1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Cơ cấu, hình thức và những đặc trưng cơ bản của các làng việt ở châu thổ bắc bộ

21 2,6K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 5,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ cấu chung của làng Việt - Làng – một hệ thống riêng kinh tế, xã hội,… gồm những yếu tố hợp thành; hệ thống này có những quan hệ nội tại, bên trong đóng kín, song cũng có những quan h

Trang 1

Cơ cấu, hình thức và những đặc trưng cơ bản

của các làng Việt ở châu thổ Bắc Bộ.

Môn học: Cơ sở văn hóa Việt Nam

Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2016.

Trang 2

CÁC PHẦN TÌM HIỂU:

A Khái quát về làng Việt.

B Cơ cấu, hình thức và những đặc trưng cơ bản của làng Việt ở Châu thổ Bắc Bộ.

C Giới thiệu một làng Việt Bắc Bộ cổ truyền

điển hình.

D Một số câu hỏi quan trọng.

Trang 3

A KHÁI QUÁT VỀ LÀNG VIỆT

I Khái niệm “ Làng ”

- Làng là một tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú, là một đơn vị cộng cư cómột vùng đất chung của cư dân nông nghiệp,một hình thức tổ chức xã hộinông nghiệp tiểu nông tự cấp, tự túc

- Làng là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông,với gia đình tông tộc, gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng bền vững của xã hộinông nghiệp ấy

- Làng là một đơn vị cơ sở và là không gian sinh hoạt văn hóa chính yếu củangười Việt, là một thiết chế phức hợp, vừa chứa những yếu tố khởi nguyên củacông xã, vừa chịu tác động của những thay đổi chế độ xã hội

II Cơ cấu chung của làng Việt

- Làng – một hệ thống riêng (kinh tế, xã hội,…) gồm những yếu tố hợp thành;

hệ thống này có những quan hệ nội tại, bên trong (đóng kín), song cũng có

những quan hệ bên ngoài ( mở, hở) : Liên làng và Siêu làng (theo GS Hà Văn

Sơ đồ 1: Mối quan hệ “Nhà nước- Làng thôn- Gia đình” ở Việt Nam

- Làng được hình thành, được tổ chức chủ yếu dựa vào hai nguyên lý: cội nguồn

và cùng chỗ

- Làng là một cấu trúc động (không có làng bất biến) và có sức sống mãnh liệt

III Những đặc trưng cơ bản của làng Việt

Trang 4

Tính tự trị

- Làng nào biết làng ấy, các làng tồn tại khá biệt lập với nhau và phần nào độclập với triều đình phong kiến

- Mỗi làng là một “ vương quốc” nhỏ khép kín với luật pháp riêng (hương ước)

và “tiểu triều đình” riêng (trong đó hội đồng kì mục là cơ quan lập pháp, lí

dịch là cơ quan hành pháp,…).

Sự biệt lập đó tạo nên truyền thống “Phép vua thua lệ làng”.

 Tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng gốc rễ của làng Việt, chúngtồn tại song song nhau như hai mặt của vấn đề và chúng cũng là nguồngốc sản sinh ra hàng loạt ưu điểm và nhược điểm về tính cách của người

Việt Nam (Bảng 1)

Tính cộng đồng (+) Tính tự trị (-)Chức

- Sự thủ tiêu vai trò cá nhân

- Thói dựa dẫm, ỷ lại-Thói cào bằng, đố kỵ

- Óc tư hữu, ích kỷ

- Óc bè phái, địa phương

- Óc gia trưởng tôn ti

Bảng 1: Tính cộng đồng và tính tự trị của làng Việt

Tính đặc thù

- Mỗi làng đều có những đặc trưng về tự nhiên và xã hội khác nhau do đó mỗilàng đều có những tập quán, nếp sống ,tín ngưỡng, tôn giáo, thậm chí giọngnói và cả cách ứng xử cũng khác nhau.Đó là những nét độc đáo rất riêng củamỗi làng Việt

Giữa ba đặc trưng trên có mối liên hệ hữu cơ, tạo cho làng một vị trí đặcbiệt, góp phần tạo nên những đặc trưng văn hóa làng, văn hóa dân tộc

Một số hình ảnh về Làng Việt cổ điển hình

Làng cổ Đường Lâm ( Hà Nội-Bắc Bộ)

Làng cổ Phước Tích (Thừa Thiên Huế-Trung Bộ)

Làng cổ Long Tuyền ( Cần Thơ-Nam Bộ)

Trang 5

Hình 1: Làng cổ Đường Lâm ( Hà Nội)

Hình 2: Làng cổ Phước Tích (Thừa Thiên Huế)

Hình 3: Làng cổ Long Tuyền ( Cần Thơ)

Trang 6

KẾT LUẬN:

Làng Việt xuất hiện cuối thời nguyên thuỷ, đầu thời dựng nước, là sản phẩm của nông nghiệp lúa nước Thời Bắc thuộc, làng xã là nơi giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam

Làng Việt là một đơn vị xã hội của văn hóa Việt Nam, làng của người Việt là một môi trường văn hóa.Ở đó,mọi thành tố,mọi hiện tượng văn hóa được sinh thành phát triển, lưu giữ và trao truyền tới mọi cá thể.

Sự biến đổi của làng là do sự biến đổi chung của đất nước qua tác động của những mối liên hệ làng và siêu làng.

Do những đặc thù của tự nhiên và xã hội mà ở miền Trung, miền Nam tuy gốc gác cũng là người Việt từ miền Bắc di cư vào, nhưng với môi trường sống mới, hình thức cơ cấu làng xã và quan hệ xã hội đã thay đổi nhiều nên không còn những đặc điểm như làng Bắc Bộ.

B CƠ CẤU,HÌNH THỨC VÀ NHỮNG ĐẶC

TRƯNG CƠ BẢN CỦA LÀNG VIỆT Ở CHÂU

THỔ BẮC BỘ

I Cơ cấu, hình thức chung của làng Việt ở châu thổ Bắc Bộ

- Làng Việt ở châu thổ Bắc Bộ là hình thức công xã nông thôn mang đầy đủnhững đặc trưng của Làng Việt (như phần A) nhưng nó vẫn có những đặc thùriêng của mình (khác với làng ở miền Trung và Nam bộ)

- Làng Việt truyền thống ở Bắc Bộ được tổ chức theo cơ cấu “nửa

kín,nửa hở” (từ dùng của GS Trần Quốc Vượng), là một cơ cấu tổ chức hết

sức linh hoạt và mềm dẻo:

 “Nửa kín”: mang tính chất “tự trị” tự quản của làng: Về hình thức có lũytre làm biểu tượng, có hương ước riêng có lệ làng riêng, hội làng riêng mộtngày, Thành Hoàng làng riêng (mỗi làng thờ riêng một ông Thành Hoàng)

“chuông làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”

Trang 7

Hình 4: Lũy tre làng

Việt Nam

 “Nửa hở’ là quan hệ liên làng, siêu làng: liên kết chống lũ lụt, chốngngoại xâm, quan hệ hôn nhân ngoài làng, về kinh tế có sự giao lưu,buôn bángiữa các làng, các vùng (chợ phiên) Cổng làng có thể coi là biểu tượng cho

tính chất “nửa hở” (từ dùng của GS Trần QuốcVượng) hay tính “cộng đồng” (từ dùng của GS Trần Ngọc Thêm).

Hình 5: Cổng làng

Việt Nam

II.Những đặc trưng cơ bản của làng Việt ở châu thổ Bắc Bộ

- Những đặc thù riêng của làng Việt ở châu thổ Bắc bộ được thể hiện ở chế độruộng đất ,chế độ công điền ,các loại hình và nguyên tắc tổ chức xã hội, dân cư,

lệ ,luật tục, tín ngưỡng, lễ hội của làng và các biểu tượng đặc trưng:

Chế độ ruộng đất, chế độ công điền:

+ Mỗi làng có một nét văn hóa riêng , có chế độ phân chia ruộng đất và chế độcông điền riêng tùy thuộc vào khu vực địa lí của mỗi làng

Các loại hình làng

+ Các loại hình làng Việt gồm có làng thuần nông, chủ yếu làng Việt ở đồngbằng châu thổ sông Hồng đều là làng thuần làm nông nghiệp trồng lúa nước.+ Ngoài ra có một số làng nghề như làng Chuông (Thanh Oai -Hà Nội) làmnón, làng Vân Chàng (Nam Trực - Nam Định) làm nghề rèn, làng Bát Tràng (HàNội) làm gốm sứ, làng Vạn Phúc (Hà Nội) làm nghề dệt lụa….và một số làngbuôn như làng Phù Lưu (Ninh Hiệp - Bắc Ninh)….là những làng chuyên làmmột nghề, cha truyền con nối hết đời này qua đời khác

Trang 8

Hình 6: Làng Chuông (Thanh Oai -Hà N i) ội)

* Tổ chức theo địa vực (khu đất cư trú) với mô thức phổ biến: Làng phânthành nhiều xóm, xóm phân thành nhiều ngõ, mỗi ngõ gồm một hay nhiềunhà… thành những khối dài dọc đường cái, bờ sông, chân đê, những khốichặt kiểu ô bàn cờ, theo hình Vành khăn từ chân đồi lên lưng chừng đồi vàphân bố lẻ tẻ, tản mát, xen kẽ với ruộng đồng… Mỗi làng, xóm, ngõ có cuộcsống tương đối riêng

* Tổ chức làng theo huyết thống (gia đình), dòng họ Ngoài các gia đìnhnhỏ, gia đình hạt nhân, dòng họ có vị trí và vai trò quan trọng trong làngViệt, là chỗ dựa vật chất, và chủ yếu là tinh thần cho gia đình; có tác dụngtrong định canh và xây dựng làng mới, như là trung tâm của sự cộng cảmtrong các gia đình đồng huyết… Có làng gồm nhiều dòng họ, có làng chỉmột dòng họ và khi ấy làng và dòng họ (gia tộc) đồng nhất với nhau Điềuđáng lưu ý là mức độ liên kết huyết thống trong phạm vi làng Việt là hết sứcrạch ròi, chi li với những tên gọi cụ thể (cố - cụ - ông - cha - bản thân - con -cháu - chắt - chút…)

* Tổ chức làng theo nghề nghiệp, theo sở thích và lòng tự nguyện (Phe-Hội,Phường nghề…) Mỗi làng có thể có nhiều Phe (một tổ chức tự quản dưới

Trang 9

nhiều hình thức câu lạc bộ): Phe tư văn quan trọng hơn; nhiều Hội: hiếu hỷ,mua bán, luyện võ, tập chèo, đấu vật… các Phường nghề: mộc, nề, sơn,thêu, chèo, rối…

* Tổ chức làng theo lớp tuổi (truyền thống nam giới): tổ chức giáp, hiện rất

mờ nhạt Đây là môi trường tiến thân theo tuổi tác, tổ chức dành riêng chonam giới, phụ nữ không được vào Bé trai mới lọt lòng được vào giáp ngay,được lên đinh, ngôì chiếu giữa làng, được nâng dần địa vị, được lên lão…Nói chung, giáp gắn chặt với làng

* Tổ chức làng theo cơ cấu hành chính: Về mặt hành chính, làng còn đượcgọi là XÃ (đôi khi một xã cũng có thể gồm vài làng), xóm còn được gọi làTHÔN (đôi khi một thôn cũng có thể gồm vài xóm)

Dân cư

+ Có hai bộ phận chính là dân chính cư và dân ngụ cư (nội tịch và ngoại tịch)được phân ra một cách rất rành mạch, nhiều khi cực đoan Tuy nhiên, có mộtđiều mở là dân ngụ cư có thể chuyển thành chính cư khi có điền có điền sản vàsống (cư trú) ở làng 3 đời trở lên Dân cư trong làng được phân thành nhiềuhạng, cơ bản là các hạng: chức sắc (đỗ đạt hoặc có phâm hàm vua ban); chứcdịch (có chức vụ trong bộ máy hành chính); lão, đinh, ty ấu, người già, trai đinh,trẻ con (trong các giáp),…

Lệ, luật tục

+ Làng Việt Bắc Bộ có sự tồn tại song hành của các tổ chức quan phương và phiquan phương giữ vai trò quan trọng để điều hòa chung làm cho các làng ViệtBắc Bộ dù phức tạp, vẫn là một tế bào xã hội vận hành như một đơn vị thốngnhất là hương ước Hầu hết các làng Việt Bắc Bộ đều có hương ước Làng nào

có hương ước ấy, tùy truyền thống của từng làng mà hương ước đề cập đếnnhững vấn đề cụ thể Tuy nhiên, nội dung của hương ước của các làng lại có nộidung tương đối giống nhau Vì hương ước không phải là bộ luật chung cho cáclàng, nên hình thức thể hiện những vấn đề cần đề cập tới của từng làng là khácnhau Những nội dung mà hương ước các làng thường đề cập đến bao gồm:

1 Những trường hợp thưởng công (như thưởng cho người bắt được trộmcướp)

2 Những trường hợp phạt tội, thường là các tội nhẹ mà pháp lý của Nhànước quân chủ chính thức không giải quyết (trộm cắp vặt, ẩu đả thôngthường, bất kính đối với bề trên)

3 Những trường hợp đền bù cho người vì quyền lợi chung của cả làng chịu

hy sinh (như bị thương, hay bỏ mình trong khi chống lại quân cướp)

4 Những trường hợp suy tôn người đã bỏ của, bỏ sức để làm việc íchchung cho cả làng ( như tu bổ chùa làng, xây cầu, đắp cống)

5 Những trường hợp cấm đoán hoặc nhằm bảo vệ đạo lý (như cấm cờ bạc,trai gái)

Trang 10

Và “dù không phải là bộ luật hoàn chỉnh, hương ước với những điều quyđịnh về một số nét sinh hoạt riêng biệt của làng xã, vẫn đóng vai trò mộtcương lĩnh Có thể còn khá chung chung , nhưng dù sao vẫn đáng được xem

là một cương lĩnh về nếp sống hàng ngày của làng xã, mà mọi cá nhân, mọi tổchức, trong làng, trong xã phải tuân thủ” Các hương ước của từng làng tácđộng trực tiếp đến các thành viên của làng Các thành viên trong làng dùthuộc tổ chức phi quan phương nào cũng đều có trách nhiệm thực hiện hươngước Mỗi thành viên trong làng với trách nhiệm của mình đối với làng, đốivới một tổ chức nào đó mà họ là một thành viên, vì danh dự của làng, của giađình và của chính cá nhân mà tuân thủ tự giác, thực hiện những điều đã đượcghi trong hương ước

Tín ngưỡng

+ Làng là một đơn vị lãnh thổ khép kín được bao bọc bởi lũy trelàng,do vậy giữa các làng dường như rất ít có mối quan hệ với nhau vềmặt tín ngưỡng văn hóa Người xưa từng nói: “trống làng nào làng ấyđánh,thánh làng nào làng ấy thờ”

+ Ở Việt Nam, các làng thường thờ thần Thành Hoàng làng mang đặc trưng củayếu tố dân gian thờ đủ mọi loại thần như thiên thần (Phù Đổng ThiênVương, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh,…) là những nhân vật bất tử trong huyềnthoại dân gian Các nhân thần (Hưng Đạo Vương, Lý Thường Kiệt,…) họ lànhững người có công trạng to lớn với đất nước, nhân dân, đượcnhân dân tưởng nhớ công đức mà thờ, họ được xếp vào loại thượng đẳngthần Còn các vị thần có c ô n g v ớ i d â n l à n g h ọ t h ư ờ n g l à n h ữ n g

n g ư ờ i đ ỗ đ ạ t , n h ữ n g v ă n v õ quan có tên họ và công trạng củalàng hay những ông tổ sáng lập ra làng được xếp vào loại trungđẳng thần Đôi khi cũng có một số Thành Hoàng được thờ như nhữngngười ăn mày, người chết trôi dạt qua làng, người chết vào những giờthiêng, hoặc là các tà thần, yêu thần, thần rắn, thần rết, thần giếtlợn,…họ là những người không tên tuổi, hoặc là những vị thần bảnđịa được xếp vào hạ đẳng thần Những vị Thành H o à n g l à n g

n à y c ó n h i ệ m v ụ l à p h ả i c h e c h ở , p h ù t r ợ c h o d â n l à n gkhông bị mất mùa, trộm cướp, bệnh dịch….và được thờ ở một nơi trang trọngnhất của làng là đình làng

+ Ngoài ra, ở các làng còn có chùa (thờ Phật) và sau này còn có nhà thờ (thờchúa Jesu) của những làng có dân theo Đạo giáo Cũng có nhiều làng cả chùa vànhà thờ đều nằm chung một làng Đó cũng là nơi sinh hoạt văn hóa của cả dânlàng

Trang 11

Hình 10: Hình th c t l ức tế lễ ế lễ ễ Hình 11: Hình thức rước thần

Trang 12

Hình 12: L h i đánh đu ễ ội) Hình 13: L h i ch i c ng ễ ội) ơi cờ người ờ người ườ người i

Các biểu tượng đặc trưng

+ Làng Việt Bắc Bộ thường có “cây đa, bến nước (giếng nước), sân đình”,làng nào không có dòng sông chảy qua thì thường có một giếng nước ở giữalàng, đây là những biểu tượng đặc trưng nhất của làng quê đồng bằng Bắc BộViệt Nam Đình làng là nơi sinh hoạt văn hóa của dân làng “Do ảnh hưởngcủa Trung Hoa, đình từ chỗ là nơi tập trung của tất cả mọi người dần dần chỉcòn là chón lui tới của đàn ông Bị đẩy ra khỏi đình, phụ nữ quần tụ tại nơibến nước (ở những làng không cósông chảy qua thì có ghiếng nước) – chỗhàng ngày chị em gặp nhau cùng rửa rau, vo gạo, giặt giũ, chuyện trò”

(GS.Trần Ngọc Thêm) Đình làng cũng là nơi trung tâm chính trị, văn hóa

của làng Đó là nơi họp làng, nơi xử lý những công việc chung của làng, nơidiễn ra hội làng, tế lễ, thờ cúng Thành Hoàng làng (vị thần phù trợ cho làng)

Hình 14: Cây đa c th ổ thụ ụa

Trang 13

đã làm cho làng Việt Bắc Bộ in đậm trong tâm thức những ngườidân Việt Nam, không thể dứt bỏ được tình quê hương tha thiết

mà “ai đi xa cũng nhớ về ” cây đa, bến nước, sân đình, lũy trexanh, cổng làng in vết thời gian gắn bó với tuổi thơ mỗi người từngsinh ra và lớn lên bên trong lũy tre xanh ấy Những ngôi làng được coi làtruyền thống văn hóa lại là những làng đi tiên phong trong sự nghiệp đổi mớicông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy giờ đây chỉ còn sót lạinhững dấu vết của một nền văn hóa bản sắc của dân tộc như đình làng, giaphả, tục thờ cúng… Nhưng làng Việt Bắc Bộ vẫn luôn là điểm tựacho những ai đi xa luôn có ý thức hướng về quê hương nơi chôn rau cắt rốncủa mình

C GIỚI THIỆU MỘT LÀNG VIỆT BẮC BỘ CỔ

TRUYỀN ĐIỂN HÌNH

Trang 14

Đối tượng:

- Làng Nôm, xã Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên

Hình 17: Làng Nôm, xã Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên

Vị trí địa lý

- Cách Hà Nội khoảng 30 km về hướng đông,từ Hà Nội, đi theo Quốc lộ 5 chừng20km, rẽ trái khoảng mươi cây số nữa là đến làng Nôm - ngôi làng cổ thuộc xãĐại Đồng ,huyện Văn Lâm, Hưng Yên vẫn còn giữ những nét đẹp xưa Trung tâmcủa làng là quần thể kiến trúc đẹp gồm đình, giếng cổ và cây đa cổ thụ, đặc trưngcủa làng quê Bắc bộ

K hái quát về làng

- Làng Nôm là một làng nhỏ (hiện có diện tích tự nhiên là 43,7ha, hơn 175

gia đình, với trên 600 nhân khẩu)

+ Ông Đỗ Ngọc Vượng, phát thanh viên của làng cho biết: “Làng Nômhiện nay có hơn 600 nhân khẩu Làng có từ những năm đầu Công nguyên,nhưng phải đến cuối thế kỷ XV, dân cư mới tập trung đông đúc Trướcđây, người dân trong làng có nghề buôn đồng nát Bà con ở đây đi muađồng nát về bán lại cho các lò đúc đồng ở địa phương và các vùng lân cận.Nhờ chịu thương, chịu khó, sáng tạo trong làm ăn buôn bán, nên làng Nômnhờ đó mà ngày càng hưng thịnh, tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóaphát triển”

- Làng những nét đặc trưng cơ bản của một làng Việt cổ Bắc Bộ : cây đa ,giếng nước , sân đình ,

Ngày đăng: 20/06/2019, 12:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w