1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Word Nhóm 1 - Lý thuyết đầu tư quốc tế(1)

25 985 17

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 129,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhiều trường hợp, người có số vốn sẽ thành lập hoặc mua lại các cơ sở sảnxuất – kinh doanh ở nước ngoài và trở thành chủ sở hữu của những doanh nghiệp đó.Quyền quản lý của họ ph

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ

 CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

Chủ đề: Lý thuyết Đầu tư quốc tế

STT Họ và tên sinh viên Mã sinh viên

1 Phan Thị Trâm Anh 11150357

2 Nguyễn Hữu Chung 11150660

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ 3

1.1 Khái quát về đầu tư quốc tế 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Đặc trưng của di chuyển quốc tế về vốn 3

1.1.3 Phân loại 3

1.2 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của đầu tư quốc tế 4

1.2.1 Dòng đầu tư FDI 4

1.2.2 Dòng vốn FII 5

1.3 Các xu hướng đầu tư quốc tế ngày nay 5

CHƯƠNG 2: CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VĨ MÔ VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ 8

2.1 Lý thuyết của Richard S Eckaus (1987) 8

2.2 Mô hình Mac Dougall - Kemp (1960) 8

2.3 Mô hình lý thuyết của Sibert (1985) 9

2.4 Một số quan điểm khác về nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế 10

CHƯƠNG 3: CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VI MÔ VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ 11

3.1 Lý thuyết của Robert Z Aliber (1970) 11

3.1.1 Giới thiệu chung về tác giả 11

3.1.2 Nội dung của lý thuyết 11

3.1.3 Đánh giá chung về lý thuyết 12

3.1 Lý thuyết của các tổ chức công ngiệp (hay còn gọi là lý thuyết thị trường độc quyền) 12

Trang 3

3.1.1 Nội dung của lý thuyết 12

3.1.2 Đánh giá chung về lý thuyết 13

3.2 Lý thuyết chu kỳ sản phẩm của Vernon 14

3.2.1 Nội dung của lý thuyết 14

3.2.2 Đánh giá chung về lý thuyết 15

3.3 Lý thuyết chu kỳ sản phẩm bắt kịp của Akamatsu 16

3.3.1 Nội dung của lý thuyết 16

3.3.2 Đánh giá chung về lý thuyết 17

3.4 Lý thuyết chiết trung của Dunning 17

3.4.1 Nội dung của lý thuyết 17

3.4.2 Đánh giá chung về lý thuyết 19

3.5 Một số lý thuyết khác 19

CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÁC LÝ THUYẾT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ 21

4.1 Đánh giá các lý thuyết vĩ mô về đầu tư quốc tế 21

4.2 Đánh giá các lý thuyết vi mô về đầu tư quốc tế 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 4

CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐẦU

TƯ QUỐC TẾ 1.1 Khái quát về đầu tư quốc tế

1.1.1 Khái niệm

Đầu từ quốc tế là quá trình vận động của vốn giữa các quốc gia nhằm đạt nhữngmục đích, mục tiêu nhất định (có thể là lợi nhuận, có thể phi lợi nhuận, có thể cả haimục tiêu này)

1.1.2 Đặc trưng của di chuyển quốc tế về vốn

- Di chuyển quốc tế về vốn là một loại hoạt động đầu tư gắn liền với những vấn

đề tài chính của các chủ thể tham gia có quốc tịch khác nhau

- Các bên liên quan thường kỳ vọng hoạt động di chuyển quốc tế về vốn sẽ đemlại lợi ích cho tất cả các bên: bên chuyển vốn và bên nhận vốn

- Vốn luôn di chuyển từ quốc gia có lợi nhuận thấp sang quốc gia có lợi nhuậncao Trong nhiều trường hợp, người có số vốn sẽ thành lập hoặc mua lại các cơ sở sảnxuất – kinh doanh ở nước ngoài và trở thành chủ sở hữu của những doanh nghiệp đó.Quyền quản lý của họ phụ thuộc vào tỷ lệ vốn mà họ có trong doanh nghiệp đó

- Hoạt động di chuyển quốc tế về vốn luôn mang tầm chiến lược và là hoạt động

đa mục tiêu Nó gắn liền với việc tạo dựng vị trí mà và hình ảnh quốc gia của các chủ

sở hữu trên khu vực và thế giới

- Hoạt động di chuyển quốc tế về vốn luôn chứa đựng nhiều rủi ro do môi trườngkinh doanh ở quốc gia chuyển vốn đến thường có nhiều điểm khác biệt với môi trườngkinh doanh ở quốc gia bản địa của các chủ sở hữu

1.1.3 Phân loại

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động di chuyển vốn giữa các quốcgia, trong đó nhà đầu tư nước này mang vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào sangnước khác để tiến hành hoạt động đầu tư và trực tiếp nắm quyền quản lý cơ sở kinhdoanh tại nước đó

Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) là loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia,trong đó người sở hữu vốn mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác,thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính trung gian khác để đầu tư

Trang 5

vào nước tiếp nhận và nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý đối tượng bỏ vốnđầu tư.

1.2 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của đầu tư quốc tế

1.2.1 Dòng đầu tư FDI

Từ cuối thế kỷ XĨ đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Anh và một sốnước tư bản phát triển khai thác mở rộng hệ thống thuộc địa của họ ở các nước đangphát triển Các chính sách khai thác thuộc địa của các nước này đã thúc đẩy các công

ty của họ mở rộng đầu tư vào các nước thuộc địa Từ thời gian này, hình thức FDIđược hình thành chủ yếu nhằm khai thác nguồn nguyên liệu tự nhiên dồi dào và giánhân công rẻ ở các nước thuộc địa Có thể nói rằng, mặc dù sự hình thành FDI không

có quan hệ trực tiếp đến việc mở rộng hệ thống thuộc địa của các nước, nhưng cho đếnchiến tranh thế giới thứ nhất, sự phát triển của FDI luôn gắn liền với các chính sáchkhai thác thuộc địa của các nước

Trong giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, nguồn gốc của đầu tư quốc tế khôngcòn tập trung từ các nước tư bản Châu Âu, mà bắt đầu có sự tham gia đáng kể của Mỹ

và Nhật Bản Trong giai đoạn này, dòng vốn đầu tư quốc tế chủ yếu dưới hình thứcFDI và bị tác động mạnh mẽ bởi cuộc phân chia thuộc địa giữa các nước đế quốc

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối thập kỷ 50, chương trình phục hồikinh tế Châu Âu và Nhật Bản của Mỹ đã thúc đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài của nướcnày Đến cuối thập kỷ 60, dòng vốn đầu tư quốc tế vẫn chủ yếu lưu chuyển giữa cácnước tư bản phát triển, dưới hình thức FDI tập trung vào khu vực chế tạo

Từ cuối thập kỷ 70 đến giữa những năm 80, dòng vốn FDI có sự biến độngkhông ổn định và ở mức bình quân khoảng 50 tỷ USD Tuy nhiên, từ giữa thập kỷ 80đến đầu thập kỷ 90, dòng vốn này tăng mạnh trong các nước phát triển và đang pháttriển Tổng dòng vốn FDI trên thế giới đạt khoảng 400 tỷ USD vào năm 1997 Tuynhiên, tỷ trọng FDI trong tổng dòng lưu chuyển này vào các nước đang phát triển,dòng vốn FDI tập trung chủ yếu vào khu vực Tây Âu và Bắc Mỹ Các nước đang pháttriển trong khu vực Đông Nam Á và Châu Mỹ Latinh chiếm phần lớn tổng dòng vốnFDI vào các nước đang phát triển, trong đó, đặc biệt là các nước NICs Châu Á

Cũng từ giữa thập kỷ 80 lại đây, một đặc điểm nổi bật trong dòng lưu chuyểnFDI trên thế giới là xuất hiện ngày càng tăng dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của các

Trang 6

báo cáo đầu tư quốc tế năm 1998 cho thấy, nếu trong các năm 1986 – 1991 FDI ranước ngoài của các nước đang phát triển chỉ ở mức bình quân 11.131 triệu USD thìđến những năm đầu thập kỷ 90 dòng vốn này đã tăng nhanh chóng đạt tới mức 61.138triệu USD vào năm 1997.

Như vậy, qua các số liệu thống kê cho thấy động thái FDI tuy có biến độngkhông ổn định nhưng có xu hướng gia tăng nhanh, đặc biệt là từ cuối thập kỷ 80 Hiệntượng này phản ánh rõ tác động tích cực của những sự thay đổi trong môi trường đầu

tư quốc tế từ thời gian này

1.2.2 Dòng vốn FII

Có thể nói, đầu tư quốc tế bắt đầu được hình thành từ nước Anh vào khoảngcuối thế kỷ XIX Do nhu cầu vốn lớn của cuộc cách mạng công nghiệp, nước Anh đãphát hành các trái phiếu chính phủ để huy động vốn từ các nước phát triển Tây Âu.Bởi thế, hình thức đầu tư nước ngoài gián tiếp xuất hiện đầu tiên trong lịch sử pháttriển của đầu tư quốc tế

Mặc dù có lịch sử hình thành sớm hơn hình thức FDI, nhưng hình thức đầu tưnước ngoài gián tiếp chỉ thực sự phát triển từ đầu thập kỷ 90 và tập trung vào các thịtrường mới nổi Nếu năm 1986 dòng vốn đầu tư gián tiếp vào các nước này khoảng

706 triệu USD thì đến năm 1990 đạt 3390 triệu USD và năm 1995 lên đến 34.537 triệuUSD, tính bình quân giai đoạn 1986 – 1995, dòng vốn này vào các nước có thị trườngmới nổi khoảng 15.253 triệu USD/năm Dòng vốn này tập trung nhiều ở hai khu vực làChâu Á và Châu Mỹ Latinh

1.3 Các xu hướng đầu tư quốc tế ngày nay

Cho tới nay, đầu tư quốc tế đã trải qua nhiều xu hướng phát triển: đầu tư truyềnthống (các nước phát triển đầu tư vào các nước đang phát triển hoặc đầu tư có tính mộtchiều); đầu tư lẫn nhau giữa các nước phát triển và đầu tư vào các nước đang phát triểncủa các nước đang phát triển Xu hướng đầu tư quốc tế ngày nay là sự đan xen giữacác xu hướng này Tuy nhiên, xu hướng đầu tư lẫn nhau giữa các nước đang phát triểnngày càng gia tăng Hiện tượng này phản ánh tốc độ hòa nhập nhanh chóng của cácnước đang phát triển vào quá trình toàn cầu hóa

Xu hướng tự do hóa đầu tư ngày càng mạnh giữa các nước, khu vực và thế giới.Hơn một thập kỷ qua, các quy chế về FDI của các nước có sự thay đổi nhanh chóng, từ

Trang 7

bảo hộ đến giới hạn hoặc kiểm soát và gần đây chuyển sang thúc đẩy theo chiều hướng

tự do hóa FDI ở phạm vi khu vực và từng nhóm nước

Một đặc điểm nổi bật khác là xu hướng đầu tư theo hình thức Sát nhập và Thôntính (M&A) tăng mạnh trong những năm gần đây Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sựbùng nổ làn song FDI là do xu hướng này tạo nên các công ty lớn hơn với sức cạnhtranh rất cao Điều đó cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa FDI với chiến lược toàn cầuhóa của các công ty xuyên quốc gia Giá trị các vụ Sát nhập và Mua lại xuyên quốc giachiếm hơn 80% tổng giá trị FDI trên thế giới trong năm 2002 Và đó là nguồn FDI chủyếu đối với các nước phát triển Còn đối với các nước đang phát triển thì nguồn vốnFDI mới vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn

Bên cạnh đó, các công ty xuyên quốc gia đang chi phối hoạt động FDI trên toàncầu Một đặc trưng của FDI hiện nay là có sự tham gia ngày càng nhiều của các công

ty xuyên quốc gia Các công ty xuyên quốc gia thường dựa vào chiến lược phát triểncạnh tranh độc quyền và lợi thế của họ ở các nước đang phát triển để tiến hành hoạtđộng FDI Các công ty này kiểm soát 90% vốn FDI trên thế giới

Toàn cầu hóa cũng là một nguyên nhân thúc đẩy FDI của các công ty xuyênquốc gia, nó làm tăng them khả năng tương tác quốc tế và tính cạnh tranh của các chủđầu tư và nó cũng là đối tượng cạnh tranh chủ yếu của các nước đang phát triển Sựảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia được thể hiện ở sự gia tăng về lượng vốnFDI trên thế giới Điều này đặt ra cho các nước đang phát triển một vấn đề khó là cầnchú trọng vào thu hút FDI của các công ty xuyên quốc gia

Theo dự đoán của các nà kinh tế, đầu tư quốc tế sẽ tiếp tục tăng vượt tốc độtăng trưởng của kinh tế thế giới và tốc độ của thương mại quốc tế Sự vận động củađầu tư quốc tế sẽ theo những xu hướng sau đây:

- FDI sẽ tiếp tục được tập trung vào các nước phát triển

- Sát nhập sẽ là hình thức đầu tư chủ yếu

- FDI tập trung vào các ngành kinh tế mới đó là: Tin học, công nghệ thong tin

và công nghệ sinh học dẫn đến tình trạng các ngành sản xuất mới phát triển mạnh mẽ,còn các ngành sản xuất truyển thống sẽ bị sát nhập thành các công ty cực lớn hoặcđược tổ chức lại

Dòng vốn FDI ở các nước đang phát triển như sau:

Trang 8

- Châu Á vẫn là khu vực quan trọng và năng động nhất trong việc thu hút đầu tưnước ngoài, nhưng cơ cấu trong nội bộ FDI có thể thay đổi.

- Một số nước đang phát triển quay trở lại đầu tư sang các nước đã và đang lànhà đầu tư lớn nhất của các nước này

Trang 9

CHƯƠNG 2: CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VĨ MÔ VỀ ĐẦU TƯ

QUỐC TẾ

Các lý thuyết kinh tế vĩ mô về đầu tư quốc tế giải thích và dự đoán hiện tượngđầu tư nước ngoài dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của các yếu tố đầu tư (vốn, laođộng, công nghệ) giữa các nước, trong đó đặc biệt là giữa các nước phát triển và đanhphát triển Các lý thuyết này dựa trên mô hình cổ điển 2x2 (hai nước, hai hàng hóa, haiyếu tố sản xuất) để so sánh hiệu quả vốn đầu tư hoặc tỷ suất lợi nhuận giữa các nước

2.1 Lý thuyết của Richard S Eckaus (1987)

Trên cơ sở mô hình lý thuyết thương mại quốc tế của Heckcher & Ohlin – HO(1933), Richard S Eckaus (1987) đã loại bỏ giả định không có sự di chuyển các nhân

tố sản xuất (vốn, công nghệ, …) giữa các nước để mở rộng phân tích nguyên nhânhình thành đầu tư quốc tế Theo ông, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận ở phạm vi toàn cầunhờ vào sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư là nguyên nhân chủ yếu làm xuất hiện dichuyển dòng vốn đầu tư nước ngoài Richard cho rằng, nước đầu tư thường có hiệuquả sử dụng vốn thấp (thừa vốn), trong khi nước nhận đầu tư lại có hiệu quả sử dụngvốn cao hơn (thiếu vốn) Vì vậy, chênh lệch hiệu quả sử dụng vốn giữa các nước đãlàm xuất hiện lưu chuyển dòng vốn đầu tư giữa các nước

2.2 Mô hình Mac Dougall - Kemp (1960)

Cùng với quan điểm của Richard, A MacDougall (1960) cho rằng, chênh lệch

về năng suất cận biên của vốn giữa các nước là nguyên nhân dẫn đến lưu chuyển vốnquốc tế Quan điểm này sau đó được M Kemp (1964) phát triển thành mô hình MacDougall – Kemp để giải thích hiện tượng OFDI

Theo mô hình này, những nước phát triển (đang thừa vốn đầu tư) có năng suấtcận biên của vốn thấp hơn năng suất cận biên của vốn ở những nước đang phát triển(đang thiếu vốn) Vì thế, xuất hiện dòng lưu chuyển vốn giữa hai nhóm nước này.Ngoài ra, những giả định khác đó là: Thị trường tại hai quốc gia là cạnh tranh hoànhảo; Vốn được tự do di chuyển; Thông tin thị trường hoàn hảo; Các quốc gia đều cùngsản xuất một loại hàng hóa

Hình 1: Mô hình Mac Dougall – Kemp

Trang 10

Giả sử, trên thế giới có 02 quốc gia, tổng vốn đầu tư của hai nước là O1O2,trong đó vốn ở nước đầu tư (I) là O1Q, tương tự ở nước nhận đầu tư là O2Q Năngsuất cận biên của vốn ở nước (I) là O1M, tương tự ở nước (II) là O2m Các đường MN

và mn là giới hạn năng suất cận biên của vốn ở hai nước (nước I thấp hơn nước II) vàđều có xu hướng giảm dần

Trước khi có di chuyển vốn giữa hai nước, tổng sản lượng của nước (I) làO1MNQ và tổng sản lượng của nước (II) là O2muQ Do có sự chênh lệch năng suấtcận biên của vốn ở hai nước, vốn nước (I) chuyển sang nước (II) là SQ đến khi năngsuất cận biên của vốn ở hai nước cân bằng tại điểm P (SP = O1E = O2e) Kết quả làmtăng sản lượng hai nước là PuN, phần dôi ra ngoài tổng sản lượng của hai nước trướckhi có sự dịch chuyển vốn

Mô hình này đã nêu được điều kiện cần cho đầu tư quốc tế là chênh lệch vềnăng suất cận biên của vốn giữa các nước nhưng chưa nêu được điều kiện đủ Ngoài

ra, mô hình còn chưa giải thích được một số hiện tượng lưu chuyển dòng vốn đầu tưquốc tế, không phân tách được FDI và PI

2.3 Mô hình lý thuyết của Sibert (1985)

Đánh thuế cao đối với đầu tư nước ngoài tuy tăng được nguồn thu cho ngânsách nhưng lại làm giảm lợi ích mang lại cho nền kinh tế về mặt lâu dài Theo tác giả,thếu cao không khuyến khích được đầu tư nước ngoài và vì thế các yếu tố đầu tư trongnước không khai thác được lợi thế so sánh Tuy nhiên, mức thuế thấp đối với đầu tưnước ngoài sẽ làm giảm nguồn thu ngân sách và không bảo hộ được các ngành công

Trang 11

nghiệp nội địa trước sự cạnh tranh mạnh của các công ty nước ngoài Bởi vậy, cầnđiều chỉnh mức thuế hợp lý đối với đầu tư nước ngoài Điều này sẽ đem lại lợi ích tối

đa cho nước nhận đầu tư

2.4 Một số quan điểm khác về nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế

Theo Krugman; Dunning và Narula, họ cho rằng, sở dĩ có đầu tư quốc tế là do

có sự thay đổi các chính sách kinh tế vĩ mô như ài chính, thuế, ngoại hối ở các nướctham gia đầu tư

Theo K Kojima, sở dĩ có đầu tư quốc tế là do có sự khác nhau về tỷ suất lợinhuận giữa các nước Cũng dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của mô hình Heckcher– Ohlin – Samuelson, K Kojima đã phát triển để chứng minh rằng những nước có tỷsuất lợi nhuận cao sẽ thu hút được các nhà đầu tư Theo tác giả, nguyên nhân hìnhthành đầu tư nước ngoài là có sự chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận giữa các nước và sựchênh lệch này được bắt nguồn từ sự khác biệt về lợi thế so sánh trong phân công laođộng quốc tế

Như vậy, các lý thuyết trên đã giải thích được rằng, về thực chất, sự xuất hiệncủa đầu tư nước ngoài đều dựa vào nguyên tắc lợi thế so sánh trong phân công laođộng quốc tế Đây là nguyên tắc chung cho cả lý thuyết thương mại và di chuyển cácnguồn lực sản xuất quốc tế Mặt khác, các quan điểm lý thuyết cũng cho rằng đầu tưnước ngoài có vai trò to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và các nướcgiam gia đầu tư, trong đó nhất là việc thực hiện CNH của các nước đang phát triển.Tuy nhiên, các lý thuyết trên cũng chỉ mới giải thích được điều kiện “cần” để xuất hiệnluân chuyển dòng vốn giữa các nước

Trang 12

CHƯƠNG 3: CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VI MÔ VỀ ĐẦU TƯ

3.1 Lý thuyết của Robert Z Aliber (1970)

3.1.1 Giới thiệu chung về tác giả

Robert Z Aliber sinh ngày 19 tháng 9 năm 1930, là giáo sư của trường Đại họcTài chính Kinh tế Quốc tế Chicago Ông được biết đến với những đóng góp cho lýthuyết về đầu tư nước ngoài trực tiếp Ông đã đưa ra khái niệm về tỷ giá hối đoái trongđầu tư nước ngoài trực tiếp

Ông nhận được bằng cử nhân văn học từ trường Cao đẳng Williams (1952),một bằng cử nhân (1954) và thạc sĩ văn học (1957) từ Đại học Cambridge, bằng tiến sĩ

từ Đại học Yale Ông là nhân viên kinh tế tại Commission on Money and Credit(1959–61), Committee for Economic Development (1961–64) Sau đó, Aliber trởthành cố vấn kinh tế cấp cao của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (1964-1965).Ông được bổ nhiệm làm giáo sư tại Đại học Chicago vào năm 1964

Ông cũng được đề cập đến trong một cuốn sách của Michael Lewis là Travels

in the New Third World.

Một số tác phẩm của ông:

- Manias, Panics and Crashes: A History of Financial Crises, Sixth Edition

- Your Money and Your Life: A Lifetime Approach to Money Management(Stanford Economics and Finance)

- The New International Money Game,

3.1.2 Nội dung của lý thuyết

Robert Aliber đã giải thích hiện tượng FDI trên cơ sở phân tích nguyên nhânđầu từ ra quốc tế của các công ty độc quyền từ hàng rào thuế quan và quy mô thịtrường Theo lý thuyết này, vì thuế quan làm tăng giá nhập khẩu nên các công ty phải

di chuyển sản xuất ra quốc tế để giảm chi phí giá thành

Ngày đăng: 20/06/2019, 15:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w