1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN về QUẢN lý HOẠT ĐỘNG dạy học CHO học SINH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực tư DUY PHÊ PHÁN ở các TRƯỜNG TIỂU học

48 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 48,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHO HỌC SINH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY PHÊ PHÁN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC... - Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHO HỌC SINH THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY PHÊ PHÁN Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

Trang 2

- Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học cho học sinh theo hướng phát triển năng lực

tư duy phê phán ở các trường tiểu học

Nghiên cứu chương trình giáo dục một số quốc gia pháttriển cho thấy, tư duy phê phán là một năng lực quan trọng cầnphát triển cho học sinh trong mục tiêu chương trình các mônhọc (Ichilov, 1998; Kennedy, 1997; Yang & Chung, 2009), có ýnghĩa trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho họcsinh, bao gồm các giá trị con người và những năng lực, phẩmchất cần thiết, trong quá trình chuẩn bị cho tương lai (Branson

& Margaret, 1998; Kerr, 1999; Cogan, 2002) Ở Đức, tư duyphê phán được sử dụng như là một trong những năng lực chủđạo nằm trong chương trình được xây dựng theo cách tiếp cậndựa vào năng lực người học (Anita Rosch, 2015)

Trong các năng lực tư duy, tư duy phê phán được nhấnmạnh như là một năng lực quan trọng, cần thiết rèn luyện chohọc sinh (McCollister & Sayler, 2010; Trilling & Fadel, 2009).Đây là một năng lực tư duy bậc cao, giúp cho học sinh có thểnhìn nhận, suy xét, lí giải, và đánh giá các vấn đề một cáchkhách quan, công bằng, thấu đáo với sự am hiểu kiến thức sâu

Trang 3

sắc (Bloom, 1956; McCollister & Sayler, 2010) Nhiều nghiêncứu cho rằng sự tập trung vào việc nâng cao năng lực tư duyphê phán trong các chương trình giáo dục phổ thông có thểmang lại kết quả học tập tốt hơn (McCollister & Sayler, 2010;Snodgrass, 2011) Việc thực hiện các hoạt động phản biện giúphọc sinh có thể đưa ra các ý kiến đa chiều để làm rõ vấn đề, từ

đó các em có thể hiểu về vấn đề một cách thấu đáo, kĩ lưỡng(Tsai, Chen, Chang, & Chang, 2013) Kokkidou (2013) chorằng tư duy phê phán còn góp phần làm tăng tính sáng tạo, khảnăng trình diễn trong hoạt động giáo dục âm nhạc Nghiên cứucủa Arend (2009) cho thấy việc phát triển tư duy phê phánthông qua các hoạt động tranh luận giúp học sinh hiểu rõ hơnnhững thông tin ban đầu và nội dung được trình bày trong lớphọc

Hiện nay, việc tích hợp phát triển năng lực tư duy phêphán đã được quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn ở các nướcphương Đông, những nước được coi là bị ảnh hưởng nhiều bởivăn hóa kế thừa Nho giáo với việc coi trọng sự ổn định và hòahợp trong mối quan hệ giữa con người với con người(Berthrong & Berthrong, 2012; Hofstede, Hofstede, & Minkov,

Trang 4

2010) Các nhà nghiên cứu khoa học, giáo dục cũng đã nhậnthấy rõ những điểm mạnh và điểm yếu trong chương trình giáodục của các nước phương Đông Họ hiểu rằng sự hòa hợp hìnhthức bên ngoài trong các hoạt động học có tính hợp tác cản trởhọc sinh trong việc chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng khoa học Do

đó, họ chú trọng nhiều hơn đến việc nghiên cứu xây dựng vàthực hiện các giờ học mà ở đó tư duy phê phán được đẩy mạnhnhiều hơn thông qua các giờ học vận dụng các hoạt động họcmang tính tương tác Nghiên cứu của Yang và Chung (2009)cho thấy việc tích hợp dạy tư duy phê phán vào trong môn đạođức giúp cho học sinh Đài Loan phát triển kĩ năng lắng nghetích cực, tôn trọng ý kiến khác biệt, khoan dung hơn với những

ý kiến trái chiều, và biết kiểm định lại ý kiến của bản thân(Yang & Chung, 2009)

Ở Việt Nam hiện nay, phát triển tư duy phê phán cho họcsinh đang thu hút được nhiều sự quan tâm, chú ý của người làmtrong công tác nghiên cứu giáo dục cũng như những ngườingoài ngành Trong Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thôngtổng thể giai đoạn sau năm 2015, tư duy phê phán được các nhàhoạch định chương trình tại Việt Nam khẳng định là một trong

Trang 5

những thành tố của nhóm năng lực cốt lõi mà học sinh phải cóđược sau khi tham gia quá trình học tập ở bậc phổ thông Có rấtnhiều môn học giữ vai trò chủ chốt trong việc giúp học sinh trởthành những người công dân có trách nhiệm, góp phần hìnhthành cho các em những phẩm chất và năng lực cần thiết củangười công dân Việt Nam trong giai đoạn sắp tới Nó có vai tròquan trọng trong việc phát triển tâm lực – một thành tố cơ bảncủa nhân cách và là nội lực của sự phát triển nhân cách học sinh(Lưu Thu Thủy, 2016)

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên và cộng sự (2017) về

“Vận dụng quan điểm kiến tạo xã hội trong thiết kế bài học mônđạo đức nhằm phát triển tư duy phê phán cho học sinh tiểu học”cho thấy, sự phát triển tư duy phê phán của học sinh tiểu họcthông qua việc học các bài học môn đạo đức được thiết kế theoquan điểm kiến tạo xã hội

Nguyễn Thu Trang (2017)đề cập đến việc phát triển tư duyphê phán cho sinh viên thông qua các bài học được thiết kế dựatrên một quan điểm giáo dục tiến bộ, có cơ sở khoa học vữngchắc sẽ góp phần đào tạo ra những thế hệ lao động tương lai cókhả năng thích ứng và hòa nhập cao trong thời kì toàn cầu hóa,

Trang 6

có ý thức xây dựng và phát triển cho cuộc sống chung Với nănglực tư duy phê phán, sinh viên Việt Nam không chỉ được trang

bị để trở thành nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước màcòn được trang bị để trở thành người “công dân toàn cầu” – phùhợp với yêu cầu mới đặt ra cho chính chương trình giáo dục trênthế giới hiện nay

Tóm lại các nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở nhữngnghiên cứu cơ bản và trong phạm vi nghiên cứu hẹp Chưa cónghiên cứu nào về quản lý hoạt động dạy học phát triển nănglực tư duy phê phán cho học sinh tiểu học Đây cũng chính làkhoảng trống để tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu này

- Hoạt động dạy học cho học sinh tiểu học theo hướng phát triển năng lực tư duy phê phán.

Trang 7

hoạt động học, hoạt động dạy học “là một quá trình bộ phận,một phương tiện trao đổi học vấn, phát triển năng lực và giáodục phẩm chất nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữangười dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách

có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng nhậnthức và thực hành” Nói cách khác, hoạt động dạy học là quátrình vận động kết hợp giữa hai tiểu hoạt động dạy và họcnhằm đạt được nhiệm vụ của dạy học

Hoạt động dạy học là một hệ thống toàn vẹn bao gồm cácthành tố cơ bản: Mục đích, nội dung, phương pháp, phươngtiện, hình thức tổ chức, người dạy, người học Các thành tốnày tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau để thực hiệnnhiệm vụ dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạyhọc

Hoạt động dạy học gắn liền với hoạt động giáo dục Cảhai hoạt động này đều hướng tới một mục tiêu chung là pháttriển toàn diện nhân cách người học

Nói tóm lại, “hoạt động dạy học là quá trình mà trong

đó dưới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của người GV làm cho người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều

Trang 8

khiển hoạt động nhận thức- học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học” [dẫn theo Nguyễn Thu Trang,

2017]

Như vậy, bản chất của hoạt động dạy học thể hiện tínhthống nhất của hoạt động dạy và hoạt động học, sự thống nhấtbiện chứng giữa các thành tố của hoạt động dạy học trong quátrình triển khai hoạt động dạy học

Dạy học là một quá trình tương tác, cộng tác giữa thầy vàtrò Chủ thể hoạt động dạy là GV, chủ thể hoạt động học là

HS Quá trình vận động tích cực, sáng tạo của chủ thể này làmcho họ phát triển, hoàn thiện mình hơn cả về phẩm chất lẫnnăng lực Trong đó hoạt động dạy của thầy và trò phối hợpnhịp nhàng, ăn khớp phát huy tối đa khả năng sáng tạo của HSgiúp họ trưởng thành hơn trong hoạt động đó

-Năng lực tư duy phêphán

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tư duy phê phán:

Facione, Simpson, và Elaine (1990) nhìn nhận NLTDPPnhư là một quá trình, bao gồm các lĩnh vực nhận thức và cảmxúc Nó được phát triển thông qua phân tích cá nhân và tương

Trang 9

tác xã hội (Garrison, Anderson và Archer, 1998; Newman,Webb, và Cochrane, 1995) Từ quan điểm cá nhân, NLTDPP làkết quả thu được từ sự hiểu biết và học tập sâu sắc, và sản phẩm

có thể được đánh giá thông qua các phần riêng lẻ (Garrison,Anderson và Archer, 1998)

Nguyễn Gia Cầu (2013) coi NLTDPP là giá trị quan trọngcủa nhân cách, bao gồm quá trình phân tích, lựa chọn và đánhgiá thông tin hay vấn đề theo cách nhìn khác nhằm làm sáng tỏvấn đề TDPP được hiểu là sự đánh giá hay sự suy lý về vấn đềnào đó dựa trên phân tích, lập luận có cơ sở của cá nhân để cónhận định khách quan đối với sự vật hiện tượng

Còn theo Trần Thị Tuyết Oanh (2016), thì “Năng lực tư

duy phê phán là khả năng thực hiện các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa) để đưa

ra những nhận xét, kết luận và phương án giải quyết tối ưu đối với các vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập và nghiên cứu”.

Đây là một trong những năng lực đòi hỏi sự nỗ lực cao độ củahoạt động trí óc, đồng thời là cơ sở để học sinh tiến tới quá trình

tự giáo dục ở các bậc học caohơn

Trang 10

Từ các quan điểm trên ta thấy rằng năng lực TDPP là tưduy phân tích, đánh giá thông tin về một vấn đề đã có theonhững cách nhìn khác nhau nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lạitính chính xác của vấn đề; là tư duy chất vấn các giả định, giảthiết nhằm tìm kiếm sự thật, lý lẽ rõ ràng, nhất quán về vấn đềnhất định; là sự khám phá những khía cạnh khác nhau của mộtvấn đề; là nhận định để khẳng định đúng sai, chứ không đơnthuần là sự tiếp nhận, duy trì thông tin một cách thụ động.TDPP còn là tìm cách lý giải hay tìm tòi giải pháp mới nhằmgiải quyết vấn đề, phân tích những giả định và chất lượng củanhững phương pháp mới hợp lý hơn về một giả thuyết nào đó,chứ không phải sự phản đối với nghĩa tiêu cực; thể hiện sự nhạycảm trước bối cảnh (nhận biết tình huống ngoại lệ, khácthường).

- Hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực tư duy phê phán cho học sinh tiểu học

Hoạt động dạy học cho học sinh tiểu học theo hướng pháttriển tư duy phê phán là cách giảng dạy cho học sinh nhằm pháttriển cho học sinh những kỹ năng như: Biết diễn đạt và đề xuấtnhững câu hỏi và vấn đề quan trọng khi cần thiết; hoạt động này

Trang 11

giúp học sinh biết lắng nghe ý kiến của người khác và sẵn sàngđưa ra những ý tưởng đối trọng nếu cần; có khả năng bình luận

và có khả năng tự lựa chọn lấy giải pháp; đánh giá vấn đề và ýtưởng của người khác; đưa ra những kết luận, đánh giá ý tưởngcủa người khác, đưa ra những cách giải quyết, hành động hợplý; sẵn sáng ngừng đánh giá khi cho là thiếu căn cứ và lý do

Hoạt động dạy học cho học sinh tiểu học theo hướng pháttriển năng lực tư duy phê phán sẽ được áp dụng từ mức thấp tớicao, từ tầng thứ 4 trở đi là thuộc loại cao cấp là những kỹ năng

tư duy Giả sử trong một giờ học về lịch sử nước ta (lớp 4),những câu hỏi được đặt ra trong tình huống lịch sử về câuchuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ Các nhân vật trong lịch sử cóliên hệ như thế nào, vai trò của mỗi người ra sao Trong nhữngmôn như khoa học tự nhiên thì còn dễ dạy cho học sinh kỹ năngphân tích hơn nữa về các sự vật hiện tường, giáo viên nên tùytheo trình độ của học sinh mà hướng dẫn đưa ra những câu hỏicho thích hợp Trong phần bài tập cũng vậy, luôn luôn có câuhỏi để học sinh ghi lại phần phân tích đã thảo luận trong lớp.Các kỹ năng khác như tổng hợp, và đánh giá cũng được thựchiện tương tự Như vậy, để sử dụng các phương pháp có mục

Trang 12

đích và đạt hiệu quả để kích thích những bộ não của học sinhtiểu học thì hoạt động dạy học cần:

- Yêu cầu việc học tập phải được dựa vàoviệc giải quyếtvấn đề khác với các dự án đơn thuần, bởi nó tạo sự tư duy phêphán nhiều hơn

- Yêu cầu học sinh tư duy phê phán bằng cách phải dạy họcách thức tư duy Hướng dẫn học sinh hình dung tưởng tượng,giúp họ liên hệ và dạy họ về sự kiên nhẫn và mạo hiểm để giảiquyết các thách thức khó nhằn

-.Yêu cầu sư phản hồi từ học sinh rằng làm thế nào để học

được một điều gì Giảng bài cho học sinh đi kèm những câu hỏinhận thức, như vậy học sinh mới có thể thường xuyên đào sâusuy nghĩ và biết được vì sao mình tư duy theo hướng đó

- Dạy học sinh đặt câu hỏi: Buộc học sinh phải xây dựng

câu hỏi vượt ra ngoài những gì có thể được trả lời thông qua tracứu Google Giúp họ phát triển câu hỏi định hướng cho nghiêncứu của họ, thách thức các bằng chứng và cho thấy họ hiểu bài.Cân nhắc việc cho học sinh dùng các mô hình câu hỏi phát triểntheo thang đo của Bloom

Trang 13

- Quản lý hoạt động dạy học cho học sinh tiểu học theo hướng phát triển năng lực tư duy phê phán.

- Khái niệm

- Quản lý hoạt động dạy học

* Bản chất của quản lý hoạt động dạy học:

QL hoạt động dạy học được hiểu là một hệ thống nhữngtác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể

QL tới khách thể QL trong quá trình dạy học nhằm đạt đượcmục tiêu đề ra; là quá trình người HT hoạch định, tổ chức,điều khiển, kiểm tra hoạt động dạy học của GV nhằm đạt đượcmục tiêu đã đề ra Trong toàn bộ quá trình QL nhà trường thì

QL hoạt động dạy học của HT là hoạt động cơ bản nhất, quantrọng nhất

Như vậy, QL hoạt động dạy học thực chất là quá trìnhtruyền thụ tri thức của đội ngũ GV và quá trình lĩnh hội kiếnthức, kỹ năng, kỹ xảo của HS; QL các điều kiện cơ sở vậtchất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động dạy họccủa cán bộ QL nhà trường

* Mục tiêu của QL hoạt động dạy học:

Trang 14

Mục tiêu hướng tới chính là chất lượng, kết quả và hiệuquả có được khi dạy HS với sự phát triển toàn diện các mặt:chân thiện mỹ đức đã được nêu ra trong mục tiêu dạy học Vìvậy, QL họat động dạy học có mục tiêu là:Thực hiện đầy đủcác mục tiêu, phải đảm bảo kế hoạch đào tạo, nội dungchương trình giảng dạy theo hướng và thời gian quy định;Đảm bảo hoạt động dạy học đạt kết quả cao (QL chất lượng).

* Biện pháp QL hoạt động dạy học lànội dung, cáchthức, giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó của chủ thể QL.Trong QL giáo dục, biện pháp QL là tổ hợp nhiều cách thứctiến hành của chủ thể QL nhằm tác động đến đối tượng QL đểgiải quyết những vấn đề trong công tác QL, làm cho hệ QLvận hành đạt mục tiêu mà chủ thể QL đã đề ra và phù hợp vớiquy luật khách quan Trong nhà trường, biện pháp QL hoạtđộng dạy và học là những cách thức tổ chức, điều hành kiểmtra, đánh giá hoạt động dạy và học của cán bộ, GV và HSnhằm đạt được kết quả cao nhất đề ra

- Quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển tư duy phê phán

Trang 15

Quản lý giáo dục (QLGD) là hoạt động có ý thức của nhàQLGD tới khách thể giáo dục nhằm đạt tới mục tiêu quản lý(QL) Nhà QL cùng với đông đảo đội ngũ GV, HS, các lựclượng xã hội… bằng hành động của mình biến mục tiêu đóthành hiện thực Như vậy, quản lý HĐTNST thực chất là nhữngtác động của chủ thể QL vào hoạt động dạy học theo hướngphát triển TDPP nhằm góp phần hình thành và phát triển cácnăng lực, phẩm chất của HS theo mục tiêu đào tạo của nhàtrường.

Quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển TDPP là

QL một quá trình xã hội, một chương trình dạy học khá đặc thù,hình thức dạy học này bao gồm: Mục tiêu, nội dung giảng dạy,phương pháp cũng như hình thức tổ chức hoạt động dạy họctheo hướng phát triển TDPP, kiểm tra đánh giá hoạt động dạyhọc theo hướng phát triển TDPP của HS để điều chỉnh cho hiệuquả ngày càng tốt hơn Quản lý hoạt động dạy học theo hướngphát triển TDPP là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cơ bảnsau:

+ Cụ thể hóa mục tiêu hoạt động dạy học theo hướng pháttriển TDPP, các nhiệm vụ dạy học theo hướng phát triển TDPP

Trang 16

nhằm hình thành và phát triển năng lực tâm lý - xã hội, phẩmchất, nhân cách, giúp HS có khả năng và phát huy được tiềmnăng sáng tạo của cá nhân mình

+ Quản lý việc xây dựng và thực hiện nội dung hoạt độngdạy học theo hướng phát triển TDPP

+ Quản lý việc tổ chức hoạt động dạy học theo hướng pháttriển TDPP của giáo viên (xây dựng chương trình, soạn giáo án,chuẩn bị CSVC, tổ chức hoạt động, )

+ Quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển TDPPcủa học sinh (nề nếp, thái độ, kết quả )

+ Quản lý CSVC phục vụ cho hoạt động dạy học theohướng phát triển TDPP

- Các phương thứchoạt động dạy học cho học sinh tiểu học theo hướng phát triển năng lực tư duy phê phán

- Dạy học hợptác

- Dạy học giải quyết vấnđề

Một trong những xu hướng phát triển của nhà trường làgắn liền nhiệm vụ dạy học với mục đích phát triển trí tuệ của HS

Trang 17

vào thập kỉ 60 (thế kỉ XX), Vì thế đã xuất hiện mâu thuẫn giữa

một bên là yêu cầu ngày càng cao đối với quá trình dạy học vàmột bên là các PP tổ chức dạy học đã quá cũ kỹ Và nguyên tắcchung để mâu thuẫn được giải quyết hợp lý, đó là hoạt độngnhận thức của HS được tích cực hóa dưới ảnh hưởng của cáccâu hỏi nêu vấn đề và bài tập nêu vấn đề Hay nói cách khác,trên cơ sở HS tự lực phát hiện và GQVĐ Quy trình dạy họcGQVĐ gồm ba bước:

- Phát hiện vấn đề: Đưa HS vào tình huống có vấn Phân tích tình huống- Dự đoán vấn đề nảy sinh và đặt mục đíchxác minh tính đứng đắn của dự đoánđó

đề Giải quyết vấn đề: Phân tích mối quan hệ giữa dự kiện,điều kiện và vấn đề cần tìm- Đề xuất, lựa chọn hướng giải quyết

và tìm tòi lời giải- Thực hiện lời giải

- Kiểm tra và vận dụng: Kiểm tra tính hợp lý và tối ưu củalời giải; phát biểuchính xác vấn đề; xét khả năng ứng dụng của

nó và xếp vào hệ thống tri thức đã có;vận dụng vào tình huốngmới

Trang 18

Hạt nhân của quá trình điều khiển sự nghiên cứu của HS là

GV phải tạo được tình huống có vấn đề Về cơ bản hoạt độngcủa GV có thể là: Căn cứ vào khả năng hiện có của HS và cấutrúc lôgic của nội dung dạy học mà đƣa HS vào tình huống cóvấn đề một cách tự nhiên, không áp đặt nhằm giúp các em dễdàng phát hiện được vấn đề Điều khiển để tập hợp, lựa chọnkiếnthức cũ, phương thức hoạt động đã biết cần thiết cho việcGQVĐ định hướng cho HS tìm được giải pháp chủ yếu bằng hệthông câu hỏi được chuẩn bị sẵn sao cho giải quyết được vấn đề

đã đặtra

- Dạy học Thử - Sai

Kĩ thuật dạy học “Thử - Sai” là cách thức tổ chức dạy họcnhằm giúp học sinh hình thành thói quen hoài nghi khoa học(chấp nhận hay khước từ) khi tiếp nhận tri thức mới thông quaviệc trải nghiệm (Lê Thị Thanh Chung, 2009, 114), thực hiệncác thao tác “sai” và tự tiến hành lại các thao tác “đúng” trên cơ

sở vận dụng kiến thức, kĩ năng,kinh nghiệm đã có để phân tích,đánh giá những cái “sai” đã trải qua

Trang 19

Dựa trên mục tiêu phát triển lần lượt các năng lực thànhphần của năng lực tư duy phê phán, tác giả chia tiến trình sửdụng kĩ thuật dạy học “Thử – Sai” thành 4 giai đoạn sau:

- Giai đoạn “Bắt chước – Làm theo” là giai đoạn dạy họcnhằm mục đích giúp người học được trải nghiệm và thực hiệncác thao tác dẫn đến kết quả “sai” theo sự hướng dẫn, gợi ý từgiáo viên

- Giai đoạn “So sánh – Đối chiếu” là giai đoạn dạy họcnhằm mục đích yêu cầu người học giải thích nguyên nhân dẫnđến kết quả “sai”, trên cơ sơ vận dụng kiến thức, kĩ năng, kinhnghiệm đã có để so sánh, đối chiếu kết quả thực hiện với kếtquả“đúng”

- Giai đoạn “Đề xuất – Thực hiện” là giai đoạn dạy họcnhằm mục đích yêu cầu người học tự xây dựng quy trình thựchiện các thao tác mới để dẫn đến kết quả đúng trên cơ sở phântích, đánh giá cái “sai” đã trảiqua

- Giai đoạn “ Lựa chọn – Tối ưu” giai đoạn dạy học nhằmmục đích yêu cầu người học tự đề xuất, lựa chọn giải pháp tối

Trang 20

ưu để thực hiện các nhiệm vụ, tình huống học tập mới do giáoviên đưa ra.

- Các bước tiến hành các hoạt động dạy học cho học sinh tiểu học theo hướng phát triển năng lực tư duy phê phán.

Theo Trần Văn Thắng(2016), có 5bước tiến hành các hoạtđộng dạy học theo hướng phát triển năng lực tư duy phê phán:

- Bước 1 Tình huống xuất phát/câu hỏi nêu vấn đề:

Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là mộttình huống do giáo viên chủ động đưa ra như là một cách dẫnnhập vào bài học Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi

dễ hiểu đối với học sinh Tình huống xuất phát nhằm lồng ghépcâu hỏi nêu vấn đề Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việcdẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ Tuy nhiên có nhữngtrường hợp không nhất thiết phải có tình huống xuất phát mới

đề xuất được câu hỏi nêu vấn đề (tùy vào từng kiến thức và từngtrường hợp cụ thể).Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bàihọc Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình

độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìmtòi của học sinh nhằm chuẩn bị tâm thế cho các em trước khi

Trang 21

khám phá, lĩnh hội kiến thức Giáo viên phải dùng câu hỏi mở,không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối vớicâu hỏi nêu vấn đề Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêucầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ thựchiện thành công.

- Bước 2 Giúp học sinh bộc lộ ý tưởng ban đầu:

Hình thành ý tưởng ban đầu của học sinh là bước quantrọng của quá trình dạy học theo hướng phát triển NL Bước nàykhuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầucủa mình trước khi được học kiến thức Để hình thành ý tưởngban đầu, giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ

đã học có liên quan đến kiến thức mới của bài học Khi yêu cầuhọc sinh trình bày ý tưởng ban đầu, giáo viên có thể yêu cầunhiều hình thức biểu hiện của học sinh, có thể là bằng lời nói(thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểuhiện suy nghĩ

- Bước 3 Đề xuất phương án thực hành/ giải quyết vấn đề”

Từ những khác biệt và phong phú về ý tưởng ban đầu củahọc sinh, giáo viên giúp các em đề xuất các câu hỏi từ những sự

Trang 22

khác biệt đó Chú ý xoáy sâu vào những sự khác biệt liên quanđến kiến thức trọng tâm của bài học.Ở bước này, giáo viên cầnkhéo léo chọn lựa một số ý tưởng ban đầu khác biệt trong lớp đểgiúp học sinh so sánh, từ đó giúp học sinh đặt câu hỏi liên quanđến nội dung bài học Đây là một bước khá khó khăn vì giáoviên cần phải chọn lựa các ý tưởng ban đầu tiêu biểu của họcsinh một cách nhanh chóng theo mục đích dạy học, đồng thờilinh hoạt điều khiển thảo luận của học sinh nhằm giúp học sinh

đề xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó theo ý đồ dạy học

- Bước 4 Tiến hành giải quyết vấn đề:

Từ các phương án thực hành/ giải quyết vấn đề mà họcsinh nêu ra, giáo viên khéo léo nhận xét và gợi ý để học sinh lựachọn phương án tiến hành Ưu tiên thực hiện các phương ánthực hành trực tiếp trên vật thật Một số trường hợp không thểtiến hành trên vật thật có thể sử dụng mô hình, hoặc cho họcsinh quan sát tranh vẽ

Khi học sinh thực hành, giáo viên bao quát lớp, quan sáttừng em/ nhóm Nếu thấy học sinh hoặc nhóm nào làm sai yêucầu thì giáo viên chỉ nhắc nhở riêng, không nên thông báo

Trang 23

chung cho cả lớp vì làm như vậy sẽ phân tán tư tưởng và ảnhhưởng đến công việc của các học sinh/ nhóm khác.

- Bước 5 Kết luận, hợp thức hóa kiến thức:

Sau khi thực hiện hoạt động thực hành giải quyết vấn đề, cáccâu hỏi dần dần được giải quyết, kiến thức được hình thành, tuynhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoahọc Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để họcsinh ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học

-Quản lý hoạt động dạy học cho học sinh các trường tiểu học theo hướng phát triển năng lực tư duy phê phán.

- Quản lý mục tiêu hoạt động dạy học cho học sinh tiểu học theo hướng phát triển năng lực tư duy phê phán.

* Đối với giáoviên:

Đảm bảo tính logic của quá trình phát triển năng lực, nghĩa

là các năng lực thành phần của năng lực tư duy phê phán đượcphát triển lần lượt thông qua các hoạt độngsau:

- Năng lực phân tích vấn đề của học sinh được hình thành

và phát triển khi tiến hành giai đoạn “So sánh – Đối chiếu”

Trang 24

- Năng lực đánh giá vấn đề của học sinh được hình thành

và phát triển khi tiến hành giai đoạn “Đề xuất – Thực hiện”

- Kỹ năng giải quyết vấn đề của học sinh được hình thành

và phát triển khi tiến hành giai đoạn “Lựa chọn – Tối ưu”

- Tạo môi trường thuận lợi để hình thành và phát triểnnăng lực tư duy phê phán cho học sinh

- Khơi gợi tiềm năng phê phán ở học sinh khi tiếp nhậncáimới

- Kích thích nhu cầu phê phán ở họcsinh

- Nhanh chóng, dễ dàng đánh giá sự phát triển năng lực tưduy phê phán bởi lẽ kết thúc một giai đoạn dạy học là kết quảcủa các năng lực thành phần xuấthiện

Không phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện cơ sở vật chất củanhà trường

* Đối với họcsinh:

- Giúp học sinh hình thành và nhận thức đúng đắn động cơphê phán

Ngày đăng: 18/06/2019, 19:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w