1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Sinh lý: Tìm hiểu về giải nobel Y Sinh 2010: Thụ tinh nhân tạo (IVF)

24 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 15,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là bản dịch tiếng anh về tìm hiểu giải nobel Y Sinh 2010, dù đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn còn những sai sót nhất định. Thành tựu được trao giải nobel y sinh 2010 là kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm của Giáo sư Edward vào năm 1978. Kèm theo đó là một số bài báo trên trang Nature của chính giáo sư Edward cách đây hơn 40 năm.

Trang 1

Tên đề tài: “Tìm hiểu về giải Nobel Y Sinh 2010”

1 Tên giải Nobel

"For the development of in vitro fertilization." (Phát triển kỹ thuật thụ tinh trongống nghiệm)

2 Tác giả

Robert G Edwards (1925-2013)

Robert Geoffrey Edwards sinh ngày 27/9/1925 tại Manchester, Vương quốcAnh Ông phục vụ trong quân đội, đã từng chiến đấu chống phát xít trong Thếchiến II Sau khi giải ngũ ông theo học Trường Đại học Edingburg Tốt nghiệp đạihọc, ông về làm công tác nghiên cứu khoa học tại Trường ĐH Bangor, phía Bắc xứWalles

Ông bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1955 về sự phát triển của phôi chuột Ngay

từ lúc đó ông đã tạo ra được một vài con chuột từ ống nghiệm Ba năm sau tại Việnnghiên cứu y học quốc gia London, ông bắt đầu tìm hiểu quá trình thụ thai của conngười Được biết những thành tựu của nhà phụ khoa học Pratrick Steptoe về kỹthuật soi ổ bụng, ông đề nghị được hợp tác nghiên cứu và hai người làm việc bênnhau đến khi về hưu

Năm 1968, hai nhà khoa học này đã thành công trong việc thụ tinh nhân tạođầu tiên trên thế giới Nhưng phải đợi đến 10 năm sau – ngày 25/6/1978 - một cô

bé "từ ống nghiệm" mới chính thức ra đời Cô bé Louise Brown nay đã 41 tuổi.Năm 2007, cô đã sinh con cũng bằng phương pháp chính cô được sinh ra

Năm 2010, Edwards được trao giải Nobel về Sinh học và Y học với côngnghệ mang tính cách mạng trong y học của mình Song rất tiếc là người đồng phátminh của ông là nhà bác học Patrick Steptoe đã không được nhận giải vì hai nămtrước đó ông đã qua đời

Năm 2011 Edwards được Nữ hoàng Anh phong tước Hiệp sĩ Số người rađời bằng phương pháp của hai ông nay đã lên tới 5 triệu Hàng năm bằng phươngpháp thụ tinh nhân tạo đã cho 350 nghìn đứa trẻ được làm người

Robert Edwards đã từ trần ngày 10 tháng 4 năm 2013 ở tuổi 88

Trang 2

3 Nội dung

Giải thưởng Nobel về Sinh lý học hoặc Y học năm 2010 được trao cho Tiến sĩRobert G Edwards vì sự phát triển của thụ tinh trong ống nghiệm của con người(IVF), một tiến bộ y học đại diện cho sự thay đổi mô hình trong điều trị nhiều loại vôsinh Không có khả năng thụ thai một đứa trẻ là một khiếm khuyết sinh sản ảnh hưởngđến hơn 10% của tất cả các cặp vợ chồng trên toàn thế giới Trong những năm 1950,Edwards đã nhận ra tiềm năng của IVF như là một phương pháp điều trị cho tình trạng

y tế này Ông đã thực hiện thử thách này là nghiên cứu của ông về cách các hormonekiểm soát các chức năng buồng trứng quan trọng ở chuột, chẳng hạn như sự trưởngthành tế bào trứng và rụng trứng Bằng sự kết hợp tuyệt vời giữa nghiên cứu y học cơbản và ứng dụng, Edwards đã vượt qua một rào cản kỹ thuật sau khi kiên trì khám phámột phương pháp giúp giảm vô sinh Ông là người đầu tiên cho thấy tế bào trứng củacon người có thể trải qua quá trình trưởng thành trong ống nghiệm, cũng như thụ tinhtrong ống nghiệm Ông cũng là người đầu tiên cho thấy tế bào trứng của người đượcthụ tinh trong ống nghiệm có thể tạo ra phôi thai và phôi nang giai đoạn đầu Tất cảnhững thành tựu của Edwards, đã tập hợp lại vào lúc 11:47, vào ngày 25 tháng 7 năm

1978 với sự ra đời của Louise Joy Brown, đứa con đầu tiên của thế giới được thainghén thông qua IVF Nghiên cứu của Tiến sĩ Robert G Edwards, đã thay đổi hoàntoàn lĩnh vực y học sinh sản và ngày nay, gần 4 triệu trẻ sơ sinh đã được sinh ra nhờkhám phá IVF ở người

Giới thiệu

Vô sinh là một tình trạng phổ biến được biết là ảnh hưởng đến hơn 10% của tất cả cáccặp vợ chồng trên toàn thế giới Nó được coi là căng thẳng tâm lý bởi hầu hết các cánhân và có thể dẫn đến trầm cảm, cô lập xã hội và chất lượng cuộc sống thấp hơn.Trong lịch sử, rất ít sự giúp đỡ y tế đã có sẵn cho những người vô sinh, những người

bị buộc phải mạo hiểm sức khỏe và thậm chí là tính mạng của họ, bằng cách tham giavào các thực hành điều trị vô sinh ít nhiều che khuất Vô sinh nữ thường là do tổnthương ống dẫn trứng, cản trở sự tiếp xúc giữa trứng và tinh trùng (Hình 1), trong khi

vô sinh nam có liên quan đến số lượng và chất lượng tinh trùng bị suy yếu

Trang 3

Hình 1 Quá trình thụ tinh ở người

Giao tử cái được lưu trữ trong buồng trứng dưới dạng các nang riêng biệt, tức làmỗi nang chứa một tế bào mầm được bao quanh bởi một hoặc một vài lớp tế bàogranulosa Con người (cũng như các động vật có vú khác) được sinh ra với một nhóm

tế bào trứng nguyên thủy xác định bị bắt giữ ở giai đoạn dictyate của bệnh teo cơ I Ởphụ nữ trưởng thành tình dục, tín hiệu hormone kích thích nang trứng và các yếu tốkhác kích thích sự trưởng thành của từng nang trứng hàng tháng, tạo nang sơ cấp vàthứ cấp Để đáp ứng với sự gia tăng nhanh chóng của hormon luteneising, một loạt các

sự kiện được bắt đầu, bao gồm cả sự tăng trưởng tế bào trứng và tái hấp thu Việc táikích hoạt giảm phân hoàn thành sự kiện phân ly nhiễm sắc thể meogen đầu tiên và dẫnđến một bộ nhiễm sắc thể bị bắt giữ ở giai đoạn kỳ giữa của giảm phân II và một bộnhiễm sắc thể thứ hai bị loại bỏ (thể cực đầu tiên) Theo đó, vỡ nang trứng trưởngthành và rụng trứng xảy ra, một quá trình trứng được phóng ra từ buồng trứng vào ốngdẫn trứng (ống dẫn trứng) Tinh trùng, đi vào từ tử cung, sẽ di chuyển về phía trứngđược phóng ra từ đầu đối diện của ống dẫn trứng Sự xâm nhập thành công của mộttinh trùng thông qua lớp vỏ trứng sẽ khởi đầu một tập hợp các sự kiện tương tác giữatinh trùng và trứng làm giảm sự bắt giữ giảm phân II của trứng Điều này dẫn đến sựhình thành của hai bộ nhiễm sắc thể đơn bội, một bộ sẽ hợp nhất với bộ nhiễm sắc thểđơn bội do tinh trùng đóng góp và bộ thứ hai bị loại bỏ (thể cực thứ hai) Quá trình thụtinh làm phát sinh phôi trải qua một số phân chia tế bào trong khi được vận chuyểnqua ống dẫn trứng về phía tử cung Khi ở trong tử cung, phôi thai (hiện đang ở giaiđoạn blastula) sẽ cấy vào thành niêm mạc tử cung, được gọi là nội mạc tử cung Pháttriển phôi hơn nữa sau đó sẽ diễn ra tại vị trí này

Trang 4

Nghiên cứu sớm về thụ tinh trong ống nghiệm ở động vật có vú

Quá trình thụ tinh trong ống nghiệm được nghiên cứu đầu tiên ở các loài khôngphải động vật có vú, ví dụ như động vật biển, nơi quá trình thụ tinh thường diễn ra bênngoài cơ thể trong môi trường nước Quan sát đầu tiên về sự xâm nhập của tinh trùngvào trứng đã được báo cáo ở Ascaris bởi Nelson vào năm 1851 và các nghiên cứu tiếptheo ở các loài không phải động vật có vú đã cung cấp nhiều chi tiết quan trọng củaquá trình thụ tinh

Gregory Pincus, tại Tổ chức Sinh học Thực nghiệm Worcester ở Mỹ, đã mô tả vàonăm 1935 những điều kiện thí nghiệm đầu tiên cho phép tế bào trứng của động vật có

vú (từ thỏ) trưởng thành trong ống nghiệm, đạt đến giai đoạn kỳ giữa của bệnh teo cơ

II Min Chueh Chang, tại cùng viện nghiên cứu với Pincus, đã chỉ ra vào năm 1959rằng tế bào trứng của thỏ trưởng thành có thể được thụ tinh trong ống nghiệm và cũngtạo ra phôi thai khả thi Hơn nữa, khi những phôi này được chuyển trở lại con cáitrưởng thành, chúng đã sinh ra những đứa con khả thi Những phát hiện của ChangLăng thể hiện sự tiến bộ đáng kể, tuy nhiên, một sự cảnh báo với những nghiên cứunày là sự cần thiết phải ủ tinh trùng trong tử cung của phụ nữ mang thai trước khi thửthụ tinh tế bào trứng Lý do tại sao Chang không sử dụng điều kiện in vitro nghiêmngặt trong các thí nghiệm này là vì niềm tin chung vào thời điểm này là tinh trùng cầnkích hoạt (điện dung) in vivo để góp phần thụ tinh trong ống nghiệm RyuzoYanagimachi và Min Chueh Chang vào năm 1963 cho thấy điều này giáo điều làkhông chính xác, khi họ xác định các điều kiện in vitro thử nghiệm mà qua đó tinhtrùng (từ chuột hamster) mà không kích hoạt in vivo trước đó, có thể thụ tinh tế bàotrứng và tạo ra phôi giai đoạn 2 tế bào

Thụ tinh trong ống nghiệm của con người - một thách thức lớn

Trong phần đầu của thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu nghiên cứu sinh sản bắt đầuthảo luận về khả năng xác định các điều kiện cho phép tế bào trứng của con ngườiđược thụ tinh trong ống nghiệm Sự phức tạp to lớn của quá trình thụ tinh là một tháchthức và mặc dù có những tiến bộ trong nghiên cứu sinh sản động vật, vẫn chưa có tiếntriển nào về IVF của tế bào trứng người vào đầu những năm 1960 Một số tiến bộ kỹthuật và khám phá sẽ được yêu cầu trước khi IVF thành công ở người có thể đạt được;khả năng kiểm soát quá trình trưởng thành tế bào trứng, khả năng lấy tế bào trứng ởgiai đoạn phát triển phù hợp với IVF, khả năng kích hoạt 4 tinh trùng trong ốngnghiệm, khả năng xác định các điều kiện thúc đẩy thụ tinh cũng như phát triển phôisớm trong ống nghiệm và cuối cùng, một phương pháp mà qua đó phôi sớm có thểđược chuyển trở lại tử cung của người mẹ

Robert G Edwards, làm việc tại Viện nghiên cứu y học quốc gia ở London vàocuối những năm 1950, đã cam kết phát triển một phương pháp giúp giảm bớt tình

Trang 5

trạng vô sinh ở người Edwards có kiến thức đặc biệt rộng rãi về quá trình thụ tinh, cóđược qua nhiều năm nghiên cứu cơ bản về sinh lý sinh sản của động vật, và do đó ông

đã chuẩn bị tốt cho thử thách này Vấn đề đầu tiên mà anh phải giải quyết là tìm raphương pháp cung cấp quyền truy cập vào tế bào trứng trưởng thành phù hợp với IVF.Lựa chọn đầu tiên của anh là cố gắng xác định các điều kiện sẽ thúc đẩy sự trưởngthành của tế bào trứng của người trong ống nghiệm Ông biết từ công trình của Pincusrằng các tế bào trứng của động vật có vú chỉ cần vài giờ nuôi cấy trong ống nghiệmtrước khi chúng giả định sự trưởng thành của meotic Bắt đầu từ các tế bào trứng chưatrưởng thành của con người đã được giải phóng từ các mô buồng trứng, Edwards đã

cố gắng trong nhiều năm để tìm thấy các điều kiện in vitro sẽ kích hoạt các tế bàotrứng không hoạt động này Công việc của Edwards đã được tưởng thưởng vào năm

1965 khi ông phát hiện ra rằng tế bào trứng của con người, trái ngược với giáo điềuphổ biến, cần 24 giờ ủ trong ống nghiệm, trước khi họ bắt đầu quá trình trưởng thànhcủa chúng Điều quan trọng là phương pháp trưởng thành trong ống nghiệm cũng cungcấp tế bào trứng ở giai đoạn phát triển muộn (giai đoạn kỳ giữa của giảm phân II), phùhợp với IVF Thách thức nghiên cứu tiếp theo của Edwards là tìm ra các điều kiện sẽthúc đẩy thụ tinh của noãn bào trong ống nghiệm Barry D Bavister, một sinh viên tốtnghiệp của Edwards tại Đại học Cambridge, gần đây đã xác định các điều kiện đệm để

hỗ trợ kích hoạt in vitro của tinh trùng hamster17 Edwards, sử dụng các điều kiệnđệm này, cho thấy vào năm 1969 rằng tinh trùng người được kích hoạt có thể thúc đẩythụ tinh của tế bào trứng trưởng thành in vitro18 Kết quả này đại diện cho một khámphá quan trọng và là một cột mốc quan trọng trong nghiên cứu sinh sản khi nó mở rahướng phát triển phương pháp điều trị vô sinh

Đột phá

Tuy nhiên, nghiên cứu của Edwards về sự trưởng thành trong ống nghiệm của tếbào trứng người đã cho ông một cái nhìn sâu sắc quan trọng Ông đã phát hiện ra rằngtrong khi tế bào trứng của con người trưởng thành trong ống nghiệm có thể được thụtinh, chúng đã thất bại trong việc vượt qua giai đoạn 2 tế bào Thất bại này có thể đượcquy cho các giai đoạn dài mà tế bào trứng trưởng thành trong ống nghiệm phải chi tiêubên ngoài cơ thể Bây giờ, Edwards quyết định thử sử dụng tế bào trứng đã hoàn thànhquá trình trưởng thành của chúng trên cơ thể Edwards yêu cầu rằng nếu tế bào trứngngười trưởng thành có thể được lấy từ buồng trứng trước khi bắt đầu rụng trứng,những tế bào trứng này sẽ có thẩm quyền hơn để trải qua IVF và phát triển phôi sớm(Hình 1 và Hình 2)

Trang 6

Hình 2 Nguyên tắc IVF do Edwards phát triển

Tế bào trứng bị bắt ở giai đoạn kỳ giữa của giảm phân II được lấy ra trước khi rụngtrứng từ buồng trứng bằng nội soi Các tế bào trứng được đặt trong một đĩa nuôi cấyvới môi trường và trộn với tinh trùng Điều kiện trung bình thúc đẩy kích hoạt tinhtrùng trong ống nghiệm, một yêu cầu cần thiết cho quá trình thụ tinh Các tương táctrứng-tinh trùng làm giảm sự bắt giữ giảm phân II của trứng Điều này dẫn đến sựhình thành của hai bộ nhiễm sắc thể đơn bội, một bộ sẽ hợp nhất với bộ nhiễm sắc thểđơn bội do tinh trùng đóng góp và một bộ thứ hai bị loại bỏ (cơ thể cực thứ hai) Quátrình thụ tinh dẫn đến sự hình thành phôi trải qua một số phân chia tế bào trong ốngnghiệm Phôi được chuyển trở lại tử cung ở giai đoạn tám tế bào (2,5 ngày sau khi bắtđầu thụ tinh) bằng cách sử dụng kim mỏng Phôi thai sẽ phân chia xa hơn trong tửcung cho đến khi đến giai đoạn blastula và sau đó cấy vào thành niêm mạc tử cung,nội mạc tử cung Phát triển phôi hơn nữa sẽ diễn ra tại vị trí này

Phương pháp tiếp cận mới của Edwards nảy sinh từ công trình trước đây của ông

về sinh học sinh sản của chuột Ông đã chỉ ra rằng sự khởi đầu của sự trưởng thànhmeocytes của noãn bào có thể được kiểm soát bởi các gonadotrophins được cung cấpbên ngoài, tức là các hormone bắt chước chức năng của hormone hoạt động nội tại(hormone luteneising) Ông cũng biết rằng nó cần một thời gian dài như nhau trongống nghiệm và in vivo đến tế bào trứng chuột trưởng thành đến giai đoạn kỳ giữa IIcủa bệnh teo cơ, và từ các nghiên cứu in vitro của ông về tế bào trứng người, cũng làthời điểm của quá trình trưởng thành meo ở người Tuy nhiên, chiến lược mới củaEdwards, (hiện tại Đại học Cambridge) đã đưa ra một vấn đề kỹ thuật quan trọng;không có phương pháp nào được biết đến với anh ta có thể lấy đủ số lượng noãn bàongười từ buồng trứng ở giai đoạn phát triển chính xác Vào cuối những năm 1960,

Trang 7

việc tiếp cận với tế bào trứng của con người đòi hỏi phải phẫu thuật cắt bỏ một phầnnhỏ buồng trứng từ những phụ nữ vô sinh, một cách tiếp cận không phù hợp với IVF.Đọc một bài báo khoa học được viết bởi Tiến sĩ Patrick C Steptoe19, Edwards nhậnthức được một phương pháp mới gọi là nội soi Nội soi cho phép đường sinh dục nữcủa con người được hình dung bằng ống nội soi sợi quang được đưa vào qua một vết

mổ gần rốn Steptoe (làm việc tại Bệnh viện Đa khoa Oldham và Quận) là một bác sĩphẫu thuật và bác sĩ sản khoa lành nghề, người đã giới thiệu và phát triển việc sử dụngnội soi ổ bụng ở Anh và cho thấy có thể hút tế bào trứng từ buồng trứng Edwardsngay lập tức nhận ra rằng phương pháp này có thể được sử dụng để lấy tế bào trứng ởgiai đoạn kỳ giữa của giảm phân II từ buồng trứng trong một khoảng thời gian thíchhợp của chu kỳ kinh nguyệt Do đó, Edwards đã liên lạc với Steptoe và họ đã chỉ ravào năm 1970 rằng các tế bào trứng tiền điều trị trưởng thành ở giai đoạn kỳ giữa IIcủa bệnh teo cơ thực sự có thể được lấy từ những phụ nữ vô sinh sau khi mồi buồngtrứng với gonadotrophins20

Edwards sau đó đã báo cáo rằng IVF của các tế bào trứng tiền điều trị sử dụng tinhtrùng được kích hoạt trong ống nghiệm có thể tạo ra phôi người giai đoạn 8 tế bào21.Đây là một phát hiện có ý nghĩa ở hai khía cạnh, đây là lần đầu tiên tinh trùng đượckích hoạt trong ống nghiệm được chứng minh là có khả năng góp phần phát triển phôivượt ra ngoài giai đoạn 2 tế bào trong hệ thống động vật có vú và đây là lần đầu tiênphôi người hiển thị để trải qua sự phân chia tế bào trong ống nghiệm (Hình 3) Sau

đó, ông đã chỉ ra vào năm 1971 rằng các tế bào trứng của người được thụ tinh trongống nghiệm có thể trải qua 7 lần phân tách tạo ra phôi giai đoạn 16 tế bào và hìnhthành phôi nang trong ống nghiệm Một loạt các khám phá được thực hiện bởiEdwards trong thời gian 1969-1971 đại diện cho những cột mốc quan trọng trongnghiên cứu IVF và tạo tiền đề cho giai đoạn tiếp theo

Trang 8

Hình 3 Phôi thai giai đoạn 8 tế bào từ IVF

Đầu những năm 1970, Edwards và Steptoe bắt đầu chuyển những phôi thai sớm từIVF trở lại thành phụ nữ Sau hơn một trăm nỗ lực dẫn đến mang thai trong thời gianngắn, họ nhận ra rằng các phương pháp điều trị bằng hormone cho phụ nữ để tạo ra sựtrưởng thành của noãn bào làm xáo trộn phôi trong tử cung, dẫn đến sảy thai tự nhiên.Cuối cùng, sau khi thay đổi phác đồ điều trị hormone, lần mang thai thành công đầutiên đã đạt được vào năm 1976 Thật không may, phôi đã được cấy ghép ngoài tử cungtrong ống dẫn trứng và thai phải chấm dứt Edwards và Steptoe sau đó quyết định từ

bỏ hoàn toàn giao thức kích thích buồng trứng và thay vào đó dựa vào chu kỳ kinhnguyệt tự nhiên của bệnh nhân, mặc dù điều này có nghĩa là họ sẽ chỉ có 8 lần tiếp cậnvới một trứng trong mỗi chu kỳ Dựa trên nồng độ hormone luteinizing trong nướctiểu của phụ nữ, họ có thể dự đoán khi nào tế bào trứng trưởng thành sẽ đạt đến giaiđoạn kỳ giữa của giảm phân II Họ hy vọng rằng sau đó họ sẽ có thể lấy lại trứng bằngcách mổ nội soi trước khi rụng trứng Steptoe và Edwards đã thành công trong nỗ lựccủa họ và vào năm 1978 họ đã đưa ra thông báo lịch sử rằng một đứa trẻ bình thường,khỏe mạnh và khỏe mạnh, Louise Joy Brown, đã được sinh ra nhờ IVF thành công củamột noãn bào người Tầm nhìn và sự kiên trì lâu dài của Edwards cho kết quả, mở ramột kỷ nguyên mới trong điều trị vô sinh (Hình 4)

Trang 9

Hình 4 Một bản sao của Thư gửi biên tập viên ở Lancet (1978) 2: 366, ghi lại sự ra

đời của em bé IVF đầu tiên, Louise Joy Brown

Sự phát triển hơn nữa của IVF

Sau sự ra đời của Louise Brown, Edwards và Steptoe đã thành lập một phòng khám

vô sinh tại Morr Hall, ở Cambridge, Vương quốc Anh, nơi họ tiếp tục phát triểnphương pháp IVF Đứa con thứ hai và thứ ba trên thế giới được thụ thai thông qua IVFđược sinh ra tại bệnh viện Morr Hall Morr Hall nhanh chóng trở thành một trung tâmnghiên cứu IVF và các sửa đổi thành công đã được thực hiện cho các giao thức thửnghiệm được sử dụng cho Kích thích buồng trứng và nuôi cấy phôi tại Phòng khámMorr Hall, dẫn đến 139 ca sinh năm 1983 và 1000 ca sinh năm 1986 Những tiến bộnhanh chóng trong phương pháp IVF hiện cũng bắt đầu diễn ra bên ngoài Phòng khámHội trường Morr và đến năm 1986, khoảng 1000 ca sinh thêm đã được thực hiện báocáo ở các nước khác Ngày nay, gần 4 triệu trẻ sơ sinh đã được sinh ra trên toàn thếgiới do IVF Phần lớn phụ nữ vô sinh hiện có thể được giúp đỡ để thụ thai do kết quảIVF Thế hệ đầu tiên của trẻ em được thụ thai thông qua IVF, bao gồm Louise JoyBrown, hiện đang trong độ tuổi sinh sản Một số người trong số họ đã có con riêng màkhông cần IVF

Phát triển y tế hơn nữa

Trang 10

Thành tựu tinh dịch học Edwards thu hút nhiều nhà nghiên cứu khác trong lĩnh vực

y học sinh sản, dẫn đến sự phát triển kỹ thuật nhanh chóng Sự phục hồi nội soi củanoãn bào đã được thay thế bằng phương pháp phục hồi tế bào trứng có hướng dẫn siêu

âm và bảo quản lạnh phôi phôi người đã được giới thiệu IVF thành công của tế bàotrứng người trưởng thành in vitro đã được báo cáo trong 1994, một phương pháp quantrọng đối với những phụ nữ nhạy cảm với các giao thức kích thích hormone buồngtrứng và với những phụ nữ có nguy cơ mất noãn bào noãn do điều trị ung thư Sự pháttriển của phương pháp tiêm tinh trùng vào tế bào chất (ICSI), trong đó tinh trùng đơnđược tiêm vào tế bào chất của trứng trưởng thành, đại diện cho một bước đột phá vềcông nghệ, cũng có thể điều trị nhiều loại vô sinh nam Edwards, nghiên cứu về tế bàophôi người và phôi nang cũng là công cụ cho công việc sau này dẫn đến việc tạo ra tếbào gốc phôi người, điều này rất quan trọng đối với sự hiểu biết của chúng ta về sựbiệt hóa tế bào và có thể trở nên quan trọng trong y học tái tạo trong tương lai Phươngpháp IVF cũng là công cụ để phát triển chẩn đoán di truyền tiền ghép (PGD) PGD làmột thủ tục được thực hiện trong ống nghiệm trên các tế bào phôi sớm được thụ tinhtrong ống nghiệm để giảm nguy cơ cha mẹ truyền một rối loạn di truyền nghiêm trọnghoặc bất thường nhiễm sắc thể cho con cái của họ

Tình trạng sức khỏe của con cái được thụ thai thông qua thụ tinh trong ống nghiệm

Trẻ em sinh ra sau IVF nói chung khỏe mạnh như trẻ em được sinh ra sau khi thụthai tự nhiên theo một số nghiên cứu dài hạn theo dõi Tuy nhiên, có tần suất sinhnhiều con liên quan đến điều trị IVF cao hơn so với mang thai bình thường Điều nàyphần lớn là do thực hành tại một số phòng khám vô sinh chuyển hai hoặc nhiều phôitrở lại vào người mẹ Sinh nhiều con có liên quan đến việc tăng nguy cơ sinh non, nhẹcân và sinh mổ, những yếu tố có thể làm phát sinh các vấn đề sức khỏe sau sinh và sausinh Nhiều quốc gia châu Âu đã đưa ra các thủ tục pháp lý bắt buộc hoặc tự nguyện,đòi hỏi phải chuyển phôi một lần, điều này đã làm giảm đáng kể tỷ lệ sinh nhiều consau IVF Bất chấp sự ra đời của chính sách chuyển phôi đơn lẻ, nguy cơ sinh non tănggấp hai lần đối với phụ nữ trải qua điều trị IVF vẫn là Điều này có thể được giải thíchbởi tuổi già của những phụ nữ này hoặc bởi các yếu tố liên quan đến nguyên nhân cơbản gây vô sinh của họ Nó đã được chứng minh rằng việc sử dụng IVF làm tăng nhẹtần suất của hai rối loạn in dấu ấn, Hội chứng BeckwithWiedemann (BWS) và Hộichứng Angelman (AS), mặc dù nguy cơ tuyệt đối vẫn còn nhỏ vì cả hai bệnh này rấthiếm gặp trong dân số Các phân tích tổng hợp của các nghiên cứu có kiểm soát đãbáo cáo tăng nguy cơ dị tật lớn (được xác định là tình trạng gây suy giảm chức nănghoặc cần điều chỉnh bằng phẫu thuật) ở trẻ em được thụ thai qua IVF, tuy nhiên, cácnghiên cứu cơ bản thiếu các nhóm kiểm soát thích hợp và có giới hạn phương phápđáng kể

Cân nhắc đạo đức

Trang 11

Edwards nhận ra từ khi bắt đầu rằng nghiên cứu IVF sẽ đưa ra nhiều mối quan tâmđạo đức quan trọng cần phải giải quyết Ông đã viết, cùng với luật sư David Sharpe,một bài viết quan trọng có tầm nhìn khởi xướng một cuộc tranh luận về nhiều vấn đềphức tạp liên quan đến y học sinh sản đi trước Họ lập luận rằng nghiên cứu về tế bàomầm và phôi người nên được tiến hành theo các hướng dẫn đạo đức nghiêm ngặt Bảnthân Edwards đã hành động mạnh mẽ về những vấn đề này, vì ông đảm bảo rằng một

Ủy ban Đạo đức cho IVF đã được thành lập tại Phòng khám Morr Hall Từ năm 1978,Edwards đã tham gia rất tích cực vào các cuộc thảo luận về đạo đức trên nhiều khíacạnh khác nhau của nghiên cứu sinh sản của con người Bất chấp sự chú ý dai dẳngcủa Edwards đối với các câu hỏi về đạo đức và an toàn, công việc của ông về IVF banđầu đã gặp phải sự phản đối mạnh mẽ từ các nhà lãnh đạo tôn giáo nói rằng điều này

là sai về mặt đạo đức, từ các quan chức chính phủ, những người cảm thấy điều quantrọng hơn là hạn chế khả năng sinh sản và từ các đồng nghiệp khoa học có sự chỉ tríchdựa trên các vấn đề an toàn phôi, khía cạnh thứ hai là một trong những lý do khiếnHội đồng nghiên cứu y tế ở Anh từ chối đơn đăng ký của Edwards và Steptoe năm

1971 cho nghiên cứu IVF Nhìn lại, thật đáng kinh ngạc khi Edwards không chỉ có thểđáp ứng với những chỉ trích liên tục về IVF, mà anh ta còn rất kiên trì và không bị làmphiền trong việc thực hiện tầm nhìn khoa học của mình

Kết luận

Robert G Edwards đã phát triển một phương pháp để điều trị vô sinh ở người Pháthiện này đại diện cho một tiến bộ y học hoành tráng có thể thực sự được nói là manglại lợi ích lớn nhất cho nhân loại IVF của con người đã thay đổi hoàn toàn lĩnh vực yhọc sinh sản Ngày nay, 2-3% tất cả trẻ sơ sinh ở nhiều quốc gia được thụ thai với sựtrợ giúp của IVF và nhiều cá nhân chuyển sang một phòng khám vô sinh có thể đượcgiúp đỡ IVF cũng đã mở ra những cách mới để điều trị nhiều dạng vô sinh nam Sựphát triển của IVF được công nhận bởi Giải thưởng Nobel về Sinh lý học hoặc Y họcnăm nay đã chạm đến cuộc sống của hàng triệu người vô sinh, cho họ cơ hội sinh con

TÀI LIỆU THAM KHẢO

https://www.nobelprize.org/uploads/2018/06/advanced-

medicineprize2010.pdf?fbclid=IwAR0Tm-g4WHtm4mMReVlOMTVEzeV3KBllDefW2BiYMA0hn2QHG9Bz7pDB6Zw

Trang 12

MỘT SỐ BÀI BÁO CỦA ROBERT G EDWARDS

Ngày đăng: 19/06/2019, 14:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w