LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Vấn đề giảng dạy môn Giáo dục công dân cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” này là công trình nghi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình thạc sĩ Chính trị học này, tôi đã nhận được
sự quan tâm, hướng dẫn tận tình của Quý Thầy, Cô đang công tác, giảng dạy tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Học viện đã giúp tôi có điều kiện tiếp cận, cập nhật và bổ sung thêm kiến thức phục vụ tốt hơn cho công tác giảng dạy, cũng như giữ vững và nâng cao lập trường tư tưởng chính trị của bản thân Xin cho tôi gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến:
- Ban Giám đốc, Khoa Triết học và tập thể giảng viên đang công tác tại Học viện Khoa học xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu trong suốt thời gian qua
- TS Nguyễn Thị Luyện - Cô đã dành thời gian và tâm huyết để truyền đạt cho tôi kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu, tận tình hướng dẫn với tinh thần trách nhiệm cao, đôn đốc tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn Trong thời gian làm việc với Cô, tôi không ngừng tiếp thu thêm nhiều kiến thức bổ ích mà còn học tập được ở Cô tinh thần làm việc, thái độ nghiên cứu khoa học nghiêm túc, hiệu quả Đây là những điều rất cần thiết cho tôi trong quá trình học tập và công tác sau này
- Ban giám hiệu, Quý Thầy, Cô và các em học sinh các trường THPT trên địa bàn quận 7 - Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các Thầy, Cô và các bạn học viên để luận văn được hoàn chỉnh và có giá trị thực tiễn hơn Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Vấn đề giảng dạy môn Giáo dục công dân cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được
thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và xuất phát từ thực tiễn tại địa phương, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Luyện
Các số liệu và những kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Người cam đoan
Tưởng Thị Thu Thắm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 11
1.1 Giáo dục và mục tiêu giáo dục Trung học phổ thông 11 1.2 Vị trí, vai trò của bộ môn Giáo dục công dân 15 1.3 Mục tiêu, nội dung chương trình, hình thức, phương pháp giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân 16
Chương 2: TÌNH HÌNH GIẢNG DẠY BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 30
2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và giáo dục trên địa bàn Quận 7, Thành phố
Hồ Chí Minh 30 2.2 Thực trạng giảng dạy bộ môn giáo dục công dân cho học sinh Trung học phổ thông tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 36
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 55
3.1 Đánh giá kết quả giảng dạy bộ môn giáo dục công dân cho học sinh Trung học phổ thông tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 55 3.2 Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy bộ môn giáo dục công dân cho học sinh Trung học phổ thông tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 59
KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Chương trình môn GDCD khối lớp 10 19 Bảng 1.2: Chương trình môn GDCD khối lớp 11 21 Bảng 1.3: Chương trình môn GDCD khối lớp 12 23 Bảng 2.1: Thống kê số lượng trường, lớp, giáo viên, học sinh các bậc học tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 - 2019 33
Bảng 2.2: Thống kê số lượng trường, lớp, giáo viên, học sinh các bậc học tại Quận 7 - Thành phố Hồ Chí Minh năm học 2018-2019 35
Bảng 2.3: Thống kê số lượng lớp, giáo viên, học sinh các Trường Trung học phổ thông tại Quận 7 - Thành phố Hồ Chí Minh năm học 2018-2019 35
Bảng 2.4: Thống kê kết quả xếp loại học lực môn GDCD của học sinh các trường THPT tại quận 7 - TP.HCM 41
Bảng 2.5: Thống kê xếp loại hạnh kiểm học sinh các trường THPT tại quận 7 - TP.HCM 42
Bảng 2.6: Ý kiến của học sinh về sự bổ ích của môn GDCD 45 Bảng 2.7: Ý kiến của học sinh về nội dung kiến thức yêu thích trong chương trình GDCD bậc THPT 45
Bảng 2.8: Ý kiến của giáo viên về lồng ghép, ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương pháp dạy học 46
Biểu đồ 2.1: Ý kiến của Giáo viên về nội dung chương trình bộ môn GDCD 43
Biểu đồ 2.2: Thống kê giới tính, tỉ lệ học sinh các khối tham gia khảo sát 51
Biểu đồ 2.3: Thống kê thời gian chuẩn bị bài của học sinh 53
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo chỉ thị số 30/1998/CT-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khẳng định: “Môn Giáo dục công dân ở trường THPT có vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách của học sinh thông qua việc cung cấp hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức - nhân văn, đường lối chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và pháp luật, kế thừa các truyền thống đạo đức, bản sắc dân tộc Việt Nam; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa; tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại và thời đại”
Ở cấp bậc giáo dục THPT, môn GDCD trang bị cho các em học sinh những kiến thức về triết học, đạo đức, lối sống, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học, pháp luật,…đồng thời giúp hình thành, phát triển ở học sinh tình cảm, niềm tin, những hành vi, thói quen phù hợp với những giá trị và chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc Đáp ứng đúng vai trò, vị trí đặc biệt của môn học trong hệ thống chương trình giáo dục bên cạnh các môn học: toán học, hóa học, ngữ văn, sinh học, vật lý, địa lý, lịch sử,… Môn học giúp học sinh có những hiểu biết về những nguyên lý và quy luật cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin, kinh tế và chính trị; những phẩm chất cần thiết của công dân tương lai Từ những kiến thức này, môn học hướng đến trang bị thế giới quan và nhân sinh quan cho học sinh, giúp học sinh phổ thông biết nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng một cách khách quan và chính xác; biết đưa
ra và bảo vệ quan điểm cá nhân của bản thân; đấu tranh với những quan điểm sai trái, ủng hộ cái mới, cái tiến bộ, góp phần đào tạo cho thế hệ trẻ Việt Nam trở thành những công dân có ích trong việc tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam vững bước trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa
Nhưng trên thực tế, môn GDCD chưa được nhận thức đúng và được đối
xử xứng đáng với vị trí môn học Học sinh, phụ huynh, xã hội, thậm chí ngay
Trang 9chính trong bản thân giáo viên cũng cho đây là "môn phụ", là môn học " bổ trợ" dẫn đến tâm lý học sinh học đối phó, vừa học vừa chơi; còn giáo viên thì dạy cho xong tiết, xong nhiệm vụ Quan sát thực tế tại 4 trường THPT trên địa bàn quận 7 - TP HCM tác giả thu nhận được kết quả: Mỗi trường chỉ có 2,
3 hoặc 4 giáo viên giảng dạy GDCD, với số lượng nhân sự như trên không đủ
để thành lập một tổ bộ môn riêng Thường sẽ có các tổ bộ môn ghép như: tổ
Sử - Địa- GDCD, tổ Sử - GDCD, hoặc tổ Địa - GDCD Thực tế điều này tồn tại nhiều năm ở các trường THPT trên toàn quốc Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến vai trò, vị trí của môn học và chất lượng giảng dạy Cũng chính vì vậy nên chất lượng giáo dục không đáp ứng đúng yêu cầu và mục tiêu giáo dục của bộ môn Đây là những hạn chế rất lớn trong việc giảng dạy và học tập
bộ môn GDCD hiện nay ở nước ta nói chung, địa bàn quận 7 - TP HCM nói riêng
Ngày 6 tháng 1năm 1997, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị quyết số 03-CP về việc thành lập Quận 7 với các phường trực thuộc Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh Trên địa bàn quận 7 -
TP HCM có 04 trường THPT công lập (Trường THPT Ngô Quyền, THPT Nam Sài Gòn, THPT Lê Thánh Tôn, THPT Tân Phong), 10 trường ngoài công lập (liên cấp- có cấp học THPT) thực hiện nhiệm vụ giảng dạy cho các đối tượng học sinh phân theo đơn vị hành chính Là quận mới thành lập, được
sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, các ngành, Quận 7 hướng đến những mục tiêu mũi nhọn để phát triển: tập trung mạnh vào ngành công nghiệp - dịch vụ, xuất khẩu, và giáo dục Vì vậy, việc dạy và học nói chung và việc giảng dạy
bộ môn giáo dục công dân nói riêng ở đây hết sức quan trọng
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Vấn đề giảng dạy môn Giáo dục công dân cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn quận 7 - Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn thạc sĩ ngành Chính trị học của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề giảng dạy môn GDCD trong suốt thời gian qua đã được nhiều tác giả nghiên cứu, theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau Đó là các bài viết trên các các báo, tạp chí, các luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học
Có thể khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn dưới đây:
Nguyễn Văn Tuyến, Nguyễn Đức Ngọc (2008),“Tư liệu Giáo dục Công dân lớp 12”, Nxb Giáo dục Cuốn sách đã giới thiệu các tư liệu đọc cụ
thể gồm những câu chuyện pháp luật, bài nói chuyện, thông tư, văn bản pháp luật… liên quan đến vấn đề pháp luật đã đề cập trong từng bài của sách giáo khoa môn GDCD lớp 12, đồng thời đưa ra các câu hỏi để làm rõ kiến thức trong sách giáo khoa GDCD lớp 12
Trần Văn Thắng (Chủ biên), (2008), “Tình huống GDCD 12”, Nxb
Giáo dục Cuốn sách gồm 137 tình huống được biên soạn theo nội dung của
10 bài trong SGK GDCD lớp 12 Cuối mỗi tình huống đều có câu hỏi để học sinh tự trả lời, trong đó còn có một số tình huống khó còn có gợi ý tư liệu tham khảo nhằm giúp học sinh có cơ sở để trả lời
Phan Trọng Ngọ, (2005), “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường”, Nxb Đại học Sư phạm Cuốn sách đã đề cập đến các phương pháp
dạy học phổ biến trong trường học như: thảo luận nhóm, thuyết trình, vấn đáp, các phương pháp dạy học, các ưu điểm, hạn chế của các phương pháp dạy học
Tác giả Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Duy Nhiên (2009) với "Dạy và học môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông - Những vấn đề lý luận và thực tiễn", Nxb Giáo dục đã tập trung đi sâu nghiên cứu làm rõ những
vấn đề lí luận và thực tiễn môn Giáo dục công dân Từ đó các tác giả đã đưa
ra các giải pháp nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục bộ môn
Trang 11Nguyễn Nghĩa Dân (1997), " Đổi mới phương pháp dạy học môn đạo đức và môn giáo dục công dân", Nxb Giáo dục, Hà Nội Kết quả nghiên cứu
của công trình này giúp cho tác giả luận văn có được cái nhìn bao quát trong việc giảng dạy bộ môn giáo dục công dân cấp bậc trung học phổ thông
Vương Tất Đạt (1994) "Phương pháp giảng dạy Giáo dục công dân (dùng cho Trung học phổ thông)", Nxb Đại học sư phạm Hà Nội Tác giả nêu
được các phương pháp giảng dạy bộ môn hiện nay, việc giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc giúp học sinh hiểu rõ hơn vấn đề bài học Đặc biệt là nếu giáo viên sử dụng tốt phương pháp thuyết trình để truyền thụ khái niệm, phạm trù, quy luật mang tính trừu tượng
và khái quát cao sẽ giúp cho học sinh nắm vững chúng, tránh được sự đơn điệu, gây hứng thú học tập, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh
Luận văn "Biện pháp phát huy tính tích cực học tập môn Giáo dục học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang" của tác giả Nguyễn
Ngọc Minh, 2005 đã nêu được các phương pháp giảng dạy hiện nay, việc giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc giúp học sinh hiểu rõ hơn vấn đề bài học Đặc biệt là nếu giáo viên sử dụng tốt phương pháp thuyết trình để truyền thụ khái niệm, phạm trù, quy luật mang tính trừu tượng và khái quát cao sẽ giúp cho học sinh nắm vững chúng, tránh được sự đơn điệu, gây hứng thú học tập, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh
Luận văn "Kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn
đề trong dạy học phần "Công dân với đạo đức" môn Giáo dục công dân lớp
10 tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An" của tác giả Phạm Thị Hòa, 2014 đã đưa ra một số giải pháp có tính khả
thi sau khi tiến hành thực nghiệm sư phạm kết hợp phương pháp thuyết trình với phương pháp nêu vấn đề trong học phần "Công dân với đạo đức"
Trang 12Luận văn "Tính tích cực học tập môn Giáo dục công dân của học sinh trung học phổ thông tại Phan Thiết – Bình Thuận" của tác giả Trần Thị Ngọc
Anh, 2010 đã phân tích thực trạng tính tích cực học tập bộ môn GDCD tại Phan Thiết – Bình Thuận và một số yếu tố ảnh hưởng Bên cạnh đó, tác giả đã thực hiện thử nghiệm một số phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhằm tích cực hóa hoạt động học tập bộ môn GDCD góp phần nâng cao chất lượng giáo dục/học tập cho học sinh
Luận văn "Kết hợp giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức cho người chưa thành niên ở nước Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Thị Hoài
Thu, 2014 đã làm rõ được mối liên hệ giữa pháp luật và đạo đức, các hình thức kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức, thông qua: chương trình giáo dục công dân ở nhà trường; sách, báo, phương tiện truyền thông, games; hành động thực tiễn của người lớn hằng ngày, Đưa ra các số liệu để làm rõ thực trạng kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức Khi đưa ra các giải pháp cho đề tài nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Thị Hoài Thu đã nhấn mạnh về việc giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức thông qua chương trình giáo dục bộ môn giáo dục công dân có vai trò to lớn trong việc nâng cao hiệu quả của việc kết hợp hai loại hình giáo dục này trong thực tiễn
Luận văn "Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh" của tác giả Nguyễn Thị Mai, 2018 đã phân
tích được ưu, nhược điểm của phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT và sự cần thiết của việc vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT Từ đó tác giả đề xuất một số nhóm biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
Trang 13Các bài báo trên các tạp chí khoa học có thể kể đến nghiên cứu của các
tác giả: Trần Văn Hiếu với "Thực trạng đội ngũ giảng dạy môn giáo dục công dân các trường trung học phổ thông ở đồng bằng sông Cửu Long" đăng
trên tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ
Các luận văn đã được công bố có thể kể đến: Nâng cao kỹ năng thực hành pháp luật trong dạy học phần "Công dân với pháp luật" ở trường THPT Nguyễn Khuyến tỉnh Hà Nam; Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông Chuyên Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ
Các sáng kiến kinh nghiệm của đồng nghiệp, có thể kể đến: Sáng kiến
kinh nghiệm “Sử dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12”, Nguyễn Thị Hồng, (Trường THPT Thanh Khê – Đà Nẵng, 2009); "Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn GDCD theo định hướng phát triển năng lực học sinh", Nguyễn Thị Hồng Đào (Trường THPT Thuận Hòa- Sóc Trăng, 2016); "Dạy và học bộ môn Giáo dục công dân lớp 12 theo hình thức chuyên
đề nhằm cải thiện ý thức học tập cho học sinh", Ngô Thị Thúy Diễm (Trường
THPT chuyên Nguyễn Thị Minh Khai- Sóc Trăng, 2016); Nội dung của các sáng kiến là: nghiên cứu thực trạng và vận dụng phương pháp dạy học tích hợp, dạy học liên môn, liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học môn Giáo dục công dân 12, đề xuất một số kinh nghiệm nhằm vận dụng phương pháp này đạt hiệu quả hơn, đồng thời cũng đưa ra một số câu chuyện pháp luật để định hướng dạy một số đơn vị kiến thức trong sách giáo khoa GDCD lớp 12
Sáng kiến kinh nghiệm: "Một số phương pháp giảng dạy Giáo dục công dân theo hướng giáo dục tích cực" của Phạm Thị Thúy Phương đã nêu
được thực trạng dạy và học hiện nay, sự cần thiết phải đổi mới phương pháp
Trang 14dạy và học theo hướng tích cực và soạn sẵn giáo án mẫu, cụ thể trong chương trình GDCD 10 - Bài 11: Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học
Những kết quả nghiên cứu của các tác giả kể trên là nguồn tư liệu quý giá để tác giả luận văn triển khai đề tài của mình theo cách tiếp cận riêng Các công trình trên đã tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về: giáo dục đạo đức, hứng thú học tập, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá, đổi mới phương pháp dạy học Tuy nhiên, việc giảng dạy bộ môn GDCD ở các trường THPT tại địa bàn quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh hiện chưa có công trình và
đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn, dưới góc độ khoa học chính trị về giáo dục môn học cho giáo viên và học sinh, về thực tiễn công tác giảng dạy Vì vậy việc nghiên cứu đề tài là quan trọng và
có ý nghĩa thực tiễn cao
Đề tài luận văn này được thực hiện dựa trên sự kế thừa, phát triển những kết quả của các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan trước đó để đánh giá, phân tích Trên cơ sở đó tác giả phân tích, khảo sát thực trạng giảng dạy tại địa bàn nghiên cứu từ đó đề xuất ra các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy - học trong các trường Trung học phổ thông từ thực tiễn quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về giáo dục bộ môn Giáo dục công dân và làm rõ thực trạng giảng dạy môn GDCD các trường Trung học phổ thông trên địa bàn quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh, luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng giảng dạy các trường trung học phổ thông ở quận 7 - TP HCM
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích trên, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ:
Trang 15Thứ nhất, phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề giảng
dạy bộ môn GDCD ở các trường THPT nói chung và ở quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
Thứ hai, khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng giảng dạy môn học Thứ ba, trên cơ sở phân tích thực trạng giảng dạy môn GDCD ở các
trường THPT trên địa bàn quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, đưa ra đề xuất một số nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác dạy và học tại địa bàn nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng giảng dạy và học tập môn giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: khảo sát thực trạng tình hình giảng dạy môn giáo
dục công dân bậc Trung học phổ thông công lập trên địa bàn quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu việc giảng dạy, học tập môn
giáo dục công dân bậc Trung học phổ thông công lập trên địa bàn quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh thông qua khảo sát thực tế tại 4 trường: THPT Ngô Quyền, THPT Nam Sài Gòn, THPT Lê Thánh Tôn, THPT Tân Phong năm học 2018 - 2019
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng; chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ
Trang 16Chí Minh; Luật Giáo dục và các công văn chỉ đạo, các quan điểm, mục tiêu của Bộ GD&ĐT về giáo dục
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp luận: Đề tài nghiên cứu dựa trên việc vận dụng phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phép biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Phương pháp cụ thể:
- Đề tài sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, lịch sử, logic, diễn dịch, quy nạp
- Khảo sát thực trạng giảng dạy tại địa bàn nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn góp phần tổng hợp và làm rõ thêm cơ sở lý
luận giảng dạy bộ môn giáo dục công dân
Về mặt thực tiễn:
Luận văn đã nêu lên một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực trạng giảng dạy môn giáo dục công dân cấp bậc trung học phổ thông để từ đó nâng cao hiệu quả dạy và học môn giáo dục công dân ở các trường trung học phổ thông
Luận văn cũng là một cơ sở khoa học có ý nghĩa thiết thực cho các cán
bộ, giáo viên, trường học nói chung và các trường THPT nói riêng trên địa bàn quận 7 - TP HCM trong quá trình giảng dạy bộ môn giáo dục công dân
và luận văn cũng là một tài liệu tham khảo có giá trị cho những ai quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn được chia làm 3 chương 7 tiết, gồm:
Trang 17Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục bộ môn Giáo dục công dân bậc Trung học phổ thông
Chương 2: Tình hình giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Giáo dục công dân cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Giáo dục và mục tiêu giáo dục
Mục tiêu giáo dục
Giáo dục (Tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập
theo đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người được trao truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học Theo đó, các yếu tố tương tác trong quá trình giáo dục
là người dạy - người học - mục tiêu - nội dung - phương pháp - môi trường dạy học, trong đó mục tiêu của chương trình giáo dục chi phối đến toàn bộ các yếu tố khác [23, tr.1]
Tại Việt Nam, khái niệm giáo dục được Giáo sư Hồ Ngọc Đại đưa ra như sau: Giáo dục là một quá trình mà trong đó kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của một người hay một nhóm người này được truyền tải một cách tự nhiên mà không hề áp đặt sang một người hay một nhóm người khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu để từ đó tìm ra, khuyến khích, định hướng và hỗ trợ mỗi cá nhân phát huy tối đa được ưu điểm và sở thích của bản thân khiến họ trở thành chính mình, qua đó đóng góp được tối đa năng lực cho xã hội trong khi vẫn thỏa mãn được quan điểm, sở thích và thế mạnh của bản thân
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác động có mục đích,
có kế hoạch, ảnh hưởng tự giác, chủ động đến con người, đưa đến sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức nhân cách [32, tr.12]
Có thể thấy: Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống của nhà giáo dục đến người được giáo dục thông qua việc tổ chức các hoạt
Trang 19động đa dạng với những hình thức và các phương pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi để hình thành những phẩm chất của người công dân đáp ứng yêu cầu của xã hội và thời đại
Theo quy định tại Điều 2, Điều 3 của Luật Giáo dục thì mục tiêu, tính chất và nguyên lý giáo dục nước ta được xác định như sau:
Một là, mục tiêu giáo dục và đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẫm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hai là, nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng
Ba là, hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội [30, tr.17]
Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời
kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và nhiệm vụ đến năm 2000 nêu rõ:
“nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị vǎn hoá của dân tộc, có nǎng lực tiếp thu tinh hoa vǎn hoá nhân loại; phát huy tiềm nǎng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện
Trang 20đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ nǎng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp,
có tính tổ chức kỷ luật; có sức khoẻ, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên" như lời dặn của Bác Hồ”
Bên cạnh đó, nghị quyết còn nhấn mạnh: "Thực sự coi giáo dục - đào tạo, là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tǎng trưởng kinh tế và phát triển
xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển Thực hiện các chính sách ưu tiên ưu đãi đối với giáo dục - đào tạo, đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương, có các giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục"
Điều 2 Luật Giáo dục cũng đã ghi: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ
và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [30, tr.6]
Với mục tiêu như trên, trong hàng chục năm qua, giáo dục Việt Nam đã đào tạo và cung cấp cho xã hội đội ngũ nhân lực về cơ bản đáp ứng được yêu cầu sử dụng của các ngành nghề, cơ quan, đơn vị
Ngay từ năm 1945, trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam", chính là đào tạo con người xã hội, và "một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em", chính là đào tạo con người cá nhân Ðó là mục tiêu chung về nhân cách con người mà đổi mới giáo dục và đào tạo hướng đến
Sự đổi mới về mục tiêu như vậy cũng đòi hỏi chuyển từ một nền giáo dục giúp người học "học được cái gì" sang học thì phải "làm được cái gì" Nói một cách khác hơn: là giáo dục con người phải có cả kiến thức, kỹ năng để có
Trang 21thể vận dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn Chính vì thế, mục tiêu giáo dục của Nhà nước ta hiện nay là:
Thứ nhất: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả
Thứ hai: Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục
và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực
Mục tiêu giáo dục trung học phổ thông được nêu rõ trong các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước Theo Điều 27 Luật Giáo dục Việt Nam khẳng định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời [30, tr.9]
Mục tiêu giáo dục Trung học phổ thông
Mục tiêu giáo dục trung học phổ thông được nêu rõ trong các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước Theo Điều 27 Luật Giáo dục Việt Nam khẳng định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí
Trang 22tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời [30, tr.14]
1.2 Vị trí, vai trò của bộ môn Giáo dục công dân
Môn GDCD là một học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, phản ánh nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Giáo dục công dân là một bộ môn khoa học được đưa vào giảng dạy ở hai cấp học: Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Nó vừa có vị trí thông thường của một môn học, vừa có vị trí đặc biệt riêng của nó
Về vị trí thông thường, môn GDCD được xếp ngang hàng với các môn học khác, có nhiệm vụ trang bị tri thức, kĩ năng, giáo dục tư tưởng, tình cảm cho các em học sinh
Ở vị trí đặc biệt, môn GDCD có những đặc điểm riêng, khác biệt so với những môn học khác Môn GDCD chứa đựng một khối lượng tri thức công dân, nó thể hiện ngay ở tên gọi môn học; dạy và học để làm người công dân, trở thành người công dân đúng với chuẩn mực xác định Nội dung chủ đề của môn học này rất đa dạng: từ những kiến thức gần gũi, thiết thực với học sinh đến những vấn đề lớn của quốc gia, của nhân loại; từ những vấn đề thường nhật đến những vấn đề trừu tượng, khái quát hóa như: triết học, thế giới quan, nhân sinh quan, lí tưởng xã hội chủ nghĩa, Hệ thống tri thức môn GDCD mang tính tích hợp, chứa đựng nhiều kiến thức của các môn khoa học khác nhau: triết học, chính tri, kinh tế, pháp luật, đạo đức, đường lối của Đảng cộng sản, của Nhà nước Việt Nam Tính tích hợp đặc trưng đó đòi hỏi bộ môn GDCD phải xác lập phương pháp đặc thù cho môn học Môn GDCD còn
Trang 23mang tính định hướng chính trị sâu sắc vì nó trực tiếp đề cập đến những vấn
đề mang tính chính trị, tư tưởng Môn học bước đầu hình thành phẩm chất chính trị, đạo đức tư tưởng cho học sinh thông qua việc trực tiếp trang bị cho học sinh THPT về thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học đúng đắn bằng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau; góp phần hình thành niềm tin, lý tưởng, đạo đức, ý thức pháp luật cho thế hệ công dân của đất nước Từ đó học sinh có định hướng đúng đắn trong hoạt động thực tiễn, giải quyết đúng các mối liên hệ của bản thân, với cộng đồng trên các lĩnh vực, các phạm vi khác nhau
Môn GDCD là môn học có vai trò quan trọng trong việc phát triển tâm lực Đây là một thành tố cơ bản của nhân cách và là nội lực của sự phát triển nhân cách của học sinh, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo điều kiện tiền đề đào tạo các em học sinh thành những người lao động mới đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì thế, ngày 28/9/2016, Bộ GD&ĐT đã công bố phương án thi THPT Quốc gia năm 2017, việc tổ chức thi 5 bài, gồm 3 bài thi độc lập bắt buộc (Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ); 2 bài thi tổ hợp gồm khoa học tự nhiên (Vật lí, Hoá học, Sinh học) và khoa học xã hội (Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân) Hình thức thi và lịch thi theo hướng dẫn hằng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo Để tham dự kỳ thi này, thí sinh phải thi ít nhất 4 bài thi gồm 3 bài thi độc lập bắt buộc và một bài thi tổ hợp Việc đưa môn GDCD vào tổ hợp bài thi Khoa học xã hội trong kì thi THPT Quốc gia để xét tốt nghiệp THPT và xét tuyển Đại học, Cao đẳng cho thấy Bộ GD&ĐT đã khẳng định vị trí, tầm quan trọng của môn GDCD cùng với các môn khoa học khác của bậc THPT
1.3 Mục tiêu, nội dung chương trình, hình thức, phương pháp giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân
Trang 24Mục tiêu giáo dục bộ môn
Mục tiêu chung của bộ môn GDCD là giúp học sinh hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm Những phẩm chất đạo đức này được hình thành, phát triển gắn liền với quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của người công dân Việt Nam Đồng thời, giúp học sinh hình thành, phát triển các năng lực của người công dân Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội theo yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới, đặc biệt là yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Những phẩm chất năng lực đó là: năng lực phát triển bản thân; có khả năng điều chỉnh hành vi đạo đức tạo điều kiện tiền đề để công dân điều chỉnh hành vi pháp luật; bước đầu có được năng lực giải quyết vấn đề về kinh tế cơ bản Trên
cơ sở đó, chương trình môn Giáo dục công dân góp phần giúp học sinh hình thành, phát triển các năng lực chung như: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Mục tiêu giảng dạy môn giáo dục công dân còn chia ra theo từng cấp học: cấp bậc tiểu học (đạo đức), cấp bậc trung học cơ sở, cấp bậc trung học phổ thông
Về mục tiêu giáo dục môn giáo dục công dân ở cấp bậc trung học phổ thông:
Về kiến thức: Có hiểu biết ban đầu về thế giới quan duy vật biện chứng
và phương pháp luận biện chứng; nhận thức được bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; vai trò của nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện pháp luật, hoạch định chính sách và quản lý kinh tế; hiểu đường lối, quan điểm của Đảng; các chính sách quan trọng của Nhà nước về xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay; hiểu được các giá trị đạo đức, pháp luật cơ bản
và lối sống của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; hiểu được trách
Trang 25nhiệm của công dân trong việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; hiểu trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm tham gia phát triển kinh tế của công dân
Về kỹ năng: vận dụng được kiến thức đã học để phân tích, đánh giá các hiện tượng, các sự kiện, các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống phù hợp với lứa tuổi; biết lựa chọn và thực hiện hành vi ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội; biết bảo vệ cái tốt, cái đúng, cái đẹp và đấu tranh, phê phán đối với các hành vi, hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống phù hợp với khả năng của bản thân
Về thái độ của học sinh: yêu cái tốt, cái đúng, cái đẹp; không đồng tình với các hành vi, việc làm tiêu cực; yêu quê hương, đất nước; trân trọng và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc; tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng; tôn trọng các chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định chung của cộng đồng; có ước mơ và mục đích sống cao đẹp
Môn GDCD hướng vào 3 mục tiêu cơ bản:
Một là, trang bị tri thức công dân trên các lĩnh vực chính trị, đạo đức, tư tưởng, pháp luật, kinh tế
Hai là, hình thành ý thức công dân, ý thức quyền và nghĩa vụ; giáo dục tinh thần, trách nhiệm, tình cảm lành mạnh của công dân
Ba là, rèn luyện thói quen, ý thức, hành vi, tình cảm, đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội; rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề trong thực tiễn
Có thể thấy, mục tiêu giáo dục bộ môn GDCD bậc Trung học phổ thông là: trang bị tri thức trên các lĩnh vực, giúp học sinh có được tình cảm, nhận thức, niềm tin và bản lĩnh phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật dựa trên những kiến thức cơ bản, cốt lõi, thiết thực đối với đời sống và định hướng nghề nghiệp sau này Giúp học sinh có được năng lực thực hiện các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân chủ yếu từ góc độ kinh tế, pháp luật; có
kỹ năng sống và bản lĩnh để học tập, làm việc và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm
Trang 26công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và hội nhập quốc
tế
Chương trình Giáo dục công dân
Theo Điều 29, khoản 1, Luật Giáo dục 2005: "Chương trình giáo dục phổ thông quy định chuẩn kiến thức, kĩ năng, phạm vi và cấu trúc, nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, cách thức đánh giá hoạt động giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp của giáo dục phổ thông."
Chương trình môn giáo dục công dân cấp Trung học phổ thông có
105 tiết được thực hiện trong 111 tuần của 3 khối/3 năm học (10, 11, 12) Nội dung gồm 5 phần chính:
Phần I: Công dân với việc hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học
Phần II: Công dân với đạo đức
Phần III: Công dân với kinh tế
Phần IV: Công dân với các vấn đề chính trị xã hội
Phần V: Công dân với pháp luật
Cụ thể nội dung chương trình khối lớp 10: Công dân với việc hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học, Công dân với đạo đức (Bảng 1.1); khối 11: Công dân với kinh tế, Công dân với các vấn đề chính trị -
xã hội (Bảng 1.2); khối 12: Bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của công dân, đất nước và nhân loại, Công dân với pháp luật (Bảng 1.3)
Bảng 1.1: Chương trình môn GDCD khối lớp 10
HỌC KỲ I Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học
1 Bài 1: Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng
Trang 272 Bài 1: Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng (tiếp)
3 Bài 2: Thế giới vật chất tồn tại khách quan
4 Bài 2: Thế giới vật chất tồn tại khách quan ( tiếp)
5 Bài 3: Sự vận động và phát triển của thế giới vật chất
6 Bài 4: Nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng
7 Bài 4: Nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng (tiếp)
8 Bài 5: Cách thức vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng
9 Bài 6: Khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng
10 Kiểm tra viết 1 tiết
11 Bài 7: Thực tiễn & vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
12 Bài 7: Thực tiễn & vai trò của thực tiễn đối với nhận thức (tiếp)
13 Bài 8: Tồn tại xã hội và ý thức xã hội
14 Bài 8: Tồn tại xã hội và ý thức xã hội (tiếp)
15 Bài 8: Tồn tại xã hội và ý thức xã hội (tiếp)
16 Ngoại khóa: giới thiệu tác phẩm “Di chúc” của Chủ Tịch Hồ Chí
Minh
17 Ôn tập học kỳ I
18 Kiểm tra học kỳ I
HỌC KỲ II Công dân với đạo đức
19 Bài 9: Con người là chủ thể của lịch sử, là mục tiêu phát triển của xã
hội
20 Bài 9: Con người là chủ thể của lịch sử, là mục tiêu phát triển của xã
hội (tiếp)
21 Bài 10: Quan niệm về đạo đức
22 Bài 11: Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học
23 Bài 11: Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học (tiếp)
24 Bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình
Trang 28(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Sách giáo khoa GDCD 10 và khung phân phối chương trình của Bộ GD&ĐT)
Bảng 1.2: Chương trình môn GDCD khối lớp 11
25 Bài 12: Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình (tiếp)
26 Kiểm tra viết 1 tiết
27 Bài 13: Công dân với cộng đồng
28 Bài 13: Công dân với cộng đồng (tiếp)
29 Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
30 Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (tiếp)
31 Bài 15: Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại
32 Bài 16: Tự hoàn thiện bản thân
33 Ngoại khóa các vấn đề của địa phương và các nội dung đã học
34 Ôn tập học kỳ II
35 Kiểm tra học kỳ II
HỌC KỲ I Công dân với kinh tế
1 Bài 1: Công dân với sự phát triển kinh tế
2 Bài 1: Công dân với sự phát triển kinh tế (tiếp)
3 Bài 2: Hàng hóa – tiền tệ – thị trường
4 Bài 2: Hàng hóa – tiền tệ – thị trường (tiếp)
5 Bài 2: Hàng hóa – tiền tệ – thị trường (tiếp)
6 Bài 3: Quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóa
7 Bài 3: Quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóa (tiếp)
8 Bài 4: Cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hoá
9 Bài 5: Cung – cầu trong sản xuất và lưu thông hàng hóa
10 Kiểm tra viết 1 tiết
Trang 2911 Bài 6: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
12 Bài 6: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (tiếp)
13 Bài 7: Thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần và tăng cường vai trò
quản lý kinh tế của nhà nước
14 Bài 7: Thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần và tăng cường vai trò
quản lý kinh tế của nhà nước (tiếp)
15 Bài 8: Chủ nghĩa xã hội
16 Bài 8: Chủ nghĩa xã hội (tiếp)
17 Ôn tập học kỳ I
18 Kiểm tra học kỳ I
HỌC KỲ II Công dân với các vấn đề chính trị xã hội
19 Bài 9: Nhà nước xã hội chủ nghĩa
20 Bài 9: Nhà nước xã hội chủ nghĩa (tiếp)
21 Bài 9: Nhà nước xã hội chủ nghĩa (tiếp)
22 Bài 10: Nền dân chủ XHCN
23 Bài 10: Nền dân chủ XHCN (tiếp)
24 Bài 11: Chính sách dân số và giải quyết việc làm
25 Bài 12: Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường
26 Kiểm tra viết 1 tiết
27 Bài 13: Chính sách giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn
Trang 30(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Sách giáo khoa GDCD 11 và khung phân phối chương trình của Bộ GD&ĐT)
Bảng 1.3: Chương trình môn GDCD khối lớp 12
30 Bài 14: Chính sách quốc phòng an ninh
31 Bài 16: Chính sách đối ngoại
32 Hoạt động ngoại khóa
33 Hoạt động ngoại khóa
34 Ôn tập học kỳ II
35 Kiểm tra học kỳ II
HỌC KỲ I Bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển
của công dân, đất nước và nhân loại
1 Bài 1: Pháp luật và đời sống
2 Bài 1: Pháp luật và đời sống (tiếp)
3 Bài 1: Pháp luật và đời sống (tiếp)
4 Bài 2: Thực hiện pháp luật
5 Bài 2: Thực hiện pháp luật (tiếp)
6 Bài 2: Thực hiện pháp luật (3t)
7 Bài 3: Công dân bình đẳng trước pháp luật
8 Kiểm tra viết 1 tiết
9 Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời
Trang 31sống (tiếp)
12 Bài 5: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo
13 Bài 5: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo (tiếp)
14 Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản
15 Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản (tiếp)
16 Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản (tiếp)
17 Ôn tập học kỳ I
18 Kiểm tra học kỳ I
HỌC KỲ II Quyền và nghĩa vụ của công dân trong các lĩnh vực đời sống
19 Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản (tiếp)
20 Bài 7: Công dân với các quyền dân chủ
21 Bài 7: Công dân với các quyền dân chủ (tiếp)
22 Bài 7: Công dân với các quyền dân chủ (tiếp)
23 Bài 8: Pháp luật với sự phát triển của công dân
24 Bài 8: Pháp luật với sự phát triển của công dân (tiếp)
25 Bài 9: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước
26 Kiểm tra viết 1 tiết
27 Bài 9: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước (tiếp)
28 Bài 9: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước (tiếp)
29 Bài 9: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước (tiếp)
30 Bài 10: Pháp luật với hòa bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại
31 Bài 10: Pháp luật với hòa bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại
(tiếp)
32 Hoạt động ngoại khóa
Trang 32(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Sách giáo khoa GDCD 12 và khung phân phối chương trình của Bộ GD&ĐT)
Năm phần trong chương trình GDCD có quan hệ chặt chẽ với nhau Nội dung gắn bó chặt chẽ với cuộc sống, thực tiễn, gắn liền với những sự kiện mang tính chính trị, pháp luật, kinh tế của từng đơn vị địa phương Vì thế, ngoài những bài học chính khóa trong sách giáo khoa, chương trình còn quy định một số tiết hoạt động ngoại khóa, thực hành Các tiết học này, giáo viên
tự căn cứ vào các sự kiện chính trị, tình hình thực tế tại địa phương; các chủ trương, chính sách mới, các cuộc vận động chính trị - xã hội lớn của Đảng, Nhà nước để giảng dạy cho học sinh, phục vụ mục tiêu môn học Sở GDĐT
có thể uỷ nhiệm cho các trường THPT lựa chọn nội dung cho các tiết thực hành ngoại khoá dựa trên các vấn đề: an toàn giao thông, giáo dục an ninh – quốc phòng, phòng chống HIV/AIDS, ma tuý, tệ nạn xã hội, những gương người tốt, việc tốt, những học sinh chăm ngoan, vượt khó, học giỏi, các hoạt động chính trị xã hội của địa phương
Hình thức tổ chức dạy học
Hình thức tổ chức dạy học là hình thức tổ chức quá trình dạy học chuyên nghiệp trong các cơ sở giáo dục chuyên trách, trong đó diễn ra sự liên kết một cách thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học và sự tương tác
đa chiều giữa những chủ thể dạy và học Mỗi hình thức tổ chức dạy và học thực hiện một nội dung nhất định, được tổ chức theo một trình độ nhất định, với một chế độ học tập và trong một không gian, thời gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu dạy và học đã đặt ra [40, tr.33]
33 Hoạt động ngoại khóa
34 Ôn tập học kỳ II
35 Kiểm tra học kỳ II
Trang 33Ngày nay, sự phát triển của các hình thức tổ chức dạy học ngày càng đa dạng và phong phú hơn, đặc biệt là với sự bùng lên phát triển mạnh mẽ về truyền thông, công nghệ thông tin, dạy học càng có nhiều hình thức tổ chức dạy học phong phú, đa dạng và linh hoạt hơn, đáp ứng được nhu cầu học tập suốt đời của mọi công dân
Cho đến thời điểm này, các tài liệu có liên quan về hình thức tổ chức dạy học ở nước ta cũng như các tài liệu nước ngoài chưa có sự phân loại rõ ràng về các hình thức tổ chức dạy học Tuy thế, dựa vào lịch sử phát triển của các hình thức tổ chức dạy học, tùy theo tính chất và chức năng mà chúng ta có thể quy ước chia các hình thức tổ chức dạy học thành 3 loại: các loại hình thức tổ chức dạy học nhằm tìm tòi, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo; các hình thức
tổ chức dạy học nhằm kiểm tra và đánh giá kỹ năng, kỹ xảo; các hình thức tổ chức dạy học có tính chất ngoại khóa
Ở nước ta, các hình thức giáo dục, giảng dạy bộ môn GDCD đã được
áp dụng là: dạy học trên lớp, dạy học trải nghiệm, sinh hoạt tập thể, sinh hoạt ngoại khóa, tích hợp lồng ghép các nội dung giáo dục kỹ năng vào giáo dục
bộ môn, Trong những hình thức được kể ở trên thì hình thức giáo dục dạy học trên lớp vẫn là hình thức cơ bản nhất, được áp dụng hầu hết trong các tiết dạy của giáo viên bởi tính tiện lợi, thích hợp Các hình thức dạy học trải nghiệm được triển khai gần đây, và được Sở GD&ĐT Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tập huấn giới thiệu phương pháp giáo dục trải nghiệm (experiential education) vào ngày 20/9/2017 tại trường THPT Bùi Thị Xuân,
số 73-75 Bùi Thị Xuân, Phạm Ngũ Lão, Quận 1
Phương pháp giáo dục bộ môn
Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp “Metodos” có nghĩa là con đường, cách thức vận động của một sự vật hiện tượng [33, tr.6]
Trang 34Phương pháp là tổ hợp cách thức mà chủ thể sử dụng để tác động vào đối tượng hoạt động nhằm biến đổi đối tượng theo mục đích đã xác định
Phương pháp giáo dục được hiểu là cách thức hoạt động của nhà giáo dục và của người được giáo dục (thông qua tổ chức các hoạt động đa dạng giúp họ hình thành ý thức, thái độ, hành vi văn hóa) thực hiện trong sự thống nhất với nhau nhằm hoàn thành những nhiệm vụ giáo dục phù hợp với mục đích giáo dục đã định Phương pháp giáo dục thực chất là phương pháp tổ chức các hoạt động trong cuộc sống hằng ngày cho học sinh
Phương pháp giáo dục là một thành tố quan trọng của quá trình giáo dục, vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật và vừa có tính đạo đức, có vai trò quan trọng trong việc quyết định sự thành bại của các hoạt động giáo dục
Hệ thống các phương pháp giáo dục bao gồm:
Nhóm phương pháp tác động vào ý thức: phương pháp khuyên bảo, phương pháp thảo luận, phương pháp tạo dư luận
Nhóm phương pháp tạo lập hành vi, thói quen: phương pháp giao việc, phương pháp luyện tập, phương pháp tổ chức cho học sinh thao gia vào các hoạt động thực tiễn xã hội Nhóm phương pháp này giúp người được giáo dục hình thành nhiều phẩm chất năng lực tốt đẹp như: ý thức hợp tác, tinh thần đoàn kết, khả năng sáng tạo, thái độ học tập - lao động, phong cách giao tiếp, ứng xử,…
Nhóm phương pháp kích thích hoạt động, điều chỉnh hành vi, thái độ: phương pháp nêu gương, phương pháp khen thưởng, phương pháp thi đua, phương pháp trách phạt,…
Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả của giáo dục: phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp tổ chức các hoạt động,…
Trang 35Do đặc thù môn học, mục tiêu giáo dục môn giáo dục công dân là hình thành, phát triển cho học sinh các phẩm chất năng lực cần thiết của người công dân thời đại mới thông qua các bài học về giáo dục đạo đức lối sống, pháp luật, kinh tế; chuyển đổi các giá trị văn hóa, đạo đức, các kiến thức pháp luật, kinh tế thành ý thức và hành vi của người công dân Nên các phương pháp giáo dục môn Giáo dục công dân cũng phải phù hợp với đặc thù môn học và sử dụng thật linh hoạt, hiệu quả, kết hợp sáng tạo các phương pháp dạy học truyền thống (vấn đáp, thảo luận nhóm, trực quan,…) với các phương pháp hiện đại (giải quyết vấn đề, thực hiện dự án, sắm vai, công não,…) để phát huy sự chủ động, sáng tạo, tích cực của học sinh trong học tập Hiện nay, các phương pháp dạy học đang được áp dụng vào việc giảng dạy bộ môn GDCD cấp bậc phổ thông trung học chủ yếu là: phương pháp đàm thoại (vấn đáp), phương pháp thuyết trình, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp trò chơi, dự án, phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp sắm vai,…
Trang 36Chương 1 luận văn đã tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan về việc dạy - học môn Giáo dục công dân, giáo dục đạo đức cho học sinh cấp trung học phổ thông; làm rõ một số khái niệm liên quan: giáo dục, mục tiêu giáo dục, mục tiêu giáo dục bộ môn, phương pháp giáo dục, phương pháp giáo dục bộ môn GDCD Bên cạnh đó, tác giả cũng đã làm rõ vai trò, vị trí môn học Giáo dục công dân trong chương trình giáo dục phổ thông; thống
kê nội dung chương trình toàn năm học ở cả 3 khối lớp (10, 11 và 12) để có cái nhìn toàn diện, tổng thể về nội dung chương trình sách giáo khoa môn Giáo dục công dân ở nước ta hiện nay
Trang 37Chương 2 TÌNH HÌNH GIẢNG DẠY BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và giáo dục trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Điều kiện kinh tế- xã hội Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Quận 7 là một trong 5 quận mới của Thành phố Hồ Chí Minh, được chính thức thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1997 theo Nghị định số 03/CP ngày
6 tháng 1 năm 1997 của Chính phủ Hình thành từ 05 xã phía Bắc và một phần Thị trấn huyện Nhà Bè cũ với tổng diện tích tự nhiên là 3576 ha nằm về
phía đông - nam Thành phố
Về địa giới hành chính
Phía Đông Quận 7 giáp huyện Nhơn Trạch (địa phận tỉnh Đồng Nai), phía Tây giáp quận 8 và huyện Bình Chánh - ranh giới là rạch Ông Lớn, phía Nam giáp huyện Nhà Bè - ranh giới là rạch Đĩa, sông Phú Xuân, phía Bắc giáp quận 2 và quận 4 - ranh giới là kênh Tẻ và sông Sài Gòn Hiện tại quận
7 gồm 10 phường: Phú Thuận, Phú Mỹ, Tân Phong, Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây, Tân Quy, Tân Hưng, Tân Kiểng, Tân Phú, Bình Thuận Phường
có diện tích lớn nhất là phường Phú Thuận là 829 ha, phường có diện tích nhỏ nhất là phướng Tân Quy là 86 ha
Tổng diện tích đất tự nhiên 35,76 km2 (3576 ha), trong đó:
Đất xây dựng và đất chuyên dùng: 1171,34 ha
Đất nông nghiệp: 1386,7 ha
Sông rạch: 1017, 9 ha [41, tr.1]
Sau khi chia tách, Quận tổng cộng có: 24 nhà máy, công ty, xí nghiệp
do Trung ương và Thành phố quản lý như: cảng kho 18 (thuộc cảng Sài Gòn),
Trang 38cảng Bến Nghé, nhà máy luyện cán thép Nhà Bè, Hợp kim sắt Nhà Bè, công
ty may Nhà Bè, nhà máy sản xuất phân bón và thuốc trừ sâu…, ngoài ra còn
có 37 công ty TNHH, 18 doanh nghiệp tư nhân, khu chế xuất Tân Thuận có quy mô sản xuất lớn và khá hiện đại đã đi vào hoạt động) Cùng với việc hình thành vùng đô thị hóa Nam Sài Gòn (2600 ha), quận 7 trở thành trung tâm đô thị mới của thành phố Hồ Chí Minh
Quận 7 có vị trí địa lý khá quan trọng với vị trí chiến lược khai thác giao thông thuỷ và bộ, là cửa ngõ phía Nam của Thành phố, là cầu nối mở hướng phát triển của Thành phố với biển Đông và thế giới Các trục giao thông lớn như xa lộ Bắc Nam, đường cao tốc Nguyễn Văn Linh Sông Sài Gòn bao bọc phía Đông với hệ thống cảng chuyên dụng, trung chuyển hàng hoá đi nước ngoài và ngược lại, rất thuận lợi cho việc phát triển thương mại
và vận tải hàng hoá cũng như hành khách đi các vùng lân cận
Về đặc điểm tình hình dân cư:
Kể từ khi được thành lập (4/1997) với dân số là 90.920 nhân khẩu với 17.673 hộ, mật độ dân số 2544 người/ km2; nhưng chỉ sau gần 1 năm (12/1997) theo thống kê của quận, dân số đã tăng lên 97.806 người, tăng 7,57% và tính đến ngày 01/04/2001 dân số của quận đã lên đến 115.024 người, tốc độ tăng dân số đã lên đến 8,38% so với năm 1997
Xét cơ cấu dân số theo độ tuổi, tỷ lệ dân số trong độ tuổi từ 15-34 tuổi chiếm 42,3% tổng dân số của quận Tình trạng dân cư đang xáo trộn rất mạnh
và phân bố không đều, mật độ dân số bình quân là 3.220 ngưới/km2 Tỷ lệ dân số có hộ khẩu tại quận chiếm 72% số hộ và 74% số nhân khẩụ Tỷ lệ số dân ở diện KT2, KT3, KT4 chiếm 34% số hộ và 33% số nhân khẩụ.[41, tr.1]
Về kinh tế - xã hội
Quận 7 tập trung những ngành kinh tế mũi nhọn như: kinh doanh mua sắm, dịch vụ vui chơi giải trí - văn hóa - thể thao, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ
Trang 39chăm sóc sức khỏe, các loại hình dịch vụ hậu cần cho Khu chế xuất Tân Thuận, Khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng Bên cạnh đó, Quận cũng tạo điều kiện
hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới và hiện đại hóa công nghệ, nâng cao tính cạnh tranh về hàng hóa xuất khẩu; đồng thời củng cố và phát huy hiệu quả các chợ hiện có, tiếp tục triển khai thực hiện hoàn chỉnh quy hoạch xây dựng siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn Quận Ngoài ra Quận cũng chú trọng hình thành, đầu tư phát triển các khu thương mại tập trung, trung tâm tài chính - ngân hàng, khu du lịch sinh thái, khu cảng du lịch theo quy hoạch được phê duyệt; qua đó góp phần đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế xã hội
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quận năm 2017:
Giá trị sản xuất của các ngành kinh tế do quận quản lý năm 2017 đạt 39.838,007 tỷ đồng
Tổng doanh thu thương mại - dịch vụ: 130.858 tỷ đồng, trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ là 43.725,4 tỷ đồng
Giá trị sản xuất ngành Công nghệp - xây dựng đạt 13.186,638 tỷ đồng Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động tính đến thời điểm 31/10/2017 là: 8.969 doanh nghiệp Phần lớn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thương mại- dịch vụ [40, tr.1]
2.1.2 Tình hình giáo dục phổ thông trên địa bàn Quận 7, Thành phố
Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là điển hình đặc trưng của một thành phố lớn, trọng điểm quốc gia Chính vì vậy mà công tác giáo dục tại đây luôn là vấn đề đặt lên hàng đầu Vì lẽ đó, Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh luôn
là ngọn cờ đầu của cả nước trong việc đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Một số thành tựu nổi bật là:
- Đảm bảo chỗ học cho con em nhân dân thành phố
Trang 40- Sớm xác định mục tiêu hội nhập quốc tế, thực hiện mô hình trường học tiên tiến và dạy tiếng Anh trong trường Tiểu học Mục tiêu là học sinh thành phố đạt trình độ tiếng Anh theo chuẩn quốc tế
- Phong trào đổi mới phương pháp dạy – học, dạy học hướng vào cá nhân học sinh, đề cao dạy phương pháp tự học, đổi mới kiểm tra đánh giá, tăng cường tính chủ động cho học sinh, phong trào học sinh nghiên cứu khoa học phát triển mạnh
- Hoạt động hợp tác quốc tế được tăng cường Các chương trình đào tạo quốc tế thu hút ngày càng đông học sinh, sinh viên tham gia
Năm học 2017-2018, tổng số trường học thành phố Hồ Chí Minh quản
lý là 2.160 trường, tăng 5,36% so với năm học 2016-2017 Số lượng trường, lớp, giáo viên, học sinh các bậc học được thống kê cụ thể qua bảng 2.2 dưới đây:
Bảng 2.1: Thống kê số lượng trường, lớp, giáo viên, học sinh các bậc học tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018- 2019