Năm 2015, kinh tế Thái Lan phải đối mặt với nhiều khó khăn, nguyên nhân chính xuất phát từ bốicảnh kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, đặc biệt là tại các đối tác hàng đầu của Thái gồm Trung
Trang 1MỤC LỤC
1.4 Sự phát triển kinh tế qua các giai đoạn 2
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA THÁI LAN 3
2.1 Chính sách thu hút và quản lý đầu tư nước ngoài của Thái Lan 3
2.1.1 Giai đoạn từ 1960- 2006: Kế hoạch phát triển quốc gia và xúc tiến đầu tư nước ngoài 3
2.1.2 Giai đoạn 2006-nay 7
2.2 Chính sách đầu tư ra nước ngoài 17
2.2.1 Giai đoạn trước 2006 17
2.2.2 Giai đoạn từ 2006- nay 17
CHƯƠNG 3: QUAN HỆ ĐẦU TƯ CỦA THÁI LAN VÀ VIỆT NAM 23
3.1 Mối quan hệ 2 nước 23
3.2 Thực trạng đầu tư 23
CHƯƠNG 4: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 28
4.1 Kinh nghiệm cho Việt Nam 28
4.2 Điều kiện vận dụng 29
KẾT LUẬN CHUNG 30
Trang 21.4 Sự phát triển kinh tế qua các giai đoạn
Trước dây Thái Lan là một nước nông nghiệp truyền thống, tuy nhiên hiện tại Thái là một nướccông nghiệp mới Năm 1960, Thái Lan bắt đầu thực hiện Kế hoạch phát triển KT-XH lần thứ nhất năm
1970, thực hiện chính sách “ Hướng xuất khẩu” thị trường chính là ASEAN, Mỹ, Nhật, EC Ngành côngnghiệp dịch vụ dần dần đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là ngành du lịch, nông nghiệp giảm dần
Từ năm 1985-1996 kinh tế Thái Lan đạt tốc độ tăng trưởng cao trung bình gần 9%/năm Cuối năm
1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế Giới của IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá
nóng bỏng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được Tăng trưởng kinh tế 1996 giảm xuống còn 5,9%,
sau đó cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 làm cho kinh tế Thái Lan rơi vào khủng hoảng nghiêmtrọng Chính phủ buộc phải thả nổi đồng Baht: nếu như trước đây tỷ giá là 25,3 THB=USD thì vào t1/1998
là 56 Baht=1USD; mức tăng GDP năm 1998 là -10,5%; nợ nước ngoài khoảng 87 tỷ USD; các ngành sảnxuất mũi nhọn như công nghiệp ô tô, dệt, điện tử suy giảm nghiêm trọng; thất nghiệp tăng, tính tới t3/1998
đã có khoảng 2,8 triệu người thất nghiệp, chiếm 8,8% lực lượng lao động
Kể từ năm 1998, kinh tế Thái Lan bắt đầu có dấu hiệu phục hồi Năm 2000, tăng trưởng kinh tế đạt4,2-4.4% phần lớn dựa vào xuất khẩu Năm 2001, mức tăng trưởng giảm xuống còn 2,2% do ảnh hưởng của
sự sụt giảm kinh tế toàn cầu Tuy nhiên ngay sau đó, dưới thời thủ tướng Thaksin Shinawatra kinh tế TháiLan lại tăng trưởng mạnh Từ năm 2002-2004, tăng trưởng đạt khoảng 5-7% một năm
Từ năm 2007, các yếu tố cơ bản của nền kinh tế Thái vẫn vững, mặc cho những yếu tố chính trị bất
ổn gây hậu quả xấu tới nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế Thái Lan năm 2007 đạt 4,8% Do những tiêucực từ khủng hoảng tài chính và từ nền chính trị không ổn định mà tốc độ tăng trưởng của Thái năm 2008chỉ đạt 3,6% Năm 2009, xuất khẩu giảm mạnh, thất nghiệp tăng, tăng trưởng kinh tế giảm 2,4% Thời giangần đây kinh tế Thái Lan đã dần phục hồi, GDP năm 2010 và 2011 lần lượt tăng ,8% và 1,5% Tuy nhiên thì
sự tăng trưởng này vẫn còn phụ thuộc vào một số yếu tố trong đó có sự ổn định từ chính trị trong nước
Năm 2015, kinh tế Thái Lan phải đối mặt với nhiều khó khăn, nguyên nhân chính xuất phát từ bốicảnh kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, đặc biệt là tại các đối tác hàng đầu của Thái gồm Trung Quốc, Nhật,
và Mỹ và cũng do nền chính trị trong nước không ổn định Với sự nỗ lực của chính quyền, t9/2015 kinh tế
đã tăng trưởng 2,9% so với cùng kì năm 2014, xuất khẩu đạt kim ngạch 161,56 tỉ USD Du lịch là ngànhlàm cho nền kinh tế Thái khởi sắc
Theo số liệu của Hội đồng Phát triển kinh tế - xã hội Thái Lan (NESDB) trong quý IV/2017, Tổngsản phẩm quốc nội (GDP) (đã điều chỉnh lạm phát của Thái Lan) tăng trưởng 3,9%, so với 3,3% của năm
2016 và là mức cao nhất trong 5 năm kể từ 2012 NESDB đánh giá xuất khẩu hồi phục nhờ nền kinh tế toàncầu cải thiện và lượng khách du lịch kỷ lục chính là những động lực thúc đẩy tăng trưởng
Tiếp đà tăng trưởng mạnh mẽ từ năm 2017, quý I năm 2018, nền kinh tế Thái-lan ghi nhận mức tăngtrưởng kỷ lục đạt 4,8% Để có được mức tăng trưởng ấn tượng này, là nhờ hoạt động xuất khẩu được đẩymạnh trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đi lên và sự mở rộng của các nền kinh tế đối tác của Thái Lan Giá trịxuất khẩu trong quý I của Thái-lan đạt 61,8 tỷ USD, tăng 9,9% so với cùng kỳ 2017, sản xuất, buôn bán vàbán lẻ cũng được chính phủ Thái đẩy mạnh phát triển Các ngành khách sạn, nhà hàng và vận tải cũng duytrì được mức tăng trưởng cao Trong khi đó, các lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng đã đảo chiều từ sự sụt
Trang 3Kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong của Thái Lan là Văn phòng bộ phận máy ($19,8 tỷ), Mạch tíchhợp ($12 tỷ), Xe tải giao hàng ($9,4 tỷ ), Xe ô tô ($8,17 tỷ ) và Thiết bị phát sóng ($6,63 tỷ ) (2017) , bêncạnh đó là hàng nông sản hàng nông sản cũng chiếm 1 phần nhỏ, như gạo ($3 tỷ), gỗ và các sản phẩm từ gỗ($1,46 tỷ).
Như vậy, có thể thấy Thái Lan có lợi thế trong các lĩnh vực công nghiệp như ô tô, phụ tùng, máy
tính và linh kiện, sản phẩm cao su, hạt nhựa, đá quý và nữ trang, hóa học, xăng dầu thành phẩm, máy móc
và phụ tùng, linh kiện điện tử, sản phẩm nông nghiệp ( gạo, gỗ) Bên cạnh đó việc được thiên nhiên ưu đãinhiều phong cảnh đẹp và có một nền văn hóa đa dạng, đặc sắc đã khiến cho ngành dịch vụ Thái Lan pháttriển mạnh mẽ, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của kinh tế Thái Lan
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA THÁI LAN
2.1 Chính sách thu hút và quản lý đầu tư nước ngoài của Thái Lan
2.1.1 Giai đoạn từ 1960- 2006: Kế hoạch phát triển quốc gia và xúc tiến đầu tư nước ngoài
Đây là giai đoạn Thái Lan xây dựng hệ thống thể chế luật pháp cho các hoạt động đầu tư nước ngoài
và bắt đầu khuyến khích hoạt động này Chính phủ Thái Lan đã có những định hướng rõ ràng trong việc thuhút đầu tư vào các lĩnh vực cụ thể, nhằm khai thác lợi thế so sánh của nước này
Sự khuyến khích lớn trong đầu tư nước ngoài của Thái Lan từ chủ yếu thể hiện qua 7 kế hoạch quốcgia Kế hoạch đầu tiên (1961-1966) khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân đầu tư vào các ngành công nghiệp
và phát triển ở quốc gia, mở rộng các ngành công nghiệp và sản xuất dựa vào nông nghiệp và các ngànhcông nghiệp này như là một phần của đầu tư thay thế nhập khẩu Trong kế hoạch quốc gia thứ hai (1967-1971), sự gia tăng của đầu tư tư nhân vẫn được khuyến khích Ngoài ra, đầu tư nước ngoài thông qua Hộiđồng Đầu tư có xu hướng cải thiện cơ sở vật chất cho đầu tư tư nhân
Trong kế hoạch quốc gia thứ ba (1972-1976), chính phủ đã khuyến khích đầu tư định hướng xuấtkhẩu vào cả nông sản và sản phẩm công nghiệp Nhà đầu tư đã được hưởng lợi từ chính phủ và giảm mứcnhập khẩu không cần thiết của Vương quốc Anh bằng cách áp dụng các biện pháp thuế và thuế nhập khẩu.Các ngành công nghiệp chính được khuyến khích thúc đẩy; Sử dụng lao động địa phương và nguyên liệuthô, hỗ trợ cán cân thanh toán, đặt tại khu vực nông thôn, các ngành công nghiệp nặng Đánh giá cho thấyrằng sự tăng trưởng của sản xuất công nghiệp và xuất khẩu cao hơn so với mục tiêu
Trong kế hoạch thứ tư (1977-1981), chính phủ khuyến khích sự tăng trưởng của các ngành xuấtkhẩu như đường, dệt may và xi măng, và các ngành công nghiệp nông nghiệp Ngoài ra, sự phát triển củacác ngành công nghiệp nặng như: thép, hóa dầu và công nghiệp hóa học Ngoài ra, trong kế hoạch này,chính phủ đã đầu tư vào các khu vực khác ngoài khu vực thủ đô
Kế hoạch thứ năm (1982-1986) chứng kiến sự giảm phụ thuộc nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu và mởrộng công nghiệp sang khu vực tỉnh Về vấn đề này, Chính phủ có kế hoạch đầu tư vào dự án bờ biển phíađông tại các tỉnh miền đông Thái Lan
Trong kế hoạch thứ sáu (1987-1991), Chính phủ thúc đẩy đầu tư các ngành công nghiệp quy mô lớnvào khu vực kinh tế mới, đó là sự phát triển vùng biển phía đông Trong kế hoạch thứ bảy (1992-1996), Nhà
Trang 4nước tiếp tục khuyến khích đầu tư nước ngoài vào phát triển công nghiệp bằng cách khuyến khích nhà đầu
tư tư nhân đóng vai trò lãnh đạo Cũng thế, kế hoạch này khuyến khích đầu tư công nghiệp vào các khucông nghiệp, đặc biệt là khu vực dự án bờ biển phía đông và khu vực trung tâm phía trên
Công cụ, biện pháp thực hiện chính sách thu hút đầu tư quốc tế giai đoạn 1960-2006
- Công cụ tài chính:
+ Đạo luật thúc đẩy đầu tư công nghiệp năm 1960 cung cấp các ưu đãi miễn thuế kéo dài từ 2 nămđến 5 năm, cùng với việc thành lập Hội đồng đầu tư công nghiệp, sau đổi thành Hội đồng đầu tư vào năm1972
+ Các ưu đãi đặc biệt được dành cho đầu tư vào các địa điểm hoặc khu vực, đặc biệt là trong khuvực các doanh nghiệp xuất khẩu theo định hướng được miễn nhập khẩu nguyên liệu, tái xuất sản phẩm vàmiễn thuế xuất khẩu đối với hàng hóa sản xuất
+ Luật đầu tư hiện hành được ban hành bởi Đạo luật Xúc tiến Đầu tư 1997, quy định ưu đãi đầu tư,chủ yếu bao gồm các lợi ích về miễn thuế nhập khẩu máy móc, miễn thuế thu nhập tối đa 8 năm
- Công cụ phi tài chính:
+ Trong Đạo luật xúc tiến đầu tư 1991, chính phủ cam kết đảm bảo không quốc hữu hóa các doanhnghiệp, giới thiệu doanh nghiệp mới để cạnh tranh, không độc quyền cùng loại hàng hóa được sản xuất bởidoanh nghiệp đầu tư nước ngoài, không ép buộc giá sản phẩm trừ trường hợp cần thiết về kinh tế và xã hội
và an ninh của đất nước
+ Đạo luật xúc tiến Đầu tư 1997 cho phép mang quốc tịch nước ngoài là công nhân lành nghề vàchuyên gia vào nước này, cho phép sở hữu đất đai được sử dụng cho các hoạt động được phê duyệt như xúctiến đầu tư từ Hội đồng đầu tư
→ Đặc điểm chính sách thu hút và quản lý đầu tư nước ngoài chủ yếu của Thái Lan trong giai đoạn này là hướng đến thúc đẩy sản xuất hàng hóa thay thế hàng nhập khẩu.
Đánh giá chính sách thu hút của Thái Lan giai đoạn 1960- 2006
Thành công
Từ giai đoạn 1960- 1975, đây là giai đoạn mới thực hiện các chủ trương, chính sách thu hút đầu tư,
do đó giai đoạn này chưa có một cơ quan ban ngành cụ thể thống kê được số lượng nhà đầu tư cũng nhưlượng vốn đầu tư
Hình 2.1 Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Thái Lan giai đoạn 1975- 2006
Trang 6Nguồn: Ngân hàng thế giới
Nhìn chung, đóng góp đầu tư quốc tế vào GDP giai đoạn này tăng trường khá vượt trội Năm 1975,đầu tư trực tiếp quốc tế chỉ đóng góp 0.575% vào GDP, thì đến năm 1998 con số này là 6.435%, và năm
2006 là 4.021%
Các kế hoạch giai đoạn này đã thúc đẩy nhà đầu tư tư nhân đầu tư vào ngành công nghiệp và sảnxuất dựa vào nông nghiệp, cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng như đường sắt, vận tải hàng không vàcải thiện cảng
Điển hình là dự án “Hopewell” Năm 1990, Thái Lan giao cho Tập đoàn Hopewell (HongKong)thực hiện 60 km đường trên cao nối sân bay quốc tế Donmuang với trung tâm Bangkok Sân bay Quốc tếSuvarnabhumi Đây là sân bay xếp thứ 18 trong danh sách những sân bay bận rộn nhất trên thế giới sân baynày được bay thử chuyến bay đầu tiên vào ngày 15 tháng 9-2006 và hoạt động chính thức vào ngày 28tháng 9-2006
Hạn chế
Thái Lan chưa thực sự nhận thức đúng đắn trong việc tận dụng và phát triển tiềm năng của FDI.
Các nhà hoạch định chính sách chưa sáng suốt:
+ Trong việc tìm hiểu các tác động tiềm năng rộng lớn hơn của FDI về mối liên kết giữa các doanhnghiệp trong và ngoài nước, xây dựng năng lực công nghệ, và chuyển giao kiến thức và kỹ năng
Trang 7+ Về tiềm năng thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư có mục tiêu hơn để lấp đầy lỗ hổng côngnghệ và đáp ứng nhu cầu công nghệ.
Các nhà hoạch định cũng chưa thực sự nhận thức đúng đắn về vai trò của bên tiếp nhận đầu tư đốivới mảng phát triển và sử dụng công nghệ do đó gây ra ảnh hưởng cứng nhắc trong việc đưa các chính sáchthu hút đầu tư Vấn đề đặt ra là bên tiếp nhận phải nhận thức bản thân vừa là bên sử dụng thành quả củaKH&CN nhưng cũng là đại diện cho kết quả của việc sử dụng KH&CN Do đó phải sử dụng FDI hiệu quảhơn trong các hoạt động xúc tiến và phát triển công nghệ, tạo ra sự chủ động
Thái Lan chưa chú trọng trong việc xây dựng nền kinh tế tri thức
Các nhà hoạch định chính sách Thái Lan cần nhận ra rằng thách thức trong nền kinh tế toàn cầungày nay là xây dựng kiến thức, không chỉ là các tòa nhà và máy móc Hầu hết các ưu đãi, và đặc biệt là các
ưu đãi đầu tư, được áp dụng chủ yếu tiếp tục hỗ trợ đầu tư vốn bằng cách này hay cách khác Mặc dù đã cónhiều thảo luận về nền kinh tế tri thức và giá trị của thông tin, các chính sách FDI đổi mới để hỗ trợ mua lạitrong nước, sử dụng và phát triển các tài sản đó vẫn được phát triển và thực hiện
Thái Lan chưa thực sự phân biệt cẩn thận giữa các mục tiêu phúc lợi và năng lực cạnh tranh trong việc xem xét các biện pháp chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh công nghiệp
Giai đoạn này, Chính phủ Thái Lan mặc định rằng các công ty lớn hay các công ty nước ngoàikhông cần thêm sự trợ giúp đến từ khu vực công do đó kìm hãm sự phát triển khu vực tư nhân nên năng lựccạnh tranh của các công ty giai đoạn chưa thực sự được nâng cao và phát huy hết tiềm năng Điều này voohình chung khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài cảm thấy e ngại hơn khi đầu tư vào Thái Lan
Các hoạt động xúc tiến đầu tư còn thiếu sự phối hợp và chủ động
Do việc quản lý lỏng lẻo cũng với sự phối hợp còn hạn chế nên các hoạt động xúc tiến đầu tư chưalàm tròn vai trò như các công cụ của chính sách cạnh tranh dó đó các nhà đầu tư chưa thực thấy được sựhấp dẫn trong kêu gọi đầu tư từ phía Thái Lan, phần lớn là do không tin tưởng vào hiệu quả của các hoạtđộng xúc tiến đầu tư
2.1.2 Giai đoạn 2006-nay
Công cụ tài chính
- Ưu đãi về thuế và các loại phí
+ Theo Cục Doanh thu (2015), các công ty nước ngoài kinh doanh tại Thái Lan phải trả 20% thuếthu nhập doanh nghiệp đối với lợi nhuận có được từ Thái Lan Trong trường hợp việc điều hành trụ sở khuvực và ngân hàng thu được lợi nhuận từ Cơ sở Ngân hàng Quốc tế Bangkok (BIBF), công ty phải trả mứcthuế 10% lợi nhuận
+ Theo Đạo luật Xúc tiến Đầu tư (BOI 2016), Thái Lan đã cung cấp ưu đãi thuế cho loại hìnhdoanh nghiệp liên quan đến các ngành có giá trị tri thức và công nghệ cao Các công ty nước ngoài có thểđược miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong tối đa 8 năm Ngoài ra, doanh nghiệp có thể được giảm thêm50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm, khấu trừ kép cho chi phí vận chuyển, cung cấp điện và nước,
và bổ sung 25% khấu trừ thêm chi phí cải thiện cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp
Trang 8+ Miễn thuế nhập khẩu 90% đối với nguyên liệu, 50% đối với máy móc thiết bị mà Thái Lan chưasản xuất được
+ Các dự án FDI trong nông nghiệp được miễn giảm đến 50% thuế nhập khẩu các loại máy mócthiết bị sản xuất nông nghiệp Riêng đầu tư vào các lĩnh vực có điều kiện đặc biệt khó khăn và có sản phẩmxuất khẩu, được miễn hoàn toàn thuế thu nhập doanh nghiệp trong vòng 5 năm
+ Các dự án ưu đãi đầu tư trong công nghiệp và nhất là KCN thường được phân thành 2 nhóm:nhóm A với các lĩnh vực được hưởng ưu đãi thuế; nhóm B với các lĩnh vực không được hưởng ưu đãi thuế,nhưng có thể được hưởng các ưu đãi khác
Nhóm A được chia thành 4 nhóm thành phần là: Nhóm A1, bao gồm các dự án có tầm quan trọng
lớn đối với quốc gia, trung tâm R&D, thúc đẩy khả năng cạnh tranh quốc gia; Nhóm A2, gồm các dự án sửdụng công nghệ cao, vốn lớn, bảo vệ môi trường, xong phải là các dự án chưa từng được đầu tư ở Thái Lan;Nhóm A3, gồm các dự án giống A2 nhưng đã từng đầu tư tại Thái Lan và cần thiết phải kêu gọi thêm vốnđầu tư; Nhóm A4, gồm các dự án không áp dụng công nghệ cao, nhưng có tầm quan trọng trong việc nângcao khả năng cạnh tranh của Thái Lan trong chuỗi cung ứng toàn cầu Các dự án thuộc các nhóm khác nhau
sẽ nhận được các ưu đãi thuế cụ thể khác nhau về mức độ và thời gian (ví dụ: Dự án thuộc nhóm A1 và A2được miễn thuế thu nhập DN trong 8 năm, dự án nhóm A3 được miễn thuế 5 năm và A4 được miễn thuế 3năm) Các dự án nhóm A còn được miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị hay nguyên vật liệu nhập khẩu
để sản xuất sản phẩm xuất khẩu
Nhóm B bao gồm các lĩnh vực đầu tư được địa phương ưu đãi, nhưng chỉ được hưởng các ưu đãi
ngoài thuế như: Quyền được sở hữu đất hay được hỗ trợ cấp visa hay giấy phép lao động cho lao động nướcngoài (mà không bị hạn chế như các dự án thông thường) Trong một số trường hợp, những dự án quantrọng còn có thể được miễn thuế xuất, nhập khẩu
+ Ưu đãi về địa bàn đầu tư: Vị trí địa lý dự án và các KCN thuộc đối tượng được nhận ưu đãi chiathành 03 vùng: Vùng 1, vùng 2, vùng 3; trong đó, vùng 3 được hưởng ưu đãi đầu tư cao nhất, vì càng xaThủ đô Bangkok thì mức độ ưu đãi càng lớn Diện hưởng ưu đãi đầu tư thu hẹp dần từ 240 ngành, lĩnh vựcxuống còn 100 ngành, lĩnh vực, hiện tập trung hơn vào các lĩnh vực: Phát triển công nghệ cao; R&D, đẩymạnh hoạt động đào tạo công nghệ tiên tiến; Phát triển DN nhỏ và vừa; Tận dụng ưu thế về vị trí địa lýcũng như khắc phục sự thiếu hụt về tài nguyên thiên nhiên, tạo ra một hệ thống các ngành dịch vụ thúc đẩyđầu tư quốc tế
Bảng 2.3 Ưu đãi thuế nhập khẩu theo khu vực tại Thái Lan
Trang 9Bảng 2.4 Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo khu vực tại Thái Lan
Thuế thu nhập doanh
nghiệp
Nguồn: Thu hút FDI tại Thái Lan đầu tư theo hướng chọn lọc và có những ưu tiên riêng khi các DN đầu tư vào các KCN - Tạp chí Kinh tế và Dự báo
- Công cụ điều tiết vốn đầu tư:
+ Cung cấp ưu đãi đầu tư cho các công ty mẹ đóng tại Thái Lan (gọi là Regional OperatingHeadquarters hay ROH) Theo đó, nếu các ROH nắm giữ ít nhất 25% vốn tại các công ty con ở nước ngoài
và tiến hành các dịch vụ hỗ trợ (như quản lý, nghiên cứu thị trường, mua sắm, marketing, chuyển giao côngnghệ), có trên 50% doanh thu từ các hoạt động đầu tư ra nước ngoài thì sẽ được hưởng thuế suất thu nhậpdoanh nghiệp ưu đãi 10% đối với lợi nhuận từ kinh doanh, tiền bản quyền, lãi và được miễn thuế đối vớitiền cổ tức thu được từ nước ngoài Ngoài ra, người nước ngoài làm việc cho ROH sẽ được miễn thuế thunhập cá nhân nếu thu nhập đó phát sinh từ các hoạt động ngoài Thái Lan
+ Tỷ lệ góp vốn liên doanh không thành điều kiện bắt buộc, tuy nhiên các dự án cho phép Thái Langóp vốn trên 50% thì Ủy ban đầu tư cấp chứng chỉ bảo lãnh
Công cụ phi tài chính:
- Quy định về thủ tục thẩm định và cấp giấy phép đầu tư:
+ Theo BOI có khoảng trên 20 cơ quan của Chính phủ Thái Lan tham gia vào quy trình thẩm định,thành lập doanh nghiệp để thực hiện đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài tại Thái Lan Quá trình thành lậpdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Thái Lan trải qua 2 bước: đăng ký Giấy phép kinh doanh nướcngoài và đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp theo cơ chế “một cửa tại chỗ” Cơ quan quản lý đầu tưtại quốc gia này là Ủy ban Đầu tư Thái Lan (BOI), trước đây cơ quan này được giao làm đầu mối thực hiện
để hỗ trợ các nhà đầu tư Tuy nhiên, hiện nay, BOI chỉ đóng vai trò là đầu mối cung cấp các thông tin liênquan và cấp Giấy chứng nhận ưu đãi cho nhà đầu tư Việc xin cấp các loại giấy phép khác do nhà đầu tư tựthực hiện tại các bộ, cơ quan chuyên ngành như: Bộ Thương mại cấp Giấy đăng ký kinh doanh để thành lậpDN; Bộ Công nghiệp cấp Giấy phép kinh doanh
+ Việc thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được quy định như sau:
Nếu DN thực hiện các hoạt động kinh doanh có trong Luật kinh doanh nước ngoài, vốn đăng kýphải nhiều hơn 25% chi phí vận hành trung bình tính trong 3 năm nhưng không thấp hơn 3 triệu bath
Trang 10Nếu DN thực hiện các hoạt động kinh doanh không có trong Luật kinh doanh nước ngoài, vốn đăng
ký tối thiểu không thấp hơn 2 triệu bath
Nếu DN thuê lao động nước ngoài, mức vốn đăng ký tối thiểu khác có thể được áp dụng
Mức lệ phí đăng ký áp dụng cho DN TNHH tư nhân tối thiểu là 500 bath, tối đa là 25000 bath, với
DN TNHH đại chúng mức tối đa là 50000 bath
+ Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp phải được thực hiện trong vòng 3 tháng kể từ ngày tổ chứccuộc họp thành viên sáng lập
+ Đăng ký thuế: DN có vốn đầu tư nước ngoài phải đăng ký mã số thuế tại Cục quản lý doanh thu
kể từ ngày bắt đầu hoạt động kinh doanh tại Thái Lan DN có mức doanh thu trên 1,8 triệu bath phải đăng
ký thuế VAT với Cục quản lý doanh thu trong vòng 30 ngày kể từ ngày doanh thu vượt qua ngưỡng trên
- Quy định về đối tượng tham gia và lĩnh vực đầu tư
+ Theo Luật kinh doanh nước ngoài (1999), có 3 loại hình doanh nghiệp được áp dụng đối với đầu
tư nước ngoài: doanh nghiệp tư nhân đơn nhất, công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)
tư nhân (tối thiểu 3 thành viên thành lập) Hình thức phổ biến nhất đối với đầu tư nước ngoài là công tyTNHH tư nhân
+ Thu hút đầu tư vào lĩnh vực trọng điểm: nông nghiệp, chế biến và phân phối hàng nông sản, khaikhoáng, công nghiệp nhẹ, chế tạo máy và thiết bị vận tải, thiết bị điện và điện tử, hóa chất, sản xuất nhựa,giấy, dịch vụ và cơ sở hạ tầng…
→ Đây đều là những ngành phù hợp với lợi thế so sánh của Thái Lan
+ Ưu đãi đối với từng nhóm dự án đầu tư cụ thể được phân loại theo tác động của dự án đó đến nềnkinh tế cả nước; theo hàm lượng khoa học công nghệ tiên tiến và mức chuyển giao công nghệ, mức đầu tưcho nghiên cứu và phát triển (R&D) và cho đào tạo lao động, tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm, tỷ lệ nợ trên vốn
và theo vị trí địa lý dự án trong khu công nghiệp
+ Chính phủ rất chú ý phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, thành lập ủy ban hỗ trợ về vấn đềnày và cùng với các tổ chức chuyên môn lo phát triển, xây dựng, hình thành những mối liên kết côngnghiệp hỗ trợ trong nước Theo đó, Chính phủ Thái Lan đề ra sáng kiến thành lập KCN hỗ trợ nhằm pháttriển công nghiệp hỗ trợ trên toàn quốc
Khi năng lực của ngành công nghiệp phụ trợ đã phát triển đáp ứng yêu cầu, Thái Lan có chính sáchbuộc các nhà đầu tư nước ngoài đã ổn định sản xuất, kinh doanh phải tuân thủ tỷ lệ nội địa hóa
Sự giới hạn để điều tiết FDI của Thái Lan
Thái Lan có sự hạn chế đối với một số doanh nghiệp được xác định trong Đạo luật kinh doanh nướcngoài năm 1999 và các hoạt động bị hạn chế đối với công dân Thái Lan (BOI 2015) Danh sách hạn chếđược phân loại thành 3 nhóm bao gồm danh sách các hoạt động mà các nhà đầu tư nước ngoài không đượcphép bắt tay vào
Trang 11Nhóm 1 là danh sách các hoạt động mà công dân nước ngoài hoàn toàn không được phép thực hiện.
Các doanh nghiệp trong các hoạt động này bị cấm vì lý do đặc biệt bao gồm: các doanh nghiệp truyềnthông liên quan đến báo chí, kinh doanh phát thanh và truyền hình, trồng trọt và chăn nuôi, lâm nghiệptrong rừng tự nhiên, thủy sản ở biên giới nước Thái Lan, kinh doanh khai thác thảo dược Thái Lan, buônbán tài sản cổ của Thái Lan, kinh doanh liên quan đến hình ảnh Phật và bát bố thí, cũng như giao dịch đấtđai
Nhóm 2 bao gồm 3 nhóm nhỏ Các doanh nghiệp được phân loại trong nhóm này liên quan đến an
ninh quốc gia như sản xuất vũ khí và thiết bị quân sự, doanh nghiệp có thể có ảnh hưởng đến nghệ thuật vàvăn hóa, chủ yếu liên quan đến thủ công mỹ nghệ Thái Lan, và cũng ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiênhoặc môi trường Trong danh sách này, nó chủ yếu bao gồm các sản phẩm đường mía, muối, khai thác và
đồ gỗ Trong danh sách thứ hai này, nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào các doanh nghiệp được phânloại trong nhóm này Tuy nhiên, nó đòi hỏi nhà đầu tư nước ngoài để xin phê duyệt Nội các để hoạt độngkinh doanh tại Thái Lan
Nhóm 3 đề cập đến các hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực mà các doanh nghiệp Thái Lan
chưa sẵn sàng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Có nhiều doanh nghiệp trong danh sách chủyếu hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và dịch vụ có tay nghề cao như kế toán, dịch vụ pháp lý, kiến trúc, kỹthuật, quảng cáo, vận hành khách sạn và du lịch Để nhận được sự chấp thuận đầu tư trong nhóm 3, nhà đầu
tư nước ngoài cần nhận Giấy phép kinh doanh nước ngoài từ sự chấp thuận của Cục Phát triển kinh doanh,
Bộ Thương mại
- Quy định về tuyển dụng lao động
+ Cho phép công dân nước ngoài vào Thái Lan để nghiên cứu cơ hội đầu tư; cho phép đưa vào TháiLan những lao động kỹ năng cao và chuyên gia để thực hiện việc xúc tiến đầu tư; cho phép sở hữu đất đai;cho phép mang lợi nhuận ra nước ngoài bằng ngoại tệ
+ Lao động nước ngoài làm việc tại Thái Lan được quy định bởi Luật Bảo hộ lao động Luật nàyyêu cầu chủ doanh nghiệp cùng với ít nhất 10 lao động thống nhất với nhau về điều kiện làm việc: ngàycông, giờ làm việc và giờ giải trí, làm thêm giờ và các ngày nghỉ lễ, vắng mặt, các biện pháp kỷ luật, chấmdứt hợp đồng và thôi việc Những quy định này phải được công khai ngay tại nơi làm việc
+ Công dân nước ngoài vào làm việc tại Thái Lan phải có giấy phép làm việc và một loại thị thựcnhóm B không di dân
→ Điểm mới trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Thái Lan giai đoạn 2006- nay
(1) Trước đây, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài được dựa trên chiến lược phát triển sản xuấtthay thế nhập khẩu Do đó, Thái Lan phải nhập khẩu nhiều máy móc, nguyên vật liệu, dẫn đến thâm hụtthương mại Đến nay, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Thái Lan là hướng vào phát triển sản xuấtphục vụ cho xuất khẩu;
(2) Thu hẹp diện hưởng ưu đãi đầu tư từ 240 ngành, lĩnh vực như trước đây xuống còn 100 ngành,lĩnh vực Đồng thời, ưu đãi đầu tư tập trung hơn vào 03 lĩnh vực, bao gồm: phát triển công nghệ cao; nghiêncứu và phát triển (R&D), hoạt động đào tạo công nghệ tiên tiến; phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME);
Trang 12(3) Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các vùng xa Bangkok và vùng nông thôn để thu hẹpkhoảng cách phát triển.
Đánh giá chính sách thu hút và quản lý đầu tư nước ngoài
Thành công
Tình hình thu hút FDI của Thái Lan trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu quan trọng.Giai đoạn 2006 đến nay đã chứng kiến những thành công vượt bậc thu hút FDI
Theo Quy mô vốn
Hình 2.5 Vốn đầu tư nước ngoài vào Thái Lan giai đoạn 1975-2017
Nguồn: World bank data
Trang 13Hình 2.6 Vốn đầu tư nước ngoài vào Thái Lan giai đoạn 1975-2017 (Tính theo tỷ trọng GDP)
Nguồn: World Bank Data
Dòng vốn FDI tăng nhẹ và đạt 8.56 tỷ năm 2008 - năm xảy ra sự kiện khủng hoảng tài chính thếgiới Vốn FDI lúc này sụt giảm chỉ còn 6.41 tỷ USD năm 2009 nhưng lại vọt lên gần gấp đôi 14.75 tỷ USDtrong năm 2010 Nhưng ngay 1 năm sau đó thì FDI lại sụt giảm tới con số kỷ lục 2.47 tỷ USD - thấp nhất kể
từ khi bắt đầu thế kỷ 21
Từ khi sự kiện đảo chính quân sự năm 2014 diễn ra, dòng vốn FDI còn chứng kiến 2 năm thụt giảm
là 4.98 tỷ USD năm 2014 và 2.98 tỷ USD 2016 Cho đến năm 2017, dòng vốn FDI được phục hồi nhưngvẫn chỉ đạt ở mức 8.05 tỷ USD
Theo cơ cấu vốn đầu tư theo ngành
Hình 2.7 Cơ cấu FDI Thái Lan theo ngành kinh tế
Trang 14Nguồn: Thailand Bank
Từ trước khủng hoảng tài chính, ngành sản xuất đã chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấu FDI đạt hơn50% năm 2006 nhưng lại có dấu hiệu giảm nhẹ chỉ còn 42.94% năm 2018 Tài chính bảo hiểm cũng làngành được chú trọng đầu tư với tỷ trọng vốn ổn định (lớn hơn 20%) trong suốt 12 năm
Bất động sản và Thương mại bán buôn và bán lẻ; sửa chữa xe cơ giới và xe máy cũng là 2 ngànhđược chú trọng đầu tư với tỷ trọng ít biến động đối với Thương mại bán buôn và bán lẻ; sửa chữa xe cơ giới
ở mức từ 7-8% trong khu ngành bất động sản tăng nhẹ tỷ trọng từ gần 5% năm 2006 đến hơn 9% năm 2018
Khai thác khoáng sản, Vận chuyển và lưu kho, Dịch vụ, Xây dựng nhà ở và ăn uống chiếm tỷ trọngthứ yếu, đạt dưới 1% tỷ trọng vốn năm 2018 Tuy nhiên khai thác khoáng sản và xây dựng từng được chútrọng hơn trong quá khứ, cụ thể là Khai thác khoáng sản từng chiếm tới 3.67% năm 2007 và Xây dựng từngđạt tỷ trọng cao nhất năm 2006 với 1.42% Sự sụt giảm này cũng xảy ra tương tự đối với ngành Điện, ga,hơi nước và điều hòa không khí, từ 2.27% năm 2006 trải qua quá trình giảm và được phục hồi vào năm
Trang 15Nguồn: Thailand Bank
Qua biểu đồ trên có thể nhận thấy Nhật Bản là nhà đầu tư hàng đầu vào Thái Lan với cơ cấu FDIduy trì lớn 30%, là 1 trong các đối tác đầu tư hàng đầu ở Châu Á
Đối với ASEAN, Singapore là quốc gia chiếm tỷ trọng vốn cao nhất, chiếm khoảng dao động 15%tổng vốn FDI vào Thái Lan và chiếm hơn 90% lượng vốn FDI từ ASEAN
Đối với EU thì Anh và Hà Lan là hai đối tác chính với tỷ trọng FDI lần lượt vào Thái Lan hơn 6.5%
và 3.4% Trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính thế giới, tỷ trọng FDI từ Anh khá cao, lớn hơn 5% nhưnglại sụt giảm dần cho đến 2018 trong khi tỷ trọng FDI từ Hà Lan tăng nhẹ từ khoảng 6% năm 2006 đến6.64% năm 2018
Mô-ri-xơ là quốc gia chiếm gần hết tỷ lệ FDI đến từ Châu Phi, với tỷ trọng lên tới 3.5% năm 2018tăng dần đều từ 0.68% năm 2006
Hoa Kỳ và Hồng Công ty đạt tỷ trọng FDI năm 2018 gần bằng nhau nhưng đối với Hoa Kỳ, con số
là kết quả của xu hướng giảm dần tỷ trọng FDI từ 11.38% năm 2006 xuống còn 6.84% năm 2018 Trong khi
đó, tỷ trọng của Hồng Công đến từ việc tăng nhẹ tỷ trọng vốn từ năm 2006, đạt 6.84% trong 2018 từ 5.45%năm 2006
Đầu tư nước ngoài đóng một vai trò rất lớn trong tăng trưởng kinh tế của Thái Lan
Hình 2.9 Đóng góp của đầu tư nước ngoài vào GDP giai đoạn 2006- 2017