Tiêu chuẩn xác định nghiện ma túy [8, Điều 5] * Đối với nghiện ma túy nhóm Opiats: Người được xác định là nghiện ma túy nhóm Opiats thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Xét nghiệm d
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Hà Nội, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này!
Tác giả
Võ Thị Trâm Anh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 8 1.2 Mục đích, vai trò của biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 17 1.3 Đối tượng, thời hiệu, thẩm quyền và nguyên tắc áp dụng biện pháp xử
lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 19 1.4 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 25 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH DƯƠNG 35
2.1 Thực trạng các quy phạm pháp luật hiện hành về biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 36 2.2 Khái quát chung về tình hình người nghiện ma túy và việc đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại tỉnh Bình Dương 43 2.3 Thực tiễn thực hiện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ năm 2015 đến nay 45 2.4 Đánh giá chung về thực hiện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 54
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP VỀ VIỆC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC 64
3.1 Quan điểm về việc thực hiện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
Trang 5cai nghiện bắt buộc 64 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 66
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
XLVPHC : Xử lý vi phạm hành chính
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới đất nước là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân Những thành tựu của quá trình đổi mới là sự tổng hợp của các mặt độc lập chủ quyền của dân tộc, tốc độ phát triển kinh tế, sự ổn định của đời sống xã hội và đảm bảo an ninh quốc gia, những thành tựu về văn hóa, xã hội, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ…
Đồng hành cùng những thành tựu của đất nước, dưới tác động của toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế thì vẫn xuất hiện những mặt trái, những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, gây nguy hại đến phong tục tập quán, đạo đức, phẩm chất của con người Việt Nam chúng ta Một trong những tác hại đó có thể nói đến tệ nạn ma túy là vấn đề nóng, phá vỡ hạnh phúc gia đình, đe dọa tương lai thế hệ trẻ của đất nước Trước tình hình đó, việc đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy đang trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của nước ta
Tỉnh Bình Dương thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh, với diện tích 2.694,4 km2, gồm 09 đơn vị hành chính cấp huyện (01 thành phố, 04 thị
xã và 04 huyện) với 41 phường, 04 thị trấn và 46 xã Tính đến ngày 01/6/2018, dân số toàn tỉnh là 343.131 hộ, 2.247.811 nhân khẩu, thường trú: 272.034 hộ, 1.104.984 nhân khẩu; tạm trú: 71.097 hộ, 1.142.827 nhân khẩu Bình Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí địa lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 29 khu công nghiệp, 12 cụm công nghiệp, thu hút 33.355 doanh nghiệp trong nước đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 264.725 tỷ đồng; 3.406
Trang 8doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký trên 31,08 tỷ
đô la Mỹ Với điều kiện đó, đã thu hút số lượng lớn dân nhập cư đến sinh sống và làm việc Đây là nguồn nhân lực quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, gây áp lực lớn cho công tác đảm bảo an ninh trật tự nói chung và công tác phòng, chống tội phạm nói riêng Đã xuất hiện nhiều băng, nhóm tội phạm hoạt động liên tỉnh, tập trung ở các khu vực giáp ranh để sau khi gây án hoặc bị phát hiện, truy đuổi sẽ chạy sang ẩn nấp ở các địa bàn khác, gây khó khăn cho quá trình truy bắt, điều tra tội phạm Các loại tội phạm về hình sự, ma túy, người nghiện ma túy đã di chuyển đến và chọn các địa bàn trọng điểm, phức tạp, khu vực giáp ranh, các địa bàn tập trung nhiều dân nhập cư như: Dĩ An, Thuận An, Thủ Dầu Một, Bến Cát, Tân Uyên của tỉnh Bình Dương làm nơi ẩn náu và hoạt động phạm tội [22, tr.1]
Để giải quyết tốt công tác cai nghiện trên địa bàn tỉnh, nhất là việc đưa người nghiện đi cai nghiện bắt buộc, tỉnh Bình Dương đã thực hiện nhiều giải pháp như: Mở các cơ sở điều trị bằng Methadone (tại thành phố Thủ Dầu Một
và thị xã Dĩ An) để hướng dẫn, tạo điều kiện cho người nghiện tiếp cận với các dịch vụ điều trị thích hợp tại cộng đồng; đẩy mạnh việc hỗ trợ vốn, cho vay vốn tạo việc làm, dạy nghề và tái hòa nhập cộng đồng đối với người nghiện ma túy; tăng cường tuyên tuyền, vận động để người nghiện đi cai nghiện tự nguyện tại Trung tâm… Tuy nhiên, công tác cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hiện vẫn còn nhiều hạn chế, chưa hiệu quả; việc đưa đi cai nghiện bắt buộc còn nhiều vướng mắc do các quy định của pháp luật chưa cụ thể, đồng bộ và thiếu khả thi so với thực tế… từ đó dẫn đến số người nghiện ở cộng đồng, số tội phạm liên quan đến ma túy ngày càng cao
Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật những năm gần đây đặc biệt nhấn mạnh việc bảo đảm quyền con người, quyền tự do và dân chủ
Trang 9của mỗi người dân; qua đó, các quan điểm về tệ nạn xã hội và các biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội đã có những thay đổi nhất định, trong đó quy định
về các biện pháp XLHC nói chung và quy định về biện pháp đưa người vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc nói riêng cần được sửa đổi theo hướng bảo đảm tính công khai, minh bạch và bảo đảm dân chủ, công bằng Xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn về mục tiêu cải cách bộ máy nhà nước nhằm nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy nhà nước, cũng như hiệu quả của hoạt động XLVPHC, thì việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hiện nay là hết sức cần thiết
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, học viên chọn đề tài “Biện pháp
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Luật xử lý vi phạm hành chính
2012 từ thực tiễn tỉnh Bình Dương” làm luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xác định rõ tầm quan trọng và sự cần thiết của việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Luật XLVPHC 2012 Yêu cầu đặt ra khi nghiên cứu cần đặt nó trong tổng thể các quy định pháp luật về XLVPHC
* Liên quan đến lĩnh vực này, đã có một số công trình nghiên cứu phải
Luận văn thạc sĩ “Từ biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh đến biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” (năm 2014) của Phạm
Tiến Thành - Đại học quốc gia Hà Nội Luận văn này đã chỉ ra được những
Trang 10biện pháp XLHC dựa trên quy định của pháp luật Tuy nhiên, phần lý luận còn mang tính pháp lý, chưa nêu được điểm nổi trội và áp dụng vào thực tiễn
Luận văn thạc sĩ “Đảm bảo quyền con người trong cơ sở cai nghiện bắt buộc qua thực tiễn thành phố Hải Phòng” (năm 2016) của Nguyễn Quốc Hiệu
- Đại học quốc gia Hà Nội Đây là đề tài nêu cao tinh thần bảo vệ quyền con người khi bị áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trước đó chưa có một công trình nghiện cứu nào đề cập đến
Các công trình nghiên cứu trên đây, đã đưa ra một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn của việc áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Ngoài ra, trực tiếp đề cập nội dung về các biện pháp XLHC khác có thể
kể đến một số bài viết, chuyên đề và công trình nghiên cứu của một số tác giả như:
Bài viết “Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh trong dự thảo luật xử lý
vi phạm hành chính” của tác giả Đào Thị Thu An trong Tạp chí nghiên cứu
lập pháp số 20/2011
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp “Các biện pháp XLHC khác và việc bảo đảm quyền con người” do Thạc sĩ Đặng Thanh Sơn
làm chủ nhiệm đề tài cùng nhóm nghiên cứu Đây là công trình có tính quy
mô và khá chi tiết về các biện pháp XLHC khác
“Kế hoạch tổng thể cai nghiện phục hồi giai đoạn 2001-2010”, Uỷ ban
quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tế nạn ma túy, mại dâm, Hà Nội,
Trang 11quả, Cục phòng chống tệ nạn xã hội”, Hà Nội 2007
Các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp một lượng kiến thức, thông tin lớn về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Đây là những nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả khi thực hiện đề tài này
Với đề tài này, tác giả nghiên cứu và thực hiện có tính khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống trên cả phương diện lý luận và thực tiễn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện các biện pháp đưa người nghiện vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc tại tỉnh Bình Dương góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy và hạn chế thấp nhất số người nghiện còn tồn tại ở ngoài cộng đồng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý về biện pháp đưa người nghiện vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc: Quan niệm, đặc điểm, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các các biện pháp bảo đảm thực hiện …
Đánh giá thực trạng pháp luật và việc thực hiện các quy định của pháp luật về các biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại tỉnh Bình Dương
Đề xuất, kiến nghị những giải pháp khoa học có tính khả thi cho việc hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả việc tổ chức thực hiện
Trang 12pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bình Dương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại tỉnh Bình Dương, không mở rộng đến những địa phương khác
Thời gian: Từ năm 2015 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mac – Lênin kết hợp với Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam đối với vấn đề đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Dựa trên góc độ tiếp cận lý luận và thực tiễn để từ đó hoàn thiện hệ thống pháp luật trong việc áp dụng đối với các đối tượng bị nghiện ma túy hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn, tác giả sử dụng linh hoạt, kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, suy luận logic
Phương pháp thống kê, phương pháp tổng kết thực tiễn cũng được sử dụng có hiệu quả để từ những số liệu, tình hình thực tế cụ thể thống kê được
có thể phân tích, tổng kết thấy được bức tranh toàn diện về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đó là
Trang 13cơ sở chính xác nhất cho việc đề xuất các giải pháp hợp lý và khả thi
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Hiểu rõ khái niệm, cách thức thực hiện biện pháp đưa người nghiện vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh Bình Dương Qua đó viện dẫn đến các văn bản quy phạm pháp luật quy định về vấn đề này
Hệ thống hóa các quy định pháp luật về việc thực hiện biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Từ đó, có cơ sở khoa học để đánh giá cụ thể, chi tiết góp phần hoàn thiện khung pháp lý chuyên ngành, cũng như sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về biện pháp xử lý hành chính đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện biện pháp đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ thực tiễn tỉnh Bình Dương
Chương 3: Quan điểm và giải pháp về việc thực hiện biện pháp xử lý
hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC 1.1 Khái niệm, đặc điểm biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Ma túy và tác hại của ma túy là mầm mống gây ra những hậu quả nguy hại nghiêm trọng cho xã hội nói chung, bản thân người nghiện ma túy và gia đình họ nói riêng Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, đưa ra nhiều biện pháp nhằm ngăn ngừa, phòng, chống ma túy Một trong những biện pháp đó là XLHC đưa người nghiện vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc
Đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp XLHC áp dụng đối với người nghiện ma túy để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc; Áp dụng biện pháp XLHC đối với người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy định cụ thể tại Luật XLVPHC năm 2012, Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp XLVPHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-
CP
1.1.1 Khái niệm về ma túy và người nghiện ma túy
1.1.1.1 Khái niệm về ma túy
Ma túy là tên gọi chung của các chất kích thích mà sử dụng nhiều lần
có thể gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo Không có một định nghĩa chung thống nhất nào về khái niệm này Ở mỗi góc độ tiếp cận, ma túy lại được hiểu theo những cách khác nhau
Theo định nghĩa của Tổ chức Liên Hợp Quốc, ma tuý được hiểu là
Trang 15“Các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng”
Tổ chức Y tế thế định nghĩa: “Ma túy là các chất độc, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy các cơ quan nội tạng”
Theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều 2 Luật Phòng, Chống ma tuý năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2008 định nghĩa về chất ma túy như sau [17, Điều 2]:
- Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành
- Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng
- Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng
Điều 1 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất bao gồm 515 chất ma túy và 44 tiền chất Cụ thể:
- Danh Mục I: Các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền (46 chất)
- Danh Mục II: Các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền (398 chất)
- Danh Mục III: Các chất ma túy được dùng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế, thú
y theo quy định của cơ quan có thẩm quyền (71 chất)
Trang 16- Danh Mục IV: Các tiền chất sử dụng vì Mục đích quốc phòng, an ninh
do Bộ Công an quản lý và cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu Các tiền chất sử dụng trong lĩnh vực thú y do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý
và cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu
Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về ma tuý theo hướng liệt kê như sau: Ma tuý bao gồm nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao coca, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA, XLR-11, các chất ma túy khác ở thể rắn hoặc thể lỏng
Từ những khái niệm trên, có thể thấy ma túy có đặc tính làm thay đổi trạng thái, ý thức, trí tuệ và tâm trạng của người sử dụng khiến cho họ có cảm giác giảm đau, dễ chịu, lâng lâng và không tự chủ được hành vi của bản thân, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người sử dụng Tùy vào loại ma túy cũng như số lượng và sự điều độ trong việc sử dụng là những tác nhân có thể dẫn đến việc nghiện của người sử dụng Thông thường, số lớn chất ma túy tổng hợp có khả năng gây nghiện cao đồng thời có sức tàn phá cơ thể của người dùng hơn chất tinh khiết tự nhiên Nếu sử dụng nhiều lần sẽ dẫn đến tình trạng bị lệ thuộc về cơ thể, tâm thần hoặc cả hai Người sử dụng ma túy do không kiểm soát được bản thân sẽ có những hành vi gây hậu quả nặng nề cho chính mình, gia đình và xã hội
1.1.1.2 Khái niệm người nghiện ma túy
Người nghiện ma túy là những đối tượng tiềm ẩn gây nguy hiểm cho xã hội thông qua những hành vi mà một khi lên cơn sẽ không kiểm soát được Những đối tượng này thường tập trung theo nhóm và tụ tập hút hít ở những nơi vắng, ít người qua lại…Tùy theo từng mức độ nghiện mà người nghiện sẽ
có những biểu hiện bên ngoài khác nhau
Tại Khoản 11 Điều 2 Luật Phòng, Chống ma tuý năm 2000, sửa đổi bổ
Trang 17sung năm 2008 định nghĩa [17, Điều 2]: “Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này”
Người nghiện ma túy thường có những biểu hiện: Cảm thấy cần phải sử dụng thuốc thường xuyên hơn, có thể là 1 ngày 1 lần hoặc thậm chí vài lần một ngày; Có sự ham muốn mãnh liệt với thuốc; Trong bất cứ khoảng thời gian nào, cần thêm thuốc để duy trì những hoạt động hằng ngày; Không đáp ứng được các nghĩa vụ và trách nhiệm với công việc, hoặc cắt giảm các hoạt động xã hội, giải trí để dành thời gian sử dụng ma túy Làm bất cứ điều gì kể
cả những điều trước kia họ nghĩ rằng sẽ chẳng bao giờ có thể làm để có được thuốc thỏa mãn cơn nghiện; Tập trung nhiều thời gian và năng lượng vào việc
sử dụng thuốc; Thất bại trong nỗ lực ngừng sử dụng thuốc Họ có thói quen tụ tập, đi lại đàn đúm với người có đời sống sinh hoạt buông thả như không lao động, không học hành… hoặc chơi thân với người sử dụng heroin, thích ở một mình, ít hoặc ngại tiếp xúc với mọi người (kể cả người thân trong gia đình)
Tiêu chuẩn xác định nghiện ma túy [8, Điều 5]
* Đối với nghiện ma túy nhóm Opiats: Người được xác định là nghiện
ma túy nhóm Opiats thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị áp dụng biện pháp XLHC về nghiện ma túy;
- Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên;
- Kết quả áp dụng nghiệm pháp Naloxone dương tính (+);
- Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và có ít nhất 3 trong
12 triệu chứng của trạng thái cai (theo Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông
tư liên tịch này)
Trang 18* Đối với nghiện ma túy nhóm Amphetamine: Người được xác định là nghiện ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine khi có ít nhất 3 trong 6 triệu chứng sau trong 12 tháng vừa qua:
- Có sự thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm giác bắt buộc phải sử dụng chất dạng Amphetamine;
- Khó khăn trong việc kiểm soát các hành vi sử dụng chất dạng Amphetamine như bắt đầu, chấm dứt hoặc mức độ sử dụng;
- Có trạng thái cai khi ngừng hoặc giảm sử dụng chất dạng Amphetamine;
- Có hiện tượng tăng dung nạp với chất dạng Amphetamine;
- Ngày càng trở nên thờ ơ với các thú vui hoặc sở thích khác;
- Tiếp tục sử dụng chất dạng Amphetamine mặc dù biết rõ về các hậu quả có hại
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm cơ sở cai nghiện bắt buộc
1.1.2.1 Khái niệm cơ sở cai nghiện bắt buộc
Cơ sở cai nghiện bắt buộc là nơi cách ly có thời hạn từ 12 đến 24 tháng cho những người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định nhằm tách ra khỏi cộng đồng theo quy định của pháp luật để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề và cải tạo thành người bình thường
Cơ sở cai nghiện bắt buộc thành lập theo quy định tại Nghị định
số 55/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 06 năm 2012 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập Căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định việc thành lập, giải thể cơ sở cai nghiện bắt buộc phù hợp quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Địa phương có ít người nghiện ma túy có thể gửi đối tượng
Trang 19đến cơ sở cai nghiện bắt buộc của địa phương khác trên cơ sở thống nhất giữa hai địa phương [12, Điều 33]
Cơ sở cai nghiện ma túy công lập là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, có tư cách pháp nhân, trụ sở, con dấu, tài khoản riêng theo quy định của pháp luật Cơ sở cai nghiện ma túy công lập chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp về chuyên môn, nghiệp vụ, tổ chức, nhân sự, tài chính và cơ sở vật chất của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Cơ sở cai nghiện ma túy công lập có các chức năng gồm: tổ chức cai nghiện ma túy bắt buộc; tổ chức cai nghiện ma túy tự nguyện; tổ chức tiếp nhận người sử dụng, người nghiện ma tuý không có nơi cư trú ổn định; tổ chức điều trị thay thế [4, Điều 2]
Do các đối tượng nghiện ngày càng nhiều đã dẫn đến tình trạng quá tải tại các cơ sở công lập Để khắc phục tình trạng trên, một số địa phương đã xây dựng nên cơ sở cai nghiện ngoài công lập và hoạt động dựa trên nguồn ngân sách của địa phương đó Dù là cai nghiện ở các cơ sở công lập hay ngoài công lập thì người nghiện vẫn được khám chữa bệnh với các phương pháp
như cắt cơn và sử dụng thuốc để cai nghiện
1.1.2.2 Đặc điểm của cơ sở cai nghiện bắt buộc
Xuất phát từ khái niệm trên, cơ sở cai nghiện bắt buộc có các đặc điểm như sau:
Một là, cơ sở cai nghiện bắt buộc là tổ chức được hình thành căn cứ
vào tình hình thực tế của địa phương và hoạt động dựa trên nguồn ngân sách của nhà nước
Hai là, đây là nơi cách ly của những người bị nghiện nhằm mục đích
khám, chữa bệnh, điều trị cắt cơn, tư vấn dạy nghề và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng theo quy định của pháp luật
Ba là, các cơ sở cai nghiện ma túy công lập có các chức năng gồm: tổ
Trang 20chức cai nghiện ma túy bắt buộc; tổ chức cai nghiện ma túy tự nguyện; tổ chức tiếp nhận người sử dụng, người nghiện ma tuý không có nơi cư trú ổn định; tổ chức điều trị thay thế
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm của biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
1.1.3.1 Khái niệm về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là một trong bốn biện pháp XLHC được quy định tại Luật XLVPHC năm 2012 Đây là biện pháp do TAND cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng đối với người nghiện ma túy
từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi
cư trú ổn định nhằm mục đích cách ly người nghiện ma túy khỏi cộng động, buộc họ chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề tại cơ sở cai nghiện bắt buộc
Trước ngày 01 tháng 01 năm 2014, việc áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh là biện pháp XLHC được áp dụng đối với người nghiện ma túy và người bán dâm với mục đích là bắt buộc cai nghiện, chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của các cơ sở chữa bệnh Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh nói riêng và các biện pháp XLHC khác nói chung là những biện pháp hạn chế quyền tự do của công dân, do người đứng đầu cơ quan hành chính ở địa phương quyết định Việc trao thẩm quyền cho những người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương để đưa phán quyết ảnh hưởng đến các quyền hiến định về bất khả xâm phạm về thân thể, được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm, tự do đi lại, tự do cư trú của công dân… là chưa phù hợp với Hiến pháp năm 2013
“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh
Trang 21theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Bên cạnh đó, Báo cáo quốc gia về thực hiện nhân quyền của Việt Nam
đã khẳng định các ưu tiên quốc gia và cam kết đối với vấn đề bảo đảm quyền con người Đồng thời, tiếp tục thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 và Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Các văn bản này nhấn mạnh đến những giải pháp xây dựng cơ chế pháp lý để thực hiện quyền yêu cầu xem xét, xử lý bằng thủ tục tư pháp đối với mọi vi phạm nghiêm trọng được phát hiện trong quá trình quản lý, tổ chức thi hành pháp luật và xây dựng hệ thống
tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng của công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người
Mặt khác, thực tiễn áp dụng biện pháp này trong thời gian qua đã bộc
lộ một số điểm hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung, như: quy trình xem xét áp dụng biện pháp này chưa thật sự đảm bảo minh bạch, là những biện pháp hạn chế quyền tự do của công dân nhưng quá trình xem xét áp dụng lại không có sự tham gia của người bị áp dụng cũng như luật sư, người bảo
vệ quyền và lợi ích của họ Trong bối cảnh định hướng của Đảng và Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt nhấn mạnh đến việc bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; quan điểm về tệ nạn xã hội và các biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội đã có những thay đổi nhất định; cũng như yêu cầu thực hiện các công ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên
Chính vì vậy, việc chuyển đổi từ biện pháp XLHC đưa vào cơ sở chữa bệnh sang biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Luật XLVPHC
Trang 222012 sẽ bảo đảm tính công khai, minh bạch và dân chủ, công bằng
Về cơ bản, quy định về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Luật XLVPHC 2012 được xây dựng theo hướng kế thừa các quy định của biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh XLVPHC 2002 Mục đích của biện pháp này vẫn được quy định như Pháp lệnh là đưa người vi phạm vào cơ sở để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của
cơ sở Thời hạn áp dụng biện pháp này được quy định là từ một năm đến hai năm Về hình thức, cơ cấu các điều luật được thể hiện giống như Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 Về nội dung, có hai điểm sửa đổi lớn là (1) hạn chế đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh chỉ bao gồm người nghiện ma túy; (2) sửa đổi trình tự, thủ tục áp dụng theo hướng công khai, minh bạch hơn nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của công dân [21, tr.64]
1.1.3.2 Đặc điểm của biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Từ quan điểm trên mà việc áp dụng các biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có những đặc điểm sau:
Một là, biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cơ
quan có thẩm quyền thi hành bằng biện pháp cưỡng chế hành chính nhà nước
Nó có tính pháp lý, bởi vì biện pháp này được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước, Luật, Nghị định của Chính phủ… Biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng do các cơ quan có thẩm quyền áp dụng theo quy định của pháp luật
Hai là, biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là
biện pháp xử lý chỉ áp dụng đối với công dân Việt Nam, được xác định là bị nghiện và có những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội Đối với trường hợp người nước ngoài có hành vi nghiện ma túy mà bị cơ quan chức năng phát hiện tại lãnh thổ Việt Nam thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình
thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 23Ba là, việc áp dụng biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc được áp dụng theo những trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định và đối tượng bị áp dụng phải chịu sự quản lý và hạn chế một số quyền tự do cá nhân nhất định: với nội dung là hạn chế một số quyền tự do của con người khi
áp dụng các biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định tương đối chặt chẽ trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp này
1.2 Mục đích, vai trò của biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc
Việc xác định mục đích của một loại biện pháp cưỡng chế cần xuất phát từ chính vai trò của nó đối với xã hội, đồng thời căn cứ vào đối tượng áp dụng của biện pháp đó Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có vai trò to lớn trong việc giáo dục, cảm hóa, chữa bệnh và tạo điều kiện cho người nghiện trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững trật tự quản lý hành chính nhà nước
Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được ban hành và áp dụng nhằm hướng đến các mục đích sau:
Thứ nhất, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có mục đích
trước hết là để nhằm cai nghiện cho người nghiện ma túy Như tên gọi của biện pháp này là đưa vào cơ sở cai nghiện vì vậy, mục đích đầu tiên của biện pháp này là việc cai nghiện cho những đối tượng được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Như chúng ta đã biết, khoa học đã chứng minh nghiện ma túy là một bệnh lý thần kinh về não bộ và y học đã tìm ra các phương pháp cai nghiện để khắc phục tình trạng nghiện của người nghiện ma túy, vì vậy, việc áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với những đối tượng này là cần thiết
Thứ hai, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có mục đích giáo
Trang 24dục, chú ý đến cải tạo tư tưởng, coi trọng các mối quan hệ của người bị áp dụng với cộng đồng, gia đình và xã hội Giáo dục là mục đích quan trọng của biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bắt nguồn từ bản chất nhân đạo sâu sắc của xã hội ta luôn tạo điều kiện hoàn thiện nhân cách con người, biết tôn trọng và tuân thủ pháp luật Mục đích giáo dục ở đây không chỉ là giáo dục
ý thức chấp hành pháp luật của đối tượng vi phạm mà còn cảm hóa, giáo dục
cả về đạo đức, lối sống, cũng như phục hồi sức khỏe tạo điều kiện cho người nghiện trở thành người công dân có ích cho xã hội, sớm hòa nhập cộng đồng
Thứ ba, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được áp dụng
nhằm mục đích trừng phạt người có hành vi vi phạm hành chính Tính trừng phạt được coi là một thuộc tính vốn có của các biện pháp cưỡng chế, không chỉ có trong cưỡng chế hành chính mà còn trong cả cưỡng chế hình sự, cưỡng chế dân sự… Trong luật hình sự thì một trong các mục đích của hình phạt đó
là tính trừng trị của hình phạt Tương tự như vậy, các biện pháp cưỡng chế hành chính có tính trừng phạt tương đối cao, chỉ sau cưỡng chế hình sự Đặc biệt là các biện pháp XLHC khác, trong đó có biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là một biện pháp tính cưỡng chế tương đối cao khi nội dung của nó là tước bỏ một số quyền nhân thân của người bị áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định Chính vì tính chất này nên người bị áp dụng chúng sẽ phải sinh sống, học tập, cai nghiện và chịu sự quản lý nghiêm ngặt của các cơ sở này
Tính trừng phạt của biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hết sức cần thiết Bởi vì, đối tượng bị áp dụng biện pháp này là những đối tượng nghiện ma túy, đã bị áp dụng các biện pháp XLHC khác ở cấp độ nhẹ hơn nhưng vẫn tái phạm hoặc các đối tượng này không có nơi cư trú ổn định Các đối tượng này thường có những hành vi vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội Vì vậy, tính trừng phạt của biện pháp
Trang 25đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hết sức cần thiết, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, buộc họ phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi là hạn chế một phần quyền tự do và chịu sự quản lý giám sát của cơ sở cai nghiện bắt buộc
Thứ tư, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được áp dụng
nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn khả năng tái phạm của người bị áp dụng Như chúng ta đã biết, đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là những đối tượng nghiện ma túy, đã bị xử lý bằng các biện pháp khác nhưng vẫn tái phạm hoặc không có nơi cư trú rõ ràng Vì vậy, việc
áp dụng đối biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với những đối tượng này là cần thiết để ngăn chặn họ tái phạm và tiếp tục đi vào con đường lầm lạc
Mục đích phòng ngừa ở đây bao gồm cả phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng, chú ý loại trừ những nguyên nhân thực hiện hành vi trái pháp luật
và tạo điều kiện cho người bị áp dụng tái hòa nhập cộng đồng Khả năng phòng ngừa chung của biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có mục đích nhằm răn đe, cảnh báo và ngăn ngừa sự vi phạm của các đối tượng khác trong xã hội, khi đang có dấu hiệu vi phạm pháp luật
Ngoài ra, việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc còn
có vai trò to lớn trong việc đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, khôi phục trật tự quản lý hành chính nhà nước, trật
tự pháp luật
1.3 Đối tượng, thời hiệu, thẩm quyền và nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Trang 261.3.1 Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Đối tượng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc là các đối tượng bị Công an cấp xã nơi người đó có hành vi sử dụng ma túy trái phép phát hiện hoặc trường hợp người nghiện ma túy do cơ quan Công an cấp huyện hoặc cơ quan Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật hoặc do cá nhân, tổ chức phát hiện hành vi sử dựng trái phép chất
ma túy trình báo Các cơ quan chức năng bằng nghiệp vụ cụ thể xác định tình trạng nghiện Tuy nhiên, không phải đối tượng nào khi bị nghiện cũng đều đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Chỉ những đối tượng thuộc các trường hợp theo quy định của pháp luật mới bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện:
Một là, Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn
định, trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện;
Hai là, Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn
định, bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy;
Người được giáo dục sau khi đã chấp hành ít nhất một phần hai thời gian giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà không tiến bộ, tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thì Chủ tịch UBND cấp xã đã ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn ra quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc [7, Điều 35a]
Ba là, Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú
Trang 27ổn định [12, Điều 1]
Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp cách ly ra khỏi cộng đồng, khỏi môi trường xã hội, gia đình, do đó, Luật XLVPHC 2012 quy định trình tự thủ tục rất chặc chẽ Theo đó, quy định không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp:
- Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;
- Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;
- Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận
Mặc dù không áp dụng biệp pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với những đối tượng trên đây nhưng họ phải chịu sự quản lý nghiêm ngặc của
cơ quan chức năng tại cộng đồng Điều này xuất phát từ tính nhân văn và mục đích nhân đạo của pháp luật
Đồng thời tại Điều 5, Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định về việc không lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau [12, Điều 5]:
- Người đang tham gia các chương trình cai nghiện ma túy tại cộng đồng theo quy định tại Khoản 3 Điều 16 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày
19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC;
- Người đang tham gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện được quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 96/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm
2012 của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế
1.3.2 Thời hiệu, thời hạn áp dụng biện pháp đưa người nghiện vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc
Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì
Trang 28phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định [15, Điều 149] Như vậy, thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định, các chủ thể tham gia vào quan hệ không thể thoả thuận để kéo dài hoặc rút ngắn thời hạn này
Thời hiệu đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật XLVPHC là ba tháng [12, Điều 4] Đây là mốc thời gian kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi sử dụng ma túy trái phép lần cuối bị phát hiện
và lập biên bản vi phạm hành chính hoặc ngày xét nghiệm dương tính với chất ma túy
Thời hiệu theo quy định của pháp luật sẽ đề cao trách nhiệm của cơ quan chức năng trong việc thực thi pháp luật, đồng thời giúp cơ quan có thẩm quyền xác định được mốc thời gian cụ thể mà từ đó đưa ra quyết định có hay không việc đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện
Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 tháng đến 24 tháng kể từ ngày người phải chấp hành quyết định bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc [19, Điều 95]
Thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp XLHC nếu trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp hành chính hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp XLHC mà không tái phạm [19, Điều 7]
1.3.3 Thẩm quyền của các chủ thể trong việc áp dụng biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Luật XLVPHC quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo hướng ở mỗi giai đoạn thực hiện do một cơ quan chức năng phụ trách Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là một biện pháp XLHC liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân nên trình tự, thủ tục lập hồ sơ, xem xét, ra quyết định phải được tiến hành tại
Trang 29TAND, tổ chức thi hành biện pháp này mang tính đặc thù và được quy định
cụ thể theo từng giai đoạn như sau:
1.3.3.1 Thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy
Theo Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP quy định: “Người
có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy là bác sỹ, y sĩ, được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ tập huấn về chẩn đoán, điều trị cắt cơn nghiện ma túy do các cơ quan, tổ chức được Bộ Y tế giao tổ chức tập huấn và cấp chứng chỉ, đang làm việc tại: Các cơ sở y tế quân y, y tế quân dân y; các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của ngành công an; phòng y tế của cơ sở cai nghiện bắt buộc; phòng y tế của các cơ sở có chức năng tiếp nhận, quản lý người nghiện
ma túy không có nơi cư trú ổn định, trong thời gian lập hồ sơ để TAND xem xét quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; trạm y tế xã, phường, thị trấn; phòng khám đa khoa khu vực; bệnh viện cấp huyện trở lên và bệnh viện thuộc các bộ, ngành khác.”
Người có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy phải chịu trách nhiệm về việc xác định của mình trước pháp luật [12, Điều 10]
1.3.3.2 Thẩm quyền xem xét, điều tra và lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc [12, Điều 8]
Trong quá trình điều tra, thụ lý các vụ vi phạm pháp luật, cơ quan công
an cấp huyện hoặc cơ quan công an cấp tỉnh phát hiện hành vi sử dụng ma túy trái phép hoặc dấu hiệu nghiện ma túy của người vi phạm thì tiến hành lập biên bản, xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với người đó
Khi phát hiện người sử dụng ma túy trái phép, công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm lập biên bản về hành vi sử dụng ma túy và tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc Trường hợp cá nhân, tổ chức phát hiện người sử
Trang 30dụng ma túy trái phép thì báo cho cơ quan công an cấp xã nơi người có hành
vi vi phạm để lập biên bản và xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ
1.3.3.3 Thẩm quyền trong việc kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị
và xem xét, quyết định đề nghị áp dụng đưa đi cai nghiện bắt buộc [12, Điều
12, Điều 13]
Theo quy định của pháp luật, Trưởng phòng Tư pháp và Trưởng phòng Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp cùng nhau thực hiện rà soát, đối chiếu và kiểm tra tính xác thực của hồ sơ được cơ quan Công an gửi qua trước khi chuyển hồ sơ đến TAND cùng cấp xem xét, ra quyết định
1.3.3.4 Thẩm quyền trong việc xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TAND cấp huyện có thẩm quyền xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp được Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cùng cấp đề nghị theo trình thự thủ tục do pháp luật quy định TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét lại quyết định của TAND cấp huyện bị khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị [30, Điều 3]
Tuy nhiên, pháp luật lại không quy định thẩm quyền của TAND cấp huyện trong việc ra quyết định chấm dứt thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Học viên đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc sẽ do Giám đốc cơ
sở cai nghiện bắt buộc cấp Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Giấy chứng nhận được lập thành 04 bản, 01 bản cho học viên đó, 01 gửi TAND cấp huyện nơi quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, 01 bản gửi UBND cấp xã nơi học viên đó cư trú và 01 bản lưu tại cơ sở cai nghiện bắt buộc [11, Điều 31]
1.3.4 Nguyên tắc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
Trang 31buộc
Việc thực hiện biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc phải đảm bảo các nguyên tắc:
Một là, chỉ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
với đối tượng quy định tại Điều 96 của Luật XLVPHC
Hai là, việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc phải
được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, đảm bảo công bằng, đúng quy định của pháp luật
Ba là, việc quyết định thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc phải
căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả, nhân thân của người nghiện, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng
Bốn là, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc có trách nhiệm chứng minh người vi phạm hành chính là người nghiện ma túy và thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Cá nhân người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh không vi phạm hành chính, không nghiện ma túy hoặc không thuộc diện bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
1.4 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc
Theo quy định của Luật XLVPHC và các văn bản hướng dẫn thi hành thì thủ tục áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là thủ tục “bán tư pháp” do TAND cấp huyện là cơ quan cuối cùng ra quyết định về việc đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Theo quy định của Luật XLVPHC và Nghị định 221/2013/NĐ-CP, Nghị định 136/2016/NĐ-CP thì trình tự thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ
sở cai nghiện được quy định cụ thể như sau:
Trang 32Đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch UBND cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan;
Đối với người nghiện ma túy không cư trú tại nơi người đó có hành vi
vi phạm pháp luật thì Chủ tịch UBND cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú của người đó thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Hồ sơ đề nghị gồm có biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người nghiện ma túy;
Trường hợp người nghiện ma túy vi phạm do cơ quan Công an cấp huyện hoặc cơ quan Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người đó Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; tài liệu chứng minh người đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi nghiện ma túy; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ
Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị quy định trên, cơ quan đã lập
Trang 33hồ sơ phải thông báo cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của
họ về việc lập hồ sơ Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo Sau khi người bị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ đọc xong hồ
sơ thì hồ sơ được gửi cho Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện Trong thời hạn
05 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ gửi Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cấp
Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện như sau:
Bước 1, Khi phát hiện người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy
hoặc trong quá trình điều tra, thụ lý các vụ vi phạm pháp luật phát hiện hành
vi sử dụng ma túy trái phép thì lập biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép của người đó và tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị; Trường hợp người vi phạm có nơi cư trú không thuộc xã, phường, thị trấn nơi xảy ra vi phạm thì bàn giao người và biên bản vi phạm cho cơ quan Công an cấp xã nơi người vi phạm cư trú để tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định Việc bàn giao phải được lập thành biên bản, mỗi bên giữ một bản; Sau khi hoàn thành việc lập hồ
sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định, cơ quan lập hồ sơ thông báo bằng văn bản về việc lập hồ sơ cho người
bị đề nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ;
Cơ quan Công an lập hồ sơ đề nghị có trách nhiệm xác định độ tuổi của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Việc xác định độ tuổi của người bị đề nghị áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thực hiện theo quy định tại Điều 13 Nghị định
số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 quy định chi tiết một số điều
Trang 34và biện pháp thi hành Luật XLVPHC [2, Điều 3]
Đồng thời, Cơ quan Công an có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị tiến hành
xác minh nơi cư trú của người vi phạm Việc xác định nơi cư trú và xác minh nơi cư trú của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Việc xác định nơi cư trú của người bị đề nghị áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thực hiện theo quy định tại Khoản 5 Điều 1 Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm
2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp XLHC giáo dục tại xã, phường, thị trấn [2, Điều 4]
Hết thời hạn đọc hồ sơ (05 ngày theo quy định), cơ quan lập hồ sơ đánh bút lục và lập thành 02 bản, bản gốc gửi Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện để kiểm tra tính pháp lý, bản sao lưu tại cơ quan lập hồ sơ theo quy định của pháp luật về lưu trữ
Thủ tục đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy [8, Điều 4]
- Văn bản đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy của Công an xã, phường, thị trấn hoặc công an cấp huyện, cấp tỉnh
- Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hoặc các tài liệu phản ánh hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tài liệu chứng minh đã bị áp dụng biện pháp XLHC về nghiện ma túy (nếu có); tài liệu chứng minh đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên (nếu có)
Bước 2, Trưởng phòng Tư pháp và Trưởng phòng Lao động - Thương
binh và Xã hội phối hợp cùng nhau thực hiện rà soát, đối chiếu và kiểm tra tính xác thực của hồ sơ được cơ quan công an gửi qua
Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong thời hạn 05 ngày làm việc, Trưởng phòng Tư pháp cấp
Trang 35huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ Việc kiểm tra tính pháp
lý của hồ sơ phải bảo đảm sự phù hợp, đầy đủ các vấn đề sau đây:
- Các tài liệu, giấy tờ trong hồ sơ đề nghị;
- Đối tượng và thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Kết quả kiểm tra phải được thể hiện bằng văn bản và gửi Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cùng cấp Sau khi nhận được văn bản và
hồ sơ từ Trưởng phòng Tư pháp gửi qua, trong thời hạn 07 ngày, tiến hành đối chiếu hồ sơ đề nghị với nội dung văn bản kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện Trường hợp hồ sơ đầy đủ thì đánh bút lục
và lập thành 02 bản, bản gốc chuyển cho TAND cấp huyện, bản sao lưu tại Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật về lưu trữ; Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì có văn bản đề nghị cơ quan lập hồ sơ
bổ sung, Trong thời hạn 05 ngày làm việc, nếu hồ sơ được bổ sung đầy đủ thì thực hiện như trường hợp 1 Nếu hết thời hạn trên mà hồ sơ không được bổ sung thì ra thông báo về việc trả hồ sơ cho cơ quan lập hồ sơ
Trường hợp Tòa án có văn bản đề nghị làm rõ một số nội dung trong hồ
sơ, Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do
Bước 3, Đây là giai đoạn ban hành quyết định áp dụng các biện pháp
cai nghiện đối với người nghiện thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện Khi nhận được hồ sơ của cơ quan có thẩm quyền chuyển đến, Tòa án phải vào sổ giao nhận; trường hợp hồ sơ không đủ tài liệu theo quy định trả lại hồ sơ và nêu rõ lý do Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Tòa án phải thụ lý và phân công Thẩm phán xem xét, giải quyết Trong thời
Trang 36hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý, Tòa án phải thông báo việc thụ lý bằng văn bản cho cơ quan đề nghị, người bị đề nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên và Viện kiểm sát cùng cấp Thẩm phán được phân công phải kiểm tra hồ sơ về các nội dung theo quy định Trường hợp cần thiết, Thẩm phán có thể tham vấn ý kiến của chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học và đại diện UBND cấp xã nơi người bị đề nghị áp dụng biện pháp XLHC cư trú để làm rõ tình trạng sức khỏe, tâm lý, điều kiện sống, học tập của họ Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, căn cứ vào kết quả kiểm tra hồ sơ, Thẩm phán phải quyết định về một trong các nội dung sau đây: a) Yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ; b) Đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp XLHC; c) Mở phiên họp xem xét, quyết định
áp dụng biện pháp XLHC Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp XLHC
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định áp dụng có hiệu lực, Tòa án gửi quyết định cho người bị áp dụng, Trưởng Công an cấp huyện và Trưởng phòng LĐ-TBXH cấp huyện nơi đã gửi hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp XLHC, UBND cấp xã nơi người đó cư trú và các cơ quan hữu
quan để thi hành theo quy định của pháp luật [30, Điều 26]
Bước 4, Thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc Sau khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc của TAND cấp huyện, cơ quan Công an cấp huyện chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội đưa người đi thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Việc đưa người chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc phải được lập thành biên bản, có sự chứng kiến của đại diện UBND cấp xã và tổ trưởng tổ
Trang 37dân phố, trưởng thôn, ấp, bản hoặc tương đương nơi người phải chấp hành quyết định cư trú Khi tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc,
cơ sở cai nghiện bắt buộc phải kiểm tra đối chiếu người, giấy chứng minh nhân dân (nếu có) hoặc dấu vân tay với các thông tin trong hồ sơ để bảo đảm đúng người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và lập biên bản giao nhận người, biên bản ghi rõ tình trạng sức khỏe của người đó, tài liệu, hồ sơ, tư trang, đồ dùng cá nhân mang theo…
Học viên đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc thì Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc cấp Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Đối với Học viên không xác định được nơi cư trú và không còn khả năng lao động thì sau khi hết thời hạn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì được đưa về cơ sở bảo trợ xã hội tại địa phương nơi cơ sở cai nghiện bắt buộc đóng trụ sở để chăm sóc
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
1.5.1 Chính sách, pháp luật, về phòng chống ma túy nói chung và đưa người nghiện vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc nói riêng
Về mặt bản chất, khi thực các biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc luôn mang trong mình ý chí của giai cấp thống trị Các văn bản pháp lý liên quan đến phòng chống ma túy nói chung và đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện nói riêng đều được ban hành dựa trên tính quyền
uy hành chính và sự suy đoán về những biến đổi về tội phạm ma túy và người nghiện trong tương lai Việc ban hành những chính sách, pháp luật đó là công
cụ để những chủ thể được giao quyền thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn, răng đe và xử phạt các đối tượng trong khuôn khổ pháp luật quy định
Trang 38Các biện pháp xử phạt về ma túy và người nghiện ma túy luôn mang tính hành chính đặc thù Chính vì vậy mà các chính sách, pháp luật là rất cần thiết
và quan trọng, là cơ sở để thực hiện các biện pháp đó Ngoài ra khi các chính sách, pháp luật được ban hành chặt chẽ, rõ ràng thì các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ có liên quan sẽ chủ động và phát huy tối đa năng lực của mình
mà không bị động, lúng túng trong việc thực hiện các phương thức tuyên truyền phòng chống ma túy cũng như là những biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Trong thực tế, việc phòng chống ma túy dựa trên yếu tố tuyên truyền và
ý thức cá nhân ở ngoài cộng đồng bằng những chính sách được ban hành hợp
lý Bên cạnh đó, chủ thể được giao quyền áp dụng đưa người nghiện đi cai ở các cơ sở bắt buộc đều phải xác định đúng và thực hiện theo trình tự luật định, như vậy mới đảm bảo được tính khách quan và hiệu quả Mặt khác, những chính sách, pháp luật đưa ra phải được cụ thể hóa bằng những văn bản hành chính hợp pháp, mang tính bắt buộc, cưỡng chế thực hiện nên cần thiết phải đảm bảo được độ chính xác cao trên nền tảng pháp lý cơ bản Chính vì vậy
mà những chính sách, pháp luật phòng chống ma túy nói chung và biện pháp đưa người đi cai nghiện bắt buộc nói riêng đều mang tính hành chính nên không thể thực hiện mà không có cơ sở pháp lý rõ ràng và thuyết phục
1.5.2 Điều kiện kinh tế
Sự tác động của các yếu tố kinh tế tới pháp luật là một vấn đề đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra Theo đó, pháp luật là một trong những yếu tố quan trọng của kiến trúc thượng tầng phản ánh cơ sở
hạ tầng tương ứng và chịu sự quyết định của các yếu tố cơ sở hạ tầng này Trong đó yếu tố kinh tế là yếu tố hàng đầu Một hệ thống pháp luật đảm bảo được sự phù hợp với điều kiện kinh tế tại thời kỳ đó thì sẽ có tính điều chỉnh cao và sẽ có tác dụng bảo vệ cũng như thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ
Trang 39xã hội
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, với các hệ quả của nó
đã kéo theo nhiều sự thay đổi cả về đời sống tư tưởng và con người, đặc biệt
là giới trẻ Trong nền kinh tế thị trường, các tệ nạn xã hội phát triển ngày càng nhanh chóng, mà điển hình là nghiện ma túy Chính vì vậy, sự thay đổi của các yếu tố này sẽ dẫn đến pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng cần phải biến đổi cho phù hợp, để nhằm đảm bảo ngăn ngừa được tình trạng vi phạm pháp luật, giáo dục, cải tạo các đối tượng nghiện ma túy trở thành người có ích cho xã hội
1.5.3 Yếu tố tư tưởng, văn hóa - xã hội
Từ bao đời nay, khi nhắc đến người nghiện ma túy, người ta thường gắn cho nó một quan niệm theo lối mòn với những suy nghĩ và hành động tiêu cực Mặc dù các chính sách được đưa ra nhằm mục đích tuyên truyền, bảo vệ những đối tượng bị nghiện trước tác động từ dư luận song việc kì thị với các đối tượng trên vẫn đang là vấn đề nhức nhối Một bộ phận không nhỏ từ cộng đồng đã và đang có những hành động xa lánh, e sợ, ngại tiếp xúc với người nghiện, bộ phận khác lại có những cử chỉ lăng mạ, xúc phạm chính gia đình
có con em nghiện Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ, tác động đến tâm lý bản thân người nghiện và gia đình của họ Xuất phát từ những tư tưởng lạc hậu trong xã hội mà các gia đình có con em bị nghiện thường che dấu tình trạng nghiện, không đưa đi cai, nên dẫn tới việc bệnh ngày càng nặng và đe dọa đến tình hình trật tự xã hội trên địa bàn
Tất cả những tác động trên đây có thể tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trong quá trình xây dựng pháp luật về lĩnh vực này nhà làm luật cần tính toán trong việc xây dựng để nhằm đảm bảo ban hành một quy định phù hợp, chặt chẽ và có tính nhân văn cao
Trang 40Kết luận chương 1
Ý thức được tác hại của tệ nạn ma túy đến sức khỏe, kinh tế, văn hóa,
xã hội, thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo các ngành, các cấp triển khai đồng bộ các giải pháp phòng chống ma túy trên cả ba lĩnh vực
“giảm cung, giảm cầu và giảm hại”, đặc biệt là công tác cai nghiện, phục hồi cho người nghiện ma túy Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác cai nghiện ma túy không ngừng được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Nhằm đáp ứng yêu cầu, đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới
Việt Nam đã và đang tiến hành quá trình hội nhập quốc ngày càng sâu sắc Hiện nay, chúng ta đã trở thành thành viên của rất nhiều điều ước quốc tế song phương, đa phương, trong đó có các điều ước về quyền con người cơ bản Chính vì vậy, việc thực hiện các cam kết quốc tế được thể hiện cụ thể tại các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia có ảnh hưởng nhất định đến
hệ thống pháp luật nói chung trong đó có hệ thống pháp luật về các biện pháp XLHC
Bên cạnh đó, yếu tố về văn hóa xã hội cũng góp phần không nhỏ đến việc đưa người nghiện đi cai Những biến đổi về kinh tế đã kéo theo biến đổi
về văn hóa Sự du nhập văn hóa quốc tế đã ảnh hưởng đến văn hóa phần lớn giới trẻ hiện nay Hệ quả của việc hòa nhập không sàn lọc đã gây ra tình trạng thoái hóa trong lối sống và tư duy của con người Với tâm lý tìm tòi, muốn thử cái mới, phần lớn giới trẻ đã và đang sa vào con đường tệ nạn xã hội trong
đó có nghiện ma túy mà không kiểm soát được bản thân Để khắc phục được tình trạng trên, ngoài việc giáo dục nhân cách sống, nhà nước ta cần phải đề cao các giá trị văn hóa truyền thống dựa trên phát triển văn hóa hiện đại, phát triển xã hội phồn vinh mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc đương đại đó mới là điều cần bảo tồn và phát huy