1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khai quát chung về luật lã mã

16 248 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 306,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khái quát chung về luật la mã Rome, Roman hay La Mã là tên gọi được dùng để chỉ nhiều đối tượng khác nhau. Trước hết, đó là tên của Romulus, người mà theo truyền thuyết đã thành lập nên thành phố Rome bên bờ sông Tiber thuộc đất nước Italy ngày nay vào khoảng năm 753 trước công nguyên (TCN). Cũng theo truyền thuyết, Romulus và Remus là những hậu duệ của Aeneas, người đã bỏ chạy khỏi thành Troy sau khi thành bang này sụp đổ trong cuộc chiến con ngựa thành Troy. Từ một thành phố nhỏ do những người di cư xây dựng bên bờ song Tiber, Rome đã phát triển suốt hơn 1000 năm, trở thành một trong những đế chế hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại. Lịch sử La Mã trải qua ba thời kỳ chính. Thời kỳ Vương chính (753 TCN – 500 TCN); thời kỳ Cộng hòa (500 TCN – 44 TCN), và thời kỳ Đế chế (44 TCN – thế kỷ VI SCN).

Trang 1

Chương 1 Khái quát chung về luật La Mã

Trần Kiên

1.1 Sự hình thành Nhà nước La Mã cổ đại

Rome, Roman hay La Mã là tên gọi được dùng để chỉ nhiều đối tượng khác nhau Trước hết, đó là tên của Romulus, người mà theo truyền thuyết đã thành lập nên thành phố Rome bên bờ sông Tiber thuộc đất nước Italy ngày nay vào khoảng năm 753 trước công nguyên (TCN) Cũng theo truyền thuyết, Romulus và Remus là những hậu duệ của Aeneas, người đã bỏ chạy khỏi thành Troy sau khi thành bang này sụp đổ trong cuộc chiến con ngựa thành Troy Từ một thành phố nhỏ do những người di cư xây dựng bên bờ song Tiber, Rome đã phát triển suốt hơn 1000 năm, trở thành một trong những đế chế hùng mạnh nhất trong lịch sử nhân loại Lịch sử La Mã trải qua ba thời kỳ chính Thời kỳ Vương chính (753 TCN – 500 TCN); thời kỳ Cộng hòa (500 TCN – 44 TCN),

và thời kỳ Đế chế (44 TCN – thế kỷ VI SCN)

1.1.1 Thời kỳ Vương chính (753 TCN - 500 TCN)

Thời kỳ Vương chính là giai đoạn đầu tiên của lịch sử La Mã Giai đoạn này còn được biết đến là giai đoạn trị vì của bẩy vị vua Do đó, nó có tên gọi là Vương chính Giai đoạn này bắt đầu từ khi Romulus thành lập thành Rome cho đến Tarquinius Superbus Trong hơn 200 năm đầu này, La Mã chứng kiến sự hình thành một số thiết chế công quan trọng, đặc biệt là Senate (Viện nguyên lão) Viện nguyên lão đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành La Mã Về sau, Viện nguyên lão trở thành biểu tượng quyền lực và sự giàu có của La Mã Rolumus cũng là người đã phân chia công dân La Mã vào ba bộ tộc (Tribe), mỗi

bộ tộc có 10 hội đồng (Curiae) là các đơn vị hành chính và chính trị có quyền

bỏ phiếu của La Mã Đây cũng chính là các nghị viện nguyên thủy (Comitia

 Tiến sĩ, giảng viên Bộ môn Luật dân sự, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

E: trankien@vnu.edu.vn

Trang 2

curiata) Chức năng chính của các hội đồng là bỏ phiếu bầu Vua Thời kì này chưa có chế độ nối ngôi

Vào cuối thời kì Vương chính, nhất là dưới sự cai trị của ba vua là Tarquinious Priscus, Servius Tullius và Tarquinius Superbus lãnh thổ La Mã được mở rộng đáng kể qua các cuộc chinh phạt Đến khoảng năm 510 TCN, lãnh thổ La Mã rộng khoảng 300 – 400 dặm vuông, là thành bang lớn nhất trong

số các cộng đồng Latin lúc đó

Năm 510 TCN xảy ra một sự kiện quan trọng, một cuộc chính biến của tầng lớp quan lại đã xảy ra chống lại vua Tarquinius Superbus bởi nhiều lý do Một phần bắt nguồn từ cách cai trị độc đoán của vua Tarquinius Cuộc chính biến thành công không chỉ trục xuất Tarquinius ra khởi La Mã mà còn đồng thời chấm dứt luôn chế độ Vương chính La Mã chuyển sang thời kì cộng hòa

1.1.2 Thời kỳ Cộng hòa (500 TCN - 44 TCN)

Thời kì Cộng hòa kéo dài từ năm 510 TCN đến khoảng năm 44 SCN khi Augustus trở thành Hoàng đế chấp chính của toàn bộ thế giới La Mã Đây là thời kì La Mã đạt được nhiều thành tựu to lớn cả về kinh tế, chính trị, xã hội

a Thành tựu về chính trị và chính quyền

Trong thời kì cộng hòa, nhiều thiết chế chính quyền mới được thành lập bao gồm:

Tổng tài hay đại pháp quan (consuls) Tổng tài là chức vụ mới được xây dựng để thay thế cho Vua trong thời kì Vương chính Có hai tổng tài trong thời

kì này được bầu ra bởi comitia centuriata và được phê chuẩn bởi Viện nguyên lão Nhiệm kì của Tổng tài kéo dài trong vòng một năm Về nguyên tắc, Tổng tài có quyền lực tuyệt đối tuy nhiên các tổng tài bắt buộc phải tham vấn nhau trước khi ra quyết định Cơ chế này nhằm ngăn chặn các tổng tài trở thành độc đoán, chuyên quyền nhưng cũng có nhược điểm là có thể khiến cho việc thực hiện quyền hạn của tổng tài bị tê liệt khi người còn lại thường xuyên thực hiện quyền phủ quyết Trong khoảng 80 năm đầu tiên của chế độ Cộng Hòa, có thực

tế rằng nhiều tướng lĩnh quân sự được bầu để thực hiện quyền lực của tổng tài

Trang 3

(military tribunes) theo đề xuất của Viện nguyên lão Điều này bắt nguồn từ thực tế chiến tranh liên miên của La Mã với các quốc gia lân bang

Pháp quan tư pháp (praetors) chức vụ này được thành lập vào năm 367 TCN với mục đích giảm bớt thẩm quyền tài phán của tổng tài Pháp quan tư pháp được bổ nhiệm bởi comitia ceturiata và đóng vai trò là người đứng đầu hệ thống pháp luật của La Mã, giống như chức vụ Bộ trưởng tư pháp hiện nay Ban đầu,

họ chỉ có thẩm quyền với công dân La Mã trong phạm vi thành Rome, do đó thường được gọi là pháp quan tư pháp đô thị (urban praetors) Pháp quan tư pháp đóng vai trò quan trọng và to lớn trong sự phát triển của luật dân sự La

Pháp quan tài chính (quaestors) chức danh này được thiết lập để giúp các tổng tài về mặt tài chính, ngân sách Họ cũng do comitia centuriata bầu và cho đến năm 421 phải là quý tộc La Mã (patrician) Tuy nhiên, họ cũng được trao các thẩm quyền khác ví dụ như giúp đỡ tổng tài về phương diện tư pháp hình

sự Trong giai đoạn cuối của Đế chế La Mã, pháp quan tài chính trở thành pháp quan chủ chốt của chính quyền về pháp luật, theo sau sự suy tàn của chức danh pháp quan tư pháp

Pháp quan thống kê (censors) được thiết lập năm 443 TCN bởi comitia centuriata, pháp quan thống kê giúp tổng tài thực hiện chức trách thống kê và phân loại người La Mã theo các tiêu chí về sự giàu có, nguồn gốc bộ tộc, và chức danh quân sự Số liệu thống kê có vai trò rất quan trọng xác định thẩm quyền bỏ phiếu, gia nhập qua đội hay đóng thuế Ngoài ra, trên nguyên tắc các pháp quan này còn có thẩm quyền bổ nhiệm thành viên Viện nguyên lão Cho

dù trên thực tế họ chỉ có thẩm quyền bãi miễn tư cách thành viên Ngoài ra, pháp quan thống kê còn có thẩm quyền thu thuế và giải ngân thanh toán các hợp đồng có một bên là nhà nước Do vậy, chức danh này rất quyền lực

Bảo dân quan (tribunes) là những người được bầu để đại diện cho tầng lớp thứ dân (plebeians) Họ chủ tọa hội đồng thứ dân (concilium plebis) cơ quan lập pháp của tầng lớp thứ dân Họ là thành viên của Viện nguyên lão và có quyền

Trang 4

triệu tập Viện Họ có quyền phủ quyết các pháp quan khác để bảo vệ các cá nhân chống lại các hành vi lạm quyền Từ năm 449 TCN bảo dân quan là bất khả xâm phạm Bất kỳ ai công kích hoặc gây phương hại đến việc thực hiện nhiệm vụ của họ có thể bị đặt ra ngoài vòng pháp luật bởi hội đồng thứ dân Điều này khiến các bảo dân quan trở thành đối trọng và nguy cơ đối với Viện nguyên lão

Quan thị chính (aedile) là những người quản lý đô thị và dân cư thành thị Ví

dụ như đảm bảo việc cung cấp nước, lương thực cho thành phố

Một trong những động lực phát triển chính của La Mã trong thời kì Cộng Hòa là sự xung đột giữa hai tầng lớp quý tộc và thứ dân Những năm đầu thời kì Cộng Hòa chứng kiến việc tuyệt đại đa số các chức danh quan trọng đều nằm trong tay giới quý tộc Ngoài ra, các nghị quyết của Hội đồng thứ dân (plebiscite) đều không có giá trị áp dụng đối với mọi người, chưa kể đến các đạo luật bất bình đẳng áp dụng riêng cho tầng lớp thứ dân như cấm họ nhận chuyển nhượng quyền sở hữu đất đai đang thuộc về nhà nước Do đó, đã xảy ra những xung đột và đấu tranh đòi hỏi quyền lợi của tầng lớp thứ dân Dần dần, giai cấp quý tộc đã phải nhượng bộ Nhượng bộ quan trọng nhất và có ý nghĩa đối với sự phát triển của luật La Mã chính là việc ban hành Luật Mười Hai Bảng năm 451 – 450 TCN Bộ luật thành văn đầu tiên của La Mã Bộ luật ban hành trước cáo buộc rằng các tổng tài cai trị theo lối chuyên quyền độc đoán Và do

đó, phải ban hành các quy định rõ ràng, chi tiết để áp dụng trong việc quản trị nhà nước Tiếp sau sự ban hành Bộ luật mười hai bảng, các nghị quyết của hội đồng thứ dân cũng được thừa nhận là có giá trị pháp lý bắt buộc đối với tất cả công dân La Mã, bao gồm cả tầng lớp quý tộc tuy nhiên phải được sự phê chuẩn trước của Viện nguyên lão

Tiếp sau các thành công nêu trên, tầng lớp thứ dân tiếp tục đạt được các nhượng bộ quan trọng khác ví dụ như một trong hai tổng tài phải là người của tầng lớp thứ dân Năm 287 TCN, Lex Hortensia được ban hành bãi bỏ quy định các luật do hội đồng thứ dân ban hành phải được Viện nguyên lão phê chuẩn

Trang 5

Kể từ đây, hội đồng thứ dân trở thành cơ quan nghị viện rất quyền lực của nền Cộng hòa La Mã

b Mở rộng lãnh thổ

Giai đoạn cộng hòa cũng chứng kiến La Mã thành công trong việc mở rộng lãnh thổ cả ở trong và ngoài nước Italy La Mã đánh bại Hannibal để giành quyền kiểm soát Tây Ban Nha, kể từ đó mở đường kiểm soát toàn bộ Địa Trung Hải Cái chết của Alexander đại đế năm 323 TCN dẫn đến sự sụp đổ và sáp nhập của đế chế Macedonia vào La Mã Julius Caesar tiếp nối chiến thắng của

La Mã bằng việc xâm lược nước Anh (hai lần) và Ai Cập để mở rộng bờ cõi của

La Mã

c Sự sụp đổ của nền cộng hòa

Mặc dù vận hành trong thời gian dài, nhưng các thiết chế chính quyền của nền cộng hòa ẩn chứa những khiếm khuyết nghiêm trọng Thiết chế hai tổng tài cùng với quyền phủ quyết lẫn nhau là một ví dụ Việc trao các thẩm quyền về quân sự, hành pháp, và tư pháp cho các pháp quan đối nghịch nhau cũng là một vấn đề Đặc biệt, chế độ cộng hòa dựa rất nhiều vào thiết chế Viện nguyên lão Trong thời gian đầu, khi Viện nguyên lão vận hành hiệu quả thì nền cộng hòa tỏ

ra rất bền vững Nhưng thời gian sau khi quyền lực của Viện nguyên lão bắt đầu

bị thách thức vì số phận của nền cộng hòa cũng bị đe dọa Kể từ năm 133 TCN, nền cộng hòa bị đe dọa và làm suy yếu bởi một loạt các tổng tài ví như anh em Gracchi, vốn xuất thân là thứ dân Sau đó, những tướng lĩnh quân sự như Marius, Sulla, Prompey cũng thường xuyên tiếm và vượt quyền Viện nguyên lão Đặc biệt là vai trò của Julius Ceasar, sau khi thành công trong việc trục xuất Prompey khỏi Rome, Ceasar trở thành lãnh tụ tuyệt đối của La Mã, tự bổ nhiệm mình thành tổng tài quân sự suốt đời và duy nhất cho đến khi bị ám sát vào năm

44 TCN bởi những thành viên Viện nguyên lão Đó cũng chính là khi số phận nền cộng hòa được định đoạt Augustus, một tướng trẻ thân cận của Ceasar và được Ceasar chỉ định là người thừa kế đã liên minh với các tưỡng lĩnh khác tiến hành cuộc chiến trả thù những người cộng hòa đã ám sát Ceasar Năm 43 TCN

Trang 6

một số lượng lớn thành viên Viện nguyên lão và những người ủng hộ nền cộng hòa bị sát hại Năm 31 TCN, Augustus chiến thắng trong cuộc chiến tranh giành quyền lực với Anthony, đồng minh cũ, chính thức trở thành Hoàng đế đầu tiên của Đế chế La Mã

1.1.3 Thời kỳ đế chế (44 TCN - thế kỷ VI SCN)

Kể từ khi Augustus lên ngôi hoàng đế vào năm 27 TCN, La Mã chuyển sang thời kì đế chế trong đó chính quyền, hay chính xác hơn là quyền lực nhà nước tập trung vào một người duy nhất, hoàng đế thay vì một cơ quan dân cử Trong năm này, Augustus và Viện nguyên lão đạt được thỏa thuận về tái tổ chức bộ máy nhà nước Theo đó La Mã sẽ được cai trị bởi Công dân thứ nhất (princeps) hay hoàng đế với sự cộng tác của Viện nguyên lão Bên cạnh đó, các quận hay vùng lãnh thổ dưới quyền cai trị của La Mã cũng được phân chia thành hai loại Một loại do hoàng đế trực tiếp cai trị Một loại do Viện nguyên lão quản lý Cho dù trở thành hoàng đế với quyền lực tuyệt đối, Augustus cũng rất khéo léo trong việc sử dụng quyền lực của mình Không chỉ thâu tóm quyền lực nhà nước, Augustus còn trở thành thủ lĩnh tôn giáo La Mã bước sang giai đoạn đế quốc

Trong giai đoạn này, tuy các thiết chế cũ của thời kì cộng hòa vẫn còn tồn tại nhưng vai trò và quyền lực bị giảm sút đáng kể Đặc biệt là họ ở dưới quyền của hoàng đế Tuy nhiên, đây cũng chính là giai đoạn mà La Mã phát triển nhất với lãnh thổ rộng lớn nhất Năm 235 SCN hoàng đế Alexander Severus bị sát hại dẫn đến thời kì 50 năm bạo loạn là nguyên nhân mở màn cho sự tan rã của

đế quốc La Mã Năm 312 SCN hoàng đế Constantine cải đạo sang đạo Thiên chúa, khởi động quá trình biến La Mã thành một quốc gia theo đạo thiên chúa Sau khi Constantine qua đời vào năm 337 SCN, đế chế La Mã bắt đầu bị phân chia giữa các con của Constantine Tuy nhiên, sự kiện có tính bản lề cho sự sụp

đổ của đế chế La Mã xảy ra vào năm 395 SCN khi Theodoius I qua đời Hai người con của Theodoius I thỏa thuận phân chia La Mã thành hai đế quốc, Tây

Trang 7

La Mã và Đông La Mã Cả hai đế quốc bình đằng và ngang hàng với nhau và có chủ quyền trong phần lãnh thổ của mình

Sự phân chia làm suy yếu đế chế La Mã đặc biệt là Tây La Mã vốn thường xuyên nằm dưới sự đe dọa và tấn công của các bộ lạc Đức thiện chiến Năm 476 SCN, hoàng đế cuối cùng của đế quốc Tây La Mã, Romulus Augustus

bị trục xuất khỏi Rome Tây La Mã chính thức sụp đổ

Nằm cách xa Italy và sự đe dọa của các bộ lạc Đức, đế quốc Đông La Mã, lúc này được biết đến với tên gọi đế quốc Byzantine thoát khỏi số phận diệt vong và tiếp tục tồn tại và phát triển cho đến tận thế kỉ 15 Chính một hoàng đế của đế quốc Đông La Mã, Justinian I khi lên ngôi vào năm 527 SCN đã bắt đầu công trình tuyển tập luật La Mã nổi tiếng Corpus Juris Civilis (tổng tập pháp luật dân sự) với ba phần là Codex (luật), Institutes (giảng giải), Digest (nguyên lý) và phần cuối cùng được đưa vào sau khi Justinian qua đời Novellae (bao gồm các luật được ban hành sau năm 534) Sự hồi sinh của luật La Mã vào thế

kỉ 12, phát triển và trở thành luật chung (jus commune) của châu Âu sau đó phần lớn là nhờ vào việc nghiên cứu và tìm hiểu bộ tổng luật này

1.2 Hệ thống luật La Mã

Luật La Mã là hệ thống pháp luật được hình thành, xây dựng và phát triển trong giai đoạn nhà nước La Mã tồn tại Do lịch sử phát triển phức tạp, trải dài qua nhiều thế kỉ với các mô hình chính thể khác nhau nên cũng dễ hiểu rằng luật pháp La Mã cũng rất phức tạp và khác nhau qua từng thời kì Dưới góc độ nghiên cứu và cả kỹ thuật lập pháp hệ thống pháp luật La Mã có thể được tiếp cận và phân tích theo nhiều cách khác nhau Theo từng thời kì phát triển ứng với các mô hình chính quyền Theo sự phân loại thành luật dành cho công dân

La Mã (ius civile), luật quan (ius honorarium), và luật vạn dân (ius gentium) Ngoài ra, luật La Mã còn có thể được phân loại thành luật công (ius publicium)

và luật tư (ius privatum)

1.2.1 Sự phân biệt giữa luật công với luật tư

Trang 8

Phân loại luật La Mã thành luật công và luật tư là một cách phân loại kinh điển có ảnh hưởng mạnh mẽ cho đến tận ngày nay

Luật công liên quan đến các vấn đề thuộc về nhà nước La Mã trong khi luật tư quan tâm đến quyền lợi của các cá nhân bởi có vấn đề có bản chất công cộng trong khi có các vấn đề lại có bản chất tư nhân Luật công bao gồm các quy tắc điều chỉnh tôn giáo, tăng lữ, và quan lại Định nghĩa nổi tiếng của

Ulpian trong Digest là nền tảng căn bản cho sự phân biệt luật công – luật tư trong luật La Mã

Cách phân chia luật công luật tư dựa vào bản chất của quan hệ là đối tượng điều chỉnh Các quan hệ là đối tượng của luật công là các vấn đề liên quan đến quyền lực công cộng, có thể là quyền lực nhà nước hay quyền lực tôn giáo Trong khi đó, các vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật tư là các quan

hệ không liên quan đến quyền lực công, phát sinh giữa các cá nhân

Trên thực tế, trong khi luật tư được phát triển một cách mạnh mẽ và trở thành nền tảng của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa hiện đại thì luật công La

Mã lại kém phát triển hơn Có ít quy định liên quan đến luật công được tìm thấy

và cũng có rất ít luật gia La Mã nghiên cứu, bình luận về chủ đề luật công Chính vì vậy, khi nghiên cứu tìm hiểu về luật La Mã, đối tượng chủ yếu là luật

tư và cũng chính luật tư La Mã đã trở thành ius commune (luật chung) của châu

Âu và theo bước chân thực dân của người châu Âu vươn ra toàn thế giới Luật

tư La Mã cũng sẽ là đối tượng nghiên cứu chính của tác phẩm này

1.2.2 Đối tượng điều chỉnh và nguồn của luật tư La Mã

1.2.2.1 Đối tượng điều chỉnh của luật tư La Mã

Luật gia Gaius đã nhận định trong tác phẩm Institutes nổi tiếng của mình

về phân loại pháp luật rằng tất cả luật pháp của chúng ta đều là về chủ thể (persons), vật (things), và tố quyền (actions) Theo nhận định này, chúng ta có thể nhận thấy đối tượng điều chỉnh chủ yếu của luật tư La Mã là về: (1) các chủ thể, những người được pháp luật thừa nhận có năng lực nắm giữa và hành xử quyền lợi; và (2) các loại quyền lợi khác nhau mà chủ thể có thể nắm giữ và

Trang 9

cách thức xác lập quyền; (3) các phương thức bảo vệ quyền của chủ thể (tố tụng) Khi đưa tác phẩm Institutes của Gaius vào bộ Tổng tập pháp luật dân sự, Justinian đã làm rõ thêm các đối tượng của luật tư La Mã bằng cách phân loại chúng Theo đó luật tư La Mã điều chỉnh các vấn đề về chủ thể (bao gồm cả hôn nhân và gia đình), luật tài sản (vật quyền và trái quyền), luật về hợp đồng và đắc lợi vô căn, luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm cả dân sự phạm (có lỗi) và chuẩn dân sự phạm (vô ý), và luật về tố quyền

Liên quan đến quyền dân sự, khoa học pháp lý hiện đại đã phân tích và chỉ ra rằng các loại quyền lợi mà chủ thể La Mã có thể nắm giữ và hành xử là các quyền tài sản và quyền tinh thần Quyền tài sản là các quyền có một giá trị kinh tế nhất định phát sinh giữa các chủ thể Quyền tài sản có thể được phân loại thành vật quyền và trái quyền Vật quyền là quyền hành xử trực tiếp trên vật bao gồm quyền sở hữu, chiếm hữu, và địa dịch (các quyền đối với vật thuộc quyền sở hữu của người khác) và các vật quyền phụ thuộc (cầm cố, thế chấp) Trái quyền hay quyền đối nhân là quyền yêu cầu người khác phải chuyển giao một vật, làm hay không được làm một công việc nhất định Quyền đối nhân có thể phát sinh từ các nguồn gốc là hợp đồng, chuẩn hợp đồng, dân sự phạm và chuẩn dân sự phạm Tố quyền, tùy thuộc vào việc được thực hiện nhằm bảo vệ một vật quyền hay một trái quyền mà sẽ được phân loại tương ứng

Ngược lại, quyền tinh thần liên quan đến các giá trị gắn liền với nhân thân của mỗi chủ thể ví dụ như quyền gia trưởng, danh dự uy tín nhân phẩm Thế nên về nguyên tắc các quyền này không có giá trị kinh tế Các quan hệ nhân thân do luật La Mã điều chỉnh phản ánh bản rõ nét chất xã hội và nhà nước của

La Mã cổ đại Ví dụ như tính chất phi tài sản không tuyệt đối hoặc tính chất bất bình đẳng Hay người cha trong luật La Mã là có quyền gia trưởng đối với vợ và con của mình

1.2.2.2 Nguồn của luật tư La Mã

Khoa học pháp lý hiện đại phân biệt khái niệm nguồn nội dung và nguồn hình thức của pháp luật Nguồn nội dung là các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã

Trang 10

hội, chính trị đương thời quyết định sự hình thành, phát triển, và nội dung của các quy phạm pháp luật Ví dụ như nhà nước La Mã cổ đại được phát triển trên

cơ sở chiếm hữu nô lệ Do đó, nô lệ không được pháp luật coi là người, chủ thể của quyền lợi mà trái lại là tài sản thuộc sở hữu của những công dân La Mã Trong khi đó, nguồn hình thức là hình thức biểu hiện của nội dung quy phạm hay là nơi chúng ta có thể tìm kiếm một quy tắc áp dụng cho một tình huống cụ thể Đó có thể là luật thành văn do các cơ quan có thẩm quyền ban hành, tập quán, hay các bình luận của các luật gia nổi tiếng có giá trị như là luật Đây cũng là khái niệm nguồn mà chúng ta cần tìm hiểu Do lịch sử phát triển lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau nên nguồn của luật tư La Mã vì thế cũng phức tạp Nguồn của luật tư La Mã cổ đại về căn bản có thể phân loại thành nguồn thành văn (luật, nghị quyết của Viện nguyên lão, sắc chỉ của hoàng đế, quyết định của các pháp quan, luận giải của các luật gia) ; và nguồn bất thành văn (tập quán) Mỗi thời kì lại có một loại nguồn đóng vai trò chủ đạo của hệ thống pháp luật

a Nguồn của luật dưới thời Vương chính

Sử liệu còn sót lại cho thấy luật dưới thời Vương chính luật pháp xuất phát chủ yếu từ hai nguồn chính là tập quán và các sắc chỉ của Vua

Tập quán là các quy tắc bất thành văn (ius non scriptum) Đó là các quy tắc xử sự đã được thiết lập và thực hành một cách vững chắc đến mức có giá trị ràng buộc như là luật Đây cũng là nguồn đầu tiên của luật La Mã Nhiều quy định của luật tư La Mã có nguồn gốc tập quán Ví dụ như một số quy định trong lĩnh vực gia đình : Sự thành lập, cấu trúc và hoạt động hay vị trí của người gia trưởng (paterfamilias)

Các sắc chỉ của Vua (Royal decrees) Các sắc chỉ này có giá trị ràng buộc như luật Tuy nhiên vẫn có các nghi ngờ về hình thức và phạm vi của các quy phạm pháp luật trong thời nguyên thủy này Một số sử gia cho rằng các sắc chỉ của Vua trong giai đoạn này chỉ là những tập hợp của các tập quán chủ chốt, nhiều trong số đó liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng

Ngày đăng: 18/06/2019, 17:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w