1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đối chiếu phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng hàn và tiếng việt

175 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 21,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiên cứu đối chiếu phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng hàn và tiếng việt nghiên cứu đối chiếu phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng hàn và tiếng việt nghiên cứu đối chiếu phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng hàn và tiếng việt nghiên cứu đối chiếu phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng hàn và tiếng việt nghiên cứu đối chiếu phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng hàn và tiếng việt

Trang 2

T ôi xin cam đoan đây là cô n g trìn h nghiên cứu của riêng tôi C ác số liệu thống

kê, kết quả tro n g luận án là tru n g thự c và chưa được ai công bố trong bất kì

công trình k h o a học nào k hác

TÁ C GLẢ L U Ậ N Á N

N G H IÊ M T H Ị T H U H Ư Ơ N G

Trang 4

1.1.3 V ẩ n đề thời và thể tro n g tiến g H àn v à tiếng V iệt 22

1.2 C á c p h ạm trù n gữ p h áp liên quan đến thời gian 27

1.3.1 T h ờ i gian ngữ pháp tro n g tiến g H àn 311.3.2 T h ờ i gian ngữ p háp tro n g tiế n g V iệt 34

CH Ư Ơ N G 2: P H Ư Ơ N G T H Ứ C B IỂ U H IỆ N Ý N G H ĨA T H Ờ I

Trang 5

C H Ư Ơ N G 3: Đ Ố I C H IẾ U P H Ư Ơ N G T H Ứ C B IỂ U H IỆ N Ý

N G H ĨA T H Ờ I G IA N T R O N G T IẾ N G H À N V À T IẾ N G V IỆ T

3.1 Đ ă t v ấ n đề

3.2 M ột số vấn đề về phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng

V iệt

3.2.1 “ Đ ã ” , “ đ a n g ” , “sẽ ” với p h ư ơ n g thứ c biểu hiện ý n g hĩa thời

g ian tro n g tiế n g V iệt

3.2.2 v ề “ đ ã "

3.2.3 v ề “đang”

3.2.4 v ề “sẽ ”

3.2.5 N h ậ n xét

3 3 Đ ố i c h iế u p h ư ơ n g th ứ c biểu hiện th ời gian tron g tiếng H àn

và tiế n g V i ệ t : K h ảo sát trư ờ n g hợp

3.3.1 Sự k h á c b iệt về đặc điểm loại hình giữ a tiếng H àn v à tiếng

V iệt liên q u a n đ ến k h ảo sát

3.3.2 Đ ố i c h iế u cách dịch thờ i q u á khứ, hiện tại, tư ơ n g lai trong tiến g H à n san g tiế n g V iệt v à n g ư ợ c lại

3 4 M ộ t số kết quả đ ố i chiếu

Trang 6

Bảnơ 2.1 Ý ng h ĩa thời tư ơng lai trong v à ~ s s i

Bảng 3.1 K ết hợ p của các hư từ đã, đang, sẽ trong tiếng Việt

D A N H M Ụ C C Á C B IẺ Ư Đ Ò

B iểu: C huyển từ “đã” tiếng V iệt sang tiến g Hàn

B iểu: C huyển từ “đang” tiếng V iệt sang tiếng Hàn

B iểu: C huyển từ “sẽ” tiếng V iệt sang tiến g Hàn

Biểu: C huyển từ “sắp” tiến g V iệt sang tiế n g Hàn

B iểu : C huyển từ quá khứ tiếng H àn sang “đ ã ” tiếng V iệt

B iểu : C huyển từ hiện tại tiếng H àn sang “đ an g ” tiếng Việt

B iểu : C huyển từ tương lai tiếng H àn sang “sẽ” , “sắp” tiếng Việt

T rang 99

T rang 101

Trang 7

M Ở ĐẦU

1 LÝ DO LỰ A CHỌN ĐỀ TÀI

1) Cùng với không gian làm trục hoành, thời eian làm trục tung trên tọa độ trong đời sốne của con người mọi naôn ngừ đều có các phạm trù không gian, thời

gian và những phươne tiện biểu hiện tương ứne Đó có thể là phương tiện từ vựng

hoặc phương tiện neữ pháp Có thê nói ngôn ngừ nào cũng sử dụng một lóp từ vựng

nhằm định vị không gian và thời aian trong các tình huống giao tiếp Đây là một

điểm chuns của các neôn ngữ Yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa chúng là phương

thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ sẵn có trong chức năng biêu thị không gian,

và thời gian Thực vậy có ngôn ngừ ưu tiên các phương tiện từ vựng, ít sử dụng các

yếu tố khác Ngược lại có ngôn ngừ khai thác tối đa các hình thái động từ, hoặc các

hình thái tổ kết hợp với vị từ để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp liên quan đến thời

gian một cách rất tinh tể Hiện tượng này bắt nguồn từ sự khác biệt trong tri nhận về

thời gian, từ đặc điểm tư duy và từ văn hoá giao tiếp của các dân tộc Tiếng Hàn và

tiếng Việt là ví dụ điển hình minh hoạ cho nhận định trên

Thực vậy điểm chung của hai ngôn ngừ này là đều áp dụng phương thức biểu

thị thời gian theo sự phân chia truyền thống là quá.khứ, hiện tại và tương lai Nhưng

một trong những sự khác biệt nổi trội giữa chúng bắt nguồn từ đặc điểm loại hình

của chúng Tiếng Hàn thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính tiêu biểu, trong khi đó

tiếng Việt là ví dụ điển hình của loại hình ngôn ngữ đon lập Trong tiếng Hàn, sự

hiện diện của các hình thái tổ biểu hiện thời và thể, như ~ (S^)1- / ~ b / ~ (—) s /

~ẲỈ/~aÌI /~ s 5! là bắt buộc trong mọi trường hợp Đ ây là một quy tắc ngữ pháp chặt

chẽ, áp dụng đối với mọi trường hợp sử dụng N gược lại trong tiếng Việt các hư từ

biểu hiện thời gian như đã, đang, sẽ được sử dụng một cách linh hoạt, tuỳ thuộc

Nói cách khác, các từ này có thể xuất hiện, hoặc vắng mặt trong phát ngôn Sự tuỳ

thuộc này do nhiều yếu tố chi phối mà chúng tôi sẽ phân tích sâu trong luận án Đây

Trang 8

ngữ Hàn-Việt trone cách biểu thị thời gian Rõ ràng với mục đích phục vụ cho giang dạv và dịch thuật, nghiên cứu phương tiện biểu thị thời gian trong tiếng Hàn

và tiếng Việt là một nhiệm vụ cấp thiết

2) Xét trên phương diện đối chiểu ngôn ngừ Hàn-Việt nói chung và vân đê biểu hiện thời gian trong đề tài cua chúng tôi nói riêng, có thể nhận thấy những điểm sau

Trên phương diện ngôn ngừ học ứng dụng, đề nâng cao chất lượng và hiệu quả eiàna dạy và học tập các nhà giáo học pháp ngoại ngừ cần phài dựa vào kết quả của các công trình đối chiếu ngôn ngừ nhằm dự báo những khó khăn cùa người học ờ những nội dung, những hiện tượng ngừ pháp có sự khác biệt rất lớn giữa các ngôn ngữ để từ đó xác định những chiến lược sư phạm phù hợp, nhằm tạo thuận lợi cho quá trình tiếp thu ngoại ngữ của người học nói chung và của sinh viên tiếng Hàn nói riêng Những công trình nghiên cứu ngôn ngừ đối chiếu hướng đén những ứng dụng vào dạy và học ngoại ngữ như vậy là rất cần thiết

3) Trước xu hướng hợp tác quốc tế nói chung và giao lưu giữa hai nước Việt Nam - Hàn Quốc nói riêng, nhu cầu học tập và nghiên cứu ngoại ngừ tiếng Hàn đang tăng cao Hơn bao giờ hết giảng viên và sinh viên càn được tham khảo những công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng trong học tập và nghiên cứu tiếng Hàn Hiện nay, ở V iệt Nam đã có 15 trường Đại học, cao đẳng tổ chức đào tạo, giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Hàn Quốc, ở Hàn quốc cũng có 5 trường đại học thành lập khoa tiếng Việt và tổ chức giảng dạy ngành Việt ngữ học Những năm đầu, hàng năm, cả nước chi có 100 sinh viên ngành tiếng Hàn được tuyển vào hệ đào tạo chính quy thì giờ đây số lượng sinh viên chính quy mồi năm đã tăng lên đến gần 1.000 người Sinh viên ngành tiếng Hàn ở các trường đào tạo chính quy khi tốt nghiệp ra trường đều tìm được việc làm theo đúng chuyên môn được đào tạo

Trang 9

“Hàn Quốc" và “tiếng Hàn Quốc" đã trơ thành những cụm từ quen thuộc với người dân Việt Nam Đầu tư của Hàn Quốc tại Việt Nam tiếp tục được mờ rộng Theo số liệu thốne kê cùa Cục xúc tiến thương mại hiện nay Hàn Quốc đang là quốc 2Ĩa dẫn đầu trons đầu về số lượne dự án dầu tư vào Việt Nam (với 3250 dự án) và là quốc gia đứng thứ tư về tổng số vốn đàu tư Việt Nam cũng là quốc gia dứng thứ nhất trong số các quốc gia tiếp nhận viện trợ phát triển (ODA) cua Hàn Quốc Giao lưu siữa nhân dân hai nước Hàn-Việt cũng phát triên dưới nhiêu hình thức đa đạne Theo số liệu thốns kê tính đến tháne 12 năm 2012 thì có khoảng 100.000 người Hàn Quốc đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam (tại thành phố

Hồ Chí Minh và lân cận là 85 nghìn người, tại Hà Nội và vùng ngoại vi khoáng 15 nghìn người) Ngược lại, cũng có 120.468 người Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc Tổng cục du lịch Hàn Quốc cũng cho biết, chỉ năm 2012 đã có 700.917 người Hàn Quốc đến du lịch ở Việt Nam và 32.141 người Việt Nam đến thăm Hàn Quốc Mỗi tuần có 182 chuyến bay qua lại giữa hai nước, và Hàn Quốc là quốc gia đứng thứ nhất về lượng khách du lịch đến thăm Việt Nam Vì thế, số người

đã, đang học tiếng Hàn và số người mong muốn sẽ học tiếng Hàn để phục vụ cho công việc, sinh hoạt, làm việc, sinh sống tăng lên nhanh chóng khiến cho các cơ sở đào tạo tiếng Hàn quốc cũng phát triển rất nhanh Bên cạnh các trường đào tạo chính quy, sổ các trung tâm ngoại ngừ lớn nhỏ tổ chức giảng dạy tiếng Hàn đã tăng đến mức khó để đưa ra được một thống kê chính xác

Trong bối cảnh trên nhu cầu học tiếng Hàn là rất lớn nhưng tất cả các học viên đều khẳng định “tiếng Hàn rất khó” Khó khăn của việc học ngoại ngữ này có thề bắt nguồn từ nhiều lý do như sự khác biệt về văn hoá, lối sổng, cách tư duy, và môi trường xã hội v.v Nhưng theo chúng tôi, khó khăn đầu tiên và căn bản nhất xuất phát từ sự khác biệt về đặc điểm loại hình ngôn ngữ Thực vậy sinh viên nói tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, đại diện tiêu biểu của loại hình ngôn ngữ đơn lập, khi tiếp xúc với tiếng Hàn đại diện điển hình của loại hình ngôn ngữ chắp dính, phải đối mặt với nhiều khó khăn do sự khác biệt ngôn ngữ gây ra

Trang 10

Nhằm góp phần giúp sinh viên Việt Nam khắc phục những khó khăn khi học

liếng Hàn, chúna tôi tập trung “Nghiên cứu đôi chiêu phương thức biêu hiện thòi gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt" với mục tiêu chính là mô tả hệ thông biêu

hiện thời gian trong tiếng Hàn xác định những phương thức biểu hiện thời gian lươna đương trong tiếng Việt, phân tích nhữns điểm giống nhau và khác nhau giữa phương thức biểu hiện thời gian trong hai ngôn ngừ: từ đó nhân mạnh các điểm cần lưu ý trong quá trình giảng dạy và học tập cũng như trong quá trình dịch thuật từ tiếng Hàn sang tiếng Việt và ngược lại Chúng tôi cũng hy vọng kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có những đóng góp đáng kể trên bình diện lý luận ngôn ngữ nói chune và trên bình diện ứng dụng vào giảng dạy tiếng Hàn nói riêng

2 MỰC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ N G H I Ê N c ứ u

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận án này là thông qua nghiên cứu theo hướng đổi chiếu phương thức biểu thị thời gian trong tiếng Hàn và Việt, góp phần làm sáng tỏ đặc điêm của phương thức biểu hiện thời gian trong các ngôn ngữ đổi chiếu trong chức năng phản ánh đặc trưng tư duy văn hóa dân tộc

Đe đạt được mục đích trên, luận án đặt ra và thực hiện các nhiệm vụ sau

2.2 Nhiệm vụ của luận án

1) Phân tích, hệ thống hóa cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu

2) Tổng quan tình hình nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và tiếng Việt

3) Tập trung khảo sát một trong những phương thức biểu hiện thời gian là thời

và thể động từ trong tiếng Hàn và đối chiếu với tiếng Việt nhằm chì ra những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ

4) Đề xuất một số ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy thời và thê động từ tiếng Hàn cho sinh viên Việt Nam trên cơ sờ phân tích lồi sử dụng động từ của sinh viên và đề xuất phương pháp khắc phục

Trang 11

3 LỊCH SỬ VÁN ĐỀ

3.1 Phạm trù “thòi” và “thể” trong các nghiên cứu ngôn ngũ học

Theo đánh giá mới đây của Unesco, trên thế giới có 6800 ngôn ngữ Chúng ta đều biết trong đa số trường họp những gì được biểu đạt ở ngôn ngữ này cũng có thê được thể hiện ở các naôn neữ khác Điều này có nghĩa các ngôn ngữ đều có những năng lực phổ quát nhất định Tuy nhiên mỗi ngôn ngừ lại có những năng lực đặc thù phan ảnh tính đặc trưng của loại hình ngôn ngừ và đặc trưng văn hóa của dân tộc sử đụne nó

Khi diễn đạt một nhận định về một sự tình bất kỳ, người nói cần sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và tuân thủ các quy tắc ngừ pháp Trong biểu đạt ý nghĩa thời gian các phương tiện được sử dụng gồm phương tiện từ vựng (hệ thống các từ chỉ thời eian) và phương tiện ngữ pháp (thời, thể, tình thái ở vị từ,.v.v) hoặc các phương tiện ngữ nghĩa phái sinh1 hình thành Phạm trù thời và thê được khăng định

là những phạm trù ngữ pháp quan trọng của động từ trong các ngôn ngữ Châu Âu Theo giới hạn nghiên cứu trình bày trên đây, chúng tôi sẽ chỉ tập trung vào vân đê

“thời” và “thể” trong hai ngôn ngữ Hàn-Việt

Trước hết chúng ta nhận thấy trong các nghiên cứu về ngừ pháp ngữ nghĩa tiếng Hàn, phạm trù “thời'’ chiếm vị trí quan trọng, được hầu hết các công trình nghiên cứu đề cập đến Nhìn lại lịch sử nghiên cứu tiếng Hàn, mà khởi đầu là các nghiên cứu về hình thái học, vấn đề “thời” trong tiếng Hàn đã thu hút được sự quan tâm của các nhà Hàn ngừ ngay tò những năm 90 của thế kỷ trước Tựu trung lại có hai

xu hướng nghiên cứu chính như sau:

- Xu hướng thứ nhất có quan điểm độc lập thể hiện qua những nghiên cứu của nhóm học giả quý tộc Hàn quốc, vổn là những người có quan điểm riêng, không chịu ảnh hưởng của các trường phái nghiên cứu nào khác

1 “ Phương tiện ngữ nghĩa phái sinh" là khái niệm chúng tôi tự đặt ra đê chi những phương tiện biêu hiện vốn không phải có sẵn mà phái sinh nhờ sự kết hợp với các yêu tô xung quanh từ đó tạo ra một giá trị biểu thị Ví dụ: bối cành, tình huông, logic thoại, logic văn mạch v.v.

Trang 12

- Xu hướng thứ hai chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ học phương Tây, bất đâu từ saunăm 1970 khi các nhà truyền giáo đến Hàn Quốc, mang theo các kết quả nghiêncứu neôn nsừ học lý thuyết của châu Ảu.

Cho đến nay các nhà nghiên cứu thuộc hai xu hướng khởi nguồn này vần cònnhiều ý kiến trái ngược nhau do dựa vào cơ sờ lý thuyết và áp dụng phương pháptiếp cận khác nhau Điều này chứne tỏ phạm trù “thời" trong tiếng Hàn là một phạm trù phức tạp đòi hoi phải thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu

Những nghiên cứu sớm nhất về "thời’' trong tiếng Hàn là của Choi Kwang Ok (1908) và Chu Si Kyung (1910) Ngay từ đầu thế ki 20, các tác già đã đặt ra những vấn đề nghiên cứu tạo tiền đề cho nhiều nghiên cứu khác

Cụ thể, Choi Kwang Ok (1908) cho rằng trong tiếng Hàn có sự tồn tại của thời

“quá khứ của quá khứ” Chu Si Kyung (1910) chia thời gian thành ba “thời” : hiện tại (lúc này), quá khứ (thời điểm đã qua) và tương lai (thời điểm sẽ đến) được biểu hiện bằng cả biểu thức liên kết (hình thái tổ liên kết câu) và biểu thức kết thúc (hình thái tố kết thúc câu) Trong nghiên cứu của mình, tác giả Chu Si Kyung đã dựa vào

tiêu chí thời điểm phát ngôn (lúc này/khi đô) để phân chia và mô tả ba thời nêu trên

Tuy nhiên ông cũng thay đổi quan điểm về thời điểm của hành động, và cho rằng về bản chất “thể” đã chứa đựng các yếu tố biểu hiện “thời” Như vậy tác giả đã không tách rời hai phạm trù “thời” và “thể” Vì thế có thể coi nghiên cứu của ông là khởi điểm cho xu hướng nhận thức “thời-thể” là một phạm trù phức hợp trong tiếng Hàn Ngoài ra, Chu Si Kyung cũng cho ràng hình thái tố ~ A/1 có giá trị biểu thị tương lai,

và đây là giá trị nội tại của hình thái tố này, không phải nhờ đến các yếu tố khác mới có Một phát hiện nữa của tác giả là ông đã nhận thấy hình thái tố này là lường thái, nó vừa biểu hiện “thời” vừa biểu hiện “thể” Kết quả nghiên cứu của Chu Si Kyung đã khẳng định xu hướng cho rằng một hình thái tố có thể có hơn một giá trị nghĩa, cụ thể là ở ~ 2JỈ.[100]

Sau Chu Si Kyung, vào những năm 1930, Park Seung Bin (1935) và Choi Hyun

Bae (1937) đã từng bước cụ thể hoá phạm trù thời trong tiếng Hàn khi các tác giả

Trang 13

mô tả ngữ pháp hoá hoặc nghiên cứu từng hình thái tố và chỉ ra những lóp nghĩa khu biệt của chúng Park Seuna Bin đặc biệt chú ý đến thời quá khử hoàn thành và thời quá khứ của quá khứ do các hình thái tố ~ 21 và ~ biểu thị Ngoài những nghiên cứu mô tả phương thức biểu hiện thời và thể trona tiếng Hàn nói chung, Choi Hvun Bae còn có một số nghiên cứu về giá trị biểu hiện nghĩa hoàn thành mà

hình thái tố ~ 9Ẳ là công cụ biểu hiện.

Sau Choi Hyun Bae, Martin S.E (1954) Kim Ik B yung (1976), Lee S eung Ưk (1977) đã phân tích sâu các giá trị ngữ nghĩa của các hình thái tố biêu hiện thời gian Các tác giả đã xác định ý nehĩa thời, thể được biểu đạt bơi hình thái tố ~

^ / '- ( c h ỉ hiện tại) trong các tổ họp kết thúc câu ~ b Q - /1- Ch, và cho rằng cần phải tách hình thái tố ~ b /L - (chỉ hiện tại ) này ra khỏi cấu trúc kết thúc ~ bC-171- Q để xem xét giá trị biều đạt thời và thể của nó

Giai đoạn sau 1970, các nghiên cứu về thời trong tiếng Hàn đã phát triển mạnh

mẽ cả về số lượng và chất lượng Phải nói rằng, ờ giai đoạn này, lý luận ngôn ngữ châu Âu duợc các nhà truyền giáo phương Tây đưa vào Hàn Quốc đã được các nhà ngôn ngữ học bản địa nhanh chóng tiếp thu và ứng dụng rộng rãi Điều này giải thích vì sao ở giai đoạn này đa số quan điểm nghiên cứu, lý luận ngôn ngữ Hàn nói chung và các nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn nói riêng trùng hợp với các luận điểm của ngôn ngữ học châu Âu Ngoài ra, các hình thái tố biểu hiện

“thời” trong tiếng Hàn cũng được nghiên cứu theo mô hình khung thời gian ngữ pháp của các ngôn ngữ châu Âu

Tiếp thu những thành quả nghiên cứu có trước mà chủ yểu là các công trình coi

“thời” là trọng tâm, ở thời kỳ này, các tác giả đã xem xét lại các hình thức biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và như các công trình nghiên cứu trước đó công nhận hình thái tố là đa trị, vì ngoài chức năng biểu đạt “thời” nó còn có giá trị biểu đạt “thể”

và “tình thái" Nhìn tổng thể, giai đoạn sau 1970, các nghiên cứu về “thời'’ trong tiếng Hàn đều tập trung giải quyết các vấn đề sau:

- Thứ nhất: xem xét lại quan điểm về “thời”,

Trang 14

- Thứ hai: nhận diện lại các giá trị vê “thê",

- Thứ ba là xác định giá trị tình thái trong các cấu trúc câu và các loại câu

Từ đó hình thành ba nhóm nghiên cứu chính là:

- Nhóm 1: Theo quan điểm hình thái tố biểu thị thời hoặc thể tình thái là những đon

vị độc lập Đâv là các nghiên cứu chu trương áp dụng phương pháp phân tích theo các phạm trù n£Ũ pháp truyền thống

- Nhóm 2: Cho rằng hình thái tố có thể có chức năng kép, vừa biểu hiện thời vừa biểu hiện thể, nói cách khác, một hình thái tố đồng thời biêu hiện ý nghĩa thời” và ý nshĩa "thể'" Đại diện tiêu biểu của xu hướng này là Nam Ki Sim

-Khác với hai nhóm trên, nhóm 3 bảo vệ quan điểm một hình thái tô đông thời có thể biểu thị cả thời, thể và tình thái Đại diện của xu hướng này là Kim Seok Tuk (1974) và Seo Jeong Soo (1976)

Sau đây chúng ta sẽ xem xét vấn đề này ở tiếng Việt Có thể dễ dàng tìm thấy nhiều khuynh hướng khác nhau trong tiếp cận và nghiên cứu về vấn đề thời và thể Xét theo thời gian, có thể xác định các khuynh hưởng sau

Thứ nhất: những nghiên cứu về phạm trù thời gian trong tiếng Việt được thực hiện ớ giai đoạn trước những năm 1960 chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ học Châu Au Các nghiên cứu này được chia thành hai khuynh hướng rõ rệt là:

- Khuynh hướng mô phỏng ngữ pháp nhà trường: lấy ngữ pháp tiếng Pháp làm chuẩn và tìm kiếm những sự tương ứng trong biểu hiện ý nghĩa thời và thê trong tiếng Việt Tiêu biểu là các nghiên cứu của Trương Vĩnh Kí (1883), Bùi Đức Tịnh (1952) [39:2]

Khuynh hướng phủ nhận phạm trù thời thể trong tiếng Việt cho rằng các biêu hiện về thời trong tiếng Việt là sử dụng các trạng từ chỉ thời gian làm túc từ.Thứ hai: giai đoạn sau những năm 1960, các nhà Việt ngữ học đã bắt đầu có những nghiên cứu không mô phỏng hoặc chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ học châu

Trang 15

Âu Các công trình nghiên cứu thực hiện ờ giai đoạn này với sô lượng rât lớn đêu tập trung tranh luận về các vẩn đề quan trọng như:

Tiếng Việt có thời hay khôns có thời ? Đây là vấn đề cốt lõi được đặt ra trcng các nghiên cứu của Nguyễn Kim Thản (1977), Đào 'lhản (1979), Lê Quang Thiêm (1989) v.v Đáng chú ý là công trình cua Nguyễn Minh Thuyết chủ trương coi thời và thể là hai phạm trù ngữ pháp thực sự tồn tại trong tiếng Việt

và nghiên cứu của ông đã rất thuyết phục ở chồ chứng minh được một cách rõ ràna sự khu biệt giữa những bộ phận đối lập nhau (tương lai/phi tương lai, hoàn thành/phi hoàn thành v.v.) [39:9]

- Thời là phạm trù độc lập hay là phạm trù gắn với phạm trù thể và tình thái ? Trả

lời câu hoi này, Đinh Ván Đức (2001) cho rằng tiếng Việt có thời mà không có thể Ngược lại các tác giả Cao Xuân Hạo (1998), Phan Thị Minh Thuý (2002), nhận định ràng tiếng Việt không tồn tại thời và chỉ tồn tại thể.

- Thời trong tiếng Việt được chia thành 1 thời, 2 thời hay 3 thời? v ấ n đề này được

nêu trong các nghiên cứu của các tác giả Đào Thản (1979), Lê Ọuang Thiêm (1989), Nguyễn Minh Thuyết (1995)

Cũng có nhiều ý kiến khác nhau thảo luận về giá trị ngừ pháp-ngữ nghĩa của các

từ đã, đang, sẽ chỉ thời gian trong tiếng Việt Theo Nguyễn Văn Thành: các từ đã, đang, sẽ, xong, hết, được, nổi, v.v đóng vai trò rất quan trọng trong cấu trúc ngừ

pháp tiếng Việt bởi chúng tạo nên những cấu trúc đổi lập về thời gian của một hành động [35:52], Quan điểm của Cao Xuân Hạo (1998), Nguyễn Thị Quy (1995) rât

đáng chú ý khi các tác giả cho rằng các từ đã, đang, sẽ là vị từ trung tâm, vị từ tình

thái Theo một số tác giả khác như Nguyễn Kim Thản (1977), hay Diệp Quang Ban(2000), các từ nêu trên là những từ chỉ thời, thể, ngoài ý nghĩa thời gian, chúng còn biểu hiện thể tiếp diễn hoặc thể hoàn thành Khác với những ý kiến trên có tác già cho rằng đây là những phó động tò với chức năng làm trợ từ cho các động, tính từ trune tâm như Nguyễn Kim Thản (1977), hay Diệp Quang Ban (2000); hoặc xêp chúng vào lớp từ đặc biệt như Bùi Đức Tịnh (2003) Trong công trình của mình,

Trang 16

Dương Hữu Biên (2007) còn nêu ra vẩn đề về sự tương tác giữa thể ngữ pháp và thể

từ vựng Tác gia này thậm chí còn cho rằng cần nghiên cứu chi tiết hơn sâu hơn sự khu biệt cua tính thể theo một phối cảnh xuyên ngôn ngữ Như vậy vân đê “thê” ngày càne được nhìn nhận là một vấn đề thực sự phức tạp

Sự ra đời cua ngôn nẹữ học tri nhận với quan niệm tư duy về thời gian của con người gắn chặt với tư duy về sự chuyển động của không gian, haynói cách khác, nghĩa thời gian xuất phát từ nguồn nghĩa không gian, đã có ảnh hưởng đến các nghiên cứu gần đây về thời và thể Áp dụng phương pháp tiếp cận của ngôn ngừ học tri nhận, các tác giả Nguyễn Đức Dân (1996), Lí Toàn Thắng (2002) v.v đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề ngừ pháp học thuần tuý cũng như những vấn đề thuộc ngoại vi ngôn ngừ

Một nghiên cứu gần đây nhất của tác giả Phan, Trang (2013) dưới góc nhìn của ngữ pháp tạo sinh cho rằng một số nghĩa ngữ pháp của các phạm trù thời, thê, tình thái v.v là đặc tính của các cấu hình cú pháp nào đó chứ không phải là đặc tính bản thân các mục từ từ vựng biểu đạt Khi khảo sát cấu trúc cú pháp đa tầng của tiếng

Việt, tác giả này đã chỉ ra rằng trong tiếng Việt sẽ có chức năng đánh dấu thời ngôn ngữ (Tense Phrase), đang, đã có chức năng ngoại thể ngữ (outer Aspect Phrase) Như vậy bản chất ngữ pháp của các từ đã, đang, sẽ với ý nghĩa biểu hiện thời

gian vẫn còn được giới Việt ngữ học tiếp tục thảo luận Chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiêu vấn đề này ở chương 3 của luận án này

3.2 Phạm trù “thòi” và “thể” trong các nghiên cứu ứng dụng giảng dạy tiếng Hàn

Các nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn phục vụ cho mục đích giảng dạy tiếng Hàn như một ngoại ngữ trước hết tập trung vào việc mô tả ngữ pháp tiếng Hàn Có thể kể công trình của Kim Je Yeol (2001), (2003), (2004), một nghiên cứu có nhiều đóng góp quan trọng Tiếp theo là các nghiên cứu phân tích lôi của người học của một số tác giả như Lee Jeong Hee (2001, 2002, 2003), No Jae Ưn (2001), Song Ji Yoen (2002), Han Jeong Hee (2003), Lee Hae Young (2003), Park Son Hee (2004) , Kim Ho Jeo n g (2004), (2006) và của các nhà nghiên cứu ngoài

Trang 17

Hàn Quốc, chuyên gia về lí luận giảng dạy tiếng Hàn như một ngoại ngữ như Morimoto Kachuhiko (2002) Song Bi Rak (2005).

Theo Kim Jea Joen (2003) cần phai thay đôi phương pháp mô tả ngữ pháp tiếng Hàn nói chune, và trình bày vấn đề biểu hiện thời gian của tiêng Hàn nói riêng trong sách aiáo khoa dạy tiếng Hàn cho người nước ngoài Cụ thể là thay vì áp đặt ngay quan điểm coi nhừne biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn là "m ột phạm trù ngữ pháp” cần từng bước nêu và giải quyết vấn đề Điều này có nghĩa việc giảng dạy các hình thái tố biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn phải chia thành hai giai đoạn Giai đoạn một có nhiệm vụ cung cấp cho người học những khái niệm cơ bản liên quan đến thời quá khứ, hiện tại, tương lai đơn được biểu thị bởi các hình thái tô tương ứng Giai đoạn hai nhàm mục tiêu phân tích những giới hạn cụ thê, những neoại lệ của từng trường hợp sử dụng các hình thái tô đã trình bày ở giai đoạn một, đồng thời hệ thống hoá cách dùng các hình thái tố, chỉ ra những trường họp ngoại

lệ, bất quy tắc Có thể nói tác giả đã chỉ ra một cách chính xác những hạn chế trong quá trình giảng dạy và đã đề xuất phương pháp khắc phục những hạn chế đó một cách hợp lý là mô hình hóa về mặt lý thuyét Tuy nhiên, đề xuất này của Kim Jea Joen (2003) vẫn chưa được áp dụng trong việc cải tiến các chương trình sách giáo khoa giảng dạy tiếng Hàn cho người nước ngoài và lý thuyết của ông không được tất cả các nhà nghiên cứu đ.ồng tình do thiếu tính khả thi Nói cách khác, thực tiên giảng dạy cho thấy ý định lý thuyết hóa ngữ pháp là điều không dễ dàng thực hiện

Xem xét các công trình nghiên cứu phân tích lỗi của người nước ngoài học tiếng Hàn, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã chỉ ra được nguyên nhân mắc lỗi bắt nguồn từ các yếu tố chính như: ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ đôi với quá trình tiêp thu ngoại ngữ, khả năng vận dụng các biểu thức ngôn ngữ, phương tiện biêu đạt đặc thù của ngoại ngữ, yếu tố về môi trường và sách giáo khoa v.v ơ lĩnh vực này Lee Jeong Hee (2001), (2002), (2003) đã thực hiện một số điều tra và cho thấy sinh viên người Nhật Bản mà tiếng mẹ đẻ thuộc cùng loại hình ngôn ngữ với tiêng Hàn Quôc lại có tỉ lệ mắc lỗi cao hơn so với người học mà tiếng mẹ đẻ của họ thuộc loại hình naôn ngữ khác Lee Hae Young (2003) tập trung nghiên cứu lôi của học viên Trung

Trang 18

chính xác các hình thái tố biểu hiện thời gian trong các câu ghép tiếng Hàn Ngoài

ra là các công trình nghiên cứu của một số giáo sư ở các trường đại học ngoài Hàn Quốc như Nhật Bản, Mông c ổ , Trung Quổc.v.v đã cổ gang lý giai những lồi sai mà học viên nước đó mắc phải dưới lăng kính của ngôn ngữ học đối chiêu

Dù còn ít ỏi nhưng phải công nhận rằng những thành qua nghiên cứu trong lĩnh vực ứng dụng thành quả của ngôn ngừ học đối chiếu vào lí luận dạy học ngoại ngữ đã có nhiều đóng £Óp tích cực vào công cuộc giảng dạy tiếng Hàn như một ngoại ngữ Tuy nhiên cho đến nay, theo hiểu biết của chúng tôi, chưa có công trình nghiên cứu đối chiếu Hàn-Việt nào được thực hiện, cũng chưa có công trình nghiên cứu nào về giáo học pháp ngoại ngừ tiếng Hàn ứng dụng kêt quả của nghiên cứu đôi chiếu hai ngôn ngừ dành cho học viên Việt Nam Vì thế chúng tôi dành chương 4 cùa luận án này để thảo luận về những vấn đề giáo học pháp tiếng Hàn như một ngoại ngữ, dựa trên các kết quả nghiên cứu đổi chiếu đâ đạt được Chính từ góc độ của nghiên cứu ngôn ngừ học ứng dụng, cụ thể là nghiên cứu ngôn ngừ áp dụng vào giảng dạy, ở luận án này chúng tôi không nghiên cứu riêng biệt một đối tượng cụ thể là “thời”, “thể” hay “tình thái” Thay cho những phạm trù riêng lẻ này chủng tôi chọn “sự biểu hiện thời g ia n ’ trong tiếng Hàn Sở dĩ có sự lựa chọn này vì khi giảng dạy ngừ pháp ở trường học, cần phải chỉ ra cho người học bản chât và ý nghĩa đặc trưng của mồi hình thái tổ biểu hiện thời gian của một ngôn ngữ thay vì chỉ mô tả ý nghĩa ngữ pháp của chúng theo các phạm trù thời, thể như ở các nghiên cứu trước đây

4 PHƯƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN c ứ u

Những phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận án này là:

a Phương pháp miêu tả: áp dụng cho việc mô tả những biêu hiện thời gian trong tiếng Hàn trên bình diện đặc trưng hình thái, cấu trúc, và ý nghĩa

Trang 19

tiện biểu hiện thời gian mà hai nsôn ngữ sử dụng đề phát biêu về sự tương đông hay khác biệt giữa chúng Như vậy các bước đổi chiếu mà chúng tôi sẽ thực hiện gồm:

- Bước 1: Phân tích đối chiếu các phương tiện biểu hiện thòi gian trong hai hệ thông ngôn ngữ đặc biệt là các phạm trù thời và thê

- Bước 2: Kiểm chứng các kết quả đối chiếu đã thu được trên bình diện hệ thống ngôn ngừ bằng cách phân tích các bản dịch song ngữ Hàn- Việt và Việt-Hàn, đê khẳng định hoặc xem xét lại các giá trị ý nghĩa ngữ pháp của các hình thái tố biểu thị thời gian từ góc độ ngôn ngừ sử dụng thực tế

- Bước 3: Phân tích các lỗi về dùng thời thể động từ tiếng Hàn mà học viên Việt Nam thường mắc từ nguồn dữ liệu thực tế là bài viết bằng tiêng Hàn của sinh viên, nhằm một lần nữa khẳng định sự khác biệt cơ bản giữa hai ngôn ngữ và những khó khăn mà sự khác biệt này gây ra cho người học, từ đó giúp cho các nhà giáo học pháp ngoại ngữ xác định được một chiến lược sư phạm phù hợp

Ngoài ra, luận án cũng sử dụng một số thủ pháp khác như thống kê trong quá trình khảo sát lỗi và khái quát các nhóm lỗi, phân tích định tính, phân tích định lượng các

dừ liệu thu thập được từ bản dịch song ngữ và bài viết của sinh viên Việt N a m

5 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ c ứ LIỆU NGHIÊN c ứ u

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các phương thức biểu thị thời gian trong tiếng Hàn và trong tiếng Việt

v ề phạm vi nghiên cứu, phương thức biểu thị thời gian trong các ngôn ngữ

là một đề tài rất rộng Trong khuôn khổ của một luận án, khó có thể giải quyết hết tất cả các vấn đề liên quan Chính vì vậy, trong công trình này chủng tôi chỉ tập trung vào vấn đề thời và thể trong tiếng Hàn và đối chiếu với tiếng Việt Sự giới hạn này xuất phát từ những lý do sau

Trang 20

Như chúng ta biết, phạm trù thời gian được biểu đạt bằng nhiều phương tiện, trong đó có phương tiện từ vựng và ngữ pháp Tuy nhiên tính thích đáng của một nghiên cứu là tập trune làm sáng tỏ những điểm nôi trội, những nét đặc thù của một naôn ngữ Thực tế cho thấy thời và thể động từ là một phương tiện ngữ pháp biểu hiện thời gian điền hình của tiếng Hàn, trong khi đó những vân đê liên quan đên phạm trù thời và thể vẫn đang được tiếp tục tranh luận trong giới Việt ngữ học Do vậy đề cập đến vấn đề phức tạp này sẽ là một thách thức lớn nhưng có thể tìm ra được những điểm đáng chú ý trong hai ngôn ngữ Mặt khác, các hình thái tô biêu thị thời và thể độna từ tiếng Hàn có cấu tạo và hoạt động vô cùng phức tạp, rât khác biệt so với các hư từ chỉ thời eian của tiếng Việt Đây là nguồn gốc của những khó khăn trong dạv và học tiếng Hàn như một ngoại ngừ Vì vậy việc tập trung tìm hiêu sâu một một phạm trù ngừ pháp điển hình cùa một ngôn ngữ sẽ giúp chúng ta áp dụng được các kết quả nghiên cứu trong giảng dạy ngôn ngữ đó một cách hiệu quả

Hơn nữa nếu xét đến lớp từ vựng chỉ thời gian (bây giờ, hôm nay, sau đó ) ta thây

phương tiện biểu hiện này đều tồn tại trong hai ngôn ngừ Nhưng kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm cùa chủng tôi cho thấy việc nhận diện ý nghĩa của lớp từ đó khône gây khó khăn lớn cho người học tiếng Hàn Vì vậy chúng tôi chỉ nghiên cứu các phương tiện ngữ pháp

Đó là lý do vì sao một nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn và đối chiếu với tiếng Việt lại tập trung chủ yếu vào các phạm trù thời và thể

Ngoài ra, nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy, cụ thể là cải tiến nội dung ngữ pháp học đường, nghiên cứu của chúng tôi không thực hiện theo đường hướng ngôn ngữ học tri nhận, loại trừ các yếu tố khả biến như ngữ dụng, ngữ cảnh mà chi xem xét các giá trị ổn định là cú pháp và ngữ nghĩa

v ề cứ liệu, nguồn cứ liệu phục vụ cho nghiên cứu này được thu thập từ:

- Các công trình nahiên cứu về Việt ngữ học và Hàn ngừ học

- Các tài liệu tiếng Hàn trích từ báo chí, tác phẩm văn học Hàn quốc có văn phong chuân mực

Trang 21

- Một số bản dịch song ngữ Hàn - Việt và Việt - Hàn.

- Bản dịch tiếng Hàn cuốn tiểu thuyêt "Cánh đông bât tận' của nhà văn Nguyễn N sọc Tư dịch giả Ha Jae Hong, Nhà xuất ban Dongso, xuất ban tháng 5 năm 2008

- Bản dịch tiếng Việt tiêu thuyết "Người ăn chay" của tác giả Hang Kang (Hàn Quốc), người dịch Hoàng Hải Vân, Nhà xuất bản Trẻ, xuất bản tháng 1 năm 2011

Đây là một sự lựa chọn ngẫu nhiên với đề tài nghiên cứu Bời trước khi tiên hành khảo sát nguồn cứ liệu này chúng tôi đã không thử khảo sát ở bât cứ tài liệu nào tương tự

- Các tư liệu khảo sát, quan sát của cá nhân nghiên cứu sinh

- Một số lượng lớn bài viết luận bằng tiếng Hàn của sinh viên Việt Nam

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

Những đóng góp quan trọng nhất của luận án này là:

- Xây dựng được một khung lý thuyết tổng quan các xu hướng nghiên cứu chính

về biểu hiện thời gian trong ngôn ngừ, trong đó nhấn mạnh sự phân biệt giữa thời gian vật chất và thời gian ngữ pháp

- Mô tả sự hoạt động và nêu bật tính đặc thù của các phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn, đặc biệt là thời và thể động từ

- Làm sáng tỏ sự tương đồng và khác biệt trong chức năng, hoạt động của các phương tiện biểu hiện thời gian trong hai ngôn ngữ Hàn -Việt, đặc biệt là các hình thái tố tiếng Hàn và các hư từ chỉ thời gian trong tiếng Việt

- Cung cấp m ột bản tổng kết đầy đủ mang tính hệ thông, khái quát vê giá trị ngữ pháp - ngữ nghĩa của các hình thái tổ biêu hiện thời gian trong tiếng Hàn và những đon vị tương đương trong tiếng Việt, đồng thời kiểm chứng những giá trị

đó qua các bản dịch song ngữ có nghĩa là qua thực tế sử dụng ngôn ngữ

Trên phương diện lí luận dạy học, đây là công trình đâu tiên áp dụng kêt qua nghiên cứu đối chiếu để phân tích lồi của học viên Việt Nam trong sử dụng các

Trang 22

phương tiện biểu hiện thời gian tiếng Hàn Trên cơ sơ phân tích, khái quát hóa các nhóm lồi một cách hệ thống, và chỉ ra phương pháp khắc phục, luận án đã đề xuất một chiến lược sư phạm phù hợp với đối tượng sinh viên chuyên ngữ.

7 CÁU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

Luận án gồm 171 trang, trong đó có 148 trang chính văn, 21 trang phụ lục và danh mục tham khảo Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 4 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của luận án

Trong chương này chúna, tôi đề cập đến những vân đê có tính lí luận căn bản vê phương thức biểu hiện thời gian trong ngôn ngữ, cụ thể là vấn đề thời gian ngữ pháp Liên quan đến phương tiện ngữ pháp biểu hiện thời gian chúng tôi tiến hành xem xét lại vấn đề phạm trù "thời’' và phạm trù "thể” trong ngôn ngừ nói chung và trong hai ngôn ngữ Hàn- Việt nói riêng

Chương 2: Phương thức biểu đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Hàn

Trong giới hạn đối tượng nghiên cứu, chương này tập trung trình bày các hình thái tổ ngữ pháp chỉ thời gian trong tiếng Hàn dưới các biểu thức kết thúc câu, biểu thức liên kết câu và biểu thức định từ đồng thời đề cập đến các vấn đề về hình thái

gian trong tiếng Việt và xem xét những giá trị ổn định của các hư từ đã, đang, sẽ

trong chức năng biểu đạt ý nghĩa thời gian Sau đó, căn cứ vào sự khác biệt về đặc điểm loại hình giữa tiếng Hàn và tiếng Việt chúng tôi tiến hành đổi chiếu cách dịch các thời quá khứ, hiện tại, tương lai trong tiếng Hàn sang tiếng Việt và ngược lại Kết quả đổi chiếu cho phép chúng tôi bước đầu khái quát các trường hợp dịch tương đương giữa hai ngôn ngữ

Trang 23

Chương 4: Những vấn đề dạy và học phương thức biểu đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Hàn cho người Việt

Chương này tập trung phân tích lồi và khái quát các nhóm lôi của sinh viên Việt Nam học tiếng Hàn chỉ ra các nguyên nhân và cơ chế mắc lỗi từ đó đề xuất phương pháp giảng dạy cách diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Hàn có khai thác các thành quả cùa nahiên cứu đối chiếu đã thực hiện ở chương 3

Trang 24

C H Ư Ơ N G 1: C O S Ở LÍ L U Ậ N C Ủ A LU Ậ N ÁN

Trong chươne này trước hết chúng tôi sẽ trình bày về sự phân biệt thời gian

tự nhiên với thời gian vật chất, sự đồng nhất giữa thời gian ngữ pháp và thời gian vật chất Sau đó chúng tôi tập trung trình bày một cách hệ thống những quan niệm của ngữ pháp đại cương liên quan đến thời và thể, những đặc trưng nghĩa và hình thức biểu đạt hai phạm trù này trong các ngôn ngữ châu Au đông thời chú ý đên những phô niệm và những đặc trưng khác biệt giữa các ngôn ngữ Đây là những vấn

đề lý luận cơ bản có liên quan đến cơ sờ và phương pháp luận khi giải quyết các vấn

mà chúng ta biết đều mang tính không gian và thời gian

Từ góc độ triết học, không gian và thời gian được xem là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất Thời gian gắn với vận động Nếu vận động thực hiện theo một tiên trình thì thời gian cũng diễn tiến theo một trục tuyến tính, tức là thời gian vận động theo nguyên tắc đơn chiều Trong một sổ nghiên cứu đê cập đên vân đê thời gian với vai trò là một phạm trù tư duy - phạm trù nhận thức thì thời gian cũng được xem xét dưới nhiều khía cạnh: ví dụ, đo lường khoảng cách, đo chiều dài thời gian v.v Trong đo chiều dài thời gian thì thời gian lại được chia nhỏ ra thành các phân đoạn thời gian, thời đoạn thời gian, khoảnh khắc thời gian v.v

Từ góc độ nhận thức, có thể khẳng định rằng mọi phạm trù hay ý nghĩa ngữ pháp đều có tính hiện thực và bắt nguồn từ sự nhận thức của con người về thế giới khách quan Các phạm trù hay ý nghĩa ngữ pháp đó là những quy tắc tổ chức lời nói

Trang 25

cụ thể để phan ánh những nhận thức cùa con người từ thê giới khách quan và hiện thực thế giới khách quan được phản ảnh thông qua những quy tắc tổ chức lời nói.

Vấn đề là rõ ràna cùna một hiện thực trona một thế giới khách quan (cái có tính chất chung đối với toàn bộ thế giới khách quan - những phổ niệm cùa thế giới khách quan) nhưng ở các ngôn ngữ khác nhau lại có phương thức biêu đạt khác nhau Điều này thể hiện qua tính chất, đặc thù của mỗi ngôn ngữ (cái có tính chất riêng biệt ở từng ngôn ngữ) Ta có sơ đô sau:

Hiện thực khách quan

Như vậy, rõ ràng là ngôn ngữ là công cụ của tư duy, ngôn ngừ có quan hệ với phạm trù vật chất thông qua tư duy của con người Ngược lại, tư duy phản ánh thế giới khách quan nhưng không hoàn toàn sao chụp lại y nguyên thể giới khách quan mà tư duy bị chi phổi bởi sự độc lập sáng tạo của con người, thê hiện qua ngôn ngữ, phục vụ cách thức chủ quan tiếp nhận và phản ánh thực tại của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng Đó là cách nhìn chủ quan, là nhận thức của người bản ngữ đổi với

sự tình được thể hiện trong ngôn ngữ mà họ sử dụng Vì thời gian trong ngôn ngữ thể hiện cách nhìn của m ột cộng đồng người bản ngữ nhất định nên có sự khác biệt trong thời gian ở mỗi cộng đồng ngôn ngữ Như vậy, thời gian trong ngôn ngữ không chì phản ảnh thời gian trong triết học mà còn phản ánh cả mối quan hệ của ngôn ngữ với tư duy và thể hiện cách nhìn nhận sự tình của người bản ngữ

Rõ ràng là thời gian trong thế giới khách quan là thời gian được biêu hiện dưới dạng vật chất, thuộc phạm trù ý niệm, có thể đánh dấu và chia tách Các nhà ngữ pháp truyền thống khi phân tích tiếng Hy Lạp và tiêng Latinh đã phân biệt các

Trang 26

phạm trù đối lập nhau: quá khứ hiện tại tương lai, họ giả định sự đôi lập của ba phạm trù này tạo nên đặc điểm phồ quát cùa mọi ngôn ngữ E.Benveniste (1966) viết:“chúng ta có thể cho rằng tính thời gian là một cái khung vốn sẵn có trong tư duy Nó được tạo ra trên thực tế trong và bời quá trình phát ngôn Từ sự phát ngôn

mà khởi nguồn phạm trù hiện tại và từ phạm trù hiện tại mà đe ra phạm trù thời [ 1 ]

Tuy nhiên John Lyons (1996) đã không thừa nhận quan điểm nói trên mà cho rằng sự đổi lập quá khứ hiện tại, tương lai chỉ là những phạm trù chỉ xuất, đồng thời đó cũng là một đặc điểm của câu và phát ngôn

Đến đây chúng ta chỉ có thể khẳng định thời gian là một khái niệm phô quát,

mà phương thức biểu đạt thay đổi tuỳ thuộc vào từng loại hình ngôn ngữ

Trên trục thời gian một chiều, các mốc thời gian được phân chia như sau:

Theo Frawley (1992) cách biểu đạt ý nghĩa thời trong ngôn ngữ là một cách biểu đạt chi xuất, có nghĩa là lấy tình huống phát ngôn trong đó có thời điểm hiện tại làm căn cứ Tuy nhiên, rõ ràng là ngoài việc lấy thời điểm phát ngôn làm căn cứ, một số ngôn ngừ còn lấy những thời điểm khác làm điểm mốc nhưng những thời điểm này luôn được quy chiếu vào thời điểm phát ngôn

Trang 27

Thời gian thực, thời gian vật chất được nhận biết qua các thời điểm quá khứ hiện tại tương lai Tuy nhiên chúng ta cần phân biệt thời gian thực, với thời gian neôn ngừ Thời gian ngôn ngừ khône phải là sự sao chép thời gian thực, mà được nhận thức từ góc độ khái quát, trùn tượng cùng với sự tri nhận cùa người nói Trong ngôn ngừ, việc xác định mốc thời eian thực chất là xác định thời điêm xảy ra sự kiện, thời điểin phát ngôn và mối quan hệ giữa hai thời điểm đó Khi đó các yếu tô cần xác định gồm có:

- Xác định thời gian xảy ra sự kiện: sự kiện đó nằm ở khoảng nào trong quá khứ hiện tại, tương lai

- Xác định thời gian phát ngôn: để lấy đó làm mốc quy chiếu các sự kiện xảy ra.Xác định mối quan hệ giữa thời điểm xảy ra sự kiện với thời điêm phát ngôn hoặc thời điểm được lấy làm căn cứ quy chiếu thay thời điêm quy chiếu phát ngôn

Thời gian ngôn ngừ là thời gian do ngôn ngữ tạo ra và chỉ tồn tại ở trong ngôn ngữ Mối quan hệ giữa thời gian với ngôn ngữ trước hêt thê hiện ở tính hình tuyến

mà F De Saussure (1973) đã phân tích: các yếu tố ngôn ngữ không thể đồng thời xuất hiện, mà phải lần lượt kế tiếp nhau thành một chuỗi, theo một trục thời gian Thời gian được phản ánh trong ngôn ngừ bằng nhiều hình thức khác nhau, tác động đến nhiều mặt của ngôn ngữ như cụm từ, nghĩa của câu, tổ chức phát ngôn, tổ chức diễn ngôn, các phạm trù thời, thể Ở đây, chúng ta xem xét thời gian không phải ở dạng biểu hiện vật chất, thuộc phạm trù ý niệm mà là theo cách tiếp cận của ngôn ngừ học, tức là xem xét phương thức con người tư duy về thời gian như thế nào, và những phương tiện biểu đạt nó ở mỗi cộng đồng ngôn ngữ Theo John Lyons [15:14], thời gian khách quan là thời gian siêu ngôn ngữ còn thời gian ngữ pháp hoá

là thời gian ngôn ngừ

Yếu tổ liên quan đến thời gian dễ dàng nhận thấy hơn cả là lớp từ vựng của mỗi ngôn ngữ Thực vậy, các đơn vị từ vựng cung cấp cho ta thông tin chi tiết về thời điểm diễn ra hành động Ngoài ra, việc xét đến ngữ cảnh và sự suy luận logic cũng

Trang 28

Trong ngôn ngữ, mỗi câu chứa đựna một thông điệp, qua dó người ta nhận định nghĩa của câu Ngược lại, cốt lõi của sự tình trong ngôn ngừ trong mỗi câu là nghĩa Nghĩa của câu liên quan đến bản chất của sự tình Nghĩa của một sự tình thì luôn gắn liền với vị ngữ - vị từ Vị ngữ chính là đặc trưng của chủ thể Trong vị ngữ

có thời gian gắn với sự tình mà sự tình thì luôn vận động cho nên không thê nói đên thời mà khôna nói đến thề Ngoài ra, về phương diện nghĩa học, thời của động từ có mối quan hệ chặt chẽ với nghĩa của câu Thời động từ cung cấp cho ta nhiều loại thông tin Trong ngôn ngừ biến hình, một động từ được chia, tức là khi động từ phù hợp về dạng thể với chủ ngữ, có thể biểu đạt nhiều ý nghĩa: ý nghĩa về thời gian của

sự tình, về ngôi, và về thể v.v Thời là một phạm trù quan trọng có quan hệ với thê

vì vậy nghiên cứu về thời không tách rời nghiên cứu về thể Thời của động từ không chi phản ánh những quan hệ ngữ pháp mà còn biểu thị tình thái của câu, vốn cũng là một phạm trù ý nghĩa ngừ pháp quan trọng Thực vậy, theo định nghĩa, câu diên tả một hành động, câu được xây dựng do nhu cầu giao tiếp, nên bao giờ cũng biêu đạt một ý nghĩa và tuân thủ một logic nhât định, nhăm tạo ra một tác động nhât định đôi với người nghe Mỗi thông điệp đều chứa đựng một sự tình và thái độ của người nói đối với sự tình đó Chính vì lý do đó mà mệnh đề nòng cốt của câu bao giờ cũng gồm hai thành phần chủ yếu là: phần nghĩa ngôn liệu và phần nghĩa tình thái Như vậy thời của động từ không chỉ dùng để biểu đạt tính thời gian trong ngôn ngữ mà còn biểu hiện mối quan hệ giữa người nói với điều người ta nói tới Đó chính là tính tình thái Bộ ba thời, thể, tình thái dường như được gắn kết trong các ngôn ngữ áp dụng phạm trù thời

1.1.3 V ấn đề th ò i và thể tr o n g tiến g H àn và tiếng V iệt

Theo Từ điển tiếng Việt (1998), thời gian được hiểu là "hình thức tồn tại cơ bản của vật chất diễn biến một chiều theo ba trạng thái quá khứ - hiện tại - tương

Trang 29

lai" Căn cứ vào ba trạng thái quá khứ - hiện tại - tương lai các nhà ngữ pháp học

cổ điển châu Âu đà chỉ ra rằng ba trạng thái dó tương ứng với ba thời, biểu thị ba ý nehĩa nsữ pháp cấu thành là:

- Thời quá khứ diễn đạt ý nehĩa về một hành động diễn ra trước thời điểm phát ngôn, hav V nghĩa quá khử

- Thời hiện tại diễn đạt ý nahĩa vê một hành độne diên ra ngay tại thời điêm phát ngôn, hav ý nghĩa hiện tại

- Thời tương lai diễn đạt ý nghĩa về một hành động diễn ra sau thời điếm phát ngôn,

hay V nghĩa tư ơ n g lai.

Xét từ phương diện ngừ pháp học, mối quan hệ về thời gian giữa các sự kiện tồn tại trong thế giới khách quan thường được xác định nhờ hai mặt ý nghĩa ngữ pháp là thời và thể Nói cách khác, trong các phạm trù ngữ pháp liên quan tới thời

gian có phạm trù thời biểu thị các hành động diễn ra trong quá khứ, hiện tại hay tương lai và phạm trù thể biểu thị trạng thái của hành động, như V.B.Kasevich

(1997) đã nhận định: “phạm trù thời và thể chỉ mối quan hệ giữa hành động với thời điểm nói hoặc một thời điểm nào đó xét theo tiêu chí xảy ra trước, đồng thời, hay sau thời điểm đó” Ý kiến của B.Comrie (1985) cũng hoàn toàn xác đáng khi tác giả cho ràng: “thời biểu thị thời gian của sự tình trong sự đối chiếu với các thời điểm khác, thường là với thời điểm phát ngôn’\ Liên quan đến các phạm trù thời và thể, nhận xét của John Lyons (1996) cũng rất đáng chú ý Theo ông, phạm trù “thời liên quan đến các mối liên hệ thời gian khi chúng được diễn đạt băng các thê đôi lập ngữ pháp thành những hệ hình”

Ngược dòng thời gian, chúng ta cũng được biết các nhà ngữ pháp học truyền thống khi phân tích tiếng Hy lạp và tiếng La tinh đã thừa nhận ba thế đối lập: quá khứ - hiện tại - tương lai, và giả định rằng sự đối lập này vê “thời” là đặc điêm phô quát của ngôn ngữ Phan Thị M inh Thuý (2003) cũng đưa ra quan điêm cho răng ý nghĩa “thời'’ là ý nghĩa có chức năng định vị một sự tình (biến cố, trạng thái, quá

Trang 30

trình) được nói đến trong sự tương ứng với một thời điêm hay một thời đoạn nhât định được lấy làm mốc Theo chúng tôi đây là một quan điêm phù hợp.

Căn cứ vào những điều trình bày trên đây, chúng ta thấy rõ các nhà nghiên cứu không cho "thời” là một phạm trù phổ niệm vì phạm trù này không tồn tại trong tất cả các nsôn ngừ Sự đối lập ba thời điểm "quá khứ", "hiện tại’’, “tương lai không đơn giản bắt nguồn từ việc xác định "thời" của hành động ngôn ngữ Đặc trưng chu yếu cua phạm trù “thời” là biểu thị mối quan hệ giữa thời điêm phát ngôn với thời gian của hành động, với biến cổ hay tình trạng của các sự kiện được biêu đạt trone câu

"Thời'’ là cách diễn đạt trực chỉ (deictic), nghĩa là bao giờ cũng cần có một điểm dùna để định vị thường gọi là tiêu điểm hay điểm mốc “Thời’' thực hiện việc định vị một sự tình so với một điểm quy chiếu cố định trong thời gian đê từ đó nêu

rõ “mối quan hệ giữa sự tình và cái trune tâm điểm thời gian đó bàng cách chi ra một cái hướng và một khoảng cách nào đó" Theo tính chất này, ta có thê xác định một loạt tiêu chí phân biệt “thời” dựa vào sự đồng thời/không đồng thời, trước/sau của thời điểm xảy ra sự kiện so với quy điêm thời gian đê định vị nó [38:37] Trong các nghiên cứu về ngôn ngữ biến hình, cụ thể là tiếng Anh, “thời” được biêt đên với tên gọi là “tense”, khác với “tim e” nghĩa là “thời gian” được định nghĩa như một chuỗi phi không gian có trình tự không thể đảo ngược Khác với quan niệm thông thường về thời gian, thời là phương tiện ngữ pháp có chức năng ngữ pháp hoá khái niệm thời gian thực tế, biến thời gian thực thành một phạm trù ngữ pháp Điều này

có nghĩa khái niệm “thời gian” thông thường được nhận thức về mặt tâm lý, trong

hệ thống ngôn ngữ được biểu hiện cụ thể trong câu bàng một hình thái ngữ pháp Tóm lại thời là phạm trù ngừ pháp m à ở đó thời gian tâm lý (thời gian nhận thức) được thể hiện trong câu

Theo tác giả Hàn Quốc K im C h a K yun (1990), “thời” trong ngôn ngữ là phạm trù biểu hiện mối quan hệ trước sau về mặt thời gian giữa sự tình này với sự tình khác, chỉ ra mối quan hệ giữa thời gian mà người nói lấy làm điểm mốc với sự

Trang 31

việc, hành vi, trạng thái dược mô tả trong câu Như vậy quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngừ học rất rõ ràng: "thời" hay "tcnse' chỉ là một phạm trù ngừ pháp, có thể trùno hợp hay khác biệt với thời gian thực tế tuỳ thuộc vào “điểm mốc

Tuy nhiên, phần lớn các sách ngừ pháp dùng trong trường học lại có xu hướng dựa vào ba thời điểm của thời gian thực "quá khử , "hiện tại \ “tương lai đê giải thích về thời ngữ pháp Chúng tôi cho rằng đã đến lúc phải xét lại sự đon giản hoá này Bởi lẽ thực tế thời ngừ pháp không chỉ đơn thuần biểu thị mối quan hệ giữa thời điểm phát ngôn và thời điểm của sự tình mà trong nhiêu trường hợp người

ta không tính đến thời điểm phát ngôn không được tính đến mà chú trọng mối quan

hệ giữa thời điểm của sự tình với một thời điểm quy chiếu khác, tùy thuộc vào sự lựa chọn thời điểm mốc cùa người nói

Liên quan đến phạm trù thể, J.Lyons (1968) có một nhận xét tinh tê khi tác giả cho rằng thể liên quan đến sự phân bổ phạm vi thời gian của một hành động, biến cố hay trạng thái của sự vật Thê không phải là phạm trù chỉ xuât, không liên

quan đến thời gian phát ngôn [14: 498] Theo B Comrie (1978), “thê là những cách thức nhìn nhận khác nhau đối với sự cấu thành thời gian bên trong của sự kiện"

Ngoài những ý kiến của các tác giả trình bày trên đây, nhà ngôn ngữ học

người Pháp Guillaume (1992) có quan điểm rất độc đáo, theo đó, thể thực chất là

thời nội tại, là thời hàm ẩn của động từ [dẫn theo 43]

Các nhà Việt ngữ học cũng có những phát biểu xác đáng về thể Đinh Văn Đức (2001) cho rằng thể là “diễn tiến của vận động’' [8:162] nghĩa là sự tình diễn ra theo thời gian, có đặc trưng tuyến tính Nguyễn Tuấn Đăng (2004) cũng nhận xét ràng thoạt đầu “thể” dùng để chỉ sự phân biệt “thể hoàn thành" và “thể không hoàn thành” của động từ trong các ngôn ngữ biến hình như tiếng Nga và các ngôn ngữ Slave khác Phạm trù thể bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự nhìn nhận của người nói về diễn tiến của sự tình như: “lặp lại”, “đúng lúc”, “thường xuyên”, “băt đâu” v.v

Căn cứ vào ý kiến của các tác giả trên có thể kết luận rằng thể không có mối

liên hệ với thời điểm phát ngôn, không phải là một phạm trù chì xuất Có thể nói,

Trang 32

người ta dùng trạng thái thời gian cua sự kiện hoặc cua hành động đê phân loại các hoạt độne, sự tình do động từ biêu thị theo tiêu chí hoàn thành/ chưa hoàn thành Theo nguyên tắc này, tiếng Hàn thường sử dụng các yếu tố liên kết ~ CH và ~ n kêt họp với các động từ bổ trợ đê phân biệt thể hoàn thành và chưa hoàn thành Như vậy có thể nói trong tiếng Hàn "thể" là sự kết hợp giữa yêu tô kêt thúc từ liên kêt với các động từ bổ trợ để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp Sự kết hợp này làm thay đôi sự tình hay sự kiện, hoặc quá trình diễn ra hành động V í dụ:

( 1)

Tôi cơm ăn đang

Tôi đang ăn cơm

(2) oMl 1 1 * H tìHV-ẵ- $ 1 ^ 4

Hôm qua 11 h lúc tôi cơm ăn đang đã

Lúc 11 h h ô m q u a , tôi đ a n g ăn c ơ m

(3) 11 ’ă i ^ 3 ì X ế 7ẩ i ì

-Ngày mai llh lú c tôi cơm ăn đang sẽ

V à o lúc 1 l h trư a m ai thì tôi đ a n g ăn c ơ m

Xem xét các ví dụ trên đây ta thấy trong bất kì khung thời gian quá khứ, hiện tại hay tương lai thì sự tình “tôi đang ăn cơm ’' vẫn là sự tình mang ý nghĩa tiếp diễn, chưa hoàn thành Ý nghĩa tiếp diễn chưa hoàn thành này có thể được coi là ý nghĩa thể bất biến của động từ bổ trợ ~ ă l / ~ ý nghĩa này hoàn toàn

ổn định đổi với mọi trường hợp sử dụng động từ bổ trợ này N hư vậy, ý nghĩa thể không cho ta biết vị trí thời gian so với thời điểm phát ngôn mà chỉ cho thấy quá trình di chuyển của sự tình đang được thể hiện trong tình huổng đó Nói khác đi,

“thể” là một phạm trù ngừ pháp hóa biểu đạt trạng thái của hành động, làm xuất hiện tình huống động trong một quá trình chuyển dịch [95]

Xem xét “thể” dưới góc độ là sự hình thành, thay đổi về mặt thời gian, ta thấy sự thay đổi về mặt thời gian dẫn đến một trạng thái nào đó của hành động khác trong khung thời gian đã được chỉ định Điều này khiến “thể” thường được ghi nhận

là tình trạng ‘‘hoàn kết" và tình trạng “chưa hoàn kết” Tức là "thể" là trạng thái xuất hiện trong bối cảnh mà “thời” - thời gian chỉ ra (bao gồm quá khứ, hiện tại,

Trang 33

tương lai), ở dạng thức hoàn thành hoặc chưa hoàn thành Nói cách khác, “thê''có thô cho biết trạng thái của hành động đane xuất hiện ờ vị ngữ động từ 1 rạng thái của động từ có thể là trạng thái đã kết thúc hoặc chưa kết thúc Lân lượt tương ứng với những trạne thái này là thê hoàn thành và thê chưa hoàn thành Khi nhìn nhận vẩn đề dưới góc độ ý nghĩa, thể chưa hoàn thành trong tiếng Hàn gồm có thể tiếp diễn và thể dự kiến Tuy nhiên thì ở thể chưa hoàn thành trong tiếng Hàn, phạm trù ngữ pháp không có các cặp đối lập về hình thái đê diên đạt đây đủ ý nghĩa này Trong đa số trường họp ý nghĩa thể chưa hoàn thành trong tiếng Hàn được nhận diện căn cứ vào sự hiện diện của phó từ hoặc phân tích văn mạch.

Trong nẹhiên cứu phương thức biểu hiện thời gian tiếng Hàn, việc gân như không xem xét đến thể hoàn thành hay thê tiêp diên có thê băt nguôn từ đặc trưng của ngôn ngữ này Do đó, trong sách giáo khoa ngữ pháp tiếng Hàn, đê giải thích về thể" người ta coi "thời gian phát ngôn” làm mốc và đề cập một cách sơ lược về trạng thái của hành động Vì thế cần phải cụ thê hóa ý nghĩa thê liên quan đên phạm trù biểu hiện thời gian

1.2 C Á C P H Ạ M T R Ù N G Ữ P H Á P LIÊ N Q U A N Đ É N TH Ờ I G IA N

N hư đã nêu ở phần cơ sở lý thuyết, mối quan hệ về thời gian giữa các sự kiện tồn tại trong thế giới khách quan thường được xác định nhờ hai mặt ý nghĩa là ý nghĩa “thời” và ý nghĩa “thể” Vậy nội hàm của những mặt ý nghĩa này là gì? Dưới đây sẽ lần lượt phân tích các ý nghĩa ngữ pháp này

1.2.1 v ề p hạm trù “ th ờ i”

Căn cứ vào mối quan hệ giữa thời điểm diễn ra sự kiện với thời điểm quy chiếu, các nhà nghiên cứu đã phân chia thời thành hai loại: thời tuyệt đôi (absolute tense) và thời tương đối (relative tense) V.B.Kasevich (1998) đã cụ thê hoá nguyên tắc này như sau: “Thời tuyệt đối phản ảnh mối quan hệ giữa hành động với thời điểm phát ngôn, trước và sau thời điểm phát ngôn Còn thời tương đổi thì phản ảnh mối quan hệ giữa hành động với một thời điểm nào đó thường là với thời gian diễn tiến của một hành động khác"

Trang 34

Trên cơ sở phân biệt thời điểm phát ngôn và thời điểm mốc B.Comrie (1985) cho rằng: "Thời tuyệt đối thể hiện sự đối chiếu thời gian diễn ra sự kiện với thời điểm phát ngôn, thời tương đối thể hiện sự đối chiếu thời gian diễn ra sự kiện với thời điểm nhất định nào đó được chọn làm mốc”

W.Frawley (1992) thì quan niệm rằng sự phân chia thời gian thành hai thời

cơ bản như trên tương ứng với sự phân chia thời gian chủ quan và thời gian khách quan Trong đó “thời tuyệt đối là thời gian chủ quan (lấy thời điểm lời nói làm thời điểm quy chiếu) và thời tucme đối là thời gian khách quan (lấy một thời điểm nào

đó, không phải là thời điểm lời nói làm thời điểm quy chiêu"

Tóm lại theo các nghiên cứu phân tích trên đây:

- Thời là kết quả đối chiếu thời gian diễn ra sự kiện với một thời điểm mốc

- Thời điểm mốc có thể là thời điểm lời nói hay một thời điểm nào đó được nêu trong câu hoặc trong ngữ cánh của câu2

Các nhà Việt ngữ học cũng có nhiều nhận định xác đáng về thời Đồng quan điểm với các nhà nghiên cứu nêu trên, một lần nữa Nguyễn Minh Thuyết (1995) khẳng định: “thời là phạm trù ngữ pháp của động từ, biểu thị mối quan hệ giữa hành động với thời điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói” Nguyễn Minh Thuyết - Nguyễn Văn Hiệp (1997) còn nhận xét “trong tiếng Anh và tiếng Pháp, vị ngừ bao giờ cũng là động từ được chia ở những thời và thê nhất định Ngược lại, một động từ trong câu được chia ở những thời và thể nhất định thì chứng tỏ động từ ấy là vị ngừ”, v ề vấn đề này, nhận xét của Đinh Văn Đức(2001) cũng rất đáng chú ý: “thời được thiết lập từ sự quy chiếu cái vận động, thế

2 Quan điểm này cũng được từ điển Asher (1994) tóm tắt như sau :

a) về thời tuyệt đối: sử dụng thời điểm phát ngôn làm thời điểm quy chiếu Trong đó thời hiện tại

là thời gian của sự kiện trùng với thời điêm phát ngôn, thời quá khứ là thời gian của sự kiện đi trước thời điểm phát ngôn, thời tương lai là thời gian cùa sự kiện đi sau thời điêm phát ngôn

b) về thời tương đối: không sử dụng thời điểm phát ngôn làm thời điểm quy chiếu Trong đó thời quá khứ là thời gian của sự kiện đi trước thời điêm quy chiêu, thời hiện tại là thời gian của sự kiện trùng với thời điem quy chiếu và thời tuơng lai là thời gian cùa sự kiện đi sau thời điểm quy chiếu

Trang 35

hiện bằng độniz từ với thời điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm nào đó được người nói đề cập tới trong phát neôn Động từ là cái thể hiện sự vận động, và mọi

sự vận động đều diễn ra trong thời gian Do vậy, thời có liên quan chặt chẽ đên

động từ hay nói chính xác hơn thời là phạm trù cùa động từ''[8:307]

Dưới ánh sáng của các cône trình đã công bố, khái niệm “thời' m à chúng tôi thảo luận trong luận án này được định nghĩa là một phạm trù ngữ pháp nhờ đó người ta có thể xác định được vị trí thời eian của sự tình Nói cách khác, “thời" thiêt lập mối quan hệ đối lập về mặt thời gian ngừ pháp

1.2.2 về p h ạm trù “ th ể ”

Liên quan đến thể (aspect), Comrie (1978) cho rằng không có hệ thuật ngữ

nào dược tất cả mọi người chấp nhận khi thảo luận về phạm trù này Vì thế có sự khác biệt trong cách phân loại và gọi tên thể ở các ngôn ngừ Theo Nguyễn Kim Thản (1997), các nhà ngôn ngữ học trên thế giới đã thống kê được khoảng 20 thế Danh sách các ý nghĩa thể đã được W Frawley (1992) tổng họp thành 6 loại chính yếu và 5 loại thứ yếu3 Tuy nhiên, chúng tôi cho ràng dù có nhiều kiểu loại thể khác nhau theo danh sách của Frawley nhưng không phải ngôn ngữ nào cũng có tất cả các kiểu loại

“Thể” được nhận diện dựa trên những tiêu chí ý nghĩa sau: phân biệt giữa cái kéo dài và cái không kéo dài, phân biệt giữa cái giới hạn và cái không có sự giới hạn, phân biệt giữa cái đang diễn ra và cái đã kết thúc, phân biệt giữa cái lặp lại với cái chỉ diễn ra một lần v.v Tất cả những tiêu chí này đều liên quan đến thời gian nhưng không phải là một sự định vị thời gian so với một thời điểm mốc nào đó mà

3 6 loại thể chính yếu : (1) perfective / imperfective (Thể hoàn thành và thể không hoàn thành); (2)

telic / atelic (Thể hữu kết và thể vô kết) ; (3) durative / puntual (Thề kéo dài và thể không kéo dài); (4) interative / semelfactive (Thể lặp lại và thể không lặp lại); (5) progresive (Thê tiêp diên); (6) habitual (Thể thường diễn)

5 loại thể thứ yếu: (1) inceptive (Thể khởi phát); (2) terminative (Thể kết thúc); (3) prospective

(Thể trông đợi); (4) retrospective (Thể hồi tưởng); (5) intensive and magnify (Thê hoàn bị, nhàn mạnh)

Trang 36

là căn cứ vào nét đặc trưng nhin từ bên trọng sự tình Vì thê "thê" có thê xuât hiện

ờ mọi thời điểm, hiện tại, quá khử hoặc tương lai

Như vậy, có thể nói “thời” và “thể" đều liên quan đến việc biêu hiện một sự

tình diễn ra trong một thời gian nào đó bằne những cách khách nhau Thời có chức năng định vị thời gian, trong khi đó thể định danh cho cấu trúc bên trong của sự

tình Nói cách khác: ‘‘thời” có chức năng định vị tình huống trong thời gian bằng

cách đối chiếu lời nói với thời điểm phát ngôn (trường hợp thời tuyệt đôi) hoặc với những tình huống khác (trường hợp thời tương đôi) Còn "thê” thi ít liên quan đên

sở chỉ thời gian của tình huống trong sự đối chiếu với các thời điêm khác, mà chú trọne hơn đến sự cấu thành thời gian bên trong của tình huống

Theo B.Comrie (1985), “thời” và “thể” là những ý nghĩa được phân biệt bằng những tiêu chí - đặc trưng rất khác nhau tuy chúng đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong việc thể hiện ý nghĩa thời gian Dù ở trường hợp nào, mối quan

hệ giữa “thời” và “thể” luôn chặt chẽ không thể tách rời, vì thế khó có thể xem xét phạm trù này mà không xét đến phạm trù kia Theo V.B.Kasevich (1997), giữa phạm trù “thời” và phạm trù “thể” có thể tồn tại những mối liên hệ sau:

- Thể và thời là những phạm trù độc lập (ví dụ, tiếng Anh): nghĩa được thể hiện đồng thời ở cả thời và thể, ngay trong một hình thái của động từ

- Thể và thời là những phạm trù chung, gọi là phạm trù thời - thể (ví dụ, tiếng Hán):

là những hình thái thời, song đã bị phức tạp hoá bởi những ý nghĩa kiểu ý nghĩa thể

Trong một nghiên cứu gần đây, Phan Thị M inh Thuý cũng chỉ rõ rằng dù thời và thể cùng phản ành những thuộc tính của thời gian, phản ánh mặt lượng của hành động về thời gian nói chung, nhưng “thể” có đặc trưng ngữ nghĩa rất khác so với “thời” Cụ thể là '‘thời” là cách xác định vị trí của một sự tình trên tuyến thời gian, một cách định vị có tính trực chi, có nghĩa là bao giờ cũng lệ thuộc vào thời điểm phát ngôn thì “thể” không liên quan gì đến “sự phân bố hay vị trí thời gian của một hành động, một biến cổ, một trạng thái của sự vật” [38:9] Trong khi “thời” là cách xác định thời gian ở bên ngoài sự tình, là phương thức xem xét hành động,

Trang 37

trone sự tình, liên quan đến cách diễn tiến cùa một hành độne một trạng thái, thông qua kết quả hay sự hoàn tất của nó.

Như vậy, không còn nghi ngờ gì thời và thể là hai phạm trù phô niệm, tồn tại trong các neôn ngừ

‘T h ờ i” là phương thức xác định thời gian bên ngoài sự tình, gồm thời gian tương đối và thời gian tuyệt đối “Thể” phản ánh các đặc trưng bên trong sự tình, bên trong tình huống Mồi đặc trưng của sự tình tương ứng với một thê Trên thê giới một số ngôn ngữ chủ yếu sử dụng thể trong khi đó một sổ khác lại không ưu tiên phương thức này [20:35]

1.3 VÁN Đ Ề TH ỜI GIAN NGŨ' PHÁP TRO N G TIẾN G H À N VÀ TIẾNG VIỆT

1.3.1 T h ờ i gian n gữ pháp tron g tiếng Hàn

v ề căn bản, “thời” trong tiếng Hàn chỉ mối quan hệ giữa thời điểm của sự tình với mốc thời gian là thời điểm phát ngôn Nếu thời điểm của sự tình so với thời điểm phát ngôn mà sớm hơn thì gọi là “thời quá khứ”, nếu chậm hơn thì gọi là “thời tương lai" Và khi thời điểm phát ngôn trùng với thời điểm sự tình thì đó là “thời hiện tại”

Sự biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn tu>' thuộc vào sự tri nhận của người nói, vì thế chịu ảnh hưởng nhận thức chủ quan của người nói Một mặt người nói có thể quan tâm đến sự nảy sinh trạng thái của sự tình, mặt khác cũng có thể quan tâm đến sự tình đó xảy ra khi nào, và có tính khả thi hay không v.v Những điểm này đều được lý giải theo yếu tố thời gian Min Huyn Sik (1991) định nghĩa “thời là phạm trù ngừ pháp chỉ ra vị trí thời gian của trạng thái, sự việc hay hành vi nào đó”

và '‘thể không chỉ vị trí thời gian của một tình huống nào mà là phạm trù ngữ pháp

Trang 38

nảy sinh" còn "việc đánh giá tính khả thi hiện thực cua sự tình được gọi là "tình thái" Như vậy, “thời" là phạm trù gắn liền với thời điểm sự tình và thời điểm phát ngôn của người nói còn “thể" là phạm trù phi chỉ xuât không liên quan đên thời điểm phát ngôn.

Một số học giả Hàn Quốc khác cũng chia thời trong tiêng Hàn thành thời tuyệt đối và thời tương đối Thời tuyệt đối dược hiểu là thời lấy thời điêm phát ngôn làm mốc quy chiếu, trong khi đó thời tương đối thì không căn cứ vào thời điêm phát naôn mà, lấy thời điểm thứ ba làm chuẩn Trong biểu thức kết thúc câu, thời được xác định theo chuẩn là thời điểm phát ngôn, nhưng trong biểu thức liên kết câu hoặc biểu thức định từ thì thời không chỉ có liên quan đến thời điểm phát ngôn mà còn liên quan đến thời điểm sự tình được đề cập ở cuối câu Nói cách khác, trong tiếng Hàn Quốc thời tuyệt đối là thời được xác định căn cứ vào thời điểm lời nói, còn thời tưưng đối là thời căn cứ vào tình huống khác, chứ không coi thời điểm nói là điểm mốc

Ví dụ:

(4) -g-^-ẵ- 1'3L n ì~5-0 l ^ 3 4

Nhạc nghe đang vì tâm trạng vui vẻ

Nhạc nehe đang vì tâm trạng vui vẻ (+ Ẳỉ đã)

Trong hai ví dụ trên đây, cùng là hành động “ ệ i $1°-M (đang nghe nhạc)

nhưng nếu coi đó là thời tuyệt đổi thì câu (4) là một sự tình hiện tại, (5) là một sự tình quá khứ Nếu coi là thời tươne đối thì cả (4) và (5) đều được coi là câu hiện tại Như vậy, việc xác định thời tương đối cho phép hiểu đúng về thời được biểu đạt bằng cùng một hình thức ngôn ngữ Ngoài ra, thời tương đổi cũng là khái niệm hữu

Trang 39

Trong nghiên cứu cua mình Nam Ki Sim và Ko Yong Keun (1985) cũ ig chỉ

rõ hình thái tố kết thúc câu biểu thị thời tuyệt đôi trong khi dó thời tương đôi thì được biểu thị bàng hình thức định từ [77:305j Đây là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi mô tả phưong thức biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn ỏ' chương hai của luận án này

Neoài ra như đã đề cập ở phần mở đầu, ba xu hướng nghiên cứu về biêu hiện thời gian trong tiếng Hàn có giá trị vô cùng to lớn Tuy nhiên, một sô vân đê vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng Thực vậy:

- Xu hướng nghiên cứu thứ nhất và thứ hai chưa mang tính khái quát cao, chưa lý giải được triệt để một số hiện tượng về thời và thê động từ tiếng Hàn

- Đổi với xu hướng nghiên cứu thứ ba, trong tư liệu tạp chí, Chong Hi Ja (1996) đã

đề nghị xem xét lại vấn đề thời trong tiếng Hàn và khẳng định rằng các học giả Hàn Quốc có quan điểm không đồng nhất trong cách định nghĩa thời, trong lý giải mối

quan hệ giữa thời và thể tiếng Hàn Lee So Tuk (2002) chủ trương không nên khiên cưỡng quan niệm rằng một hình thái tố chỉ có giá trị biểu đạt ý nghĩa thời gian mà nên công nhận sự đa nghĩa của mỗi hình thái tố Có như vậy mới giải thích được triệt để các hiện tượng biểu hiện thời gian trong tiếng Hàn

Tuy nhiên rõ ràng là ngay cả khi hiện tượng thời-thể trong ngôn ngữ đã được

hệ thống hóa thì vẫn không thể giải thích được một cách thỏa đáng một số trường hợp theo logic của hệ thống đó, và phải coi đó là những trường hợp ngoại lệ Điều này có nghĩa, nếu vấn đề “thời” và “thể” được kết hợp xem xét như một phạm trù ngữ pháp, một khái niệm duy nhất thì vẫn cần có nhiêu công trình nghiên cứu bô sung Vì lý do đó các nhà ngôn ngừ học nói chung và những người chuyên nghiên cứu về biểu hiện thời gian trong ngôn ngừ Hàn nói riêng vẫn tiếp tục miệt mài tìm lời giải đáp

Trang 40

1.3.2 T h ò i gian n gữ ph áp trong tiếng V iệt

Conu trình đầu tiên về nsữ pháp học tiêng Việt được lưu lại là "Từ điên An Nam - Lusitan - La tin '’ của Alexandre de Rhodes, xuất bản năm 1651 [dẫn theo 23: 31] Những nghiên cứu về thời thể động từ trong tiếng Việt được cho là tương đối muộn so với các nước châu Ảu nhưng không vì thế mà không gây ra nhiều tranh luận Trước hết có thể xác định hai xu hướng chính là: (a) công nhận sự tồn tại của phạm trù thời thê tro n s tiếng Việt và (b) phủ nhận sự tồn tại này

Vê xu hướng công nhận tiêng Việt có phạm trù thời, thể có thể kê một sô tác giả tiêu biểu sau V.S.Panfilov (2002) Nhà Việt neữ học người Nga này thừa nhận

tiếng Việt sử dụng ba hư từ biểu thị thời thể là sẽ (tương lai), đang (hiện tại), đã (quá khứ) Nguyễn M inh Thuyết (1995) loại bo các danh từ: hôm, ngày, tuần, lúc, khi khỏi danh sách các từ biểu thị thời, thể và khẳng định thời và thể là hai phạm trù

ngữ pháp thực sự trong tiếng Việt vì nhứng lý do sau: phạm trù này bao gồm những

ý nghĩa bộ phận đối lập nhau, và mỗi ý nghĩa bộ phận được diễn đạt bằng một tiền phó từ nhất định, tạo thành một hệ thống Theo Đinh Văn Đức “thời của động từ là

sự thống nhất giữa nội dung khách quan của vận động và cái nhìn chủ quan của người bản ngữ [9:164], và “thời và thể ở động từ vị ngữ tiếng Việt được người bản ngữ cảm nhận theo lối phi cấu trúc” [9:166]

Ngược lại với quan điểm trên, xu hướng phủ nhận sự tồn tại của thời trong tiếng Việt cho ràng vốn là ngôn ngữ đơn lập, trạng ngữ chỉ thời gian tiếng Việt mới

là phương tiện chủ yếu và có vai trò tương tự như “thời” ở trong ngôn ngữ Án Âu Các nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm này đã phủ nhận khái niệm thời động từ

Điều này có nghĩa các từ đã, đang, sẽ không phải là những phó từ chỉ thời gian trong khi đó những tác giả theo xu hướng thứ nhất lại cố gắng chứng minh đã, đang, sẽ là các phó từ dùng để chỉ thời quá khứ, hiện tại, tương lai.

Một quan điểm độc đáo khác, gần với xu hướng thứ hai là trong tiếng Việt,

vị ngừ có thể do động từ, tính từ hay danh từ đảm nhiệm và vị từ tiếng Việt không biến hình, không biến đổi dạng thức để biểu thị thời như các ngôn ngữ Án- Âu Tuy

Ngày đăng: 20/06/2019, 23:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Ngừ pháp tiếng Việt (2002), Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngừ pháp tiếng Việt
Tác giả: Ngừ pháp tiếng Việt
Năm: 2002
19. v .s Panfilov (1979), "Các cấp thể và các chỉ tố tình thái - thể trong tiếng Việt", Ngôn ngữ. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cấp thể và các chỉ tố tình thái - thể trong tiếng Việt
Tác giả: v .s Panfilov
Năm: 1979
20. v . s Panfilov (1993), Cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt. Đại học Quốc Gia Hà nội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: v . s Panfilov
Năm: 1993
21. v . s Panfilov (2002), "Một lần nữa về phạm trù thì trong tiếng Việt", Ngôn ngữ. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một lần nữa về phạm trù thì trong tiếng Việt
Tác giả: v . s Panfilov
Năm: 2002
22. Trần Kim Phượng (2004), "Những trường hợp không thể dùng phụ từ đã trong tiếng Việt", Ngôn ngữ và đời sổng. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trường hợp không thể dùng phụ từ đã trong tiếng Việt
Tác giả: Trần Kim Phượng
Năm: 2004
23. Trần Kim Phượng (2008), Ngữ pháp tiếng Việt, những vấn đề về thời thể, Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, những vấn đề về thời thể
Tác giả: Trần Kim Phượng
Năm: 2008
24. Nguyễn Anh Quế (1988), Hư từ trong tiếng Việt hiện đại, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hư từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Anh Quế
Năm: 1988
25. Nguyễn Thị Quy (1995), Vi từ hành động tiếng Việt và các tham tổ của nỏ ( so sánh với tiếng Nga và tiếng Anh), Khoa học xã hội, T.p Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi từ hành động tiếng Việt và các tham tổ của nỏ ( so sánh với tiếng Nga và tiếng Anh)
Tác giả: Nguyễn Thị Quy
Năm: 1995
26. Đào Thản (1979), "Sổ tay dùng từ", Ngôn ngữ. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay dùng từ
Tác giả: Đào Thản
Năm: 1979
27. Đào Thản, Hoàng Phê và Hoàng Văn Hành (1980), sổ tay dùng từ, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: sổ tay dùng từ
Tác giả: Đào Thản, Hoàng Phê và Hoàng Văn Hành
Năm: 1980
28. Nguyễn Kim Thản (1963), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Năm: 1963
29. Nguyễn Kim Thản (1977), Động từ trong tiếng Việt, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động từ trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Năm: 1977
30. Nguyễn Kim Thản (1997), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Năm: 1997
31. Nguyễn Kim Thản (1999), Động từ trong tiếng Việt, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động từ trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Năm: 1999
32. Nguyễn Kim Thản (2008), Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Kim Thản
Năm: 2008
34. Lý Toàn Thắng (2012), Một sổ vấn đề lí luận ngôn ngữ học và tiếng Việt K'ioa học xã hội, H à Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sổ vấn đề lí luận ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Lý Toàn Thắng
Năm: 2012
37. Lê Quana Thiêm (2004), Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ, Đại học Quôc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ
Tác giả: Lê Quana Thiêm
Năm: 2004
38. Phan Thị Minh Thuý (2003), Cách diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Nga), Ngữ văn, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, T.p Ho Chi Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách diễn đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Nga)
Tác giả: Phan Thị Minh Thuý
Năm: 2003
39.Nguyễn Minh Thuyết (1995), "Các tiền phó từ chi thời, thể trong tiếng Việt", Ngôn ngữ 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tiền phó từ chi thời, thể trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
Năm: 1995
40. Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1997), Thành phần câu tiếng Việt, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần câu tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w