp chí Kiểm sát, số 10, tr 24-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng Điều 104 BLHS về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Tác giả: Trần Minh Hưởng
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w