TỔNG HỢP Câu 5: Các biện pháp khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được các quốc gia sử dụng: Nội dung và cho ví dụ minh hoạ- Các biện pháp khuyến khích thu hút đầu tư
Trang 1Câu 5: Các biện pháp khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thường
được các quốc gia sử dụng: Nội dung và cho ví dụ minh hoạ 2
Câu 6: Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu thường được các quốc gia sử dụng: nội dung, xu hướng điều chỉnh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và cho ví dụ minh họa 7
7 Chính sách thương mại quốc tế của Singapore, Malaysia, Hàn Quốc: Mô hình, nội dung, các công cụ biện pháp chủ yếu và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hoặc đề xuất giải pháp chính sách cho Việt Nam 8
Singapore 9
7.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 9
Malaysia 10
Phần 2: Nội dung và các biện pháp cho mỗi giai đoạn 10
a Giai đoạn 1990 - 1996 10
b Giai đoạn 1997 - 2005 12
Phần 3.: Bài học đối với Việt Nam 16
Hàn Quốc 17
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA HÀN QUỐC 17
2.1 Giai đoạn 1961 - 1980 17
2.2 Giai đoạn 1981 đến nay 19
2.3 Đánh giá chính sách 21
2.4 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 23
3.2.5 Giải pháp tăng cường hợp tác Thương Mại Quốc Tế giữa Việt Nam và Hàn Quốc 25
8 Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Singapore, Hàn Quốc, Malaysia: Mô hình, nội dung, các công cụ biện pháp chủ yếu và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hoặc đề xuất giải pháp chính sách cho Việt Nam. 25 Singapore 26
2 Chính sách thúc đẩy đầu tư quốc tế 28
a Giai đoạn 1965 – 1990 28
b Giai đoạn từ 1991 đến nay 31
3.Đánh giá 34
4 Kinh nghiệm cho Việt Nam 35
Trang 2I Chính sách đầu tư quốc tế của Malaysia 37
2.1 Chính sách đầu tư quốc tế của Malaysia giai đoạn 1968-1995 37
2.1.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế 37
2.1.2 Các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài 38
2.1.3 Chính sách thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài 40
2.2 Chính sách đầu tư của Malaysia giai đoạn 1997-2008: 40
2.2.1 Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Malaysia 40
2.2.2 Chính sách đầu tư ra nước ngoài của Malaysia giai đoạn 1996-2009 42 2.3 Chính sách đầu tư quốc tế của Malaysia từ năm 2009 – 2019 43
2.3.1 Chính sách thu hút vốn 43
2.3.2 Chính sách đầu tư nước ngoài của Malaysia 44
Hàn Quốc 47
I Nội dung chính sách 47
1.1 Giai đoạn 1960-1979 : Chính sách hạn chế 47
1.2 Giai đoạn sau khủng hoảng đến nay: Đẩy mạnh tự do hóa đầu tư nước ngoài 50 2 Các chính sách thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài: 50
II- Đánh giá những thành công và hạn chế của chính sách đầu tư quốc tế của Hàn Quốc 51
CHƯƠNG IV: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 52
Trang 3TỔNG HỢP Câu 5: Các biện pháp khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được các quốc gia sử dụng: Nội dung và cho ví dụ minh hoạ
- Các biện pháp khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được các quốc gia
sử dụng: trong slide của cô
Công cụ điều tiết vốn đầu tư
Quy định về hình thức vốn góp, quy định về tỷ lệ góp vốn, chính sách tín dụng ( thể hiện khả năng tiếp cậnvốn vay), chính sách tỷ giá hôi đoái…
(+ Trung Quốc giai đoạn đầu khuyến khích vào các đặc khu kinh tế, các khu kinh tế mở, đặc biệt là sx hàng
xk, cuối những năm 70 đầu 80 khi TQ cải cách mở cửa thì thuế TNDN 33% nhưng doanh nghiệp nước ngoàivào đặc khu kinh tế, chỉ chịu 10%, mức ưu đãi cao theo phân chia theo lĩnh vực, địa bàn đầu tư.Sau một thờigian thu hút đầu tư nước ngoài thành công có sự bât cập giống như các nước khác đó là vùng có điều kiện pttốt, nhanh thì vốn đầu tư nước ngoài nhiều, Phia Tây Trung Quốc trình độ pt thấp chênh lệch lớn,ít thu hútFDI: do địa hình khó khăn, giao thông, nguồn tài nguyên ít, khó sx do đường xá, nước sạch, viễn thông, nguồntài nguyên, chất lượng nguồn lực tương đối thấp, phong tục tập quán khác thường>>> khó tạo ra sự tươngđồng về quản lý để tương thích với phong tục tập quán ở đây.)
+Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: ( thuế này ko cao: 5-10% cao đến 15%) để giữ ngoại tệ phục vụ phát triển kinh doanh giúp tái dầu tư mở rộng sx, mục đích thứ yếu là nguồn thu ngân sách của Chính phủ (+Tỉ lệ góp vốn của hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài và đầu tư trực tiếp tại Việt Nam được quy định thế nào?
Căn cứ QĐ về tỉ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK VN (năm 2009): tối đa 49% ( so với năm
2003 là 30%)
Đối với FDI, trước năm 2007, VN quy định NĐTNN góp vốn tối thiểu 30% cổ phần Sau năm 2007 đến nay NĐTNN được góp vốn mua cổ phần không hạn chế, trừ trường hợp một sô lĩnh vực ngành nghề quy định khác,
Nước chủ nhà áp dụng thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài nhăm phục vụ phát triển kinh doanh
và khuyến khích tái đầu tư, và tăng thu ngoại tệ cho ngân sách nhà nước)
Việc áp dụng thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài gây bất lợi gì cho Nhà đầu tư nước ngoài? Vì sao nước tiếp nhận đầu tư áp dụng thuế này?
Phí sử dụng cơ sở hạ tầng tại các địa phương có thống nhất không? Vì sao?
b Công cụ phi tài chính
Quy định về thủ tục thẩm định và cấp giấy phép đầu tư
Quy định về đối tượng tham gia và lĩnh vực đầu tư
Quy định thời gian tối đa của dự án đầu tư
Trang 4 Quy định về giải phóng mặt bằng
Quy định về tuyển dụng lao động
Quy định về xử lý chất thải
Quy định về đăng ký bản quyền, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
Quy định về thủ tục thẩm định và cấp giấy phép đầu tư: Ban hành quy trình thủ tục đăng ký đầu tư,thẩm định mục đích đầu tư dựa trên nguyên tắc minh bạch, đơn giản, chặt chẽ, thông thoáng
Quy định về đối tượng tham gia và lĩnh vực đầu tư: Lĩnh vực đầu tư được chia theo danh mụckhông được phép, được phép ( bao gồm khuyến khích)
Quy định thời gian tối đa của dự án đầu tư: Xuất phát từ chiến lựơc kinh doanh của doanh nghiệp,nhưng cần đảm bảo khai thác tài nguyên hiệu quả và khắc phục được những thiệt hại đến môi trường
Các biện pháp thu hút đầu tư nước ngoài được Thái Lan
Công cụ, biện pháp thực hiện chính sách thu hút đầu tư quốc tế giai đoạn 1960-2006
- Công cụ tài chính:
+ Đạo luật thúc đẩy đầu tư công nghiệp năm 1960 cung cấp các ưu đãi miễn thuế kéo dài từ 2 năm đến
5 năm, cùng với việc thành lập Hội đồng đầu tư công nghiệp, sau đổi thành Hội đồng đầu tư vào năm 1972
+ Các ưu đãi đặc biệt được dành cho đầu tư vào các địa điểm hoặc khu vực, đặc biệt là trong khu vựccác doanh nghiệp xuất khẩu theo định hướng được miễn nhập khẩu nguyên liệu, tái xuất sản phẩm và miễnthuế xuất khẩu đối với hàng hóa sản xuất
+ Luật đầu tư hiện hành được ban hành bởi Đạo luật Xúc tiến Đầu tư 1997, quy định ưu đãi đầu tư,chủ yếu bao gồm các lợi ích về miễn thuế nhập khẩu máy móc, miễn thuế thu nhập tối đa 8 năm
- Công cụ phi tài chính:
+ Trong Đạo luật xúc tiến đầu tư 1991, chính phủ cam kết đảm bảo không quốc hữu hóa các doanhnghiệp, giới thiệu doanh nghiệp mới để cạnh tranh, không độc quyền cùng loại hàng hóa được sản xuất bởidoanh nghiệp đầu tư nước ngoài, không ép buộc giá sản phẩm trừ trường hợp cần thiết về kinh tế và xã hội và
an ninh của đất nước
+ Đạo luật xúc tiến Đầu tư 1997 cho phép mang quốc tịch nước ngoài là công nhân lành nghề vàchuyên gia vào nước này, cho phép sở hữu đất đai được sử dụng cho các hoạt động được phê duyệt như xúctiến đầu tư từ Hội đồng đầu tư
→ Đặc điểm chính sách thu hút và quản lý đầu tư nước ngoài chủ yếu của Thái Lan trong giai đoạn này là hướng đến thúc đẩy sản xuất hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu.
Giai đoạn 2006-nay
Công cụ tài chính
- Ưu đãi về thuế và các loại phí
+ Theo Cục Doanh thu (2015), các công ty nước ngoài kinh doanh tại Thái Lan phải trả 20% thuế thu nhậpdoanh nghiệp đối với lợi nhuận có được từ Thái Lan Trong trường hợp việc điều hành trụ sở khu vực và ngân
Trang 5hàng thu được lợi nhuận từ Cơ sở Ngân hàng Quốc tế Bangkok (BIBF), công ty phải trả mức thuế 10% lợinhuận.
+ Theo Đạo luật Xúc tiến Đầu tư (BOI 2016), Thái Lan đã cung cấp ưu đãi thuế cho loại hình doanh nghiệpliên quan đến các ngành có giá trị tri thức và công nghệ cao Các công ty nước ngoài có thể được miễn thuếthu nhập doanh nghiệp trong tối đa 8 năm Ngoài ra, doanh nghiệp có thể được giảm thêm 50% thuế thu nhậpdoanh nghiệp trong 5 năm, khấu trừ kép cho chi phí vận chuyển, cung cấp điện và nước, và bổ sung 25% khấutrừ thêm chi phí cải thiện cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp
+ Miễn thuế nhập khẩu 90% đối với nguyên liệu, 50% đối với máy móc thiết bị mà Thái Lan chưa sản xuấtđược
+ Các dự án FDI trong nông nghiệp được miễn giảm đến 50% thuế nhập khẩu các loại máy móc thiết bị sảnxuất nông nghiệp Riêng đầu tư vào các lĩnh vực có điều kiện đặc biệt khó khăn và có sản phẩm xuất khẩu,được miễn hoàn toàn thuế thu nhập doanh nghiệp trong vòng 5 năm
+ Các dự án ưu đãi đầu tư trong công nghiệp và nhất là KCN thường được phân thành 2 nhóm: nhóm A vớicác lĩnh vực được hưởng ưu đãi thuế; nhóm B với các lĩnh vực không được hưởng ưu đãi thuế, nhưng có thểđược hưởng các ưu đãi khác
+ Ưu đãi về địa bàn đầu tư: Vị trí địa lý dự án và các KCN thuộc đối tượng được nhận ưu đãi chia thành 03vùng: Vùng 1, vùng 2, vùng 3; trong đó, vùng 3 được hưởng ưu đãi đầu tư cao nhất, vì càng xa Thủ đôBangkok thì mức độ ưu đãi càng lớn Diện hưởng ưu đãi đầu tư thu hẹp dần từ 240 ngành, lĩnh vực xuống còn
100 ngành, lĩnh vực, hiện tập trung hơn vào các lĩnh vực: Phát triển công nghệ cao; R&D, đẩy mạnh hoạtđộng đào tạo công nghệ tiên tiến; Phát triển DN nhỏ và vừa; Tận dụng ưu thế về vị trí địa lý cũng như khắcphục sự thiếu hụt về tài nguyên thiên nhiên, tạo ra một hệ thống các ngành dịch vụ thúc đẩy đầu tư quốc tế
- Công cụ điều tiết vốn đầu tư:
+ Cung cấp ưu đãi đầu tư cho các công ty mẹ đóng tại Thái Lan (gọi là Regional Operating Headquarters hayROH) Theo đó, nếu các ROH nắm giữ ít nhất 25% vốn tại các công ty con ở nước ngoài và tiến hành các dịch
vụ hỗ trợ (như quản lý, nghiên cứu thị trường, mua sắm, marketing, chuyển giao công nghệ), có trên 50%doanh thu từ các hoạt động đầu tư ra nước ngoài thì sẽ được hưởng thuế suất thu nhập doanh nghiệp ưu đãi10% đối với lợi nhuận từ kinh doanh, tiền bản quyền, lãi và được miễn thuế đối với tiền cổ tức thu được từnước ngoài Ngoài ra, người nước ngoài làm việc cho ROH sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân nếu thu nhập
đó phát sinh từ các hoạt động ngoài Thái Lan
+ Tỷ lệ góp vốn liên doanh không thành điều kiện bắt buộc, tuy nhiên các dự án cho phép Thái Lan góp vốntrên 50% thì Ủy ban đầu tư cấp chứng chỉ bảo lãnh
Công cụ phi tài chính:
- Quy định về thủ tục thẩm định và cấp giấy phép đầu tư:
+ Theo BOI có khoảng trên 20 cơ quan của Chính phủ Thái Lan tham gia vào quy trình thẩm định, thành lậpdoanh nghiệp để thực hiện đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài tại Thái Lan Quá trình thành lập doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài tại Thái Lan trải qua 2 bước: đăng ký Giấy phép kinh doanh nước ngoài và đăng kýkinh doanh thành lập doanh nghiệp theo cơ chế “một cửa tại chỗ” Cơ quan quản lý đầu tư tại quốc gia này là
Ủy ban Đầu tư Thái Lan (BOI), trước đây cơ quan này được giao làm đầu mối thực hiện để hỗ trợ các nhà đầu
Trang 6tư Tuy nhiên, hiện nay, BOI chỉ đóng vai trò là đầu mối cung cấp các thông tin liên quan và cấp Giấy chứngnhận ưu đãi cho nhà đầu tư Việc xin cấp các loại giấy phép khác do nhà đầu tư tự thực hiện tại các bộ, cơquan chuyên ngành như: Bộ Thương mại cấp Giấy đăng ký kinh doanh để thành lập DN; Bộ Công nghiệp cấpGiấy phép kinh doanh.
+ Việc thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quy định như sau:
Nếu DN thực hiện các hoạt động kinh doanh có trong Luật kinh doanh nước ngoài, vốn đăng ký phải nhiềuhơn 25% chi phí vận hành trung bình tính trong 3 năm nhưng không thấp hơn 3 triệu bath
Nếu DN thực hiện các hoạt động kinh doanh không có trong Luật kinh doanh nước ngoài, vốn đăng ký tốithiểu không thấp hơn 2 triệu bath
Nếu DN thuê lao động nước ngoài, mức vốn đăng ký tối thiểu khác có thể được áp dụng
Mức lệ phí đăng ký áp dụng cho DN TNHH tư nhân tối thiểu là 500 bath, tối đa là 25000 bath, với DN TNHHđại chúng mức tối đa là 50000 bath
+ Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp phải được thực hiện trong vòng 3 tháng kể từ ngày tổ chức cuộc họpthành viên sáng lập
+ Đăng ký thuế: DN có vốn đầu tư nước ngoài phải đăng ký mã số thuế tại Cục quản lý doanh thu kể từ ngàybắt đầu hoạt động kinh doanh tại Thái Lan DN có mức doanh thu trên 1,8 triệu bath phải đăng ký thuế VATvới Cục quản lý doanh thu trong vòng 30 ngày kể từ ngày doanh thu vượt qua ngưỡng trên
- Quy định về đối tượng tham gia và lĩnh vực đầu tư
+ Theo Luật kinh doanh nước ngoài (1999), có 3 loại hình doanh nghiệp được áp dụng đối với đầu tư nướcngoài: doanh nghiệp tư nhân đơn nhất, công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) tư nhân (tốithiểu 3 thành viên thành lập) Hình thức phổ biến nhất đối với đầu tư nước ngoài là công ty TNHH tư nhân.+ Thu hút đầu tư vào lĩnh vực trọng điểm: nông nghiệp, chế biến và phân phối hàng nông sản, khai khoáng,công nghiệp nhẹ, chế tạo máy và thiết bị vận tải, thiết bị điện và điện tử, hóa chất, sản xuất nhựa, giấy, dịch vụ
và cơ sở hạ tầng…
→ Đây đều là những ngành phù hợp với lợi thế so sánh của Thái Lan
+ Ưu đãi đối với từng nhóm dự án đầu tư cụ thể được phân loại theo tác động của dự án đó đến nền kinh tế cảnước; theo hàm lượng khoa học công nghệ tiên tiến và mức chuyển giao công nghệ, mức đầu tư cho nghiêncứu và phát triển (R&D) và cho đào tạo lao động, tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm, tỷ lệ nợ trên vốn và theo vị tríđịa lý dự án trong khu công nghiệp
+ Chính phủ rất chú ý phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, thành lập ủy ban hỗ trợ về vấn đề này vàcùng với các tổ chức chuyên môn lo phát triển, xây dựng, hình thành những mối liên kết công nghiệp hỗ trợtrong nước Theo đó, Chính phủ Thái Lan đề ra sáng kiến thành lập KCN hỗ trợ nhằm phát triển công nghiệp
hỗ trợ trên toàn quốc
Khi năng lực của ngành công nghiệp phụ trợ đã phát triển đáp ứng yêu cầu, Thái Lan có chính sách buộc cácnhà đầu tư nước ngoài đã ổn định sản xuất, kinh doanh phải tuân thủ tỷ lệ nội địa hóa
Sự giới hạn để điều tiết FDI của Thái Lan
Trang 7Thái Lan có sự hạn chế đối với một số doanh nghiệp được xác định trong Đạo luật kinh doanh nước ngoàinăm 1999 và các hoạt động bị hạn chế đối với công dân Thái Lan (BOI 2015) Danh sách hạn chế được phânloại thành 3 nhóm bao gồm danh sách các hoạt động mà các nhà đầu tư nước ngoài không được phép bắt tayvào.
Nhóm 1 là danh sách các hoạt động mà công dân nước ngoài hoàn toàn không được phép thực hiện Các
doanh nghiệp trong các hoạt động này bị cấm vì lý do đặc biệt bao gồm: các doanh nghiệp truyền thông liênquan đến báo chí, kinh doanh phát thanh và truyền hình, trồng trọt và chăn nuôi, lâm nghiệp trong rừng tựnhiên, thủy sản ở biên giới nước Thái Lan, kinh doanh khai thác thảo dược Thái Lan, buôn bán tài sản cổ củaThái Lan, kinh doanh liên quan đến hình ảnh Phật và bát bố thí, cũng như giao dịch đất đai
Nhóm 2 bao gồm 3 nhóm nhỏ Các doanh nghiệp được phân loại trong nhóm này liên quan đến an ninh quốc
gia như sản xuất vũ khí và thiết bị quân sự, doanh nghiệp có thể có ảnh hưởng đến nghệ thuật và văn hóa, chủyếu liên quan đến thủ công mỹ nghệ Thái Lan, và cũng ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên hoặc môitrường Trong danh sách này, nó chủ yếu bao gồm các sản phẩm đường mía, muối, khai thác và đồ gỗ Trongdanh sách thứ hai này, nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào các doanh nghiệp được phân loại trong nhómnày Tuy nhiên, nó đòi hỏi nhà đầu tư nước ngoài để xin phê duyệt Nội các để hoạt động kinh doanh tại TháiLan
Nhóm 3 đề cập đến các hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực mà các doanh nghiệp Thái Lan chưa sẵn sàng
cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Có nhiều doanh nghiệp trong danh sách chủ yếu hoạt động tronglĩnh vực dịch vụ và dịch vụ có tay nghề cao như kế toán, dịch vụ pháp lý, kiến trúc, kỹ thuật, quảng cáo, vậnhành khách sạn và du lịch Để nhận được sự chấp thuận đầu tư trong nhóm 3, nhà đầu tư nước ngoài cần nhậnGiấy phép kinh doanh nước ngoài từ sự chấp thuận của Cục Phát triển kinh doanh, Bộ Thương mại
- Quy định về tuyển dụng lao động
+ Cho phép công dân nước ngoài vào Thái Lan để nghiên cứu cơ hội đầu tư; cho phép đưa vào Thái Lannhững lao động kỹ năng cao và chuyên gia để thực hiện việc xúc tiến đầu tư; cho phép sở hữu đất đai; chophép mang lợi nhuận ra nước ngoài bằng ngoại tệ
+ Lao động nước ngoài làm việc tại Thái Lan được quy định bởi Luật Bảo hộ lao động Luật này yêu cầu chủdoanh nghiệp cùng với ít nhất 10 lao động thống nhất với nhau về điều kiện làm việc: ngày công, giờ làm việc
và giờ giải trí, làm thêm giờ và các ngày nghỉ lễ, vắng mặt, các biện pháp kỷ luật, chấm dứt hợp đồng và thôiviệc Những quy định này phải được công khai ngay tại nơi làm việc
+ Công dân nước ngoài vào làm việc tại Thái Lan phải có giấy phép làm việc và một loại thị thực nhóm Bkhông di dân
→ Điểm mới trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Thái Lan giai đoạn 2006- nay
(1) Trước đây, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài được dựa trên chiến lược phát triển sản xuất thay thếnhập khẩu Do đó, Thái Lan phải nhập khẩu nhiều máy móc, nguyên vật liệu, dẫn đến thâm hụt thương mại.Đến nay, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Thái Lan là hướng vào phát triển sản xuất phục vụ choxuất khẩu;
(2) Thu hẹp diện hưởng ưu đãi đầu tư từ 240 ngành, lĩnh vực như trước đây xuống còn 100 ngành, lĩnh vực.Đồng thời, ưu đãi đầu tư tập trung hơn vào 03 lĩnh vực, bao gồm: phát triển công nghệ cao; nghiên cứu vàphát triển (R&D), hoạt động đào tạo công nghệ tiên tiến; phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME);
Trang 8(3) Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các vùng xa Bangkok và vùng nông thôn để thu hẹp khoảng cáchphát triển.
Câu 6: Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu thường được các quốc gia sử dụng: nội dung, xu hướng điều chỉnh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và cho ví dụ minh họa.
CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CỦA HÀN QUỐC
từ phía chính phủ như được vay vốn với lãi suất shấp, được cho nợ thuế đánh vào thu nhập có nguồn gốc từxuất khẩu, được miễn giảm thuế đối với sản phẩm nhập khẩu đầu vào cần thiết
+1971 – 1980: xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nặng như thép, hóa chất và sản xuất ô tô
b Thực hiện tự do hóa thị trường ngoại hối và phá giá đồng nội tệ:
Bắt đầu vào năm 1964, chính phủ đánh bạo đưa ra hàng loạt chính sách nhằm mục đích mở rộng xuấtkhẩu, trong số đó có việc phá giá rồi sau đó là thả nổi đồng Won, tự do hóa cơ chế xuất khẩu nghiêm ngặt củaHàn Quốc để tạo điều kiện cho các công ty Hàn Quốc dễ dàng hơn trong việc đưa vào nước các loại máy móc,nguyên liệu thô và những bộ phận cấu thành cần thiết để sản xuất phục vụ xuất khẩu
=> Bằng cách này, chính phủ Hàn Quốc đã thay đổi cơ cấu kích thích đầu tư của nền kinh tế, hay nói theocách của Amsden là đã bóp méo giá cả, nhằm khuyến khích đầu tư vào những ngành nghề xuất khẩu bằngcách làm cho việc đầu tư kiểu này trở nên sinh lợi một cách bất tự nhiên
c Đưa ra quy định về việc điều chỉnh hoạt động của các công ty trong nước:
=> Làm tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm để xuất khẩuđược đẩy mạnh
d Thành lập tổ chức XTTM và ĐT HQ (KOTRA) năm 1962
Đây là tổ chức của chính phủ Hàn Quốc với chức năng là hỗ trợ hoạt động marketing cho các công tyHàn Quốc, kết nối doanh nghiệp và nghiên cứu thị trường Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanhnghiệp Hàn Quốc tránh được rủi ro trên thị trường cũng như phát huy tối đa được lọi thế của mình trên cơ sởhiểu rõ các thị trường nước ngoài Điều này đã có tác động lớn trong việc hỗ trợ phát triển quan hệ thươngmại quốc tế
e Tích cực triển khai thực hiện ĐT xây dựng cơ sở hạ tầng
f Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực: tại cơ sở sản xuất và tại các cơ sở dạy nghề
g Thực hiễn miễn giảm thuế thu nhập và thuế nhập khẩu đầu vào SX
=> Ba biện pháp này là góp phần tạo điều kiện thuận lợi toàn diện cho các doanh nghiệp sản xuất hàng
hóa xuất khẩu, từ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng cũng như giá ưu đãi về nguyên vậtliệu, máy móc thiết bị Qua đó, thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển hàng hóa cả về số lượng lẫn chất lượng,tạo ra sức hấp dẫn lớn đối với các bạn hàng nước ngoài
1.2.2 Đối với nhập khẩu:
Nhằm thực hiện từng bước tự do hóa nhập khẩu, chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra các biện pháp sau đây:
Trang 9Đưa ra quy định về danh mục hàng hóa NK, tăng số mặt hàng tự do NK Giảm dần việc áp dụng các biện pháphạn chế NK bằng số lượng Cắt giảm thuế quan NK
1.2.3 Chính sách thị trường:
=> tập trung khai thác thị trường các nước phát triển
GIAI ĐOẠN 1981- NAY:
2.1 Mô hình chính sách: Thực hiện chính sách tự do hóa TM và đa dạng hóa thị trường
Giai đoạn từ năm 1980 –1989: đây là giai đoạn Hàn Quốc điều chỉnh cơ cấu và tự do hóa nền kinh
tế trên cơ sở ổn định kinh tế, tự do hoá và mở cửa nền kinh tế, từng bước tư nhân hóa ngành công nghiệp mởrộng thị trường thúc đẩy cạnh tranh
Giai đoạn từ năm 1990 đến nay: đây là giai đoạn Hàn Quốc thực hiện chính sách kinh tế mới vàtoàn cầu hóa Hàn Quốc đã áp dụng chính sách cải cách hệ thống giáo dục để đáp ứng yêu cầu công nghiệphóa, chống tham nhũng, đẩy mạnh tự do tài chính, thúc đẩy thị trường tài chính phát triển, chú trọng đầu tưvốn ra nước ngoài
b Tăng cường hoạt động của các tổ chức XTTM và đa dạng hóa các hình thức xúc tiến:
Hàn Quốc rất tích cực trong việc tăng cường các hoạt động hỗ trợ XTTM với sự kết hợp hiệu quả củanhiều tổ chức XTTM như Hiệp hội thương mại quốc tế Hàn Quốc (KITA), Cơ quan Xúc tiến thương mại hảingoại Hàn Quốc (KOTRA),…Các hình thức xúc tiến được triển khai rất đa dạng: từ hội chợ, triển lãm, hộithảo hay tổ chức các cuộc viếng thăm gặp mặt định kỳ thường xuyên với chính phủ và doanh nghiệp nướcngoài
c Thực hiện tự do hóa thị trường vốn:
Một biện pháp gián tiếp nhưng có hiệu quả rất cao trong việc thúc đẩy XK của Hàn Quốc đó là thựchiện tự do hóa thị trường vốn, tích cực tạo môi trường thu hút đầu tư nước ngoài Biện pháp này đã góp phần
hỗ trợ phát triển TM và ĐTQT
d Tăng cường hoạt động của các tổ chức tín dụng, qua đó hỗ trợ XK và ĐT:
Để khuyến khích xuất khẩu Chính phủ Hàn Quốc tập trung cấp tín dụng với lãi suất thấp cho cácngành công nghiệp ưu tiên, thực hiện chuyển dịch cơ cấu Tuy nhiên, do quy mô sản xuất của các ChaebolHàn Quốc lớn và sự tài trợ quá mức của ngân hàng dành cho các tập đoàn, đã đẩy hệ thống ngân hàng HànQuốc phải đối đầu với khó khăn nợ nước ngoài (Chaebol: các tập đoàn lớn)
2.2.2 Đối với nhập khẩu:
CS TMQT của HQ đv nhập khẩu trong giai đoạn này là tiếp tục thực hiện tự do hóa NK
Từ năm 1983, Hàn Quốc đã đẩy mạnh tự do hóa nhập khẩu, đồng thời liên tục cắt giảm thuế quan HànQuốc công bố trước danh mục hàng nhập khẩu tự do và đặt ra thời hạn từ 1-5 năm để các hãng sản xuất trongnước điều chỉnh bằng cách nâng cao năng lực cạnh tranh hay chuyển sang một lĩnh vực kinh doanh mới Bêncạnh đó, hệ thống giám sát nhập khẩu được áp dụng từ năm 1977 để theo dõi và điều chỉnh việc nhập khẩucác mặt hàng mới được tự do hóa
Trang 10Cùng với việc tự do hóa nhập khẩu , HQ cũng đưa ra những chương trình giảm thuế quan trong vòng 5năm dựa trên danh mục được công bố trước đó Ví dụ giai đoạn 1988-1993 mức thuế quan giảm đáng kể từ18,1% (1988) -> 11,4% (1990) -> 7,9% (1993).
Hiện nay, việc cắt giảm thuế quan của HQ tuân theo lộ trình chung của WTO và chính phủ nước nàyquản lý NK chủ yếu bằng các rào cản kỹ thuật và hạn chế xuất khẩu tự nguyện
7 Chính sách thương mại quốc tế của Singapore, Malaysia, Hàn Quốc: Mô hình, nội dung, các công cụ biện pháp chủ yếu và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hoặc đề xuất giải pháp chính sách cho Việt Nam
Singapore
7.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
* Chính sách thúc đẩy xuất khẩu
Mô hình chính sách thúc đẩy xuất khẩu là mô hình thành công tại nhiều nước NIEs và đặc biệt là Singapo
Để có được những thành tựu vượt bậc về tăng trưởng, xuất khẩu ở các nước NIEs cần phải kể đến sự kết hợprất tốt giữa chính phủ, các cơ quan nghiên cứu, các công ty và các nhà kinh doanh Hoạt động đó thông quacác tổ chức trung gian như Cục phát triển thương mại, singapo, xúc tiến các liên minh chiến lược với các bạnhang quốc tế - Singapo Đó là sự phối hợp thống nhất và toàn diện trong và ngoài nước Khuyến khích khôngchỉ bó hẹp trong phạm vi các chính sách ưu đãi về vốn, thuế, tín dụng mà bao gồm cả sự điều hành và canthiệp của Chính phủ Chính phủ còn cần phải chi cho sự thâm nhập thị trường, đào tạo cán bộ, tuyên truyền cổđộng, tổ chức các cuộc triển lãm tạo chỗ đứng cho hàng hoá nước mình trên thị trường
* Chính sách tự do hoá thương mại
Mô hình chính sách thương mại quốc tế dạng này chỉ có thể áp dụng thành công ở những nước có nền kinh
tế phát triển đến trình độ khá cao, ít chịu biến động bất thường của môi trường bên ngoài Đồng thời, đây cũngphải là những quốc gia có hệ thống thị thị trường phát triển Ngược lại, đối với các nước kém phát triển, việc
áp dụng mạnh mẽ chính sách tự do hoá thương mại ( giảm tối đa vai trò quản lý, kiểm soát của Nhà nước )thường dẫn đến tình trạng tài nguyên bị cạn kiệt, thiếu nguồn lực cho sản xuất trong nước ( do khai thác tháiquá để xuất khẩu hoặc nợ nước ngoài gia tăng ( do phải chi tiêu những khoản ngoại tệ quá lớn cho nhập khẩu,vượt quá khả năng của nền kinh tế )
Ngoài Ra:
Chính sách phát triển ngoại thương
Singapore đã có một chiến lược xuất khẩu rất thông minh với một lộ trình rõ ràng, đi từ xuất khẩu nguyênliệu, khoáng sản, sang xuất khẩu sản phẩm có hàm lượng lao động lớn, và cuối cùng là xuất khẩu sản phẩm cóhàm lượng công nghệ cao VN hiện nay đã và đang đi trên con đường xuất khẩu nguyên liệu thô (chiếm tớigần 40% GDP) và tăng cường xuất khẩu các mặt hàng có hàm lượng lao động lớn như dệt may và các mặthàng nông thủy sản
Tuy nhiên dệt may VN vẫn chủ yếu là gia công (chiếm tới hơn 70%) còn tỉ lệ xuất khẩu hàng FOB (muanguyên liệu, bán thành phẩm) lại thấp, chỉ chiếm 30% xuất khẩu Vấn đề thay đổi cơ cấu trong xuất khẩu dệtmay đang là mục tiêu hàng đầu của chính phủ và các DN dệt may tại VN Để thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩudệt may, vấn đề trước hết mà chính phủ cần quan tâm đó là tăng cường xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ
và hỗ trợ việc nhập khẩu đầu vào, tạo điều kiện để giảm chi phí cho các DN, từng bước nâng cao số lượngcũng như chất lượng hàng FOB, giảm tỉ lệ gia công
Trang 11Ngoài ra cần kể tới hướng đi mới trong xuất khẩu là gia công phần mềm Đây là lĩnh vực sử dụng công nghệcao của VN, tuy còn rất non trẻ nhưng dẫu sao đó cũng là bước đầu để chúng ta có hướng phát triển thích hợptrong tương lai.
ChVới một chính sách thắt chặt tiền tệ trong nước, VN còn tránh được những căng thẳng không đáng có vớicác quốc gia khác, gia tăng vị thế VN trên trường quốc tế Còn đối với nhu cầu phải đẩy mạnh xuất khẩu tạonguồn vốn tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, VN có thể sử dụng một số chính sách trợ cấp xuất khẩu, tạođiều kiện cho các DN trong nước phát triển Đây cũng là chính sách mà Singapore đã áp dụng rất thành công
và đạt được những tăng trưởng vượt bậc
Mở rộng thị trường, xúc tiến thương mại
Từ nhiều thập kỷ gần đây, Singapore đã rất quan tâm, chú trọng đến công tác xúc tiến thương mại nhằm đadạng hóa thị trường và các Cty Singapore mở rộng đến các thị trường chưa được khai phá Vai trò xúc tiếnthương mại của Singapore thuộc về Hội đồng phát triển thương mại Singapore (TDB), chịu trách nhiệm trongviệc thúc đẩy ngoại thương quốc tế đồng thời bảo vệ lợi ích của quốc đảo này
VN trước mắt cần tập trung tăng cường mối quan hệ thương mại với các thị trường lớn như Mỹ, Nhật, Châu
Âu và Trung Quốc Đây là những đối tác giúp VN tiêu thụ được các mặt hàng xuất khẩu và đem đến nhữnglợi ích căn bản như nguồn vốn ODA, FDI và chuyển giao công nghệ Bên cạnh đó, việc tìm kiếm các thịtrường tiềm năng khác cũng cần được quan tâm.ính sách về tỷ giá hối đoái
kê của Tổ chức thương mại thế giới về thương mại quốc tế) Thêm vào đó, Malaysia thực hiện mô hình hệthống doanh nghiệp tự do trong chính sách thương mại quốc tế Nói cách khác, hoạt động thương mại haichiều được điều tiết hoàn toàn trong tay của khu vực tư nhân Doanh nghiệp thuơng mại Malaysia được tự doxuất nhập khẩu đến tất cả các quốc gia thân thiện, mà không liên quan đến hệ thống chính trị xã hội của cácnước đó Như vậy, giai đoạn này, nền kinh tế Malaysia phụ thuộc chính vào lĩnh vực xuất khẩu, nên chínhsách thương mại quốc tế của Malaysia cơ bản xây dựng theo hướng tăng nhanh tiến trình tự do hóa thươngmại trong tổng thể nền thương mại toàn cầu
Các biện pháp thực hiện
1) Thực thi các cam kết quốc tế (Cam kết trong WTO của vòng đàm phán Uruguay)
Malaysia đã đưa ra các yêu cầu quan trọng trong vòng Đàm phán Uruguay về các vấn đề tăng khả năng tiếpcận thị trường đối với hàng hóa công nghiệp và nông sản nhập khẩu Phạm vi cắt giảm thuế quan tăng từ 1%đến 65% theo kết quả đàm phán Trong đó, Hàng hóa sản xuất xuất khẩu được hưởng 45% cắt giảm thuế quantại các thị trường xuất khẩu chính của Malaysia Các cam kết tự do hóa thuế quan trong lĩnh vực nông nghiệptại một số thị trường xuất khẩu chính giảm thêm 35% Đồng thời, nhà sản xuất và xuất khẩu phải đối mặt với
Trang 12cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa bởi cam kết cắt giảm thuế quan, cũng như cạnh tranh với các nềnkinh tế mới nổi trên thị trường quốc tế
Từng bước thực hiện thay đổi một số chính sách và văn bản pháp lý đang tồn tại cũng như giới thiệu hệ thốngcác văn bản luật pháp mới để xác nhận các điều khoản của WTO về nâng cao luật lệ trong thương mại nhưchống bán phá giá, biện pháp đối kháng, trợ cấp, các biện pháp tự vệ khác, quy định xuất xứ, kiểm định trướckhi giao hàng, các biện pháp kỹ thuật, giấy phép nhập khẩu và SPS
Các biện pháp cụ thể được thực hiện trong thời gian này:
Rút dần quy định tỉ lệ nội địa hóa gắn với cơ chế khuyến khích đến năm 2000
Thay đổi hệ thống tính giá trị hải quan
Rút dần trợ cấp xuất khẩu trong lĩnh vực sản xuất đến năm 2003
Đảm bảo tính phù hợp của các đạo luật về trách nhiệm đối kháng và chống bán phá 1993 trong cam kết củaWTO
Hệ thống các văn bản pháp lý bổ sung nhằm cung cấp thêm sự bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Soạn thảo Đạo luật mới để điều chỉnh các điều khoản trong hiệp định SPS và các điều khoản chưa phù hợpkhác trong các đạo luật đang tồn tại Các tiêu chuẩn quốc gia được đưa vào quy trình kiểm soát, thanh tra vàphê duyệt dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan
Các tiêu chuẩn quốc gia Malaysia đang tồn tại được rà soát để đồng bộ với các tiêu chuẩn quốc tế
2) Tự do hóa thuế quan (Tariff liberalization)
Trong cam kết tiếp cận thị trường tại vòng đàm phán Uruaguay, 3426 dòng thuế quan được cắt giảm, trong đó
có 988 sản phẩm công nghiệp và 49 sản phẩm nông nghiệp Đặc biệt tập trung chính vào các sản phẩm nhựa,hóa chất, sản phẩm từ gỗ hoặc từ giấy, phương tiện và phụ tùng, máy móc thiết bị Nhiều sản phẩm nôngnghiệp được hưởng mức cắt giảm thuế quan nhanh chóng và thậm chí thấp hơn thuế quan tối huệ quốc như làsản phẩm hoa quả tươi hoặc qua chế biến
Việc thực thi cắt giảm thuế quan được đảm nhiệm bởi Bộ tài chính vào tháng 10 năm 1994 và đến tháng 8năm 1995 đã có hơn 3000 dòng thuế được cắt giảm gồm 1566 sản phẩm công nghiệp và 751 sản phẩm nôngnghiệp Đối với các sản phẩm công nghiệp, 217 dòng thuế có tốc độ giảm nhanh hơn so với lô trình cắt giảmthuế quan của WTO, 318 dòng thuế giảm đến mức thuế tối huệ quốc, trong khi 1031 dòng thuế giảm sâu dướimức thuế tối huệ quốc Đối với sản phẩm nông nghiệp, 80 dòng thuế có tốc độ giảm nhanh hơn yêu cầu về lộtrình thực hiện, 147 dòng thuế giảm đến mức thuế tối huệ quốc, trong khi 524 dòng thuế khác có mức thuếquan mới thấp hơn mức thuế tối huệ quốc
Năm 1996, 1047 dòng thuế tiếp tục được cắt giảm, trong đó có 998 sản phẩm công nghiệp, 49 sản phẩm nôngnghiệp Trong số sản phẩm công nghiệp, 33 dòng hàng hóa có tốc độ giảm nhanh hơn, 126 dòng hàng hóagiảm đến mức thuế tối huệ quốc, trong khi 840 dòng được giảm thấp hơn mức thuế MFN Đối với hàng hóanông nghiệp, 12 dòng thuế có tốc độ giảm nhanh, 12 dòng thuế đạt đến tỉ lệ thuế MFN, 35 dòng thuế giảmthấp hơn mức thuế MFN
3) Quy định và các biện pháp áp dụng đối với ngành dịch vụ
Là một trong những nước ký thỏa thuận GATS và cam kết đối với dịch vụ tài chính, Malaysia đã cam kết tự
do hóa dần dần lĩnh vực dịch vụ tài chính Lộ trình thực hiện cam kết của Malaysia bao gồm 14 lĩnh vực trongtổng thể 16 lĩnh vực dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, và các dịch vụ tài chính khác được xácđịnh trong GATS Đối với lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểu và chứng khoán, các yêu cầu trong ràng buộc về tiếpcận thị trường nhằm duy trì chính sách hiện nay ảnh hưởng đến mức độ tham gia của nước ngoài Malaysiacũng có những cải thiện lớn thông qua việc rút lại phần miễn thuế MFN (tháng 12/1993), như vậy Malaysiacam kết với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài về việc thực hiện đầy đủ phần thuế MFN Thêm vào đó,Malaysia đã cải thiện các yêu cầu ràng buộc về việc gia nhập thị trường tại Trung tâm tài chính ngoại quốc(IOFC - Offshore Financial Centre) và tái bảo hiểm cũng như thanh toán thẻ kinh doanh Việc gia nhập thị
Trang 13trường cũng được cho phép thông qua đầu tư vào các tổ chức tài chính đang tồn tại để tăng mức cổ phần tối đa30% Trong trường hợp công ty cho thuê tài chính, công ty mua bán trái phiếu sẽ được tăng lên tỉ lệ 40% cổphần (có hiệu lực vào 1/7/2000).
4) Để thúc đẩy xuất khẩu trong giai đoạn này, chính phủ Malaysia đã thực hiện các biện pháp sau:
- Miễn giảm thuế doanh thu đối với các ngành hàng xuất khẩu và các sản phẩm xuất khẩu có sử dụng nguyênliệu trong nước
- Trợ cấp về thuế và chi phí cho những hàng hóa liên quan đến xuất khẩu
mức thuế trung bình cho các ngành công nghiệp chỉ còn 13% và hàng rào phi thuế quan gần như không tồntại
- Hỗ trợ tín dụng cho thông qua bảo lãnh và cho vay với lãi suất thấp cho các doanh nghiệp xuất khẩu Ngoài
ra còn thực hiện biện pháp khấu hao nhanh đối với các doanh nghiệp xuất khẩu chiếm tỷ lệ trên 20% tổngdoanh thu hàng năm
- Xây dựng và phát triển các khu mậu dịch tự do, khu chế xuất và hệ thống kho chứa hàng miễn phí nhằm tạođiều kiện cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu
- Từng bước thực hiện xuất khẩu những sản phẩm chế tạo: hàng dệt may, giày dép thông qua tự do nhập khẩunhững yếu tố đầu vào sản xuất
- Thúc đẩy vai trò của trung tâm xúc tiến thương mại MATRADE (1985), tổ chức hội chợ hàng xuất khẩu, tạo
ra những kênh thông tin về sản phẩm trên thị trường các quốc gia khác nhau, hỗ trợ thương mại, tư vấn
- Chính phủ Malaysia xây dựng và thực hiện các biện pháp khuyến khích, tăng cường thu hút FDI nhằm thuhút vốn, công nghệ và liên kết thương hiệu để phát triển khả năng hàng xuất khẩu đồng thời tạo lập uy tín vàxây dựng thương hiệu cho các sản phẩm sản xuất từ Malaysia ra thị trường thế giới
5) Tham gia các liên kết khu vực
- Malaysia hiểu được tầm quan trọng của hợp tác khu vực và tiếp tục tham gia một cách năng động vào cácliên kết khu vực đa dạng như ASEAN, APEC và G-15 Nước ngày đảm bảo duy trì các cam kết trong liên kếtkhu vực phù hợp và tương thích với quy định của WTO Do đó, Malaysia đã đóng góp quan trọng trong đàmphán đa phương và tăng cường liên kết toàn cầu
- Ưu tiên hàng đầu của Malaysia là tăng cường hợp tác thương mại và kinh tế trong các nước ASEAN, thêmvào đó là nỗ lực tăng cường và mở rộng thương mại nội khối ASEAN trong khuôn khổ CEPT Bên cạnh đó,Malaysia cùng các nước ASEAN khác cũng chủ động đàm phán để mở rộng thêm các lĩnh vực hợp tác khácnhư thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng, truyền thông Vào năm 1997,Malaysia đã rút bỏ 8580 dòng thuế (chiếm 92% tổng dòng thuế) trong khuôn khổ CEPT nhằm tạo ra Khu vựcthương mại tự do ASEAN (AFTA) Bên cạnh cặt giảm thuế quan, Các nước ASEAN cũng tiến hành tập trung
gỡ bỏ các rào cản kỹ thuật trong thương mại và cam kết để đạt được sự minh bạch hơn, đồng bộ giữa tiêuchuẩn sản phẩm trong một số lĩnh vực ưu tiên với tiêu chuẩn quốc tế Danh sách nhóm 20 hàng hóa ưu tiên đểhài hòa tiêu chuẩn đã được xác định
b Giai đoạn 1997 - 2005
Đối với một xã hội đa chủng tộc và văn hóa, mục tiêu chính sách phát triển của Chính phủ Malaysia là pháttriển kinh tế cân bằng với công bằng xã hội, giảm đói nghèo và tái cấu trúc xã hội Hai mục tiêu chính củachính sách là đẩy nhanh tốc độ tăng trường năng suất nhân tố tổng hợp và giảm dần sự thâm hụt trong cán cânthanh toán Chính phủ cũng đưa ra các hỗ trợ về thuế hoặc miễn thuế đối với các công ty có các hoạt độngđóng góp vào mục tiêu chính sách chung của chính phủ Trong thương mại, chính phủ nhấn mạnh vào vai tròcủa sản xuất dựa trên định hướng xuất khẩu, động lực là khu vực tư nhân do vậy các hoạt động sản xuất định
Trang 14hướng xuất khẩu lan rộng một cách nhanh chóng Giai đoạn này, chính phủ xác định các lĩnh vực xuất khẩutrọng tâm và có tính cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường quốc tế Hai chiến lược mới được đưa ra bao gồm:
Chiến lược sản xuất "cộng"
a) Dịch chuyển trên chuỗi giá trị từ hoạt động sản xuất lắp ráp và giá trị thấp lên hoạt động sản xuất có giá trịcao
b) Dịch chuyển toàn bộ chuỗi giá trị lên một trình độ cao hơn thông qua việc gia tăng năng suất
Chiến lược phát triển Cụm công nghiệp
a) Phát triển các cụm công nghiệp cạnh tranh bằng cách tập hợp các ngành công nghiệp then chốt, các nhàcung cấp, ngành công nghiệp hỗ trợ, các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chủ chốt, cung cấp các điều kiện cơ sở hạtầng và tổ chức điều hành
b) Sản sinh các mối liên kết trước và sau, các mối dẫn xuất trong nước và giá trị gia tăng, sự phát triển cácdoanh nghiệp nội địa
Đối với các quy định luật lệ thương mại quốc tế, Malaysia tiếp tục tuân thủ một cách đầy đủ với tất cả cácyêu cầu của WTO đặc biệt các biện pháp phi thuế quan như chống bán phá giá, biện pháp đối kháng, trợ cấp,biện pháp tự vệ, quy định xuất xứ, thanh tra trước khi giao hàng, biện pháp kỹ thuật, giá trị hải quan và cấpphép nhập khẩu Đồng thời, Malaysia cũng thực thi các cam kết TRIPS, bên cạnh đó, chính phủ cũng sửa đổicác Luật về đối kháng, Luật chống bán phá giá (năm 1993) cho phù hợp và tương thích với các cam kết trongWTO Các tiêu chuẩn quốc gia, quá trình kiểm soát, thanh kiểm tra và phê duyệt tiếp tục được cải thiện đểtương ứng với tiêu chuẩn quốc tế
Các biện pháp thực hiện
1) Thuế quan
Malaysia đã loại bỏ và cắt giảm thêm 69 dòng thuế vào năm 1997, 74 dòng thuế vào năm 1998, chủ yếu làthực phẩm, dệt may, nguyên liệu thô cho sản xuất, máy móc công nghiệp nặng Vào năm 1999, Malaysia giảmthuế quan đối với 40 sản phẩm theo Hiệp định về công nghệ thông tin (ITA - Information TechnologyAgreement)
Năm 2000, 81 sản phẩm được miễn thuế và 460 sản phẩm được giảm thuế Những sản phẩm này bao gồmcác sản phẩm công nghệ thông tin, thực phẩm, giấy và các sản phẩm giấy, sợi len, da giầy, các máy móc dệt,các sản phẩm dầu Như vậy, tổng số dòng thuế được miễn giảm thuế đã tăng lên 57,1% năm 1998, 59,51%năm 1999, và 58,53 năm 2000 so với 13% năm 1993
2) Các biện pháp phi thuế quan
Mục tiêu chính sách thương mại quốc tế của Malaysia là xây dựng các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật đểđảm bảo an toàn thực phẩm, bảo vệ cộng động trước những nguy hại đến sức khỏe và những hành vi gian lậntrong quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm Các tiêu chuẩn đưa ra nhằm đảm bảo thực phẩm được chếbiến, bảo quản đảm bảo vệ sinh, và bán ra thị trường không gây ô nhiễm hoặc thêm các phụ gia không đượcphép, đồng thời các tiêu chuẩn về nhãn mác, quảng cáo phải thích hợp Do vậy, Malaysia đã đưa ra các tiêuchuẩn và quy định kỹ thuật dựa trên Quy định thực phẩm năm 1985 được bổ sung liên tục cho hài hòa với cáctiêu chuẩn Codex
Giai đoạn này, Malaysia đã phát triển 678 tiêu chuẩn mới và bổ sung, cho đến năm 2001, Malaysia đã có
2584 tiêu chuẩn quốc gia Số lượng tiêu chuẩn bắt buộc ít hơn 1% SIRIM QAS Sdn Berhad là cơ quan phụtrách cấp chứng nhận về tính phù hợp của thực phẩm và đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật Tổ chức này là đơn
vị trực thuộc Chính phủ Bên cạnh đó, Bộ y tế Malaysia đảm nhiệm việc kiểm soát tính an toàn thực phẩm.Các chứng nhận sức khỏe được ban hành dựa trên yêu cầu của các nước nhập khẩu Các thực phẩm được sảnxuất chế biến, nhập khẩu hoặc bán tại thị trường Malaysia là đối tượng áp dụng các quy định kỹ thuật và kiểmsoát chất lượng
Các hàng hóa khác cũng áp dụng quy định kỹ thuật bao gồm:
Trang 15– Thiết bị vận tải đường bộ
– Thiết bị bảo hộ và an toàn cháy nổ
– Sản phẩm điện tử và linh kiện điện tử
– Các sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng
– Thiết bị truyền thông
3) Các biện pháp áp dụng đối với thương mại dịch vụ
Malaysia đã cam kết tự do hóa dần dần lĩnh vực dịch vụ tài chính Trong giai đoạn này, sự xuất hiện củanước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng và bảo hiểm trong nước tăng lên Tốc độ mở cửa trong lĩnh vực nàycũng phù hợp với năng lực của hệ thống tài chính để thu nạp các thay đổi mà không tạo ra các tác động đếnnền kinh tế trong nước Vì vậy, Malaysia vẫn duy trì thực hiện các cam kết tự do hóa thương mại dịch vụ theođiều khoản trong GATS (1999), bên cạnh đó, tỉ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài vào các ngân hàng vàbảo hiểm đang hoạt động bị giới hạn là 30% nhưng đối với các công ty cho thuê tài chính và chứng quán, tỉ lệnày tăng lên 49% (có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2000) Ngoài ra, một biện pháp quan trọng được đưa ravào năm 1999 là củng cố hệ thống ngân hàng bằng việc phân loại và sáp nhập thành 10 nhóm ngân hàng Cácbiện pháp khác như thuê ngoài một số dịch vụ ngân hàng từ các đơn vị thứ ba cung cấp dịch vụ, cũng như chophép các tổ chức ngân hàng cung cấp các dịch vụ ngân hàng điện tử (internet banking) Đến tháng 6 năm
2000, các ngân hàng nội địa được phép cung cấp toàn bộ các hàng hóa dịch vụ ngân hàng qua internet, cácngân hàng cổ phần nước ngoài được phép giao dịch các hàng hóa dịch vụ ngân hàng điện tử muộn hơn vàotháng 1 năm 2002 Các biện pháp trên đã giúp cải thiện sự hiệu quả và tăng cường năng lực cạnh tranh của hệthống ngân hàng Malaysia Đối với các lĩnh vực tài chính khác như bảo hiểm, chính phủ Malaysia đã tăng tỉ lệgóp vốn lên 51% kèm theo điều kiện (năm 1997) và từ 30% năm 1993 lên 49% năm 1995 Thêm vào đó,chính phủ ban hành 7 giấy phép mới cho các cam kết tái bảo hiểm, cũng như 1 giấy phép mới cho các loại bảohiểm nhân thọ Để phát triển tổng thể lĩnh vực tài chính, Malaysia đã ban hành Kế hoạch phát triển tổng thểlĩnh vực tài chính (Financial Sector Masterplan - FSMP) vào 1 tháng 4 năm 2001 và thực thi 3 phần bao gồm:1) Nâng cao năng lực của các tổ chức tài chính trong nước, 2) Tháo gỡ các hạn chế và mở cửa cho các ngânhàng nước ngoài, 3) Đưa ra chính sách cạnh tranh nước ngoài
4) Các biện pháp vượt qua và phục hồi sau Khủng hoảng tài chính Châu Á (1997 - 1998)
Kinh tế Malaysia lâm vào tình trạng khủng hoảng khá trầm trọng: năm 1998, GDP là -6,7%, đồng Ringgitmất giá tới 65% Nhờ những biện pháp khắc phục khủng hoảng đúng đắn trong đó có việc ấn định tỷ giá vàkiểm soát vốn, nền kinh tế Malaysia từ đầu năm 1999 đã phục hồi khá nhanh: tăng trưởng GDP năm 1999 đạt5,8%; năm 2000 đạt 8,5%, năm 2001 đạt 2,4% (do tình hình kinh tế toàn cầu giảm sút) Trước khủng hoảngtài chính Châu Á năm 1997 và 1998, phản ứng của Malaysia là không quay lưng với tiến trình hội nhập toàncầu Thay vào đó, Malaysia lựa chọn đẩy mạnh chính sách vĩ mô thận trọng và củng cố lĩnh vực tài chínhbằng cách khục hồi nhanh chóng các vấn đề thuộc về tổ chức, tiếp tục mở rộng và đi sâu vào thị trường tàichính, cụ thể thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ trong nước, và đảm nhận sự giám sát theo hướng được
ưu tiên mua trước và giám sát rủi ro Những nỗ lực đó đã giúp giảm dần rủi ro nảy sinh từ vòng xoáy củakhủng hoảng tài chính và thúc đẩy sự bền vững và phục hồi của nền kinh tế nội địa, cùng với đó là môi trườngđầu tư kinh doanh thân thiện được xếp hạng thứ 18 trong Bảng xếp hạng môi trường kinh doanh năm 2016của Ngân hàng thế giới Các chính sách thận trọng, khôn ngoan của chính phủ Malaysia một lần nữa chứngminh sự đúng đắn qua việc vượt qua khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, với tốc động tăng trưởng GDPthực tế trung bình 5.3%/năm giữa năm 2011 và 2015 Trong suốt giai đoạn này, sự tăng trưởng đạt được nhờvào phát triển kinh tế nội địa tập trung vào lĩnh vực dịch vụ
c Giai đoạn năm 2005 - nay
Trang 16Đây là giai đoạn chứng kiến sự sụt giảm của nền kinh tế và tài chính toàn cầu, lạm phát gia tăng, giá dầutăng mạnh mẽ và đại dịch cúm A (H1N1) Nhằm đảm bảo tính ổn định của nền kinh tế Malaysia, chính phủthực hiện đa dạng các biện pháp và chính sách để cải thiện cầu trong nước và giảm thiểu tác động từ bênngoài Bên cạnh các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để kích thích sự tăng trưởng của cầu trong nước,nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, gia tăng các nguồn lực tăng trưởng, tập trung phát triển nguồn nhânlực Chính sách thương mại quốc tế của Malaysia trong giai đoạn này tiếp tục đi theo chính sách hướng ngoại,gắn bó mật thiết với nền kinh tế thế giới, nâng cao vị thế trên thị trường toàn cầu Cơ cấu thương mại được tự
do hóa một cách nhanh chóng, đặc biệt cấu trúc thuế quan được tối giản hóa để nhằm khuyến khích nhậpkhẩu
Chính sách mặt hàng thể hiện rõ mục tiêu phát triển các sản phẩm chất lượng cao và đổi mới, xây dựngthương hiệu và nhận diện sản phẩm Một mục tiêu khác là đa dạng hóa sản phẩm giảm dần sự phụ thuộc quámức vào các sản phẩm điện tử và thuộc về điện tử Trọng tâm là phát triển các lĩnh vực dịch vụ và xuất khẩucác sản phẩm dịch vụ, công nghệ thông tin truyền thông
Chính sách thị trường nhằm nâng cao vị thế của Malaysia trên các thị trường truyền thống, cũng như đadạng các thị trường không truyền thống Malaysia chủ động thúc đẩy thương mại với các thị trường mới nhưTrung Quốc, Ấn Độ, Trung Đông và các thành viên mới của Liên minh Châu Âu Bên cạnh đó các hoạt độnghợp tác song phương và khu vực cũng được thúc đẩy mạnh mẽ để tạo nền tảng cho hoạt động xuất khẩu Đàmphán Hiệp định đối tác kinh tế Malaysia - Nhật Bản đã được ký kết và đưa vào thực thi trong giao đoạn này,cũng như các đàm phán song phương với Australia, New Zealand, và Pakistan
Biện pháp thực hiện
1) Biện pháp thuế quan
Tháng 10 năm 2003, các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhất trí thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN với mục đíchxây dựng một thị trường thống nhất và tích hợp hoạt động sản xuất toàn khu vực tạo ra chuỗi sản xuất Để tiếntới hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), ASEAN tao nên một cơ chế mới và các biện pháp để đẩymạnh việc thực thi các thỏa thuận kinh tế đang tồn tại trong đó có Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA),Hiệp định khung về dịch vụ của ASEAN (AFAS) và Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) Malaysia vẫn thể hiện làmột thành viên năng động tích cực thúc đẩy tiến trình tự do hóa trong khu vực ASEAN Malaysia đã chuyểnđổi 75 sản phẩm nông sản chưa qua chế biến từ Danh sách nhạy cảm (Sensitive List - SL) sang Danh sáchhàng hóa áp dụng Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT - Common Effective PreferentialTariff) vào ngày 27/12/2003 bao gồm hoa quả nhiệt đới, rau, thuốc lá và các sản phẩm từ thuốc lá, đường và
cà phê Đến ngày 1/1/2005, Malaysia cũng đưa vào áp dụng đối với các sản phẩm tự động CBU và CKD(CBU - nhập khẩu nguyên chiếc từ nước ngoài và CKD - xe lắp ráp trong nước với 100% nguyên liệu nhậpkhẩu), trong đó thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm CBU được giảm đến 20%, còn đối với tất cả sản phẩmCKD cũng giảm nhẹ Thuế nhập khẩu các sản phẩm CBU giảm thêm 15% vào tháng 10 năm 2005 và giảmtiếp xuống 5% vào 1/1/2008 Ngoài ra, mặt hàng gạo cũng được chuyển từ danh sách nhạy cảm cao sang danhsách hàng hóa áp dụng CEPT vào năm 2005 Như vậy, 99,3% các hàng hóa là đối tượng áp dụng của CEPT,trong đó 96,9% đã giảm thuế về 0-5%, 60,3% trong số đó có mức thuế 0%
Trang 17mới hiện đại vào dây chuyền sản xuất Bên cạnh đó, Chính phủ Malaysia đã nâng cao sự công nhận quốc tếđối với các tiêu chuẩn thuộc về luật Hồi giáo và tạo nên thương hiệu riêng liên quan đến đạo luật này Đây làbiện pháp nhằm hài hòa văn hóa và các tiêu chuẩn quốc tế để tạo điều kiện cho ngành công nghiệp thực phẩmcủa Malaysia phát triển trên thị trường quốc tế
- Malaysia đã xây dựng Hành lang siêu truyền thông đa phương tiện và bắt kịp các công nghệ dẫn đầu để pháttriển ngành công nghệ thông tin và truyền thông, du lịch và giáo dục, đồng thời tiến lên trên chuỗi giá trị toàncầu
- Giai đoạn này, Malaysia tiếp tục thực hiện Kế hoạch chi tiết phát triển tài chính, trong đó các biện pháp củagiai đoạn này nhằm rà soát các quy định, điều luật tự do hóa lĩnh vực tài chính, tạo sự linh hoạt hơn cho các tổchức tài chính quốc tế trong quá trình hoạt động tại Malaysia Cụ thể, chính phủ cho phép các ngân hàng nướcngoài được phép mở chi nhánh, cho phép cung cấp đầy đủ các sản phâm dịch vụ về ngân hàng và bảo hiểmthông qua internet, được tuyển dụng chuyên gia nước ngoài để quản lý điều hành
- Tổ chức năng suất Malaysia (Malaysia Productivity Corporation - MPC) đã giới thiểu Chính sách quốc gia
về phát triển và thực thi các quy định luật pháp) vào tháng 7 năm 2013 Chính sách này nhằm giải quyếtkhoảng cách giữa hệ thống cơ sở luật lệ quốc gia với quốc tế, từ đó nâng cao tính minh bạch, dễ dự đoán củacác hoạt động pháp lý và tạo ra môi trường kinh doanh hấp dẫn cho các doanh nghiệp nước ngoài
- Hiện đại hóa quy trình hải quan được thực hiện tập trung vào một số vấn đề như nâng cao năng lực, pháttriển hệ thống, quá trình cải cách hệ thống hải quan nhằm hiện thực hóa tầm nhìn tiến đến một hệ thống quản
lý hải quan hiện đại bậc nhất thế giới vào năm 2015
- Tổ chức phát triển thương mại bên ngoài Malaysia (MATRADE - Malaysian External Trade DevelopmentCorporation) tiếp tục tạo thuận lợi cho các hoạt động thúc đẩy xuất khẩu đối với các doanh nghiệp địa phươngthông qua hội chợ triển lãm quốc tế, các chương trình kết nối kinh doanh, tìm kiếm đối tác nước ngoài, nhàcung cấp cho các hàng hóa dịch vụ của Malaysia
- Thành lập Hội đồng phát triển các ngành dịch vụ Malaysia (MSDC - Malaysian Services DevelopmentCouncil) vào ngày 16/1/2007 nhằm phát triển ngành dịch vụ thành ngành cạnh tranh toàn cầu và dẫn đầu trong
sự phát triển kinh tế quốc gia Chức năng của MSDC là nền tảng để kiểm soát, rà soát, thảo luận và giải quyếtcác vấn đề tác động đến sự phát triển ngành dịch vụ và sự liên quan của các đối tượng từ chính phủ đến doanhnghiệp
c) Cán cân thương mại của Malaysia
Xuất khẩu tăng trưởng nhanh hơn nhập khẩu trong năm 2015 dẫn đến thặng dư thương mại cao hơn 94.29 tỷ
RM, đại diện cho thành tựu của năm thứ 18 liên tiếp của thặng dư thương mại của Malaysia Thặng dư thươngmại đạt mức tăng trưởng hai con số 14,3%
Tóm lại: Các chính sách thương mại quốc tế của Malaysia đã có tác động đáng kể tới thương mại nước này:Việc chuyển hướng từ xu hướng bảo hộ sang nâng đỡ thương mại đã khuyến khích các doanh nghiệpMalaysia nghiên cứu, đổi mới công nghệ đầu tư cho xuất khẩu dẫn đến các mặt hàng xuất khẩu ngày càng
đa dạng, chất lượng ngày càng cao Malaysia hướng đầu tư vào công nghiệp chế tạo, phát triển các mặt hàngchứa hàm lượng chất xám cao Những mặt hàng này, đến nay đã có những vị thế nhất định trên trườngquốc tế (viễn thông, điện và điện tử, ô tô, ) Thay vì xuất khẩu sản phẩm tự nhiên, sản phẩm thô, tàinguyên thiên nhiên như trước, Malaysia tập trung phát triển xuất khẩu các mặt hàng đã tinh chế , chế biếnmang lại hiệu quả cao hơn
Trang 18Malaysia đã chú trọng mở rộng quan hệ thương mại với nhiều quốc gia, nhiều vùng lãnh thổ trên thế giớibằng cách tham gia nhiều tổ chức, ký kết các hiệp định thương mại, hiệp định kinh tế song phương, đaphương
Phần 3.: Bài học đối với Việt Nam
Thứ nhất, Việt Nam đã xác định rõ các mặt hàng xuất khẩu chủ lực phù hợp với từng thời kỳ phát
triển của đất nước Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để càng nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm,tăng sức cạnh tranh trên trường quốc tế Trong đó đặc biệt chú ý đến việc khẳng định thương hiệu sản phẩmtrên thị trường Hiện nay, chính phủ Việt Nam đã có chương trình “Phát triển thương hiệu quốc gia” nhưngchưa thực sự đạt được hiệu quả như mong muốn Tự bản thân các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu cũngnhư doanh nghiệp phân phối hàng ra nước ngoài đều cần phải có những biện pháp tích cực thực hiện chiếnlược khẳng định thương hiệu của mình
Thứ hai, Malaysia là một trong những nước rất thành công trong việc xây dựng và phát triển các khu chế
xuất cũng như khu mậu dịch tự do Một trong những nguyên nhân là quốc gia này có ngành công nghiệp phụtrợ phát triển Trong khi đó, Việt Nam hiện nay chưa phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, chưa quyhoạch các khu chế xuất, chính sách thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam vẫn còn thiếu nhiều so với cácnước láng giềng như Malaysia Theo số liệu chưa hoàn chỉnh của Cục Phát triển Công nghiệp Malaysia(MIDA), tính tới đầu năm 2010, có khoảng 1.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tại Malaysia hoạt độngtrong ngành gia công cơ khí, khuôn mẫu, dập kim loại, xử lý nhiệt và mạ, ngoài ra có thêm khoảng 2.000doanh nghiệp chế tạo kim loại Hầu hết các doanh nghiệp này phục vụ cho ngành công nghiệp ô tô hoặc điện/điện tử (E&E) Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu vẫn là các sản phẩm thô, độ tinh chế thấp Học tập Malaysia, ViệtNam có thể phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, từ đó xây dựng nên các khu chế xuất, góp phần thúc đẩytăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc gia
Thứ ba, với điều kiện hiện nay, Việt Nam hoàn toàn có thể học tập kinh nghiệm từ Malaysia trong việc
xây dựng hệ thống các kho chứa hàng miễn phí, đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong việc mua-bán hàng hoá vớicác nước khác Các kho này sẽ là nơi bảo quản hàng hoá, đảm bảo chất lượng sản phẩm (đặc biệt hữu dụngtrong trường hợp hàng xuất khẩu đang chờ xuất hoặc bị trả lại do không đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng
từ phía đối tác) Nhờ vậy sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí lớn, giúp tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp
Thứ tư, hệ thống các tổ chức xúc tiến thương mại (XTTM) của Việt Nam hiện nay đầy đủ, có thể phân ra
là tổ chức XTTM của chính phủ, phi chính phủ và của các doanh nghiệp Tuy nhiên trên thực tế các tổ chứcnày lại chưa có sự gắn kết chặt chẽ với nhau, các hoạt động mới chủ yếu tập trung vào việc cung cấp thôngtin, giới thiệu sản phẩm Nhìn vào Malaysia, Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm như tăng cường sự hợp tác,phối hợp giữa các tổ chức nhằm tìm kiếm và mở rộng thị trường, cần mở thêm các văn phòng đại diện, cáctrung tâm thương mại tại nước ngoài, tích cực tìm 20 hiểu tập quán thương mại của đối tác Về hoạt động của
tổ chức XTTM, cần mở rộng thêm như dịch vụ tư vấn, tìm kiếm các khách hàng, các thị trường tiềm năng
Hàn Quốc
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA HÀN QUỐC
2.1 Giai đoạn 1961 - 1980
2.1.1 Mô hình chính sách
Trang 19Thúc đẩy xuất khẩu, trọng thương, ủng hộ các Chaebol và từng bước thực hiện tự do hóa thương mại.Trong thời kỳ này, Hàn Quốc là một nền kinh tế còn lạc hậu, nghèo nàn và phụ thuộc nhiều vào trợ cấp từphía Mỹ Vì vậy, chính sách trọng thương ưu tiên xuất khẩu được đề cao.
2.1.2 Các biện pháp thực hiện
2.1.2.1 Đối với xuất khẩu
a, Đưa ra định hướng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực phù hợp
❖1961 - 1970: Xuất khẩu những mặt hàng công nghiệp nhẹ, sử dụng ít vốn nhưng sử dụng nhiều laođộng như: Sản xuất vải sợi, giấy, máy thu thanh - Những mặt hàng có lợi thế cạnh tranh đặc biệt nhờ vào lựclượng lao động dồi dào, chăm chỉ và giá rẻ Đây là thời kỳ mà HQ chú trọng vào thu hút nguồn vốn để cảithiện vốn trong nước
+ Năm 1965, chính phủ Hàn “nhắm tới” 13 loại ngành hàng mà họ xem là “những nhân tố chiến thắng”phục vụ cho chương trình xúc tiến đặc biệt
+ Thực hiện chính sách ưu đãi về thuế trong đó thuế thu nhập công ty được miễn giảm 50 – 100% trongvòng từ 2 – 9 năm đầu hoạt động và miễn giảm 20 – 30% trong hai năm tiếp theo
+ Có các chính sách trợ cấp xuất khẩu: Cho vay tín dụng với lãi suất thấp, kỳ hạn dài giúp các Chaebol
có thể đẩy mạnh sản xuất bất chấp ngưỡng sống người dân còn nghèo khổ Các công ty tài chính có nhiều biệnpháp cho vay, trong đó biện pháp khuyến khích thường được áp dụng là mức lãi suất thấp và chính phủ đứng
ra bảo lãnh tín dụng
❖1971 - 1980: Xuất khẩu những mặt hàng Công nghiệp nặng như thép, hóa chất, sản xuất ô tô Đây làthời kỳ Hàn Quốc đã tiến được 1 bước dài trong cải tổ công nghiệp của mình Từ công nghiệp nhẹ giúp manglại nguồn vốn lớn, thời kỳ này là hoàng kim của các ngành công nghiệp nặng
+ Thực hiện chính sách đa dạng hóa thị trường thông qua việc tăng cường vai trò hoạt động của các tổchức xúc tiến thương mại đồng thời chính phủ tăng cường các hoạt động ngoại giao và ký kết các hiệp địnhhợp tác kinh tế với nước ngoài Mặt khác Chính phủ Hàn Quốc hỗ trợ các công ty trong nước tiêu thụ sảnphẩm ở nước ngoài bằng cách hỗ trợ tài chính cho hoạt động marketing xuất khẩu, và khuyến khích các công
ty Hàn Quốc liên kết với các công ty nước ngoài để sử dụng nhãn hiệu hàng hóa cho các sản phẩm sản xuất
từ Hàn Quốc xuất khẩu ra nước ngoài
+ Chính phủ Hàn Quốc khuyến khích và hỗ trợ cho việc hình thành và phát triển các chaebol Đây là sựhình thành và phát triển các trụ cột cho nền kinh tế với sự phát triển của đa ngành nghề bao gồm sản xuất côngnghệ, kinh doanh thương mại và dịch vụ Đồng thời là nơi thu hút cà chuyển giao công nghệ từ nước ngoàivào trong nước.Các chaebol đã có những đóng góp rất lớn cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế với tỷ lệhàng năm trung bình từ 20 – 30% GDP, và giá trị xuất khẩu khoảng 40% đồng thời tạo ra một nền công nghệhiện đại và phát triển cho nền sản xuất công nghệ HQ Có thể nói các Chaebol là những đứa con cưng củachính phủ Hàn Quốc, là xương sống trong nền kinh tế nước này
+ Hàn Quốc thực hiện chính sách phát triển thị trường bằng cách xác định cụ thể các thị trường xuấtkhẩu chủ lực từ đó đưa ra các biện pháp chính sách thâm nhập một cách cụ thể nhằm duy trì và nâng cao sứccạnh tranh cho các sản phẩm xuất khẩu Trong thời kỳ này thị trường xuất khẩu của Hàn Quốc đã được mởrộng , ngoài các thị trường truyền thống như Nhật Bản, Mỹ, Châu Âu còn bao gồm các thị trường các nướctrong khu vực như Trung Quốc, các nước Đông Nam Á, Úc
b, Thực hiện tự do hóa thị trường ngoại hối và phá giá đồng nội tệ
Trang 20Bắt đầu vào năm 1964, chính phủ đánh bạo đưa ra hàng loạt chính sách nhằm mục đích mở rộng xuấtkhẩu, trong số đó có việc phá giá rồi sau đó là thả nổi đồng Won, tự do hóa cơ chế xuất khẩu nghiêm ngặt củaHàn Quốc để tạo điều kiện cho các công ty Hàn Quốc dễ dàng hơn trong việc đưa vào nước các loại máy móc,nguyên liệu thô và những bộ phận cấu thành cần thiết để sản xuất phục vụ xuất khẩu.
c, Đưa ra quy định về việc điều chỉnh hoạt động của các công ty trong nước
Làm tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiêp, nâng cao chât lượng sản phẩm để xuất khẩu đượcđẩy mạnh
d, Thành lập tổ chức Xúc Tiến Thương mại và Đầu tư Hàn Quốc (KOTRA) năm 1962
Đây là tổ chức của chính phủ Hàn Quốc với chức năng là hỗ trợ hoạt động marketing cho các công tyHàn Quốc, kết nối doanh nghiệp và nghiên cứu thị trường
e, Tích cực triển khai thực hiện Đầu Tư xây dựng cơ sở hạ tầng
f, Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực: tại cơ sở sản xuất và tại các cơ sở dạy nghề
g, Thực hiện miễn giảm thuế thu nhập và thuế nhập khẩu đầu vào SX
Ba biện pháp này là góp phần tạo điều kiện thuận lợi toàn diện cho các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa
xuất khẩu, từ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng cũng như giá ưu đãi về nguyên vật liệu,máy móc thiết bị Qua đó, thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển hàng hóa cả về số lượng lẫn chất lượng, tạo rasức hấp dẫn lớn đối với các bạn hàng nước ngoài
2.1.2.2 Đối với nhập khẩu
Nhằm thực hiện từng bước tự do hóa nhập khẩu, chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra các biện pháp sau đây:
· Đưa ra quy định về danh mục hàng hóa Nhập khẩu, tăng số mặt hàng tự do Nhập khẩu
· Giảm dần việc áp dụng các biện pháp hạn chế Nhập khẩu bằng số lượng
· Cắt giảm thuế quan Nhập khẩu
2.1.3 Chính sách thị trường
=> Tập trung khai thác thị trường các nước phát triển
2.2 Giai đoạn 1981 đến nay
2.2.1 Mô hình chính sách
Thực hiện chính sách Tự do hóa Thương mại và Đa dạng hóa Thị trường
❖ Giai đoạn 1980 - 1989: Đây là giai đoạn Hàn Quốc điều chỉnh cơ cấu và tự do hóa nền kinh tế trên cơ
sở ổn định kinh tế, tự do hóa và mở cửa nền kinh tế, từng bước tư nhân hóa ngành công nghiệp, mở rộng thịtrường, thúc đẩy cạnh tranh Hàn Quốc thời kỳ này đẩy mạnh phát triển kinh tế, xuất khẩu để tăng tích lũyquốc gia chuẩn bị cho 1 giai đoạn cất cánh mới Hàn Quốc chú trọng cho các nhà đầu tư nước ngoài tiến vàođất nước mình nhằm cải thiện số vốn ít ỏi trong nước
❖ Giai đoạn 1990 - nay: đây là giai đoạn Hàn Quốc thực hiện chính sách kinh tế mới và toàn cầu hóa.Hàn Quốc đã áp dụng chính sách cải cách hệ thống giáo dục để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, chống thamnhũng, đẩy mạnh tự do tài chính, thúc đẩy thị trường tài chính phát triển, chú trọng đầu tư vốn ra nước ngoài.Hiện nay, chính sách của Hàn Quốc lại là mang nguồn vốn của mình ra nước ngoài đầu tư, chú trọng vào các
Trang 21ngành công nghệ phức tạp và đẩy các ngành công nghiệp truyền thống thời gian quay vòng vốn lâu ra nướcngoài.
TV, xe hơi, điện thoại di động, tàu biển
Bằng các chính sách xác định mặt hàng xuất khẩu, có thể thấy rõ xu hướng thay đổi trong xuất khẩu củaHàn Quốc qua các thập kỷ
b, Tăng cường hoạt động của các tổ chức xúc tiến thương mại (XTTM) và đa dạng hóa các hình thức xúc tiến
Hàn Quốc rất tích cực trong việc tăng cường các hoạt động hỗ trợ XTTM với sự kết hợp hiệu quả củanhiều tổ chức XTTM như Hiệp hội thương mại quốc tế Hàn Quốc (KITA), Cơ quan Xúc tiến thương mại hảingoại Hàn Quốc (KOTRA),… Các hình thức xúc tiến được triển khai rất đa dạng: từ hội chợ, triển lãm, hộithảo hay tổ chức các cuộc viếng thăm gặp mặt định kỳ thường xuyên với chính phủ và doanh nghiệp nướcngoài
c, Thực hiện tự do hóa thị trường
Chính phủ từng bước thực hiện tự do hóa thương mại như việc cắt giảm thuế quan nhập khẩu, đơn giảnhóa thủ tục hải quan, giảm bớt danh mục các hàng hóa quản lý bằng giấy phép nhằm tạo điều kiện cho hoạtđộng xuất nhập khẩu trong đó hoạt động nhập khẩu các nguyên liệu đầu vào sản xuất được hưởng chính sách
ưu đãi miễn giảm thuế => Phân chia các sản phẩm mũi nhọn
Trang 22Một biện pháp gián tiếp nhưng có hiệu quả rất cao trong việc thúc đẩy Xuất khẩu của Hàn Quốc đó làthực hiện tự do hóa thị trường vốn, tích cực tạo môi trường thu hút đầu tư nước ngoài Biện pháp này đã gópphần hỗ trợ phát triển thương mại và đầu tư quốc tế.
Nhìn chung, các khu vực tiến hành trao đổi thương mại quốc tế chính của Hàn Quốc là Châu Á, EU vàBắc Mỹ Từ 1986 đến 2011, Hàn Quốc tăng cường giao thương với khu vực Châu Á (37% -> 50,8%) và EU(7,2% -> 14,1%) và giảm với khu vực Châu Mỹ (33.8% -> 10,4%) Theo IMF (tháng 4 năm 2012), trao đổithương mại giữa Hàn Quốc và các nước đang phát triển ở châu Á tăng 7,8%, cao hơn bất kỳ khu vực nào trênthế giới Tỷ trọng thương mại cao của Hàn Quốc với châu Á đã giúp Hàn Quốc chống lại các tác động tiêucực đến từ cuộc suy thoái kinh tế năm 2011 Hàn Quốc được dự kiến sẽ tiếp tục xu hướng tăng cường thươngmại khu vực trong những năm tới Cụ thể trong những năm 2015, Hàn Quốc dù giảm tỷ trọng thương mại với
Mỹ song lại tăng rất mạnh với các quốc gia châu Á khác Năm 2018, với chính sách hướng Nam mới của tổngthống Moon Jea In, Hàn Quốc dự báo sẽ tăng tỷ trọng với châu Á từ 56% lên 60%, dù tỷ trọng giao thươngvới Trung Quốc còn cao song với chính sách tập trung vào Nam Á và Đông Nam Á, Việt Nam rất có thể sẽtăng được tỷ trọng giao thương với Hàn Quốc
d, Tăng cường hoạt động của các tổ chức tín dụng, qua đó hỗ trợ xuất khẩu và đầu tư
Để khuyến khích xuất khẩu, chính phủ Hàn Quốc tập trung cấp tín dụng với lãi suất thấp cho các ngànhcông nghiệp ưu tiên, thực hiện chuyển dịch cơ cấu Chính phủ đã thực hiện chính sách tự do hóa tài chínhthông qua việc thả nổi lãi suất và giảm bớt các biện pháp kiểm soát của chính phủ đối với các hoạt động tíndụng nhằm tạo điều kiện hơn cho các công ty HQ tìm kiếm nguồn tài chính cho hoạt động sản xuất kinhdoanh
Tuy nhiên, do quy mô sản xuất của các Chaebol Hàn Quốc lớn và sự tài trợ quá mức của ngân hàng dànhcho các tập đoàn, đã đẩy hệ thống ngân hàng Hàn Quốc phải đối đầu với khó khăn nợ nước ngoài (Chaebol:Các tập đoàn lớn)
2.2.2.2 Đối với nhập khẩu
Chính sách thương mại quốc tế của Hàn Quốc đối với nhập khẩu trong giai đoạn này là tiếp tục thựchiện tự do hóa nhập khẩu Tuy nhiên, đây chỉ là những việc chính phủ HQ bắt buộc phải làm vì các hiệp địnhthương mại đã ký kết, thực tế ra chính sách của HQ vẫn là trọng thương và người Hàn vốn có xu hướng sínhnội
Từ năm 1983, Hàn Quốc đã đẩy mạnh tự do hóa nhập khẩu, đồng thời liên tục cắt giảm thuế quan HànQuốc công bố trước danh mục hàng nhập khẩu tự do và đặt ra thời hạn 1-5 năm để các hang sản xuất trongnước điều chỉnh bằng cách nâng cao năng lực cạnh tranh hay chuyển sang một lĩnh vực kinh doanh mới Bêncạnh đó, hệ thống giám sát nhập khẩu được áp dụng từ năm 1977 để theo dõi và điều chỉnh việc nhập khẩucác mặt hàng mới được tự do hóa
Cùng với việc tự do hóa nhập khẩu, Hàn Quốc cũng đưa ra những chương trình giảm thuế quan trongvòng 5 năm dựa trên danh mục được công bố trước đó Ví dụ: Giai đoạn 1988 -1993 mức thuế quan giảmđáng kể từ 18,1% (1988) xuống còn 11,4% (1990) và còn 7,9% (1993) Đến thời kỳ những năm 2006 - 2007thì thuế quan được giảm xuống 10% cho các nước trong khu vực châu Á và giảm xuống 0% cho các nước này
lộ trình 2016 - 2020
Hiện nay, việc cắt giảm thuế quan của Hàn Quốc tuân theo lộ trình chung của WTO và chính phủ nướcnày quản lý nhập khẩu chủ yếu bằng các rào cản kỹ thuật và hạn chế xuất khẩu tự nguyện Chính phủ HànQuốc coi việc cắt giảm thuế là một biện pháp khiên cưỡng và đã làm mọi cách để đẩy mạnh các hàng rào phithuế quan
Trang 232.2.2.3 Chính sách khác tác động đến cả xuất và nhập khẩu
2.3 Đánh giá chính sách
Kinh tế Hàn Quốc đã có sự chuyển mình mạnh mẽ, từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới saucuộc chiến tranh Triều Tiên trở thành một trong những nước giàu cường quốc công nghệ, đứng thứ 4 ở khuvực Châu Á và đứng thứ 15 trên toàn thế giới Đây là thành quả của việc đưa ra và thực hiện những chính sách
một cách thành công phù hợp với từng thời kỳ từng thời điểm Sự thành công này đến từ việc:
- Chính phủ Hàn quốc sớm nhận ra xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa và đánh giá chính xác, khách quantiềm lực đất nước để từ đó có thể xây dựng chính sách phù hợp, tận dụng những tiềm năng của nền kinh tế
- Chính sách đưa ra phù hợp từng thời kỳ, có sự đồng bộ thống nhất giữa các chính sách một cách hợplý
- Xác định đối tác đúng đắn: các nước phát triển và tận dụng mối quan hệ thân Mỹ
- Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phù hợp -> tạo sức mạnh nội lực về kinh tế trong đất nước
- Phát triển nguồn lực con người
- Xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng
- Sự thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chính sách của chính phủ và nhân dân Hàn Quốc
- Vai trò của các cơ quan xúc tiến thương mại
Trang 24=> Đưa ra chính sách khai thác tối đa khả năng buôn bán của các doanh nghiệp Hàn Quốc để tìm thịtrường xuất khẩu cho hàng hóa rẻ của mình bằng cách.
+ Đẩy mạnh các ngành công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động
+ Phá giá nội tệ và thực hiện chính sách tỷ giá thả nổi
+ Ưu tiên xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động sản xuất
+ Phát triển nguồn nhân lực ( lợi thế so sánh hiện tại của quốc gia)
+ Thực hiện các chính sách hỗ trợ phù hợp, xây dựng hệ thống các tổ chức xúc tiến thương mại
+ Đa dạng hóa thị trường
=> Thành quả: Thúc đẩy được sản xuất trong nước, nâng cao tiềm lực nội tại quốc gia sớm xuất hiệnmặt hàng tại nhiều thị trường trên thế giới thu ngoại tệ, thu hút vốn, công nghệ kỹ thuật
2.3.2 Giai đoạn 1972 - 1981
Dựa trên thành công đạt được trong giai đoạn 1960 - 1971, Hàn Quốc đưa ra quyết định chiến lược, cảithiện cơ cấu ngành công nghiệp từ chú tâm vào các ngành công nghiệp nhẹ chuyển sang tập trung phát triểncông nghiệp nặng và hóa chất, loại bỏ dần phụ thuộc vào nước ngoài
- Nguyên nhân: Nếu tiếp tục phát triển công nghiệp nhẹ thì lợi thế nhân công giá rẻ sẽ sớm khôngcòn Chính phủ Hàn Quốc muốn làm chủ kỹ thuật công nghiệp
- Đánh giá: Sở dĩ giai đoạn này chính sách xuất khẩu sản phẩm công nghiệp thành công là do Hàn Quốcchủ định giảm giá đồng won, bảo hộ thị trường trong nước, quản lý chặt chẽ ngoại hối => Sản phẩm rẻ hơn sovới đối thủ cạnh tranh
+Vai trò ngày càng quan trọng của tổ chức xúc tiến thương mại
+ Sự hình thành các chaebol trong nền kinh tế Hàn Quốc => Tăng tiềm lực nội tại quốc gia, giảm dần lệthuộc vào nước ngoài
mở cửa, tự do hóa kinh tế để đón nhận và phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao
2.3.4 Giai đoạn 1990 – nay
- Mô hình chính sách: Thực hiện chính sách kinh tế mới và toàn cầu hóa
- Đánh giá: Nhờ vào sự thành công và đúng đắn của các chính sách thời kỳ trước, Hàn Quốc không chỉ
có một thị trường rộng lớn thuận lợi cho quá trình toàn cầu hóa ( chính sách thúc đẩy xuất khẩu đa dạng thịtrường) mà còn có tiềm lực đủ mạnh về vốn, công nghệ và con người ( chính sách phát triển con người, tậptrung công nghiệp nhẹ -> nặng -> ngành có hàm lượng công nghệ cao) và đã có bước chuyển mình đầy ngoạnmục, trở thành “ huyền thoại sông Hàn” mà các nước cần học tập
2.4 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
2.4.1 Chính sách phát triển của quốc gia qua từng thời kỳ
Trang 25Vào thời kì đầu của giai đoạn phát triển kinh tế, năm 1960, Hàn Quốc đã chọn cho mình một chính sáchtương đối khác biệt: Tập trung vào ngành công nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu, thay vì tập trung vào ngànhnông nghiệp.
Điều này cho thấy Hàn Quốc đã tập trung mở cửa thị trường một cách có kiểm soát (thu hút vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài, nhưng chỉ cho phép đầu tư dưới 50%) Việc mở cửa rất sớm này đem lại cho Hàn Quốc
ưu thế của những nước đi trước, nhất và về mặt công nghệ, khoa học kĩ thuật
Xét đến Việt Nam, tuy là một nước có lợi thế về nông nghiệp, nhưng cũng cần chú ý rằng, sản phẩm liênquan đến ngành nông nghiệp có giá trị gia tăng không cao Để tạo nên thế mạnh về lĩnh vực thương mại quốc
tế, Việt Nam cần kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, biến các sản phẩm thô thành những sản phẩm có mẫu
mã, chất lượng
Việt Nam học bài học từ việc mở cửa của Hàn Quốc, tiếp nhận vốn FDI một cách có chọn lọc Tập trung
hỗ trợ các tập đoàn, doanh nghiệp nội địa phát triển các sản phẩm riêng, từng bước cạnh trên trên thị trườngquốc tế Như xe hơi của Vinfast là một ví dụ
Đặc biệt trong thời đại 4.0 hiện nay, cần chú trọng đến việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì cácstartup ở thời điểm công nghệ nếu thành công sẽ có tỉ lệ tăng trưởng rất cao Ở mỗi thời kỳ, cần nắm vững các
“Chìa khóa” để đưa quốc gia phát triển vượt bậc Như công nghiệp vào những năm 70, và hiện tại là côngnghệ vào năm 2018 trở về sau
2.4.2 Chính sách thương mại quốc tế
Cũng như Hàn Quốc, Việt Nam cần tham gia mở cửa thị trường (điều chính phủ đã và đang làm) Nhưngcửa mỗi quốc gia mỗi khác, vì vậy các chính sách cần được điều chỉnh để phù hợp với hoàn cảnh nội tại cácquốc gia đó
Việt Nam lại xác định đi từ hàng hoá công nghiệp nặng và năng lượng Tuy nhiên, Việt Nam đã chuyển sang mặt hàng công nghiệp nhẹ trước, và tận dụng mặt hàng nông nghiệp Để thúc đẩy phát triển công nghiệp, cần gia tăngmặt hàng công nghiệp hơn, nhất là côngnghiệp chế biến từ hàng hoá nông nghiệp để nâng cao giá trị sản xuất nôngnghiệp
đã bước khỏi thời kỳ bảo hộ cáctập đoàn non trẻ và bước sang
Tự do hoá nhập khẩu và hạn chế bằng hàng rào thuế quan Tuy VN đang thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan của WTO, nhưng mức thuế vẫn còn quá cao, mục đích nhằm bảo hộ ngành sản xuất trong nước Nhưng sự bảo hộ này
Trang 26vị thế cạnh tranh toàn cầu đã diễn ra quá lâu, đã được hơn 20 năm.
VN nên có những chính sách khác để thúc đẩy sản xuất trong nước như những
gì Hàn Quốc đã làm, đó là ưu tiên xuất khẩu, đó là ưu tiên về đầu tư công nghệ,
ưu tiên vốn đầu tư nhưng có sự quản lý hiệu quả, thay vì bảo hộ bằng thuế Mặt hàng nhập khẩu cũng nên có hàng rào
kỹ thuật nhất định và phổ biến với người dân về phong cách tiêu dùng hàng nội quốc và hàng đáp ứng chất lượng
2.4.3 Phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải
Hàn Quốc phát triển rất tốt giao thông vận tải, với những chuyến tàu cao tốc xuyên khắp cả nước và mớigần đây, 2 chuyến tàu cao tốc đầu tiên đã được nối với Triều Tiên Tất cả các phương tiện di chuyển khác đều
là sản phẩm công nghệ cao (với xe buýt có tính tự động, và cảng biển tự do hoạt động) Hàng không rất pháttriển, điển hình là Hãng Hàng không Hàn Quốc và hãng hàng không Asiana, cả 2 hãng hàng không đều cổphần hoá, giúp phát triển du lịch với hãng hàng không àn Quốc thực hiện chuyên chở hàng chục triệu dukhách quốc tế mỗi năm (khoảng 20 triệu du khách) Nhờ có giao thông vận tải phát triển mà Hàn Quốc trở nên
dễ dàng hơn trong việc vận chuyển, tham gia vào chuỗi cung ứng giá trị
2.4.4 Con người và tinh thần dân tộc
Ngay từ bước đi đầu tiên, nước này đã chọn nền công nghiệp hóa chất và công nghiệp nặng Với cácngành máy móc kỹ thuật phức tạp, hạng nặng, máy diesel, đóng tàu, xe hơi… ngay từ đầu là gần như là mộtbước đi táo bạo Cứ ngỡ là không thể, nhưng thật sự đối với người Hàn thì họ càng quyết tâm chứng tỏ
“nguyên khí”
Muốn đẩy mạnh xuất khẩu, Việt Nam cần có sản phẩm, dịch vụ tốt Muốn có sản phẩm tốt, người Việtcần đồng sức để sản phẩm không bị chết yểu khi sinh ra Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần sản xuất nhữngsản phẩm, mẫu mã hướng tới chất lượng “chuẩn quốc tế” Đây là một vấn đề cần xử lý từ hai chiều, từ phíangười tiêu dùng và doanh nghiệp
3.2.5 Giải pháp tăng cường hợp tác Thương Mại Quốc Tế giữa Việt Nam và Hàn Quốc
Trang 27Thời gian qua, quan hệ Việt Nam và Hàn Quốc có những bước phát triển mạnh mẽ và ngày càng đi vàochiều sâu, thực chất và đem lại lợi ích cho hai bên Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư luôn duy trì tốc độphát triển nhanh, ổn định và đạt được những kết quả rất ấn tượng Đến nay, DN Hàn Quốc đang giữ vai tròquan trọng trong một số lĩnh vực kinh tế trọng yếu của Việt Nam như công nghiệp điện tử, năng lượng, sảnxuất ô tô, may mặc, xây dựng…
Trong thời gian tới hai bên cần tăng cường hơn nữa sự phối hợp chặt chẽ và chia sẻ thông tin một cáchhiệu quả hơn liên quan đến các vấn đề khu vực và quốc tế thông qua các cơ chế hợp tác hiện có, qua các kênhtiếp xúc, trao đổi song phương và tại các diễn đàn quốc tế đa phương, đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực gìn giữhòa bình
Các nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàntrên biển và tự do hàng hải, sự cần thiết đối với các bên liên quan giải quyết các tranh chấp bằng con đườnghòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, thực hiện DOC và sớm xây dựng thông qua COC
Hai bên phát huy, nâng cao hiệu quả thực chất và chiều sâu của các cơ chế đối thoại chiến lược, đối thoạichính sách hiện có trên các lĩnh vực ngoại giao, quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh hợp tác về công nghiệp quốcphòng, hợp tác đào tạo, nâng cao năng lực lực lượng gìn giữ hòa bình và lực lượng chấp pháp trên biển, phòngchống tội phạm xuyên quốc gia và chống khủng bố
Hai nhà lãnh đạo tăng cường tiếp xúc giữa Lãnh đạo cấp cao, giữa hai Chính phủ, hai Quốc hội và cácchính đảng hai nước nhằm không ngừng nâng cao hiểu biết lẫn nhau, tăng cường sự tin cậy chính trị tạo nềntảng định hướng cho sự phát triển quan hệ Việt-Hàn
Bên cạnh đó để giải quyết vấn đề mất cân bằng cán cân thương mại giữa hai nước thông qua hợp tác tronglĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp ô tô, phụ tùng và nhiều dự án hợp tác khác, như tăng cường năng lựcxuất khẩu nông thủy sản của Việt Nam được triển khai trong khuôn khổ tăng cường năng lực ngành côngnghiệp cùng có lợi giữa hai nước
8 Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Singapore, Hàn Quốc, Malaysia: Mô hình, nội dung, các công cụ biện pháp chủ yếu và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hoặc đề xuất giải pháp chính sách cho Việt Nam
Singapore
Chính sách đầu tư quốc tế của Singapore
1 Thực trạng đầu tư quốc tế tại Singapore
1.1 Thu hút đầu tư nước ngoài
Singapore là một trong những nền kinh tế thành công trong việc thu hút FDI nhờ chiến lược tập trung vào công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu
Để thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp hướng ra xuất khẩu, Singapore thành lập Hội đồng Phát
triển Kinh tế (EDB), là cơ quan độc lập của Chính phủ, hoạt động theo nguyên tắc một cửa, nghiên cứu, cânnhắc những yêu cầu của nhà đầu tư và có định hướng vào các ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước nhưsửa chữa tàu biển, gia công kim loại, hoá chất, thiết bị và linh kiện
Trang 28Thu hút vốn FDI của các công ty đa quốc gia (TNCs) cũng là một trong những kênh thu hút FDI quan trọng
mà các quốc gia luôn tìm mọi cách để tăng cường Trong số các quốc gia châu á, Singapore được coi là nướcthu hút được nhiều TNCs nhất…
2017 1.567.974 triệu USD Sin
1.2 Đầu tư ra nước ngoài
Chính sách đầu tư ra nước ngoài của Singapore đã tăng nhanh chóng trong suốt vài thập kỉ gần đây, sự phát triển mạnh mẽ này đóng góp vào sự hội nhập sâu rộng hơn của nền kinh tế nước này với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới Trong số những lí do cho việc tăng đầu tư FDI ra nước ngoài bởi thị trường nội địa ở Singapore khá là nhỏ bé thì chi phí cao cho nhân công và thuê đất đai văn phòng cũng là những nguyên nhân chủ chốt thúc đẩy Singapore tìm kiếm môi trường đầu tư vào các thị trường mới nổi Thêm vào đó, chính sách của chính phủ nhằm thúc đẩy xây dựng “động cơ bên ngoài” cho
Singapore Trong đó chi phí lao động dường như đóng vai trò quan trọng, tuy nhiên các nước thành viênASEAN dường như không khuyến khích vốn đầu tư FDI từ Singapore Dù các chính sách thúc đẩy đầu tư ranước ngoài luôn được chính phủ Singapore chú trọng, tuy nhiên việc các doanh nghiệp quốc gia này quá chútrọng tối đa hóa lợi nhuận, thu hồi nhanh khiến các doanh nghiệp này có xu hướng bóc lột quốc gia nhận đượcnguồn vốn đầu tư này
Singaporelà quốc gia khuyến khích các công ty quốc tế hóa các hoạt động kinh doanh Năm2012, chính phủ Singapore đã ban hành ba chương trình khuyến khích thuế trị giá 240 triệu đô-la Singapore để giúp các công ty quốc tế hóa, đây là tác nhân quan trọng thúc đẩy dòng vốn OFDI của Singapore Vốn
OFDI của Singapore tăng rất nhanh sau khi Chính phủ thực hiện các chương trình này đạt 43,6 và 52,2 tỷUSDtrong hai năm 2013 và 2014, tương đương mức tăng gấp 2,25 và 2,7 lần so với năm2012, chiếm đến
3,1% và 4,2% trong tổng vốn OFDI thế giới Với quy mô đầu tư ra nước ngoài như này, Singapore năm 2014
là nước đứng thứ 10 trong số 20 nền kinhtế có mức đầu tư nước ngoài lớn nhất trên thế giới, tăng 1 bậc
so với năm 2013.Tuy nhiên, sau đó Singapore đã không duy trì được mức tốc độ tăng trưởng vốnOFDI do địađiểm đầu tư quan trọng nhất của Singapore (chiếm tới gần 20% tổng vốnOFDI) là Trung Quốc suy giảm tốc
độ tăng trưởng kinh tế Chính vì vậy, vốn OFDI Singapore giảm xuống 31,4 và 23,8 tỷ USD trong hai năm
2015 – 2016 Hiện nay,Singapore chỉ đứng vị trí 17 trong số 20 nền kình tế có nguồn vốn FDI ra nướcngoài lớn nhất trên thế giới.
Cáccông ty của Singapore đầu tư chủ yếu vào các nước Châu Á, chiếm trên 50% tổng vốnOFDI của
Singapore, trong đó Trung Quốc luôn là điểm đến quan trọng nhất củacác nhà đầu tư Singapore Trong Top 10nước các doanh nghiệp Singapore đầu tưnhiều nhất, Châu Á chiếm tới 50% Xét theo vốn lũy kế, Trung Quốc
và Hồng Công,là những quốc gia thu hút được nhiều nhất vốn OFDI từ Singapore Tính đến hếtnăm 2016,Vốn OFDI Singapore vào Trung Quốc và Hồng Công chiếm tới 15,8% và6,9% tổng vốn OFDI của Singapore.Đầu tư Singapore ở Trung Quốc tập trung chủ yếuvào các ngành sản xuất chế biến chế tạo và bất động sản, ởHồng Công là ngànhtài chính và bảo hiểm
Khuvực ASEAN cũng là điểm đến chủ yếu của các nguồn vốn OFDI Singapore, chiếm tớihơn 1/3 tổng
vốn OFDI Singapore vào Châu Á, trong đó, Malaysia và Indonesia lànhững nước thu hút được nhiều nhất.Các doanh nghiệp Singapore đầu tư vào hainước này tới hơn 70% tổng vốn OFDI Singapore vào ASEAN, chủyếu vào các ngànhtài chính – bảo hiểm và sản xuất chế biến, chế tạo Tuy nhiên, nếu tính theo vốnOFDI hàng