2 dạng đó có cơ chế hoạt động như sau:1 Ở nhiệt độ phòng khám hoặc nhiệt độ lạnh nhiệt độ tủ lạnh chẳng hạn: dây ở dạng martensite, tức là rất mềm dẻo và dễ uốn nắn thuận lợi cho các bs
Trang 1Dây heat activated có 2 dạng tồn tại là martensite và austenite 2 dạng đó có cơ chế hoạt động như sau:
1) Ở nhiệt độ phòng khám hoặc nhiệt độ lạnh (nhiệt độ tủ lạnh chẳng hạn): dây ở dạng martensite, tức là rất mềm dẻo và dễ uốn nắn thuận lợi cho các bs trong việc đăt dây vào trong mắc cài mà k phải bẻ dây nhiều 2) Khi ở trong miệng bệnh nhân (nhiệt độ tăng lên do thân nhiệt, do tiếp xúc môi má, nướu R) hoặc thậm chí chỉ do bs cầm dây làm truyền nhiệt wa dây : dây chuyển sang dạng austenite, tức là dây sẽ trở nên cứng hơn (stiffer), đồng thời dây có khuynh hướng trở lại hình dạng ban đầu (shape memory properties)
2 đặc tính này giúp cho việc thực hành chỉnh nha được thuận tiện và dễ dàng hơn
Hiện nay theo em được biết hãng nào cũng có bán loại dây heat activated cả nhung có điều thương hiêu của họ đặt khác nhau mà thôi Thân chào chị mong rằng chị sẽ tìm ra thêm những điều thú vị trong ngành chỉnh nha vốn đã rất thú vị này
Austenite và Martensite là thuật từ sử dụng trong ngành kim loại, chỉ trạng thái vi cấu trúc (microstructure) của hợp kim Hai thuật từ này không dịch ra tiếng Việt được là vì xuất phát từ tên các nhà khoa học phát hiện ra hiện tượng và cấu trúc kim loại dưới các dạng này Đó là William Chandler Austen (1843-1902), một nhà kim loại học người Anh và Adolf Martens (1850-1914), nhà kim loại học người Đức Với cùng thành phần nguyên tử, nhưng khi ở trạng thái cấu trúc khác nhau, kim loại sẽ có tính chất khác nhau Đầu tiên, Austenite và Martensite sử dụng trong công nghệ luyện thép, chỉ các pha khác nhau của thép khi thay đổi nhiệt độ Người ta nhận thấy, khi nung nóng thép đến một nhiệt độ nào đó, thép
sẽ chuyển sang một dạng cấu trúc gọi là Austenite và khi làm nguội nhanh, nó lại chuyển sang một dạng cấu trúc khác với tính chất hoàn toàn khác gọi là Martensite Hình 1 mô tả vi cấu trúc của Austenite và Martensite
Hình 1: Cấu trúc hợp kim ở dạng Austenite và Martensite
Sau này, đặc điểm cấu trúc này được phát hiện tồn tại trong nhiều hợp kim khác nhau, chứ không chỉ trong hợp kim thép Tuy nhiên nhiệt độ để chuyển pha rất cao, loại thấp nhất cũng trên dưới 1000C (700C -
1300C) Cho đến cuối thập niên 70, cơ quan NASA chế tạo ra vật liệu Ni-Ti với nhiều tính chất đặc biệt Ni-Ti cũng tồn tại dưới 2 dạng Austensite và Martensite nhưng nhiệt độ chuyển pha rất thấp (nhiệt độ trong
Trang 2miệng) Khi làm lạnh Ni-Ti sẽ chuyển sang dạng Martensite, rất dẻo, dễ uốn và khi đặt vào môi trường miệng, tức ở nhiệt độ trên nhiệt độ chuyển pha Austenite, dây Ni-Ti sẽ trở lại trạng thái ban đầu (hình 2), và đây gọi là tính nhớ của kim loại (shape memory) (Hình 3)
Hình 2: Sự chuyển pha của Ni-Ti
Hình 3: Tính nhớ của Ni-Ti
Với đặc điểm này, người ta đã chế tạo dây sử dụng cho chỉnh hình gọi là HANT (Heat activated NiTi) Dây
mà Hong Van nhìn thấy chính là dây HANT và hầu như hãng nào cũng có loại dây này Một tên gọi khác của dây này là dây M-NiTi (Martensite NiTi) Dây HANT sử dụng trong chỉnh nha hiện nay thường là dây chữ nhật, và sử dụng cuối giai đoạn 1, tức giai đoạn leveling và aligning Thay vì chuyển từ dây tròn 012, hoặc 013 lên 016, rồi 018 để hoàn tất giai đoạn 1, người ta có thể sử dụng dây HANT chữ nhật 018x.025 ngay sau khi sử dụng dây tròn siêu dẻo 012, hoặc 013 đẻ tiết kiệm dây và cả thời gian Nhờ độ dèo sau khi làm lạnh, dây HANT có thể đặt vào các khe dễ dàng, dù vẫn còn những chênh lệch Dây HANT còn giúp chỉnh độ torque của răng ngay trong giai đoạn leveling và aligning luôn Thường nên để dây này trong vòng 4 - 6 tháng, trước khi chuyển qua dây chữ nhật Stainless Steel