1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN về đào tạo NGHỀ điện dân DỤNG PHỤC vụ HIỆN đại hóa sản XUẤT NÔNG NGHIỆP địa PHƯƠNG ở TRUNG tâm GIÁO dục NGHỀ NGHIỆP GIÁO dục THƯỜNG XUYÊN cấp HUYỆN

77 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 66,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giữ vị trí siêu cường vềkinh tế và khoa học, công nghệ, chiến lược nguồn nhân lựctập trung vào đào tạo nguồn nhân lực và thu hút nhân tài.Trong đào tạo nguồn nhân lực, Mỹ đã xây dựng

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ ĐIỆN DÂN DỤNG PHỤC VỤ HIỆN ĐẠI HÓA SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC

THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN

Trang 2

Tổng quan về tình hình nghiên cứu vấn đề:

Nghiên cứu ở nước ngoài

Nghiên cứu về đào tạo nghề nói chung, đào tạo nghềđiện dân dụng nói riêng để phát triển kinh tế và để hiện đạihóa nông nghiệp đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu ởnhiều quốc gia nói chung UNESCO đã tổ chức các cuộc hộithảo, nghiên cứu về vấn đề đào tạo nghề Trong đó, vấn đềđào tạo nghề tại trường, Trung tâm dạy nghề và doanhnghiệp được quan tâm hàng đầu UNESCO đưa ra quanđiểm định hướng cho tất cả các nước về kết hợp đào tạonghề tại Trung tâm và Doanh nghiệp sản xuất bao gồm haihướng cơ bản sau:

Tăng cường năng lực thực hiện hệ thống song hành sửa

đổi (Modified Dual System) để tiến hành học tập tại nơi làm

việc cùng với học tập tại trường

Nghiên cứu các phương thức kết hợp học tập tại trườngvới học tập tại nơi làm việc, ví dụ: kết hợp đào tạo

Trên thế giới, ở nhiều nước đã nghiên cứu, áp dụng kếthợp đào tạo tại trường và Doanh nghiệp sản xuất Điển hình

Trang 3

Mỹ đã xác định rõ phương châm “nguồn nhân lực làtrung tâm của mọi sự phát triển” Để giữ vị trí siêu cường vềkinh tế và khoa học, công nghệ, chiến lược nguồn nhân lựctập trung vào đào tạo nguồn nhân lực và thu hút nhân tài.Trong đào tạo nguồn nhân lực, Mỹ đã xây dựng một hệ thốnggiáo dục với hai đặc trưng là tính đại chúng và tính khaiphóng, hệ thống giáo dục Mỹ đặc biệt coi trọng giáo dục đạihọc, ở Mỹ có 4200 trường đại học, cao đẳng, đảm bảo chomọi người dân có nhu cầu đều có thể tham gia vào cácchương trình đào tạo cao đẳng, đại học Ở Mỹ, hệ thống cáctrường cao đẳng, đại học cộng đồng phát triển mạnh đảm bảotính đại chúng trong giáo dục đại học, các trường này hướngvào đào tạo kỹ năng làm việc (đào tạo nghề) cho người laođộng, hiện ở Mỹ 78% có khoảng dân số tốt nghiệp đại học,cao đẳng và trung học chuyên nghiệp Ở Mỹ, phát triển cảnhững trường đại học cộng đồng và đại học nghiên cứu Tỷ lệcác trường nghiên cứu và đại học cộng đồng là 1/30, nghĩa là

cứ 1 trường đại học nghiên cứu thì có tới 30 trường đại họccộng đồng Trong giáo dục đại học ở Mỹ, tính cạnh tranh giữacác trường rất khốc liệt Các trường đại học khẳng định mình

Trang 4

bằng chính chất lượng giảng dạy và tự xây dựng thương hiệuriêng cho mình Nếu sinh viên vào được các trường đại họctốt, nổi tiếng và học giỏi, cơ hội có việc làm sẽ tăng lên rấtnhiều Cùng với việc đầu tư nhiều tiền từ ngân sách nhà nướccho đào tạo nhân lực thì Mỹ còn huy động được nhiều nguồnlực khác từ trong xã hội vào công tác đào tạo nhân lực Cáccông ty ở Mỹ cũng rất chú ý phát triển nguồn nhân lực, đàotạo nhân công.Từ năm 1992, chi phí đào tạo nhân công ở cáccông ty đã lên tới 210 tỷ USD; năm 1995 chi phí đó lên tới

600 tỷ USD, năm 2000 là trên 800 tỷ USD và đến nay lên tới

gần 1.000 tỷ USD ( theo trang thông tin điện tử " Tuyên giáo"

đăng ngày 30/10 năm 2014)

Ở Đức, việc phân luồng sớm học sinh phổ thông đượcthực hiện ngay từ cấp trung học cơ sở, cấp trung học cơ sởđược thiết kế để trang bị cho học sinh đủ trình độ đáp ứng cácyêu cầu của trung học phổ thông dẫn đến một trình độ nghềnghiệp Học sinh tốt nghiệp các loại trường THCS được tiếptục học lên theo các luồng ưu tiên trung học phổ thông, trunghọc nghề (giáo dục phổ thông kết hợp với giáo dục nghềnghiệp) và giáo dục nghề nghiệp là chủ yếu

Trang 5

Sự gắn kết giữa đào tạo nhân lực với phát triển kinh tế,nhu cầu của thị trường lao động ở Đức cũng rất chặt chẽ Nhucầu lao động của các công ty được đáp ứng một cách phù hợpthông qua việc ký hợp đồng đào tạo, bồi dưỡng nghề với họcsinh, người lao động Kế hoạch triển khai đào tạo nghề do cácbang, các địa phương xác định tùy thuộc vào sự phát triển của

cơ cấu kinh tế, thị tường lao động Phục vụ cho chức nănghoạt động của hệ thống, ở Đức có một cơ sở hạ tầng thông tinbao quát trên diện rộng về các lĩnh vực ngành nghề

Trong hệ thống các trường đại học của Đức có hai loạitrường tạo thành hai trụ cột phân biệt nhau là trường đại họckhoa học hay đại học nghiên cứu và trường đại học thực hành.Các trường đại học thực hành có đặc trưng là gắn liền vớithực tiễn, thời gian đào tạo chỉ 3 đến 4 năm, nghiên cứu ở cáctrường này đóng vai trò ít hơn và chỉ giới hạn ở những nghiêncứu và triển khai theo hướng ứng dụng Hiện nay, ở Đức cóchính sách liên thông từ đại học thực hành sang đào tạo sauđại học ở các trường đại học tổng hợp đảm bảo nhu cầu củamọi người dân Sở hữu tư nhân trong khu vực đại học thựchành mạnh hơn nhiều so với đại học tổng hợp Chính phủ Đứccũng huy động sự tham gia tích cực và hiệu quả của các lực

Trang 6

lượng xã hội vào đào tạo nhân lực Ở Đức các nhà máy, doanhnghiệp tự nguyện tham gia đào tạo nghề trong hệ thống songhành Các xí nghiệp tư nhân cũng như các cơ quan, tổ chứctham gia đào tạo ngoài xí nghiệp được thực hiện rộng rãi việcđào tạo ngề nhưng phải tuân thủ theo quy định của Nhà nước

đã ghi trong luật dạy nghề

Ở Cộng hòa Pháp, việc đào tạo kết hợp tại trường vàDoanh nghiệp sản xuất đã và đang được nghiên cứu, áp dụng.Điển hình là mô hình đào tạo “luân phiên” (Alternation) của

Viện IFABTP (Viện đào tạo luân phiên về Xây dựng và Công

trình công cộng) Mô hình này tỏ ra phù hợp với điều kiện hiện

nay ở nước ta, nhưng về phương diện tổ chức đào tạo sẽ gặpmột số khó khăn nhất định

Nghiên cứu về vai trò, lợi ích của việc đào tạo nghềđiện dân dụng đã và đang từng bước được nghiên cứu ởchâu Á, đáng chú ý là ở nước có điều kiện kinh tế - xã hộikhông khác xa so với Việt Nam Ở Trung Quốc, quán triệtquan điểm “Ba kết hợp” (Đào tạo, sản xuất và dịch vụ) "Batrong một" là quan điểm được quán triệt trong đào tạo nghề

ở Trung Quốc hiện nay: Đào tạo, sản xuất, dịch vụ Theo đó,các trường dạy nghề phải gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản

Trang 7

xuất và dịch vụ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chấtlượng đào tạo nghề.

Là một nước không giàu tài nguyên, Hàn Quốc cũng sớmxác định việc phát triển nguồn nhân lực chính là yếu tố quyếtđịnh sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Thực tế, giáo dục đãchuyển Hàn Quốc thành một quốc gia có nguồn nhân lực dồidào, được giáo dục tốt, có kỷ luật cao và kỹ năng lành nghề và

là nguyên nhân tạo nên thần kỳ của kinh tế Hàn Quốc, tích tụtri thức thông qua giáo dục và đào tạo đóng góp 73% vào tốc

độ tăng trưởng kinh tế của Hàn quốc

Chính phủ Hàn Quốc coi đào tạo nhân lực là nhiệm vụ ưutiên trong giáo dục để đảm bảo có nguồn nhân lực đáp ứng yêucầu công nghiệp hóa Giáo dục được thực hiện song hành vớitiến trình công nghiệp hóa Trong giai đoạn đầu của côngnghiệp hóa, vào những năm 60 đến những năm 70 của thế kỷ

XX, Hàn Quốc tập trung vào phát triển công nghiệp nhẹ vàđiện tử, Hàn Quốc đã tập trung hoàn thành phổ cập giáo dụctiểu học, phát triển giáo dục trung học cơ sở, khuyến khíchtrung học nghề và kỹ thuật, hạn chế chỉ tiêu giáo dục đại học.Đạo luật đào tạo nghề năm 1967 ra đời đã khuyến khích các tổchức, doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề nhằm tạo ra lực

Trang 8

lượng lao động có kỹ năng cho các doanh nghiệp có nhu cầu.Các trường, trung tâm dạy nghề phát triển nhanh và ngày càng

mở rộng quy mô Sang những năm 80, khi chuyển từ sản xuấtcông nghệ trung bình sang công nghệ cao, Hàn Quốc tập trung

mở rộng quy mô giáo dục phổ thông, đẩy mạnh đào tạo nghề,nới rộng chỉ tiêu nhập đại học theo hướng phát triển các trườngcao đẳng nghề và kỹ thuật Các trình độ từ dạy nghề đến trungcấp, cao đẳng, đại học, sau đại học được thường xuyên điềuchỉnh về quy mô và chất lượng cho phù hợp với đòi hỏi vềnguồn nhân lực của tiến tình công nghiệp hóa Hiện nay,để đápứng yêu cầu của kinh tế tri thức, Hàn Quốc có tỷ lệ dân số tốtnghiệp đại học cao so với các nước trong Tổ chức hợp tác vàphát triển kinh tế khác, năm 2000, tỷ lệ học đại học của dân sốHàn Quốc là 78% Tuy nhiên, Hàn Quốc vẫn chú ý củng cốgiáo dục phổ thông làm nền móng cho công tác đào tạo nhânlực Cải cách giáo dục được coi là nhiệm vụ thường xuyên,liên tục, hiện nay Hàn Quốc vẫn đang tiến hành cải cách giáodục lần thứ 6 Hàn Quốc quan niệm giáo dục và đào tạo nguồnnhân lực phải bắt nhịp với yêu cầu phát triển kinh tế Giáo dụcgiáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật được coi trọng ngay từ cấptrung học Ngay trong chương trình giáo dục phổ thông, tính

Trang 9

thực hành được coi trọng hơn tính hàn lâm, yêu cầu phânluồng được thực hiện ráo riết Sau khi tốt nghiệp trung học cơ

sở, học sinh được phân luồng vào trường trung học phổ thông

và trung học nghề (bao gồm cả trường trung học thuộc cáchãng công nghiêp), năm 2005 có 70% vào trung học phổthông và 30% vào trung học nghề Với sự ra đời của Luật thúcđẩy giáo dục công nghiệp, các trường trung học nghề, chươngtrình đào tạo công nghiệp và đào tạo tại nhà máy phát triển rấtmạnh mẽ ở Hàn Quốc

Các nhà lãnh đạo Singapore quan niệm: thắng trongcuộc đua về giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua về phát triểnkinh tế Vì vậy, Chỉnh phủ đã dành một khoản đầu tư lớn đểphát triển giáo dục, từ 3% GDP lên 5% trong thập niên đầucủa thế kỷ XI, hiện nay đầu tư cho giáo dục và đào tạo chiếmkhoảng 10% GDP của Singapore Singapo thực hiện phânluồng học sinh sớm, chương trình tiểu học 6 năm, 4 năm đầu

có giáo trình chung và giai đoạn định hướng 2 năm Cuối cấptham gia kỳ thi kết thúc bậc tiểu học, xếp lớp cho bậc trunghọc cơ sở gồm đặc biệt, cấp tốc, bình thường (văn hóa), bìnhthường (kỹ thuật) Sau 4 năm học THCS, học sinh lớp bìnhthường cấp trình độ N, đặc biệt và cấp tốc trình độ O Những

Trang 10

học sinh trình độ N nếu có nguyện vọng và khả năng có thểhọc thêm 1 năm nữa để lấy trình độ O Các học sinh có chứngchỉ trình độ N theo các khóa đào tạo về kỹ năng, kỹ thuật tạiHọc viện đào tạo kỹ thuật nơi đào tạo nghề dành cho học sinh

đã hoàn thành trung học cơ sở, với trình độ O có thể học cáctrường cao đẳng kỹ thuật hoặc dự bị đại học để học đại học.Việc phân loại bậc trung học cơ sở thành nhiều chương trình,trong đó các chương trình bình thường có mục đích là chuẩn

bị kiến thức cho học sinh trước khi theo học các trường dạynghề hay cao đẳng kỹ thuật sau khi tốt nghiệp trung học cơ

sở Đào tạo kỹ thuật và đào tạo nghề đóng vai trò quan trọngtrong cải cách không ngừng nền giáo dục Singapore Kỹ thuật

và công nghệ trong đó có điện dân dụng luôn là ưu tiên hàngđầu trong đào tạo, tiếng anh, toán và các môn khoa học làmôn học bắt buộc chiếm 1/3 thời lượng chương trình và nhànước đầu tư xây dựng các học viện kỹ thuật và dạy nghề

Ở Thái Lan, một trong những mục tiêu chiến lược của kếhoạch phát triển quốc gia lần thứ 8 (1997- 2001) và lần thứ 9(2002 - 2006) của Thái Lan tập trung vào phát triển nguồnnhân lực trong nền kinh tế năng động Thực tế đào tạo nghềchưa đáp ứng được yêu cầu nguồn lao động kỹ thuật Để có

Trang 11

nhân lực kỹ thuật phục vụ tại các doanh nghiệp sản xuất, họ

đã tổ chức đào tạo tại xưởng sản xuất của mình Tuy nhiên,đây chỉ là biện pháp tình thế trước mắt trong thời gian đếnnăm 1998 Đến năm 1999, Chính phủ Thái Lan đã nghiên cứu

và xây dựng "Hệ thống hợp tác đào tạo nghề" (Cooperative

Training System) để giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo

nghề và sử dụng nói trên và hướng tới phát triển nhân lực kỹthuật trong tương lai

Ở Nhật Bản, được Chính phủ hỗ trợ, các doanh nghiệpvừa và nhỏ cùng hợp tác thành lập trung tâm đào tạo nghề.Dạy lý thuyết tại trung tâm và thực tập sản xuất tại các doanhnghiệp

Kết quả nghiên cứu mô hình đào tạo nghề ở các nướctrên thế giới cho thấy, nguồn lực từ đào tạo nghề nói chung vàđào tạo nghề điện dân dụng nói riêng là một nhân tố quantrọng trong quá trình đào tạo nghề ở các cơ sở giáo dục nghềnghiệp Quá trình đào tạo nghề điện dân dụng ở các cơ sở đàotạo nghề nói chung và ở Trung tâm GDNN -GDTX huyệnNinh Giang nói riêng là một trong những nhân tố đảm bảogắn kết giữa đào tạo và sử dụng, góp phần không nhỏ vào

Trang 12

phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp ởđịa phương.

-Nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề huy động Doanh nghiệp,

xã hội hoá giáo dục để phát triển giáo dục nói chung, giáo dụcnghề nghiệp nói riêng đã thu hút sự quan tâm rất lớn của cácnhà khoa học về giáo dục, các nhà quản lý giáo dục, cácchuyên gia Kết quả nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thựctiễn của các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, muốn đổi mới vàphát triển giáo dục và đào tạo thì yếu tố nguồn lực đóng vaitrò hết sức quan trọng Sự phát triển giáo dục và nhu cầu họctập của người dân ngày càng tăng đã khiến cho không mộtquốc gia nào trên thế giới đủ giàu để có thể bao cấp toàn bộcho nền giáo dục quốc dân, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp

Nhận thức được vai trò của đào tạo nghề nói chung vàđào tạo nghề điện dân dụng nói riêng trong sự nghiệp côngnghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước nói chung và hiện đạihóa sản xuất nông nghiệp nói riêng Ngay từ những năm đầucủa công cuộc đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã hết sức chútrọng đến việc đào tạo nghề, trong đó có nghề điện dân dụng

Trang 13

để phát triển kinh tế đất nước nói chung và kinh tế nôngnghiệp nông thôn nói riêng Đây là một chủ trương lớn đãđược triển khai rất có hiệu quả trong những thập niên qua.Việc huy động nguồn lực xã hội cho giáo dục, đào tạo nghềkhông chỉ phương diện tài chính, vật lực mà cần đặc biệtchú trọng đến huy động trí lực và nhân lực Nghị quyết kỳhọp thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương khóa XI tiếp tục

khẳng định “Khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và

phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học

và trình độ đào tạo Tăng tỷ lệ trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Hướng tới có loại hình cơ sở giáo dục do cộng đồng đầu tư Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kỹ năng nghề tại cơ sở sản xuất, kinh doanh Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học”.

Nghị quyết 29 NQ/TW, ngày 04/11/2013 Hội nghị lầnthứ VIII Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã tạo cơ hộicho việc huy động nguồn lực xã hội để phát triển và đổi mớigiáo dục và đào tạo đồng thời cũng đòi hỏi một sự thay đổi về

tư duy và phương thức quản lý giáo dục, sự đổi mới về thể

Trang 14

chế và tái cơ cấu hệ thống sao cho việc huy động được thựchiện đúng hướng, toàn diện và hiệu quả Đảng và Nhà nước tangày càng quan tâm tạo điều kiện để cho nhà trường huy độngnguồn lực Doanh nghiệp để hợp tác với nhà trường trong đàotạo nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, nhất làtrong những năm gần đây đã ban hành cơ chế chính sáchthông thoáng giúp cho sự hợp tác này được thuận lợi Điềunày được cụ thể hóa trong Luật giáo dục năm 2005, Luật dạynghề năm 2006 và Điều lệ trường Cao đẳng nghề năm 2007,Điều lệ trường Trung cấp nghề năm 2007, Điều lệ trường trungcấp chuyên nghiệp năm 2008, Quy chế mẫu của trung tâm dạynghề năm 2007, v.v Mặc dù có cơ chế, chính sách thuận lợinhư vậy song ở nước ta, cho đến hiện nay có thể nói, thựctrạng việc huy động nguồn lực Doanh nghiệp cũng như mốiquan hệ hợp tác giữa nhà trường với Doanh nghiệp trong đàotạo nghề còn nhiều yếu kém và cũng có rất ít công trìnhnghiên cứu về vấn đề này Mặc dù có cơ chế, chính sáchthuận lợi như vậy tuy nhiên ở nước ta, cho đến hiện nay có thểnói, thực trạng mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường vớiDoanh nghiệp trong đào tạo nghề, bản thân công tác dạy nghề

Trang 15

ở các cơ sở dạy nghề nói chung còn nhiều yếu kém và cũng

có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này

Một số công trình khoa học nghiên cứu việc thực hiệnchủ trương của Đảng trong lĩnh vực đào tạo nghề Trong cáccông trình đó cần nêu lên các đề tài nghiên cứu khoa học củacác nhà khoa học công tác tại Công đoàn Giáo dục Việt Nam,Viện Khoa học Giáo dục, Ban Khoa giáo Trung ương của cáctác giả Nguyễn Mậu Bành, Võ Tấn Quang, Nguyễn ThanhBình, Nguyễn Văn Bảy, Thái Hoà Những nhân tố mới vềgiáo dục trong công cuộc đổi mới, NXB Giáo dục Hà Nội.Việc nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ nhất về đàotạo nghề ở Việt Nam đã được triển khai từ những năm đầu thế

kỷ 21 với đề tài độc lập cấp nhà nước “Cơ sở lý luận, thựctiễn và các biện pháp xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2001-2010” do Trần Quốc Toản chủ trì đã lý giải khá sâu sắc vềvấn đề xã hội hoá giáo dục, trong đó đề cập đến việc huyđộng nguồn lực cho đào tạo nghề

Những nghiên cứu nêu trên cũng như chính sách hiệnnay về huy động nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục- đàotạo nghề đang có những khoảng cách so với thực tiễn Điều

đó khiến cho tiến trình hóa bị chậm lại và có những biểu hiện

Trang 16

đi lệch khỏi mục tiêu ban đầu mà cụ thể là nặng về huy độngtài chính, chưa quan tâm đúng mức đến huy động nhân lực vàtrí lực từ xã hội.

Đề tài Các biện pháp nhằm tăng cường mối quan hệ giữatrường Trung học Kỹ thuật xây dựng Hà Nội với các đơn vịsản xuất" và luận án "Nghiên cứu các biện pháp nhằm nângcao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật xây dựng ở Thủ đô

Hà Nội" Các tác giả đã phân tích mô hình đào tạo kép ởCHLB Đức, mô hình đào tạo "luân phiên" (Alternation) ởPháp và đưa ra một số biện pháp trong việc kết hợp đào tạogiữa trường Trung học Kỹ thuật xây dựng Hà Nội với các đơn

vị sản xuất Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hìnhthức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và tại cơ sở sảnxuất Trong công trình này, tác giả đã phân tích một số "hìnhthức kết hợp" ở các nước Mỹ la tinh và đào tạo nghề songtuyến ở CHLB Đức và đề xuất thực hiện một số mô hình kếthợp ở Việt Nam Biện pháp đề ra chủ yếu tập trung vào

"quan hệ giữa nhà trường và đơn vị sản xuất", chưa đi sâu vàovấn đề kết hợp đào tạo

Đề tài nghiên cứu khoa học xây dựng mô hình liên kếtdạy nghề giữa nhà trường và doanh nghiệp Đây là đề tài

Trang 17

nghiên cứu điển hình tập trung nhất vào "mô hình liên kết"giữa nhà trường và doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay.

Đề tài đã giải quyết được những vấn đề cơ bản đáng quantâm liên quan đến kết hợp đào tạo nghề như: cơ sở thực tiễn

để xây dựng mô hình liên kết, đánh giá các mô hình liên kếtgiữa nhà trường và doanh nghiệp, đề xuất các mô hình liênkết khả thi, đề xuất một số biện pháp chung thực hiện môhình liên kết Tuy nhiên, tác giả đề tài chưa đi sâu vàonghiên cứu nội dung các thành tố kết hợp, các cơ sở khoahọc luận, các biện pháp đề xuất cần được bổ sung và cụ thểhơn

Kết quả nghiên cứu lý luận cho thấy vấn đề huy độngnguồn lực cho đào tạo nghề điện dân dụng để đáp ứng nhucầu phát triển đã được các nhà khoa học các nước trên thếgiới và Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu; nội dung cáccông trình khoa học chủ yếu đề cập đến biện pháp huy độngnguồn lực xã hội, xã hội hoá giáo dục để phát triển giáo dục,rất ít có công trình khoa học cụ thể nghiên cứu về mô hìnhđào tạo hiệu quả, cách thức đào tạo nghề điện dân dụng hiệuquả để đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá sản xuất nông nghiệptại mỗi địa phương, đặc biệt là nghiên cứu việc đào tạo nghề

Trang 18

điện dân dụng phục vụ hiện đại sản xuất nông nghiệp địaphương ở trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dụcthường xuyên huyện Ninh Giang thì chưa có tác giả nàonghiên cứu

- Một số khái niệm cơ bản của luận văn.

- Khái niệm nghề, đào tạo nghề

- Khái niệm nghề

Theo tiếng La tinh "Professio" - nghề có nghĩa là côngviệc chuyên môn được hình thành một cách chính thống, làdạng lao động đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó, là hoạtđộng cơ bản giúp con người tồn tại Như vậy, Nghề là mộtloại hình hoạt động mang tính chất riêng, đặc thù của conngười, nó được hình thành và phát triển theo sự phát triểncủa xã hội loài người Đó là một dạng lao động vừa mangtính xã hội, vừa mang tính cá nhân, trong đó con người với tưcách là chủ thể hoạt động đòi hỏi thỏa mãn những yêu cầunhất định của xã hội, của cá nhân

Theo E.A Climôv thì: "Nghề nghiệp là một lĩnh vực sửdụng sức lao động vật chất và tinh thần con người một cách

Trang 19

có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công xã hội màcó) Nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động củamình để thu lấy phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và pháttriển"

Theo từ điển Tiếng Việt: “ Nghề là công việc chuyênmôn làm theo sự phân công lao động xã hội.” Với sự pháttriển của khoa học kỹ thuật hiện nay, muốn hành nghề tốt,mỗi người phải trải qua quá trình đào tạo theo một chươngtrình quy định với những kiến thức, kỹ năng và thái độ cầnthiết theo yêu cầu của thị trường lao động để có thể hànhnghề

Như vậy, theo chúng tôi, nghề là một dạng lao động đòi hỏicon người phải trải qua một quá trình đào tạo chuyên biệt để cónhững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nhất định Nhờquá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo ra sảnphẩm để thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân và đáp ứng nhucầu của xã hội

-Khái niệm đào tạo nghề

Theo Điều 5, Luật dạy nghề năm 2006 thì đào tạo nghề là:

“Hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái

Trang 20

độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm đượcviệc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”.

Tại Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm

2014, “ Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm

trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiếtcho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việclàm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độnghề nghiệp” Hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là quátrình tác động có mục đích, có tổ chức đến người học nghề đểhình thành và phát triển một cách có hệ thống những kiếnthức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứngnhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầudoanh nghiệp và nhu cầu bản thân người học nghề

Qua phân tích khái niệm trên cho ta thấy, đào tạo nghềbao gồm hai quá trình có quan hệ cơ hữu với nhau đó là:

+ Dạy nghề: Là quá trình giáo viên truyền bá những kiếnthức về lý thuyết và thực hành để người học có được kiếnthức, trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhấtđịnh về nghề nghiệp;

Trang 21

+ Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lýthuyết và thực hành của người học để đạt được một trình độnghề nghiệp nhất định đáp ứng yêu cầu của nghề

Đào tạo nghề cho người học là giáo dục kỹ thuật laođộng, sản xuất cho họ để họ nắm vững kiến thức,kĩ thuật, kĩnăng nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo nghề mới,đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề

- Khái niệm nghề điện dân dụng

Điện dân dụng ( Electrical); nghề điện dân dụng(Electric business); nghề sửa chữa, lắp đặt điện dân dụng(Repaiing,Installing Civill electriccity)

Trên thực tế chưa có tài liệu nghiên cứu nào đưa ra kháiniệm cụ thể hay định nghĩa rõ ràng, chi tiết về “Nghề điện dândụng” tuy nhiên dựa trên các tài liệu giảng dạy về “ Nghề điệndân dụng” của lớp 8, lớp 11 của Bộ giáo dục và Đào tạo cũngnhư 1 số tài liệu giảng dạy về “ Nghề điện dân dụng” của 1 số

cơ sở dạy về “Nghề điện dân dụng” ta có thể hiểu như sau: “Nghề điện dân dụng là nghề mà người lao động có các thaotác chuyên môn như: lắp đặt mạng điện, sửa chữa thiết bị điện( biến áp, động cơ, đồng hồ đo điện ) với các đối tượng lao

Trang 22

động là các nguồn điện 1 chiều, xoay chiều, điện áp thấp, điện

áp cao, công suất nhỏ, công suất lớn; các vật tư kĩ thuật điện;khí cụ điện, đồ dùng điện, thiết bị điện; đường dây, mạchđiện Trong đó người lao động phải thực hiện các nội dunglao động như: phán đoán phát hiện những hư hỏng của mạngđiện, khí cụ điện, đồ dùng điện, thết bị điện; kiểm tra xác địnhnhững hư hỏng về điện, cơ; tiến hành sủa chữa, khôi phụcchức năng của mạch điện, thiết bị điện, đảm bảo sự cung cấpliên tục điện năng và sủa dụng tốt điện năng; bảo dưỡng vàđiều chỉnh thiết bị điện, bảo dưỡng mạng điện

- Khái niệm hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp

- Khái niệm về hiện đại hoá

Hiện đại hóa là quá trình ứng dụng, trang bị những thànhtựu công nghệ tiên tiến hiện đại vào quá trình sản xuất kinhdoanh dịch vụ và quản lý xã hội

Diễn trình lịch sử của loài người đã từng chứng kiếnnhiều thay đổi cả về mặt cá thể cũng như loài Những thay đổi

ấy luôn được đánh dấu bằng những cột mốc của những thayđổi xã hội: Đó là những cuộc cách mạng và tương ứng với nó

là những nền văn minh nào đó Tuy nhiên, trong rất nhiều cột

Trang 23

mốc ấy thì chỉ một cột mốc (mà từ đó lịch sử loài người cómột bước ngoặt đáng kể, cột mốc này gắn chặt với những thayđổi căn bản bởi cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật) sản sinh

ra thuật ngữ hiện đại hoá (modernization)

Ngày nay, từ hiện đại đã được dùng để chỉ những đặc tínhchung trong các quốc gia phát triển, trong sự phát triển khôngchỉ ở phương diện kinh tế mà còn ở cả các lĩnh vực như chínhtrị và xã hội Và “Hiện đại hoá” được dùng để mô tả diễn trìnhphát triển của các xã hội đã thủ đắc được những đặc tính đó.Mặc dù thuật ngữ “Hiện đại hoá” bao giờ cũng gắn chặt với sựphát triển khoa học công nghệ (mà khoa học công nghệ thì lạiđược bắt đầu từ châu âu), nhưng nội hàm của nó không chỉ là sự

du nhập, theo quan niệm “Châu âu hoá” vào một quốc gia nào

đó

Theo O E Black- một học giả Mỹ- thì “Hiện đại hoá"

có thể được định nghĩa là: Một diễn trình trong đó những địnhchế cổ truyền phải được thích ứng hoá với những nhiệm vụđang thay đổi mau chóng Sự kiện đó phản chiếu sự gia tăngkiến thức của nhân loại, cho phép nhân loại kiểm soát khungcảnh và diễn trình “Hiện đại hoá” xẩy ra đồng thời với cuộccách mạng khoa học Diễn trình của sự thích ứng này phát

Trang 24

xuất tại xã hội Tây âu và chịu ảnh hưởng của những xã hội

đó Nhưng kể từ thế kỷ 19 và 20 những sự cải biến đó đã lanrộng đến cả những xã hội khác và đem lại một sự cải biếntoàn diện trong tương quan nhân loại Các nhà chính trịthường hạn chế danh từ “Hiện đại hoá" trong những cải biếnchính trị và xã hội đi theo sau quá trình kỹ nghệ hoá

Như vậy, Clack muốn nhấn mạnh đến một cách hiểutổng thể với sự phức tạp và hỗ tương liên hệ của mọi khíacạnh của diễn trình hiện đại hoá này Nói cách khác, hiện đạihoá không đơn thuần chỉ là sự chấp nhận và áp dụng những

ưu điểm của danh từ hiện đại hoá theo kiểu “âu hoá, “kỹ nghệhoá” hay “tiến bộ” và cho rằng nếu như vậy thì chỉ trong mộtthời gian ngắn thực hiện những điều đó thì cái gọi là hiện đạihoá sẽ được hiện thực hoá Ông đã diễn tả sự phức tạp và tínhtổng thể của diễn trình này bằng một ví dụ rất hay:

Một người Anh có học thức sinh trưởng trong thế kỷ 15

sẽ thấy những gì quen thuộc và những gì mới lạ tại Anh quốcngày nay Con người đó có thể vẫn hiểu một phần nào đóngôn ngữ thành văn, vẫn quen thuộc với một vài thủ tục lễnghi, với một vài lâu đài, kiến trúc được thiết lập trong thể kỷ

15 vẫn còn tồn tại, và tại khu thôn quê một vài nét chính của

Trang 25

lề lối sinh hoạt không thay đổi quá nhiều, ít nhất là khi mớithoạt nhìn Tuy nhiên, y sẽ phải sửng sốt trước một sự biếncải rất sâu rộng và hầu hết những điều tai nghe, mắt thấy sẽmới lạ và khó hiểu làm sao Theo cách hiểu này, hạt nhân củaquá trình hiện đại hoá là sự thích ứng của hệ thống định chếtruyền thống đối với những nhiệm vụ xã hội mới mẻ Vàkhông chỉ ở những định chế kinh tế mà còn đồng thời cả ởnhững định chế chính trị , xã hội và văn hoá nữa.

- Khái niệm sản xuất nông nghiệp

Theo bách khoa toàn thư wikipedia “Nông nghiệp làngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đấtđai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôilàm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lươngthực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nôngnghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyênngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩarộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.”

Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trongnền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trướcđây khi công nghiệp chưa phát triển Trong nông nghiệp cũng

Trang 26

có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộcdạng nào cũng rất quan trọng:

Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai làlĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sảnphẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗingười nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệpsinh nhai

Nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực sản xuất nông nghiệpđược chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nôngnghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chănnuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp.Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, baogồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọnlọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giớihóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thươngmại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Cáchoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cốgắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất

từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vậtnuôi

Trang 27

- Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,

nông thôn

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại; gắn nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, cho phép phát huy cóhiệu quả cao mọi nguồn lực và lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, mở rộng giao lưu trong nước và quốc tế, nhằm nâng cao năng suất lao động xã hội trong nông nghiệp,nông thôn; xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựngnông thôn mới giàu có, công bằng, dân chủ văn minh và xãhội chủ nghĩa

Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệptruyền thống, loại sản xuất nông nghiệp chủ yếu tạo ra lươngthực cho con người hay làm thức ăn cho các con vật Các sảnphẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thựcphẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khácnhư: sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (mêtan, dầu sinh học, ethanol ), da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh,chất hóa học (tinh bột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông), lai

Trang 28

tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợppháp như (thuốc lá, cocaine )

Thế kỷ 20 đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuấtnông nghiệp, đặc biệt là sự cơ giới hóa trong nông nghiệp vàngành sinh hóa trong nông nghiệp Các sản phẩm sinh hóanông nghiệp gồm các hóa chất để lai tạo, gây giống, các chấttrừ sâu, diệt cỏ, diêt nấm, phân đạm

- Lí luận về đào tạo nghề ở Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên

- Mục tiêu đào tạo nghề

Đào tạo nghề là một khâu quan trọng trong hệ thống

giáo dục của các quốc gia Nó tác động mạnh mẽ và rõ rệt đếnchất lượng đội ngũ lao động tại các cơ sở trực tiếp sản xuấttrong nền kinh tế

Đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghềnghiệp theo các bậc đào tạo ở các cấp trình độ: cao đẳngnghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề; có đạo đức, lương tâmnghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sứckhỏe phù hợp với nghề nghiệp nhằm tạo điều kiện cho người

Trang 29

lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm, tham gialao động trong và ngoài nước hoặc tiếp tục học tập nâng caotrình độ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, củng cố

an ninh quốc phòng; Chương trình đào tạo được xây dựngtheo chương trình khung của Bộ Lao động – Thương binh và

Xã hội Chương trình bảo đảm liên thông giữa các cấp trìnhđộ; phù hợp với thực tiễn thiết bị, công nghệ tiên tiến và nhucầu sử dụng lao động của thị trường

Năm 2015 Tổng cục Dạy nghề (TCDN) - Bộ Lao độngThương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) tổ chức sơ kết 5 nămthực hiện chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011-2020

và đánh giá dự án “Đổi mới và phát triển dạy nghề” thuộcChương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề giaiđoạn 2011-2015; phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2016-2020

Sau 5 năm thực hiện chiến lược phát triển dạy nghề giaiđoạn 2011-2020 đã đạt nhiều kết quả quan trọng Trong đó,tuyển sinh đào tạo nghề đạt 90,5% so với mục tiêu chiến lược

đề ra, tăng 18% so với giai đoạn 2006-2010 Riêng đào tạo sơcấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng có trên 2,4 triệu lao độngnông thôn theo chính sách Đề án 1956 Tỷ lệ lao động qua

Trang 30

đào tạo ở các cấp trình độ đạt 38,5%, gần đạt với mục tiêu củachiến lược (96,2%).

- Các loại hình đào tạo nghề ở trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên

Dạy nghề phổ thông cho học sinh khối THCS và THPT

Dạy nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956

Dạy nghề ngắn hạn cho người lao động có nhu cầu

Liên kết đào tạo nghề ở các trình độ Trung cấp, Caođẳng

Liên kết đào tạo liên thông từ trung cấp lên Cao đẳng,Đại học

Liên kết mở các lớp hệ vừa học vừa làm

- Hoạt động đào tạo nghề ở trung tâm GDNN - GDTX phục vụ hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp địa phương.

- Nội dung, chương trình đào tạo nghề

Nội dung dạy nghề trình phải phù hợp với mục tiêu dạynghề ở mỗi trình độ cụ thể, tập trung vào năng lực thực hành

Trang 31

các công việc của một nghề, nâng cao kiến thức chuyên môntheo yêu cầu đào tạo của nghề, bảo đảm tính hệ thống, cơ bản,hiện đại, phù hợp với thực tiễn và đáp ứng sự phát triển củakhoa học, công nghệ.

Chương trình dạy nghề thể hiện mục tiêu dạy nghề ; quyđịnh chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung,phương pháp và hình thức dạy nghề; cách thức đánh giá kết

quả học tập đối với mỗi mô-đun, môn học, mỗi nghề.

Ngày 27 thg 11 năm 2009 - Quyết định số 1956/QĐ-TTGcủa Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cholao động nông thôn đến năm 2020” với tổng kinh phí thực hiện

Đề án từ ngân sách nhà nước dự kiến là 25.980 tỷ đồng, gồm:

Kinh phí dạy nghề lao động nông thôn: 24.694 tỷ đồng;

Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã: 1.286

tỷ đồng

Kinh phí của Đề án theo tiến độ thực hiện:

Giai đoạn 2009 – 2010: 1.894 tỷ đồng (trong đó kinh phíđào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã là 65,5 tỷ đồng);

Trang 32

Giai đoạn 2011 – 2015: 11.363 tỷ đồng (trong đó kinhphí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã là 593,5 tỷđồng);

Giai đoạn 2016 – 2020: 12.723 tỷ đồng (trong đó kinhphí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã là 627 tỷ đồng)

Kinh phí của Đề án theo tính chất nguồn vốn

Vốn đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề: 3.905 tỷđồng;

Vốn sự nghiệp 22.075 tỷ đồng

Đối tượng đào tạo là lao động nông thôn trong độ tuổitrên địa bàn chưa qua đào tạo nghề, có nhu cầu học nghề, đủđiều kiện xét tuyển vào các khoá học nghề ngắn hạn, thời gianđào tạo từ 1 đến 5 tháng tại các cơ sở dạy nghề hoặc đào tạolưu động tại các huyện, xã, cụm xã thuộc huyện, thị Ưu tiênđào tạo những lao động bị mất đất sản xuất do Nhà nước thuhồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, lao động diện chínhsách, dân tộc thiểu số, lao động nữ và lao động chưa có việclàm Các ngành nghề đào tạo gồm: Trồng trọt, Chăn nuôi-Thú

y, Trồng nấm, Sửa chữa - Vận hành máy nông nghiệp, Sửa

Trang 33

chữa xe máy, Điện dân dụng, Tin học, Sửa chữa điện tử - Điệnlạnh, các nghề truyền thống, may công nghiệp, hàn sắt, ngoạingữ, tin học văn phòng và một số nghề khác Tổng kinh phícho chương trình này là 9,881 tỷ đồng, trong đó Trung ương

hỗ trợ 7,23 tỷ đồng từ nguồn kinh phí của dự án "Tăng cườngnăng lực đào tạo nghề" thuộc Chương trình mục tiêu quốc giagiáo dục - đào tạo Ngân sách địa phương hỗ trợ đời sống chohọc viên học nghề, hàng năm cân dối bằng những nguồn kinhphí khác

- Hình thức đào tạo nghề

Học nghề là chế định của pháp luật lao động, bao gồmtổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành quyđịnh về quyền học nghề; điều kiện của người học nghề; quyềndạy nghề; điều kiện của người dạy nghề; hợp đồng học nghề;quan hệ dạy và học nghề giữa hai bên; chính sách áp dụng đốivới các cơ sở dạy nghề; vấn đề giải quyết việc làm cho ngườihọc nghề trong những trường hợp cụ thể…

Căn cứ vào mục tiêu của người học, có thể chia ra làm 2loại, đó là học nghề để tự tạo việc làm và học nghề để thamgia quan hệ lao động.Vì mục đích cuả người học không phải

Trang 34

lúc nào cũng rõ ràng là học để tự tạo việc làm hay tham giaquan hệ lao động và nhiều khi hình thức này có thể chuyểnđổi theo từng hoàn cảnh cụ thể nên việc phân chia theo tiêuchí này chỉ mang tính chất tương đối.

Căn cứ vào cách thức tổ chức dạy và học nghề, có 2 loại:học nghề được tổ chức thành lớp học và học nghề theo hìnhthức kèm cặp tại doanh nghiệp

+ Học nghề theo hình thức tổ chức thành lớp học thườngthấy ở các cơ sở chuyên dạy nghề (trường, trung tâm dạynghề) với số lượng người học nhiều

+ Học nghề theo hình thức kèm cặp tại doanh nghiệpthường được tổ chức ở các cơ sở sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp với số lượng người học ít Đây thực chất là quátrình vừa học vừa làm của người lao động, gắn với thực hành làchính

Căn cứ vào trình độ nghề, có 3 loại: học nghề trình độ sơcấp, học nghề trình độ trung cấp và học nghề trình độ caođẳng

Trang 35

+ Học nghề trình độ sơ cấp diễn ra trong khoảng thờigian từ 3 tháng đến dưới 1 năm nhằm trang bị cho người học

kĩ năng thực hành một nghề đơn giản, tác phong công việc,tạo điều kiện cho người học tìm kiếm việc làm, tự tạo việclàm hoặc có điều kiện học lên trình độ cao hơn Các cơ sở dạynghề trình độ sơ cấp như: trung tâm dạy nghề, trường trungcấp nghề, trường cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ

sơ cấp Người học nghề trình độ sơ cấp được cấp chứng chỉ sơcấp nghề theo quy định của pháp luật

+ Học nghề trình độ trung cấp diễn ra trong khoảng thờigian từ 1 năm đến 2 năm tùy theo nghề đào tạo đối với người

có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, từ 2,5 đến 3 năm tùytheo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học

cơ sở Học nghề trình độ trung cấp trang bị cho người họckiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việccủa 1 nghề, có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹthuật, công nghệ vào công việc, tự tạo việc làm hoặc học cóđiều kiện học lên trình độ cao hơn… Các cơ sở dạy nghề trình

độ trung cấp bao gồm: trường trung cấp nghề, trường caođẳng nghề có đăng ký dạy nghề trung cấp; trường trung cấpchuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học có đăng ký

Trang 36

dạy nghề trình độ trung cấp Khi tốt nghiệp, người học nghềđược cấp bằng tốt nghiệp trung cấp nghề theo quy định củapháp luật.

+ Học nghề trình độ Cao đẳng: diễn ra trong khoảng thờigian từ 2 năm đến 3 năm tùy theo nghề đào tạo đối với người

có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, từ 1 năm đến 2 nămtùy theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trungcấp nghề cùng ngành nghề đào tạo Mục tiêu của học nghềtrình độ cao đẳng là trang bị kiến thức chuyên môn và nănglực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làmviệc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sángtạo, ứng dụng kỹ thuật, có khả năng tự tạo việc làm hoặc họclên trình độ cao hơn Cơ sở dạy nghề trình độ cao đẳng baogồm: trường cao đẳng nghề; trường cao đẳng, trường đại học

có đăng ký dạy nghề trình độ cao đẳng Sau khi kết thúc khóahọc, người học nghề được cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng nghềtheo quy định của pháp luật

- Phương pháp đào tạo nghề

Trang 37

a, Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc

Đây là phương pháp phổ biến dùng để dạy các kỹ năngthực hiện công việc cho hầu hết các công nhân sản xuất và kể

cả một số công việc quản lý Quá trình đào tạo bắt đầu bằng

sự giới thiệu và giải thích của người dạy về mục tiêu của côngviệc và chỉ dẫn tỉ mỉ, theo từng bước về cách quan sát , traođổi, học hỏi và làm thử cho tới khi thành thạo dưới sự hướngdẫn và chỉ dẫn chặt chẽ của người dạy

b, Đào tạo theo kiểu học nghề

Trong phương pháp này, chương trình đào tạo bắt đầubằng việc học lý thuyết ở trên lớp, sau đó các học viên đượcđưa đến làm việc dưới sự hướng dẫn của công nhân lành nghềtrong một vài năm; được thực hiện các công việc thuộc nghềcần học cho tới khi thành thạo tất cả các kỹ năng của nghề.Phương pháp này dùng để dạy một nghề hoàn chỉnh cho côngnhân Phương pháp này thực chất là sự kèm cặp của côngnhân lành nghề đối với người học và là phương pháp thôngdụng ở Việt Nam

Trang 38

c, Kèm cặp và chỉ bảo

Phương pháp này dùng để giúp cho các cán bộ quản lý

và các nhân viên giám sát có thể học được các kiến thức, kỹnăng cần thiết cho công việc trước mắt và công việc trongtương lai thông qua sự kèm cặp, chỉ bảo của người quản lýgiỏi hơn Có 3 cách để kèm cặp là:

+ Kèm cặp bởi người lãnh đạo trực tiếp

+ Kèm cặp bởi một cố vấn

+ Kèm cặp bởi người quản lý có kinh nghiệm hơn

d, Luân chuyển và thuyên chuyển công việc.

Là phương pháp mà người học viên được luân chuyểnmột cách có tổ chức từ công việc này sang công việc khác đểnhằm cung cấp cho họ những kinh nghiệm làm việc ở nhiềulĩnh vực khác nhau trong tổ chức Những kinh nghiệm và kiếnthức thu được qua quá trình đó sẽ giúp cho họ có khả năngthực hiện được những công việc cao hơn trong tương lai

Luân chuyển và thuyên chuyển công việc có thể thựchiện theo 3 cách:

Ngày đăng: 18/06/2019, 19:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w