J.J.Rousseau 1717 - 1778 khuyến khíchgiáo dục trẻ em thông qua trải nghiệm để người học tự khámphá tích luỹ kiến thức thông qua chính hoạt động của mình.Nhiều tác giả cho rằng tự học còn
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO
HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Trang 2Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Những nghiên cứu ở nước ngoài
Quản lý hoạt động dạy học nói chung và hoạt động tựhọc theo hướng tiếp cận năng lực nói riêng chính là dạy họcđịnh hướng kết quả đầu ra, đã được bàn luận khá nhiều từnhững năm 90 của thế kỷ XX và nay đã trở thành xu hướnggiáo dục tất yếu của một nền giáo dục tiên tiến, đã và đangđược quốc tế hóa
Ngay từ thời kỳ cổ đại, quan điểm về tự học của học sinhdựa trên việc tổ chức hoạt động dạy học của giáo viên đãđược thể hiện trong những quan điểm của nhiều nhà triết họcđồng thời là nhà giáo dục Khổng Tử (551- 479 TCN) chorằng cần giúp học trò phát triển bằng cách khuyến khích sởtrường và phê bình sở đoàn, phương châm chính của dạy học
là khải phát (gợi mở) Ông nhấn mạnh: “Biết mà học không
bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui say mà học”.
Bằng quan niệm này, dạy học không chỉ là truyền thụ tri thức
mà còn tạo ra lòng say mê học tập, là học cách học chủ động,tích cực với hoạt động học tập của mình
Trang 3J.A.Komenxki (1592 - 1670) qua việc thảo luận về cáchiện tượng trong tự nhiên và hiện thực để đề ra các phươngpháp dạy học khiến học sinh tự tìm tòi, suy nghĩ để hiểu đượcbản chất của vấn đề J.J.Rousseau (1717 - 1778) khuyến khíchgiáo dục trẻ em thông qua trải nghiệm để người học tự khámphá tích luỹ kiến thức thông qua chính hoạt động của mình.
Nhiều tác giả cho rằng tự học còn giữ vai trò lớn laotrong việc nâng cao khả năng hiểu biết và tiếp thu tri thức mớicủa học sinh, từ quan điểm đó các tác giả đã nhấn mạnh đến
sự cấp thiết phải khéo léo tổ chức việc tự học cho học sinh.Học sinh sẽ gặp nhiều vấn đề mới trong quá trình tự học vàviệc đi tìm giải đáp cho những vấn đề ấy là cách tốt nhất đểkích thích hoạt động trí tuệ cho học sinh Kết quả không thểcao nếu thiếu đi sự nỗ lực tự học của bản thân học sinh cho dù
có điều kiện ngoại cảnh thuận lợi (giáo viên giỏi, tài liệu hay)
“Chỉ có truyền thụ tài liệu của giáo viên mà thôi thì dù có nghệ thuật đến đâu chăng nữa cũng không đảm bảo được việc lĩnh hội tri thức của học sinh”, Theo Aditxterrec: “Nắm vững kiến thức thực sự lĩnh hội chân lý, cái đó học sinh phải
tự mình làm lấy bằng trí tuệ của bản thân” Từ cuối thế kỷ
XIV, khi mà chủ nghĩa Tư bản bắt đầu xuất hiện, vấn đề dạy
Trang 4học và quản lý dạy học đã được nhiều nhà giáo dục thật sựquan tâm Nổi bật là các công trình nghiên cứu của các tác giảCômenxki, V.A.Xukhômlinxki, P.V.Zimin, M.I.Kônđakôp,N.I.Xaxerđatôp, Zakharôp Cômenxki đưa ra nguyên tắc dạyhọc như nguyên tắc trực quan, nguyên tắc nhất quán, nguyêntắc đảm bảo tính khoa học và tính hệ thống Qua đó, thể hiệngián tiếp rằng hiệu quả dạy học có liên quan đến chất lượngngười dạy trong việc vận dụng có hiệu quả các nguyên tắc dạyhọc Về chỉ đạo quá trình dạy học, Xukhômlinxki rất coi trọngbồi dưỡng đội ngũ giáo viên, dự giờ - phân tích giờ dạy, giúp
đỡ giáo viên để nâng cao tay nghề, hoàn thiện nghệ thuật SưPhạm Xukhômlinxki quan niệm rằng một nhà giáo chânchính là một người yêu sách
T.Makiguchi - trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống
sáng tạo” đã nêu lên quan điểm “giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực của việc tự học là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới niềm hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng” Chia sẻ quan điểm nêu trên,
tác giả Raja Roy Singh nhấn mạnh rằng người học phải là
người tham gia tích cực vào quá trình “Nhận biết dạy - học” Trong đó “Sự học tập do người học chủ đạo” Các nhà giáo
Trang 5dục hiện đại đã và đang đi sâu vào nghiên cứu khoa học giáodục cũng khẳng định vai trò to lớn của hoạt động tự học [13].
Phát triển tư tưởng từ quan điểm của các nhà giáo dụctiền bối, nhiều tác giả về sau này đã chỉ ra một số yếu tốquan trọng đối với tự học như: N.A Rubakin, Smit Hecbơc
đã nhấn mạnh việc quan tâm giáo dục động cơ hoạt độngđúng đắn là điều kiện quan trọng để học sinh tích cực chủđộng trong tự học Vai trò này không ai khác chính là ngườigiáo viên thông qua hoạt động dạy học Để giúp người họcnâng cao tính tích cực nhận thức và đạt hiệu quả trong hoạtđộng tự học các tác giả như A.M.Machiuskin, A.V.Petrovskicũng đã đề ra trong việc thiết kế các bài tập nhận thức, nhất
là bài tập nêu vấn đề để học sinh thực hiện trong thời gian tựhọc đó là trách nhiệm của người giáo viên (Các tình huống
có vấn đề trong tư duy và trong dạy học) [12]
Các nhà nghiên cứu Mỹ và Tây Âu cũng có nhiều nghiêncứu về vấn đề này với những nỗ lực trong việc thúc đẩy nănglực tự học của học sinh thông qua các chiến lược dạy học hiệuquả Tác giả Taylor (1995) nêu quan điểm: Một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng nhất của giáo viên là nâng cao nhận thứccủa học sinh về vai trò của chính họ trong học tập Trong các
Trang 6nghiên cứu thực nghiệm của mình, ông đã khởi xướng các chủ
đề cho học sinh tham gia thảo luận như [19] Tôi biết rằng tôimuốn học và rằng tôi là người học, vì vậy nếu tôi muốn họcđiều gì đó, tôi chỉ có thể thực hiện bằng việc chính mình bắttay vào Việc đánh giá bản thân về các chủ đề như vậy đã đượctìm thấy có ảnh hưởng tích cực đến nhận thức của người học.Tương tự như vậy, Lyman (1997), đề nghị tạo ra các cuộc thảoluận thông qua việc sử dụng các câu hỏi được thiết kế để giúpngười học biết được những gì mình đã học Trong số các ví dụông cung cấp là: Bạn đã học thêm gì so với ngày hôm qua?Bạn có thể giữ những ý tưởng trong cuốn sách của mình ngaytrong đầu mình không? Có những từ bạn không biết? Làm thếnào bạn tìm ra chúng? [20; 24]
Lyman (1997) và Bolhuis (1996) nhấn mạnh rằng cácgiáo viên muốn thông qua hoạt động dạy học của mìnhkhuyến khích học sinh phát triển năng lực tự học trước hếtphải tự giải phóng mình khỏi một mối bận tâm với việc theo
dõi và sửa lỗi, một thói quen mang tính “bản ngã” của các
thầy cô giáo (Guthrie, et al 1996) Lyman và Bolhuis ủng hộ
sự không chắc chắn và khuyến khích rủi ro đồng thời tận dụngđiểm mạnh của người học thay vì tập trung vào những điểm
Trang 7yếu, vì nó có lợi hơn cho người học để đạt được một vài mụctiêu quan trọng đối với họ hơn là hoàn thành tất cả mục tiêuquan trọng đối với giáo viên [20; 24].
Leal (1993) ủng hộ việc thực hiện các hình thức thảo luận,phản hồi trong giờ học cho phép người học khám phá ý tưởngngay cả khi không đi đến những câu trả lời tường minh chonhững vấn đề nêu ra [30] Ông coi đây là một quá trình có thểmang lại những hiểu biết mới và giá trị mới với người học.Corno (1992) gợi ý cho phép người học theo đuổi sở thích cánhân mà không bị đe dọa đánh giá chính thức Ngay cả khi họphạm sai lầm trong khi làm như vậy, các hoạt động sẽ duy trì sựquan tâm của họ, vượt qua sự thất vọng và cuối cùng phá vỡ cácrào cản đối với thành tích Cùng chia sẻ những quan điểm trên,các tác giả Fyfe, Lewis, & Mitchell, (1996) [26] nhấn mạnhgiáo viên cần phải mô hình hóa các chiến lược học tập như dựđoán nhu cầu và kinh nghiệm học tập của học sinh, đặt câu hỏi,nêu và làm rõ vấn đề, tóm tắt bài học để từ đó học sinh tự mìnhphát triển khả năng sử dụng các chiến lược này Giáo viên cũngcần cho phép những từng cá nhân học sinh tiếp cận nhiệm vụhọc tập theo những cách khác nhau bằng cách sử dụng cácchiến lược khác nhau
Trang 8Roger Hiemstra (2013) nhấn mạnh sáu vai trò của giáo
viên để phát triển năng lực tự học của học sinh bao gồm: “nội
dung dạy học, đặc điểm người học, kích thích mối quan tâm, nảy sinh và duy trì thái độ tích cực, khuyến khích tư duy sáng tạo và tư duy phê phán, khuyến khích tự kiểm tra đánh giá”
[27]
Tổng quan các nghiên cứu của một số tác giả nước ngoàitrên đây cho thấy, vấn đề dạy học và quản lý HĐDH đã đượcnghiên cứu một cách có hệ thống, những lý luận đó được đúckết từ thực tiễn hoạt động dạy học và quản lý nhà trường đồngthời thể hiện các quan điểm khác nhau phản ánh theo từng giaiđoạn lịch sử Mặc dù còn có những khác biệt trong quan niệmxong có thể thấy những điểm nổi bật như sau:
Vai trò của việc phát triển năng lực tự học đối với hoànthiện nhân cách người học nói chung
Vai trò dẫn dắt, tổ chức của người giáo viên thông quaviệc thực hiện các chiến lược dạy học khác nhau trong hoạtđộng dạy học sẽ ảnh hưởng quyết định đến phát triển năng lực
tự học của học sinh Các nghiên cứu đều coi trọng vị trí củahoạt động dạy học đối với năng lực tự học của học sinh đồng
Trang 9thời từ đó đặt ra những yêu cầu trong công tác quản lý hoạtđộng dạy học với xu hướng nhấn mạnh đến phát huy nhân tốngười thầy với khả năng tự học và sáng tạo không ngừng củahọc sinh.
Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu của nền giáo dụccách mạng, trong Thư gửi cho học sinh nhân ngày khai
trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:“ từ giờ phút này giở
đi, các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam (…) một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em ” Nội dung bức thư như
là một định hướng cho sự phát triển của phương pháp dạy vàhọc, trong đó có tự học để tạo nên một nền giáo dục mangmàu sắc riêng, thoát dần khỏi tư tưởng giáo dục phong kiến,thực dân
Hiện nay, với Nghị quyết 29 của Đảng, dạy học theo địnhhướng phát triển năng lực nói chung trong đó có phát triển nănglực tự học đang là vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt của cáccấp quản lý và của toàn xã hội để tạo ra một thế hệ công dân ViệtNam trong tương lai có đủ sự tự tin, năng lực thích ứng và hội
Trang 10nhập với thế giới Thực hiện tinh thần đó, chương trình giáo dụcphổ thông mới sẽ được triển khai tới đây cũng chú trọng mục tiêugiáo dục học sinh 6 phẩm chất 10 năng lực (trong đó có năng lực
tự học)
Trong xu hướng đổi mới giáo dục đào tạo nói chung vàđổi mới nội dung, phương pháp dạy học nói riêng, các nhànghiên cứu về giáo dục cũng cho ra đời nhiều công trình tronglĩnh vực này, như: Tác giả Phạm Viết Vượng với vấn đề lấyhọc sinh làm trung tâm; Tác giả Trần Hồng Quân đề cập tớimột số vấn đề đổi mới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Tácgiả Đặng Thành Hưng đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề về nộidung, phương pháp dạy học theo hướng nâng cao tính hiệnđại và gắn khoa học với thực tiễn đời sống sản xuất, dạy họclấy học sinh làm trung tâm, dạy học theo hướng phát triểnnăng lực người học [14, 17]
Nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây có xuhướng chú trọng đến đổi mới phương pháp dạy học, vị trí vaitrò của việc tổ chức quá trình dạy học, ý nghĩa của việc nângcao chất lượng dạy học, những ưu và nhược điểm của cáchình thức tổ chức dạy học hiện nay, bản chất của mối quan hệgiữa hoạt động dạy và hoạt động học, vai trò của người dạy và
Trang 11người học, việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy họcnhư: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, NguyễnNgọc Quang, Hoàng Đức Nhuận, Nguyễn Cảnh Toàn,Nguyễn Kỳ, Thái Duy Tuyên, Trần Kiều, Hồ Ngọc Đại v.v…[13]; [12]; [10]; [11]; [6] Trong nghiên cứu của các tác giả kểtrên đã đề cập đến việc tổ chức hoạt động dạy học cũng nhưvai trò của giáo viên nhằm hình thành và phát triển năng lựcnói chung cho học sinh trong đó có năng lực tự học Quanđiểm được đa số các tác giả chia sẻ là hoạt động tự học củahọc sinh đòi hỏi người học phải có kỹ năng học tập, có lòngham học, có động lực thôi thúc, say mệ để tự học Tất cảnhững điều đó phụ thuộc nhiều vào thầy cô với vai trò là chủthể của hoạt động dạy - người thực hiện nhiệm vụ tổ chức,điều khiển, dẫn dắt hoạt động học của học sinh Dạy học theohướng tiếp cận năng lực người học nói chung và năng lực tựhọc nói riêng được xem là chìa khóa để đổi mới chất lượnggiáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn tác giả Dương Thị Thanh Huyền: “Quá trình
tự học và phương pháp dạy tự học cho sinh viên” khẳng định:
Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo rađộng lực mạnh mẽ cho quá trình học tập Do vậy người giáo
Trang 12viên phải tùy đặc điểm môn học, tùy đặc điểm tâm sinh lí, lứatuổi của đối tượng để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằmkhơi dây hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng nơi SV vàđiều quan trọng hơn là tạo mọi điều kiện để các em tự kíchthích động cơ học tập của mình.
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hồng nghiên cứu “phát triển
năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học môn GDCD”
đã nhấn mạnh đến các giải pháp mà giáo viên có thể thực hiện
để phát triển năng lực tự học cho học sinh, cụ thể là tạo động
cơ tự học, tăng cường thảo luận nhóm, liên hệ thực tiễn vàhướng dẫn học sinh tìm tài liệu học tập
Luận văn tác giả Trần Thị Tuyết Hồng với đề tài: “Biện
pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trường Đại học
Sư phạm kỹ thuật Nam Định” cho rằng hoạt động tự học diễn
ra dưới nhiều hình thức khác nhau: Cá nhân tự mày mò theo
sở thích và hứng thú độc lập không có sách và sự hướng dẫncủa giáo viên; tự học có sách nhưng không có giáo viên bêncạnh; tự học theo sách và có sự điều khiển của giáo viên.Trong các luận văn này các tác giả đã nghiên cứu vấn đề tựhọc ở những góc độ, khía cạnh khác nhau, chỉ ra vai trò, vị trítầm quan trọng của tự học, các phương pháp tự học, các điều
Trang 13kiện và phương tiện phục vụ tự học, các yếu tố ảnh hưởng tớikết quả tự học và các phương pháp nâng cao chất lượng tựhọc.
Tổng quan các nghiên cứu của các tác giả trong nướcnêu trên có thể nhận thấy rằng:
Dạy học theo hướng phát triển năng lực người học là xuthế đổi mới nhằm hiện thực hóa các mục tiêu chất lượng giáo
dục trong đó tự học là năng lực “chìa khóa” học tập hiệu quả
của học sinh Phát triển khả năng tự học tập của học sinh phụthuộc rất nhiều vào hoạt động dạy học cùng những chiến lượcgiảng dạy của người giáo viên
Giáo viên (GV) không chỉ dừng lại ở việc truyền thụnhững tri thức có sẵn, chỉ cần yêu cầu HS ghi nhớ mà quantrọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho HS tự mình khámphá ra những qui luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoahọc Giúp HS không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biếtcách tìm đến những tri thức ấy
Quản lý hoạt động tự học của học sinh theo hướng tiếpcận năng lực là một nội dung quan trọng trong hoạt động quản
lý nhà trường nhấn mạnh đến vai trò của các cấp quản lý
Trang 14trong mỗi nhà trường trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiệnhoạt động dạy học nhằm hướng đến phát triển năng lực ngườihọc.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động tựhọc của học sinh theo hướng tiếp cận năng lực nói chung vàhọc sinh trung học cơ sở nói riêng còn khá khiêm tốn Trongkhi đó, áp lực về việc nâng cao chất lượng giáo dục, phát triểnnăng lực cho người học và triển khai thực hiện chương trìnhgiáo dục phổ thông mới ngày một gia tăng đòi hỏi nhữngnghiên cứu mang tính toàn diện, cụ thể phù hợp với điều kiệnthực tiễn tại mỗi địa phương và nhà trường
Từ thực tế đó, việc nghiên cứu thực trạng, xác lập cácbiện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trườngTHCS trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòngtheo hướng tiếp cận năng lực là cần thiết, góp phần nâng caochất lượng dạy - học trong nhà trường, đáp ứng được yêu cầugiáo dục của huyện Thủy Nguyên nói riêng và mục tiêu giáodục THCS nói chung
Một số khái niệm cơ bản
Quản lý - quản lý nhà trường
Trang 15Quản lý
Từ khi xã hội loài người có tổ chức, có sự phân công,hợp tác lao động thì cũng từ đó xuất hiện hoạt động quản lý.Quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trongmột tổ chức nhất định nhằm đạt được hiệu quả lao động caohơn Vì vậy, quản lý mang tính lịch sử, nó thay đổi theo sựphát triển của xã hội loài người
Harold Koontz, người được coi là cha đẻ của lý luận
quản lý hiện đại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết
yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của tổ chức vớii thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.
Theo tác giả Petropxki: “Quản lý là một hoạt động thiết
yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý
là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức
về quản lý là một khoa học” [16].
Trang 16Ở Việt Nam, cũng có nhiều tác giả đã nghiên cứu và đưa
ra những khái niệm quản lý:
Theo tác giả Trịnh Quang Từ cho rằng: “Quản lý là sự
tác động có tổ chức, định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”.
Xem xét quản lý với tư cách là một hành động, Trần Kiểm
cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích
của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích
của người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt đượcmục tiêu quản lý [7]
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc
nhận định: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ
chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” và khẳng định rằng
“hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý
Trang 17(người bị quản lý) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận
hành và đạt được mục đích của tổ chức” [2; 7].
Chúng tôi cũng thống nhất sử dụng định nghĩa nêu trên
để làm công cụ nghiên cứu cho đề tài
Các chức năng quản lý cụ thể như sau
Chức năng lập kế hoạch (kế hoạch hóa)
Chức năng lập kế hoạch là một chức năng cơ bản nhấtgiúp cho nhà quản lý tiếp cận mục tiêu một cách hợp lý vàkhoa học Lập kế hoạch bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
Xây dựng mục tiêu, chương trình hành động
Xác định đầy đủ các điều kiện, cách thức cũng như cácphương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của cả hệthống quản lý và bị quản lý
Lập kế hoạch sẽ tạo ra khả năng cho việc điều hành tácnghiệp của hệ thống làm cho việc kiểm tra được dễ dàng
Chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch
Theo quan niệm của Ernest Dale, chức năng tổ chức làmột quá trình, bao gồm 5 bước sau
Trang 18Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạtđược mục tiêu của tổ chức.
Phân chia toàn bộ công việc thành các nhiệm vụ để cácthành viên hay bộ phận trong tổ chức thực hiện một cáchthuận lợi và hợp logic Bước này gọi là phân công lao động
Kết hợp các nhiệm vụ một cách logic và hiệu quả Trong
tổ chức bước này gọi là bước phân chia bộ phận
Thiết lập một cơ chế điều phối, tạo thành sự liên kết hoạtđộng giữa các thành viên hay bộ phận tạo điều kiện đạt đượcmục tiêu một cách dễ dàng
Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cơ cấu tổ chức
và tiến hành điều chỉnh nếu cần
Công tác tổ chức bao gồm
Xác định cấu trúc của bộ máy
Phân phối các nguồn lực được tiếp nhận theo cấu trúc bộmáy
Đưa ra chế phối hợp giữa các bộ phận và các thành viêntrong tổ chức
Trang 19Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình sử dụng quyền lực quản lý để tácđộng đến các đối tượng bị quản lý (con người, các bộ phận)một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họhướng vào việc đạt mục tiêu chung của hệ thống
Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
- Chỉ huy, ra lệnh - Động viên khen thưởng
- Theo dõi, giám sát - Uốn nắn, sửa chữa, chỉnh lý
Chức năng kiểm tra đánh giá
Chức năng kiểm tra của quản lý là chức năng mà các nhàlãnh đạo cần phải thực hiện để hoàn thành chức năng củangười lãnh đạo hệ thống Đối chiếu xem mục tiêu dự kiến banđầu trong toàn bộ kế hoạch đã đạt được ở mức độ nào, tìm ranguyên nhân của những sai sót lệch lạc, điều chỉnh và tạothông tin cho hoạt động quản lý tiếp theo
Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau tạo thành một chu trình quản lý Chu trình quản lý bao gồm
4 giai đoạn, trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạtđộng quản lý Chức năng kiểm tra, đánh giá là giai đoạn cuối
Trang 20cùng của hoạt động quản lý và cũng là bước khởi đầu của mộtquá trình quản lý tiếp theo.
Quản lý nhà trường
Nhà trường là tổ chức giáo dục mang tính chất nhà nước,
xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, đây
là cơ sở chủ chốt của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ trungương đến địa phương Với tính đặc thù vốn có, nhà trườngvẫn là khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý lại vừa làmột hệ thống độc lập, tự quản của xã hội
Quản lý nhà trường là nội dung quan trọng của quản lýgiáo dục bởi vì trường học là tổ chức cơ sở của các cấp quản
lý giáo dục Trong khoản 2, điều 48, Luật Giáo dục 2005 đã
định “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc
loại hình được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục”
Liên quan đến khái niệm quản lý nhà trường, nhiều tácgiả đã đưa ra những quan niệm khác nhau:
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường làquản lý hoạt động dạy và học tức là làm sao đưa hoạt động đó
Trang 21từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mụctiêu giáo dục”.
Chúng tôi quan niệm quản lý nhà trường là: “Quá trình
tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong nhà trường/cơ sở giáo dục làm cho nhà trường vận hành và đạt được mục đích đã đề ra”.
Về nội dung quản lý nhà trường bao gồm: Quản lý cơ sởvật chất và thiết bị nhằm phục vụ cho việc học tập, giảng dạy;Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường để xây dựng
cơ sở vật chất, trang thiết bị để tiến hành cho hoạt động dạyhọc và giáo dục; Quản lý tổ chức đội ngũ nhà giáo, CBCNV,tập thể HSSV thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trìnhcông tác của nhà trường; Quản lý các hoạt động chuyên môn;Quản lý chương trình, thời gian, quản lý chất lượng, theochương trình giáo dục của Bộ, của nhà trường; Quản lý việchọc tập của HSSV theo quy chế của Bộ Giáo dục và đào tạo.Hay nói một cách tổng quát quản lý nhà trường chính là việcquản lý các hoạt động trong nhà trường
Hoạt động tự học
Trang 22Về bản chất hoạt động tự học là một phần trong hoạtđộng học tập với chủ thể thực hiện là học sinh Vai trò củahoạt động tự học đối với hiệu quả hoạt động học tập cũng như
sự hoàn thiện năng lực của người học đã trở thành nội dungthu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả, xung quanhkhái niệm hoạt động tự học đã có những quan điểm sau đây:
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đã có nhiều nghiên cứu về
năng lực tự học đã đưa ra quan niệm như sau: “Năng lực tự
học được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp Nó bao gồm kỹ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra” Nguyễn Cảnh Toàn (2002), Học và dạy cách học; Nguyễn Cảnh Toàn (2009), Tự học như thế nào cho tốt) Năng lực tự học là sự bao hàm cả
cách học, kỹ năng học và nội dung học: “Năng lực tự học là
sự tích hợp tổng thể cách học và kỹ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống - vấn đề khác nhau” (Nguyễn Cảnh Toàn (2009), Tự học như thế nào cho tốt) Tác giả Thái Duy Tuyên đưa ra quan niệm: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan
Trang 23sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…)cùng các phẩm chất động
cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào
đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến
nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [14; 9].
Tác giả Nguyễn Kỳ khi bàn về năng lực tự học đã cho
rằng: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra
tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp… Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học” Như vậy tác giả đã coi năng lực tự học là biểu hiện
của tính chủ động, tự ý thức của người học nhờ vào năng lựcnày người học tự định hướng, tự điều chỉnh cá nhân hoàn thànhcác nhiệm vụ, mục tiêu học tập
Cùng chia sẻ quan điểm nêu trên, tác giả Trần Phương
cho rằng: “ Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học,
tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy” Như vậy theo quan điểm của tác giả, năng lực tự học đòi
hỏi một tổ hợp tâm lý phức hợp bao gồm tự ý thức, xác định
Trang 24mục tiêu, hình thành động cơ tự học bên cạnh đó cá nhân cónăng lực tự học còn phải có kỹ năng tự học, tự mình khai tháctài liệu, tư liệu học tập để chiếm lĩnh kiến thức Tác giả cũngđồng thời nhấn mạnh đến yếu tố vận dụng, thực hành tri thứcvào trong thực tiễn cuộc sống.
Tác giả Holec (1981) đã đưa ra định nghĩa “tự học” là
“năng lực chịu trách nhiệm về việc học của chính người học”
và khả năng này được phản ánh cụ thể trong việc xác địnhmục tiêu học tập, nội dung và kế hoạch, lựa chọn phươngpháp học tập và chiến lược, theo dõi học tập quá trình đánhgiá hiệu quả học tập [22]
Candy (Philip Candy (1991), Self-direction for lifelong
Learning: A comprehensive guide to theory and practice) đã
liệt kê 12 biểu hiện của người có năng lực tự học Ông chiathành 2 nhóm để xác định nhóm yếu tố nào sẽ chịu tác độngmạnh từ môi trường học tập Nhóm đặc biệt bên ngoài: chính
là phương pháp học nó chứa đựng các kỹ năng học tập cầnphải có của người học, chủ yếu được hình thành và phát triểntrong quá trình học, do đó phương pháp dạy của giáo viên sẽ
có tác động rất lớn đến phương pháp học của học trò, tạo điều
Trang 25kiện để hình thành, phát triển và duy trì năng lực tự học.Nhóm đặc điểm bên trong (tính cách) được hình thành và pháttriển chủ yếu thông qua các hoạt động sống, trải nghiệm củabản thân và bị chi phối bới yếu tố tâm lý Từ quan điểm này,ông nhấn mạnh đến việc năng lực tự học là năng lực cá nhânđồng thời là sản phẩm của hoạt động dạy học Nếu người dạytạo môi trường để học sinh được thử nghiệm và kiểm chứngbản thân sẽ tạo ra được động lực để người học phấn đấu, cốgắng tự học [27].
Arnold (1999) chỉ ra rằng năng lực tự học được bao gồm
bởi sự hỗ trợ về mặt tâm lý - xã hội và hỗ trợ kỹ thuật Sự trợ
giúp về tâm lý xã hội đề cập đến động lực và yếu tố ảnhhưởng đến năng lực tự học; hỗ trợ kỹ thuật có nghĩa là sự hỗtrợ khả năng của người học để đặt mục tiêu, lựa chọn học liệu,phương pháp tiếp cận, hoàn thành và thực hiện các tác vụ,cũng như khả năng tự giám sát và khả năng chọn tiêu chí đánhgiá và khả năng tự đánh giá [24, tr 16]
Tác giả Taylor (Tay lor, B (1995), Self- directed
Learning: Revisiting an idea most appropriare for middle school students) khi nghiên cứu về vấn đề tự học của học sinh
Trang 26trong trường phổ thông đã xác định năng lực tự học bao gồmđộng cơ học tập và bền bỉ, có tính độc lập, kỉ luật, tự tin vàbiết định hướng mục tiêu, có kỹ năng hoạt động phù hợp Vớiquan niệm đó, tác giả đã nêu ra ba yếu tố cơ bản của người tựhọc, đó là thái độ, tính cách và kỹ năng Có thể nhận thấy, sựphân định đó để nhằm xác định rõ ràng những biểu hiện tưduy của bản thân và khả năng hoạt động trong thực tế chứkhông đơn thuần chỉ đề cập đến khía cạnh tâm lí của ngườihọc.
Tác giả (Zimmerman) nêu quan điểm tự học là một hoạtđộng gắn chặt với hoạt động giảng dạy Hình thành năng lực
tự học có liên quan đến tổ chức hoạt động dạy học, phươngpháp dạy học, các hình thức giảng dạy và các yếu tố khác.Bên cạnh đó, năng lực tự học bị ảnh hưởng bởi nhận thức,thói quen, kỹ năng và phương pháp và tính tích cực của cánhân Từ quan điểm này, phát triển năng lực tự học cho ngườihọc phải bắt đầu từ trau dồi nhận thức, thói quen, kỹ năng vàphương pháp, trong đó kỹ năng tự học (cách tự học) là nộidung cốt lõi [20]
Tác giả (Pintrich, 2000) cho rằng “tự học” là qui trình
mang tính phản hồi của chính người học Trong đó người học
Trang 27tự định hướng quá trình học tập và dựa trên những phản hồinày để điều chỉnh hoạt động học tập của họ [24].
Có thể nhận thấy mặc dù có rất nhiều quan niệm khácnhau về hoạt động tự học, song xu hướng nhận được sự đồngtình của đa số các tác giả là tiếp cận tự học theo mô hình chức
năng “manner model theory" Cách tiếp cận này nhấn mạnh
đến các chức năng tâm lý mà người học cần có để tự học như
tự quản lý bản thân, tự giác, tự ý thức và hình thành động cơ Tuy vậy có thể nhận thấy điểm chung của các quan niệm nêutrên là:
Mối quan hệ của tự học với quá trình dạy học của giáoviên, sự hỗ trợ của nhà trường tạo ra các điều kiện cho nănglực tự học được hình thành và phát triển (Nhấn mạnh đến vaitrò của các yếu tố khách quan như người dạy, chương trìnhgiáo dục, cơ sở vật chất, sự ủng hộ của nhà trường )
Hoạt động tự học phản ánh tính tích cực của chính ngườihọc (nhấn mạnh đến tự quản lý, ra điều chỉnh, tự ý thức của cánhân )
Chúng tôi quan niệm hoạt động tự học của học sinh
trung học cơ sở là hoạt động do học sinh (người học) là chủ
Trang 28thể dưới sự hướng dẫn, tổ chức của thầy cô giáo nhằm xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý của giáo viên, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập.
Từ quan niệm nêu trên cho thấy:
Tự học gắn liền với hoạt động học tập trong đó đòi hỏimức độ cao về tự ý thức, chủ động của người học
Tự học bao giờ cũng chứa đựng các thành tố bao gồm:
Xác định mục tiêu tự học
Xác định nội dung tự học
Lựa chọn và thực hiện các hình thức, phương pháp tựhọc
Khai thác phương tiện tự học
Tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Trang 29Về mặt chức năng tâm lý, có thể rõ hơn bản chất củahoạt động tự học qua sơ đồ sau:
Như vậy có thể thấy tự học là hoạt động độc lập chiếmlĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ,
sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổnghợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh trithức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch
sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bảnthân người học Hoạt động tự học của học sinh hiểu là hoạtđộng giải quyết các nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của giáoviên mà không giáp mặt thầy, nhằm đáp ứng các yêu cầu củaviệc học tập của nhà trường
- Quản lý hoạt động tự học
Quản lý hoạt động tự học của học sinh là một nội dungquản lý rất quan trọng trong hoạt động quản lý nhà trường,nếu làm tốt hoạt động này sẽ góp phần tạo ra những nguồnnhân lực đáp ứng được nhu cầu của xã hội trong một thời kỳđổi mới Với ý nghĩa đó, trong chương trình giáo dục phổthông mới sẽ được triển khai tới đây, năng lực tự học đượcxác định là một trong mười năng lực cần phát triển ở người
Trang 30học Hoạt động tự học là hoạt động do học sinh thực hiệnsong không nằm ngoài hoạt động dạy học diễn ra trong nhàtrường bởi hoạt động tự học diễn tra thông qua hoạt động dạy
học của thầy cô giáo Davydov: “Các hoạt động dạy- học là
các hoạt động cùng nhau của thầy và trò” đã chỉ ra sự tương
tác trong hoạt động mang tính đặc thù này Tính thống nhấtcủa hoạt động dạy và hoạt động học được thể hiện qua sơ đồdưới đây:
Từ những phân tích về bản chất hoạt động tự học có thểthấy mặc dù học sinh là chủ thể của hoạt động tự học vàdường như toàn bộ tiến trình hoạt động vắng bóng sự có mặtcủa giáo viên (xin được nhấn mạnh là về mặt hình thức) songphải khẳng định hoạt động học tập nói chung, tự học nói riêngphụ thuộc rất nhiều vào hoạt động dạy học của thầy cô giáo
Mối quan hệ giữa hoạt động dạy học và hoạt động tự học của học sinh
Hoạt động dạy học là hoạt động nghề nghiệp riêng củangười giáo viên, điều đó đòi hỏi người GV phải có tiêu chuẩn
và năng lực chuyên môn cụ thể Bên cạnh đó, hoạt động dạyhọc là hoạt động mang tính tương tác, GV lập kế hoạch dạy
Trang 31học trên cơ sở nắm bắt nhu cầu, đặc điểm của học sinh Bằngnhững tác động mang tính chiến lược, GV tác động vào HSgiúp HS phát triển, mặt khác những thông tin phản hồi từ HS
là cơ sở để GV điều chỉnh hoạt động dạy của mình Như vậy,bản chất của hoạt động dạy học là sự tương tác cùng hướng vềmột mục tiêu - Mục tiêu phát triển người học Năng lực củahoạt động dạy của người thầy và năng lực học của học sinhđược thể hiện ở các mức độ đạt được của mục tiêu chươngtrình giáo dục đề ra Do vậy, hoạt động dạy có kết quả khi nótác động cùng hướng với hoạt động học Hoạt động dạy học
có tính tương tác ở chỗ, nó phải bắt nhịp cùng người học, làngười tham gia hoạt động học cả về trí tuệ và tình cảm
Để hoạt động học nói chung và tự học nói riêng có kếtquả thì trước tiên chúng ta phải coi trọng vai trò người giáoviên, giáo viên phải xuất phát từ logic của khái niệm khoahọc, xây dựng công nghệ dạy học, tổ chức tối ưu hoạt độngcộng tác của dạy và học, thực hiện tốt các chức năng của dạycũng như của học, đồng thời bảo đảm liên hệ thuận nghịchthường xuyên, bền vững Từ thực tế này chỉ ra rằng kết quảhoạt động tự học của học sinh ở trường phổ thông phụ thuộcrất nhiều vào công tác quản lý hoạt động dạy học nói chung
Trang 32tại mỗi nhà trường Ban giám hiệu phải đặc biệt chú ý hỗ trợhoàn thiện hoạt động dạy của giáo viên; chuẩn bị cho họ cácđiều kiện về chuyên môn, học liệu, cơ sở vật chất để từ hìnhthành và phát triển ở học sinh các phẩm chất và năng lực cầnđạt.
Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn gồm hoạt động dạy
và hoạt động học luôn luôn tương tác với nhau, thâm nhậpvào nhau, sinh thành ra nhau Sự tương tác giữa dạy và họcmang tính chất cộng tác, trong đó dạy giữ vai trò chủ đạo
Quá trình dạy học là quá trình bảo đảm cùng một lúc ba
sự thống nhất
Thống nhất giữa dạy và học
Thống nhất giữa truyền đạt với chỉ đạo trong dạy
Thống nhất giữa lĩnh hội và tự chỉ đạo trong học
Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biệnchứng của dạy và học, nó được thực hiện trong và bằng sựtương tác có tính chất cộng đồng và hợp tác (cộng tác) giữadạy và học, tuân theo logic khách quan của nội dung dạy học(khái niệm khoa học – đối tượng của học)
Trang 33Quá trình dạy học là một quá trình hoạt động xã hội củacon người: Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò.Các hoạt động này có nội dung, mục tiêu rõ ràng, với phươngtiện và những phương pháp nhất định Sau một chu kì vậnđộng, các hoạt động dạy và học phải đạt tới những kết quả màngười dạy cũng như người học mong muốn Hoạt động dạy vàhoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, điều này thểhiện trong mối quan hệ qua lại giữa các thành tố: mục tiêu,nội dung, phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động học.Hoạt động dạy của người giáo viên bao giờ cũng bắt đầu từngười học, lấy đặc điểm của người học để triển khai tổ chứchoạt động dạy.
Tất cả các giai đoạn của tiến trình giảng dạy do ngườigiáo viên tiến hành đều phản ánh đặc điểm của người học Ý
nghĩa của nguyên tắc “lấy học sinh làm trung tâm”, “tiếp cận
năng lực người học” chính là ở đó.
Mặc dù chủ thể hoạt động học là người học song chính
từ mối quan hệ thống nhất nêu trên có thể khẳng định để hoạt
động tự học đạt hiệu quả thì trước phải xuất phát từ vai trò người giáo viên Cụ thể, đối với hoạt động tự học, vai trò của
người giáo viên thể hiện ở chỗ người giáo viên trước hết là
Trang 34người tạo động lực cho người học bắt tay tự học bằng nhữngvấn đề được nêu ra mang tính khích lệ sự tìm tòi, khám phá,mục tiêu bài học được công bố mang tính chỉ dẫn cho ngườihọc có hướng đi, nội dung bài giảng, các phương pháp vàhình thức dạy học tiếp cận nhu cầu người học, tạo điều kiệncho người học được liên hệ lại kiến thức đã học, chủ độngnắm bắt kiến thức; cung cấp phản hồi và học liệu thườngxuyên để người học có cơ sở tổ chức hoạt động tự học củamình.
Tuy nhiên, cũng như bất kỳ hoạt động nào diễn ra trongnhà trường, hoạt động dạy cũng như hoạt động học phụ thuộcvào vai trò quản lý của các cấp quản lý cụ thể là Ban giámhiệu, bộ phận chức năng phụ trách đào tạo, tổ trưởng bộ môn.Nếu các cấp quản lý chú trọng đến việc phát triển năng lực tựhọc cho học sinh, họ sẽ dẫn dắt, chỉ đạo giáo viên thực hiện,khích lệ và hỗ trợ các kế hoạch dạy học của giáo viên ưu tiênphát triển năng lực tự học ở học sinh, chỉ đạo thực hiện hoạtđộng kiểm tra đánh giá, cung cấp cơ sở vật chất để học sinh
có điều kiện tự học Nói tóm lại ở cấp độ quản lý nhà trường,
có thể nhận thấy vai trò của các cấp quản lý trong nhà trường
có ý nghĩa quan trọng trong hiệu quả hoạt động tự học Từ
Trang 35quan điểm này, chúng tôi xin đưa ra khái niệm như sau:
Quản lý hoạt động tự học là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy học trên cơ sở vận dụng những cơ sở
lí thuyết về tự học và đánh giá bối cảnh thực tiễn tại nhà trường nhằm góp phần hình thành và phát triển năng lực tự học nói riêng và toàn diện nhân cách học sinh nói chung theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.
Từ khái niệm nêu trên có thể nhận thấy quản lý hoạt tựhọc của học sinh phải được thực hiện thông qua quản lý hoạtđộng dạy học, cũng từ nguyên tắc đó việc quản lý hoạt động
tự học của học sinh theo tiếp cận năng lực phải thông quaquản lý hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực Chúng tôi
sẽ sử dụng quan điểm này để triển khai thực hiện đề tài
Năng lực, tiếp cận năng lực
Năng lực
Khái niệm năng lực thu hút sự quan tâm nghiên cứu củanhiều tác giả thuộc nhiều lĩnh vực đặc biệt trong những nămgần đây Quan niệm nhận được sự đồng tình của đa số các tác
giả coi “năng lực (competency) là thuộc tính cá nhân cho
Trang 36phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” Thuộc tính
đó thể hiện ở tổ hợp những hành động vật chất và tinh thầntương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những đặcđiểm cá nhân (sinh học, tâm lí và giá trị xã hội) được thựchiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tếcủa hoạt động
Trong một báo cáo của Trung tâm nghiên cứu châu Âu
về việc làm và lao động năm 2005, các tác giả đã phân tích rõmối liên quan giữa các khái niệm năng lực (competence), kĩnăng (skills) và kiến thức (knowledge) Báo cáo này đã tổnghợp các định nghĩa chính về năng lực trong ñó nêu rõ nănglực là tổ hợp những phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp íchcho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào
đó Năng lực có cấu trúc phức tạp, song những thành tố cơ
bản tạo nên cơ sở cấu trúc của nó gồm tri thức, kĩ năng và
hành vi biểu cảm (thái độ) Năng lực là khả năng cá nhân đáp
ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụtrong một bối cảnh cụ thể Những thứ khác trong năng lựcnhư tri thức, thái độ, tình cảm, tâm vận động, sức khỏe v.v…cũng rất quan trọng, song thiếu kĩ năng thì chúng trở nên kém
Trang 37giá trị mặc dù không phải hoàn toàn vô dụng.
Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập quagiá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trảinghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa ý chí Đốivới học sinh, năng lực là khả năng làm chủ những hệ thốngkiến thức, kĩ năng, thái độ… phù hợp với lứa tuổi và vận hànhchúng một cách hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các
em trong cuộc sống
Ở Việt Nam, khái niệm năng lực cũng thu hút sự quantâm của các nhà nghiên cứu cũng như dư luận xã hội khi giáodục đang thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện,chuyển từ giáo dục kiến thức sang giáo dục năng lực Các nhàtâm lí học cho rằng năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộctính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của mộthoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệuquả cao
Tác giả Nguyễn Công Khanh (2012) đưa ra quan niệm:Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thốngkiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành(kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công
Trang 38nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra chochính các em trong cuộc sống Năng lực của học sinh là mộtcấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứatrong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng, mà còn là cả niềmtin, giá trị, trách nhiệm xã hội thể hiện ở tính sẵn sàng hànhđộng của các em trong môi trường học tập phổ thông và những
điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội [14].
Tiếp cận năng lực
Tiếp cận năng lực hay theo hướng phát triển năng lựcđược thực hiện trong giáo dục, đào tạo cách tiếp cận nhậnđược sự ủng hộ của các nhà giáo dục và nhà khoa học trênkhắp thế giới, vấn đề này cho đến nay vẫn được thảo luận từcác góc độ khác nhau và đang được nhìn từ những quan điểmkhác nhau Khái niệm này xuất hiện lần đầu tại Mỹ vào nhữngnăm 60 trong bối cảnh những đòi hỏi của xã hội về một nềngiáo dục hiệu quả, mục đích là đào tạo nguồn nhân lực có thểcạnh tranh thành công trong lao động thị trường (Berkaliev etal., 2007) Kể từ đó đến nay, những ưu điểm của chiến lượcdạy học này đã thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia để trởthành một xu hướng mới trong giáo dục [26]