1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết học Hy LạpLa Mã cổ đại là tiếng chuông vàng, là nhịp cầu vững chắc, nối những bến bờ triết học sau này.Đến nay những gì mà triết học Hy Lạp cổ đại mang đến cho nhân loại vẫn còn nguyên giá trị đó.Triết học Hy Lạp cổ đại chia làm ba thời kỳ. Thời ky

17 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 47,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết học Hy LạpLa Mã cổ đại là tiếng chuông vàng, là nhịp cầu vững chắc, nối những bến bờ triết học sau này.Đến nay những gì mà triết học Hy Lạp cổ đại mang đến cho nhân loại vẫn còn nguyên giá trị đó.Triết học Hy Lạp cổ đại chia làm ba thời kỳ. Thời ky tiền Socrate, thời kỳ Socrate là thời kỳ cực thịnh, thời kỳ hậu Socrate. Trong giai đoạn này có rất nhiều triết gia nổi bậc như: Thales, Anaximandre, Heraclite, Pythagore, Xenophane, Parmenide, Zenon, Anaxagore, Empedocle, Democrite, Socrate, Platon, Aristote…Triết lý Hy Lạp cổ đại là những viên gạch đầu tiên xây nên toàn bộ ngôi nhà văn minh của Châu Âu ngày nay. Ta có thể thấy cả bề mặt và bề trái của Châu Âu ngày nay qua nền triết học Hy Lạp cổ đại. Điều đó làm cho nó sáng rực rỡ trên vũ đài triết học nhân loại và trở nên bất hủ. Marx nói: “Dại dột cho ai không thấy giá trị Hy Lạp cổ đại”

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Triết học ra đời cách đây trên hai nghìn năm trăm năm ở một số trung tâm lớn như: Hy Lạp La Mã cổ đại, Ấn Độ cổ đại, Trung Quốc cổ đại…(Từ khoảng thế kỉ VIII đến thế kỉ V TCN)

Trong lịch sử triết học nhiều người cố gắng đưa ra những định nghĩa khác nhau về triết học.Triết gia Jules Lachelier, trong lớp dạy triết nhập môn của ông

ở Toulouse , đã mở đầu bằng câu: “Triết học là gì ?” và ông trả lời ngay là:

“Tôi không biết” Câu trả lời của ông có vẻ khó hiểu, nhưng nó lại cho thấy

danh từ Triết Lý bao hàm một lãnh vựckhá rộng rãi nên có nhiều nhận định mâu

thuẫn nhau: “ Có người tưởng rằng : Triết lý tiết lộ những bí mật kỳ diệu Người khác lại thấy triết lý là một lối suy luận vô căn cứ, rồi họ bỏ qua luôn không đếm xỉa tới nữa Có khi người ta coi triết lý là một cố gắng đầy ý nghĩa của những thiên tài.Người khác lại khinh thường triết lý, cho triết lý là một lôi suy luận chủ quan, cố chấp, vô ích do một số đầu óc mơ mộng nghĩ ra Có người cho rằng: triết lý liên quan đến vận mệnh của mỗi người, nên triết lý phải đơn sơ ai ai cũng hiểu được Người khác lại tưởng rằng : triết lý quá khó, không thể học hỏi hay sưu tầm được.” (Karl Jaspers “Triết lý là gì?”, trong

Triết học nhập môn Lê Tôn Nghiêm dịch.Bộ Giáo dục và Thanh niên – trung tâm học liệu xuất bản, 1969)

Triết học Hy Lạp là một di sản quý giá không chỉ của dân tộc Hy Lạp, mà còn của cả nhân loại.Thuật ngữ “triết học” lần đầu xuất hiện ở đây mang ý nghĩa

là “yêu mến sự thông thái”, nhà triết học là người yêu chân lý, muốn tìm đến sự thông thái Vì vậy, triết học được xem là hình thức cao nhất của tri thức.Với tư cách một hệ thống hoàn chỉnh, triết học Hy Lạp cổ đại ra đời vào khoảng cuối thế kỷ VII – đầu thế kỷ VI trước Công nguyên và tồn tại đến thế kỷ II – III sau Công nguyên, trong thời chiếm hữu nô lệ Với nền văn minh rực rỡ của mình,

Hy Lạp luôn thu hút sự quan tâm tìm hiểu của không ít người nghiên cứu và cho đến nay, những thành tựu của nền văn minh ấy vẫn luôn khiến người ta phải ngưỡng mộ, khâm phục Mặc dù triết học Hy Lạp cổ đại là giai đoạn đầu tiên

Trang 2

trong sự phát triển của lịch sử tư tưởng phương Tây, nhưng những tư tưởng triết học, những thành tựu mà nó đã đạt được thì không ai có thể phủ nhận Không chỉ thế, những thành tựu của triết học Hy Lạp còn có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của hầu hết các trào lưu triết học sau này Ph.Ănghen đã đánh giá:

“Từ các hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học Hy Lạp, đã có mầm mống

và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này”.Có thể nói, triết

học Hy Lạp cổ đại đã ghi một mốc son chói lọi trong lịch sử tư tưởng mà đến tận ngày nay, những giá trị của nó vẫn luôn cần được nghiên cứu.Nhất là những đặc điểm trong tư tưởng triết học Hy Lạp La Mã cổ đại mang nhiều giá trị cho các nền triết học khác sau này

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Điều kiện ra đời.

1.1 Điều kiện tự nhiên.

Hy Lạp cổ đại chính là cái nôi của nền triết học phương Tây.Đây là quốc gia rộng lớn có khí hậu ôn hòa.Bao gồm miền Nam bán đảo Ban Căng (Balcans), miền ven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở miền Egee

Hy Lạp được chia làm ba khu vực:Bắc , Nam và Trung bộ Trung bộ có nhiều dãy núi ngang dọc và những đồng bằng trù phú, có thành phố lớn như Athen.Nam bộ là bán đảo Pelopongnedơ với nhiều đồng bằng rộng lớn phì nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt.Vùng bờ biển phía Đông của bán đảo Ban Căng khúc khuỷu nhiều vịnh, hải cảng thuận lợi cho ngành hàng hải phát triển.Các đảo trên biển Êgiê (Egée) là nơi trung chuyển cho việc đi lại, buôn bán giữa Hy Lạp với các nước ở Tiểu Á và Bắc Phi.Vùng ven biển Tiểu Á là đầu mối giao thương giữa Hy Lạp và các nước phương Đông.Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy nên Hy Lạp cổ đại sớm trở thành một quốc gia chiếm hữu nô lệ có một nền công thương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú đa dạng.Nơi có nhiều triết gia mà triết lý của họ trở nên bất hủ.(NTH-Võ Tiến Lâm.Trang 3.Lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại)

Trang 3

1.2 Về kinh tế.

Hy Lạp cổ đại nằm ở một vị trí vô cùng thuận lợi về khí hậu, đất đai, biển

cả và lòng nhiệt thành của con người là những tài vật, tài lực vô giá để cho tư duy bay bổng, mở rộng các mối bang giao và phát triển kinh tế Thế kỷ VIII –

VI TCN, đây là thời kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Hy Lạp cổ đại là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Lúc bấy giờ đồ sắt được dùng phổ biến, năng xuất lao động tăng nhanh, sản phẩm dồi dào, chế độ

sở hữu tư nhân được củng cố Sự phát triển này đã kéo theo phân công lao động trong nông nghiệp, giữa ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi Xu hướng chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ đã thể hiện ngày càng rõ nét Sự phát triển mạnh

mẽ của công nghiệp, thủ công nghiệp từ cuối thế kỷ VIII TCN là lực đẩy quan trọng cho trao đổi, buôn bán, giao lưu với các vùng lân cận Engels đã nhận xét:

“Phải có những khả năng của chế độ nô lệ mới xây dựng được một quy mô phân công lao động lớn lao hơn trong công nghiệp và nông nghiệp, mới xây dựng được đất nước Hy Lạp giàu có Nếu không có chế độ nô lệ thì cũng không có quốc gia Hy Lạp, không có khoa học và công nghiệp Hy Lạp”

1.3 Về chính trị - xã hội

Từ điều kiện kinh tế đã dẫn đến sự hình thành chính trị - xã hội, xã hội phân hóa ra làm hai giai cấp xung đột nhau là chủ nô và nô lệ Lao động bị phân hóa thành lao động chân tay và lao động trí óc

Đất nước bị chia phân thành nhiều nước nhỏ.Mỗi nước lấy một thành phố làm trung tâm.Trong đó, Sparte và Athen là hai thành phố cổ hùng mạnh nhất, nòng cốt cho lịch sử Hy Lạp cổ đại Thành bang Athen nằm ở vùng đồng bằng thuộc Trung bộ Hy Lạp, có điều kiện địa lý thuận lợi nên đã trở thành một trung tâm kinh tế, văn hóa của Hy Lạp cổ đại, và là cái nôi của triết học Châu Âu Tương ứng với sự phát triển kinh tế, văn hóa là thiết chế nhà nước chủ nô dân chủ Athen Thành Sparte nằm ở vùng bình nguyên, đất đai rất thích hợp với sự phát triển nông nghiệp Chủ nô quý tộc thực hiện theo lối cha truyền con nối Chính vì thế Sparte đã xây dựng mộtthiết chế nhà nước quân chủ, thực hiện sự

Trang 4

áp bức rất tàn khốc đối với nô lệ (NTH-Võ Tiến Lâm Trang 4.Lịch sử triết học

Hy Lạp cổ đại) Do sự tranh giành quyền bá chủ Hy Lạp, nên hai thành phố trên tiến hành cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài hàng chục năm và cuối cùng dẫn đến sự thất bại của thành Athen Cuộc chiến tàn khốc đã lưu lại sự suy yếu nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và quân sự của đất nước Hy Lạp Chiến tranh, nghèo đói đã nảy sinh các cuộc nổi dậy của tầng lớp nô lệ Nhưng lại thất bại vì

họ xuất phát từ nhiều bộ lạc khác nhau, không có ngôn ngữ chung, không có quyền hạn, không được tham gia vào các hoạt động xã hội, chính trị Chớp lấy thời cơ, Vua Philíp ở phía Bắc Hy Lạp đã đem quân xâm chiếm toàn bộ bán đảo

Hy Lạp thế kỷ thứ II TCN, Hy Lạp một lần nữa bị rơi vào tay của đế quốc La

Mã Tuy đế quốc La Mã chinh phục được Hy Lạp, nhưng lại bị Hy Lạp chinh phục về văn hóa Engels đã nhận xét “không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không có Châu Âu hiện đại được”

Vì điều kiện kinh tế, nhu cầu buôn bán, trao đổi hàng hóa mà các chuyến vượt biển đến với các nước phương Đông trở nên thường xuyên.Chính vì thế tầm nhìn của họ cũng được mở rộng, những thành tựu văn hóa của Ai Cập, Babilon đã làm cho người Hy Lạp ngạc nhiên.Tất cả các lĩnh vực, những yếu tố của nước bạn đều được người Hy Lạp đón nhận, “Những người Hy Lạp mãi mãi

là đứa trẻ nếu không hiểu biết gì về Ai Cập”.Trong thời đại này Hy Lạp đã xây dựng được một nền văn minh vô cùng xán lạn với những thành tựu rực rỡ thuộc các lĩnh vực khác nhau Chúng là cơ sở hình thành nên nền văn minh phương Tây hiện đại:

Về văn học, người Hy Lạp đã để lại một kho tàng văn học thần thoại rất phong phú, những tập thơ chứa chan tình cảm, những vở kịch hấp dẫn, phản ánh cuộc sống sôi động, lao động bền bỉ, cuộc đấu tranh kiên cường chống lại những lực lượng tự nhiên, xã hội của người Hy Lạp cổ đại

Về nghệ thuật, đã để lại các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa có giá trị

Trang 5

Về luật pháp, đã sớm xây dựng một nền pháp luật và được thực hiện khá nghiêm tại thành bang Athen (NTH-Võ Tiến Lâm.Trang 5.Lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại)

Về khoa học tự nhiên, những thành tựu toán học, thiên văn, vật lý… được các nhà khoa học tên tuổi như Thalés, Pythago, Heraclite sớm phát hiện ra.Và đặc biệt, người Hy Lạp cổ đại đã để lại một di sản triết học vô cùng đồ sộ và sâu sắc

2 Đặc điểm cơ bản của triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại.

Ra đời và phát triển trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử như vậy, Triết học Hy Lạp – La Mã cổ đạicó những đặc điểm chính:

2.1 Đặc điểm thứ nhất: Mang tính giai cấp của giai cấp thống trị

¿Triết học Hi Lạp cổ đại là ngọn cờ lí luận của giai cấp chủ nô, ngay từ đầu đã mang tính giai cấp sâu sắc.Về thực chất, đó là thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống trị, là công cụ để duy trì và bảo vệ trật tự xã hội đương thời, phục vụ cho giai cấp chủ nô Engel đã nhận xét:

“ Chính là vì trong các hình thức muôn vẻ của triết học Hi Lạp, đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết các loại thế giới quan sau này” và “ Khoa học lí luận và tự nhiên cũng không trở lại với người Hi Lạp nên nó muốn truy cứu lịch

sử phát sinh, phát triển của những nguyên lí phổ biến của nó ngày nay”

Quan Niệm Của Héraclite (530-470 TCN)

“Đấu tranh là nguồn gốc của sự hiện hữu và khởi nguyên của sự sống và tồn tại”.[2] Ông cho rằng đấu tranh là điều kiện để hài hoà Chiến tranh phân hoá xã hội làm cho người này thành thế này, người kia thành thế kia Thông qua đấu tranh, bản chất của sự vật được bộc lộ và nhờ đó con người mới nhận chân được sự vật Về chính trị xã hội ông đứng trên lập trường của chủ nô quý tộc mà chống đối quyết liệt tầng lớp chủ nô dân chủ.Ông cũng tỏ ra khinh miệt tầng lớp quần chúng và yêu cầu đàn áp triệt để bất cứ cuộc khởi nghĩa nào của quần chúng nhân dân.Ông đề cao vai trò của cá nhân xuất sắc, đối với ông, một người

ưu tú thì hơn cả vạn người bình thường

Trang 6

Quan Niệm Của Pythagore (571-497 TCN)

Bản chất của trường phái do ông sáng lập không chỉ là triết học mà là một

tổ chức chính trị Cũng giống như của Héraclite, ông chủ trương chống đối giai cấp chủ nô dân chủ Bởi trước đó, giai cấp chủ nô quý tộc bị giai cấp chủ nô dân chủ đánh chiếm và thành lập chính quyền do đó ông thành lập một tổ chức chính trị và triết học để kêu gọi đấu tranh giành lại chính quyền

Tư tưởng triết học Đémocrite (460-370 TCN)

Quan điểm chính trị - xã hội Đémocrite đứng trên lập trường của chủ nô dân chủ, bảo vệ nền dân chủ Athen chống lại chế độ chuyên chính.Ông cho rằng “cái nghèo trong chế độ dân chủ cũng quý hơn cái hạnh phúc của công dân dưới thời quân chủ y như là tự do quý hơn nô lệ” Nhưng do xuất thân từ tầng lớp chủ nô nên ông chỉ đề cập đến dân chủ của chủ nô và công dân tự do; còn nô lệ phải biết tuân theo người chủ Ông coi nhà nước là trụ cột của xã hội, cần phải xử lý nghiêm khắc những kẻ vi phạm pháp luật hay các chuẩn mực đạo đức

Quan Niệm Của Socrate (469-399 TCN)

Thực ra Socrate cũng như những triết gia trước, không có đề cập gì nhiều đến vấn đề chính trị xã hội mà chỉ nói đến đạo đức và lí trí Ông nói: “một xã hội sáng suốt là một xã hội mà trong đó người dân cảm thấy được hưởng quyền lợi thì nhiều, mà bị hạn chế tự do thì ít Trong xã hội ấy, ăn ngay ở thẳng là giữ đúng quyền lợi và nghĩa vụ mình và an ninh trật tự cũng như thiện chí trong xã hội”

Về phần chính quyền,theo ông, là giai cấp lãnh đạo thì phải lo an dân, chăm sóc đời sống và bảo vệ họ, còn ngược lại thì đó chỉ là một nhóm ô hợp hỗn độn và không xứng đáng Do vậy ông chủ trương chống chế độ chủ nô dân chủ

mà ủng hộ chủ nô quý tộc và đó là lí do mà ông đã bị kết án tử hình sau khi đám chủ nô dân chủ lên nắm quyền Để xây dựng một xã hội lớn mạnh tốt đẹp thì mọi người phải nhận thức được đâu là quyền lợi chính đáng, thấu triệt được luật nhân quả, kiểm soát được lòng ham muốn và chịu trách nhiệm đối với bản

Trang 7

thân mình (cái chết của ông là một lời khẳng định về tính trách nhiệm đó) để khỏi cảnh hỗn độn tự diệt và đi đến một xã hội kỷ cương Và tất nhiên, con người phải luôn cố gắng học hỏi và phát triển trí tuệ để ngăn ngừa những tham vọng, si mê bởi tất cả tội lỗi từ vô minh

Quan điểm của Platon

Xã hội trong quốc gia lí tưởng của Platon được phân chia thành ba giai cấp rõ rệt tương ứng với từng bản tính và chức năng của mỗi giai cấp: giai cấp lãnh đạo tức là những triết gia trí thức, hai là giai cấp chiến binh tức là những người tham gia vào quan đội cảnh sát và ba là giai cấp thương nhân tức là những người buôn bán và sản xuất lương thực.[13] Sở dĩ ông phân chia ba giai cấp xã hội như vậy bởi ông căn cứ vào học thuyết ý niệm của ông, nó tương ứng với phần lí trí, dũng cảm và bản năng hay dục vọng Với những đức tính như vậy con người cần có những biện pháp cư xử khác nhau thì những giai cấp trong xã hội cũng cần phải phân biệt rạch ròi trong từng địa vị của mình

Sự nhập nhằng, xáo trộn và bất phân biệt giữa các tầng lớp dẫn đến sự rối loạn xã hội và cũng là nguyên nhân của sự mất nước Hạng người thương nhân thì thích hợp với buôn bán; quân nhân thì thích hợp ở chiến trường nhưng tất cả

họ sẽ là tai hại nếu làm chính trị bởi công việc trị nước vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, trong đó cần nhiều sự tận tâm và học hỏi nhưng với họ thì chỉ có sự vụng về và những thủ đoạn Do vậy, chỉ có hạng người triết gia, nhân đức mới thích hợp và đủ khả năng lãnh đạo đất nước

* Triết học Hi Lạp đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người Mặc dù giữa các nhà triết học vẫn còn nhiều bất đồng về vấn đề này, nhưng nhìn chung, họ đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa Tuy con người

đã được xem xét trong đời sống của nó nhưng vẫn chỉ là con người cá thể, giá trị thẩm định con người chủ yếu ở khía cạnh đạo đức, giao tiếp và nhận thức.Sựquan tâm đến vấn đề con người trong triết học Hy Lạp này lại rất khác với tư tưởng triết học của phương Đông Nếu triết học Ấn Độ hướng về sự giải thoát con người, triết học Trung Quốc quan tâm tới vấn đề con người để phục vụ

Trang 8

cho mục đích chính trị thì triết học Hy Lạp cổ đại hình thành với mục đích nhằm thỏa mãn khả năng nhận thức của con người

Có thể thâu tóm ba chủ đề chính nổi bật lên trong sáng tác của các nhà triết học Hy Lạp, từ thời kỳ hình thành các thị quốc đầu tiên đến thời kỳ Hy Lạp hóa:

Trước hết là tìm hiểu tự nhiên Câu hỏi "thế giới bắt đầu từ đâu và quay

về đâu?", "bản chất của thế giới là gì?" cho thấy nỗ lực của các triết gia mong muốn vượt qua thế giới quan thần thoại, đem đến lời giải đáp nghiêm túc về tất

cả những gì diễn ra xung quanh và tác động trực tiếp lên đời sống con người Sự quan tâm đến tự nhiên không phải vì bản tính tự nhiên, mà, như Aristote nhấn mạnh, vì chính con người, vì sự khẳng định vị trí của con người trong thế giới

Do đó, chủ đề tiếp theo là lý giải khả năng nhận thức của con người Bắt đầu từ Talét và Pitago, con người không chỉ được xem như một thành viên của

vũ trụ, một vũ trụ đầy thần tính, mà còn luôn chứng tỏ sự hiện hữu vượt trội của mình nhờ có năng lực nhận thức “ngang tầm thần linh”.Trong suy nghĩ của Pitago về thiên chức của triết gia (triết gia là philosophos, người yêu mến sự thông thái) đã ẩn chứa ý tưởng sâu xa đó Các nhà triết học càng về sau càng tập trung tranh luận với nhau về khả năng và giới hạn của nhận thức, về các phương pháp và phương tiện nhận thức, về nguồn gốc, cơ sở và tiêu chuẩn của chân lý

Triết học Hy Lạp, trong tính muôn vẻ của nó, đã xét đoán con người từ nhiều góc độ khác nhau, song tất cả đều quy về một câu hỏi lớn: cần phải xác lập một thiết chế xã hội như thế nào để ở đó con người được sống hạnh phúc, bình yên? Từ Socrate trở đi, vấn đề con người và xã hội trở thành "điểm nóng", thành mối quan tâm không thể thiếu trong sáng tác của các triết gia

 Mặc dù các nhà triết học còn có những ý kiến khác nhau về bản chất con người, nhưng họ đều coi trọng con người, coi con người là tinh hoa cao quý của tạo hóa, con người cần chinh phục tự nhiên để phục vụ cho mình

Pi-ta-go cho rằng: “Con người là thước đo của tất thảy mọi vật” Các nhà triết học tập trung lý giải bản chất con người, hoạt động sống và

Trang 9

năng lực sáng tạo của họ, những vấn đề xã hội, đạo đức, quan hệ giữa người với người, vẽ ra một thiết chế nhà nước lý tưởng phục vụ cộng đồng Con người trong triết học Hy Lạp cổ đại kết hợp lý trí với đức hạnh, sự khôn ngoan và mực thước, khát vọng tự do và trách nhiệm công dân Hoàn cảnh lịch sử không cho phép các nhà triết học vượt qua những hạn chế nhất định về thế giới quan và phương pháp luận trong quan niệm về xã hội và con người, nhưng xét đến cùng chính họ đã khơi dòng cho truyền thống nhân văn hầu như xuyên suốt lịch sử phương Tây

Mặc dù chưa thoát khỏi tính chất trực quan, nhưng quan niệm của các nhà triết học cổ đại Hy Lạp về nguồn gốc, bản chất con người đã đặt nền móng cho quan niệm đúng đắn về con người trong triết học sau này

2.2 Đặc điểm thứ hai: Chi ra hai trường phái duy vật và duy tâm rõ rệt.

Thế giới quan bao trùm triết học Hy Lạp cổ đại là duy vật và vô thần Triết học duy tâm và cuộc đấu tranh của họ chống lại triết học duy vật thường diễn ra, song chủ nghĩa duy vật và thế giới vô thần luôn chiếm ưu thế; nó là vũ khí lí luận cho giai cấp chủ nô chống lại nhứng thế lực chống đối, những điều

mê tín, dị đoan

Triết học Hy Lạp cổ đại phân chia rõ rệt hai trường phái: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, mà đại diện cho hai trường phái này là:

* Chủ nghĩa duy vật:Chủ nghĩa duy vật được hình thành từ trường phái Milet- trường phái Heraclite, trường phái Đa nguyên và đạt được đỉnh cao như trong trường phái Nguyên tử luận

Đémocrite là đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật cổ đại Hy Lạp Thuyết nguyên tử là cống hiến nổi bật của ông đối với chủ nghĩa duy vật.Thuyết nguyên tử đã được Lơxíp (Leucippe) nêu lên từ trước.Nhưng phải đến Đémocrite họcthuyết đó mới trở lên chặt chẽ.(NTH-Võ Tiến Lâm Trang 6.Lịch

sử triết học Hy Lạp cổ đại)

Theo ông, vũ trụ được cấu thành từ hai thực thể đầu tiên: nguyên tử và chân không Nguyên tử là những hạt vật chất cực nhỏ, không nhìn thấy được,

Trang 10

không thể phân chia nhỏ hơn được nữa.Nguyên tử không biến đổi, tồn tại vĩnh viễn và vận động không ngừng.Nguyên tử không khác nhau về chất, chúng có mùi vị, âm thanh và mầu sắc.Nguyên tử chỉ khác nhau về hình thức, kích thước,

vị trí và trình tự kết hợp của chúng.Có những nguyên tử hình cầu, hình tam giác, hình móc câu, hình lõm v.v., nhờ đó chúng mới có thể bám dính được với nhau Mọi vật thể đều do sự kết hợp giữa các nguyên tử nên nếu tách rời chúng ra thì vật thể bị tiêu diệt Linh hồn của con người cũng do những nguyên tử hình cầu, nhẹ, và nóng tạo nên Khi người ta chết, linh hồn sẽ không còn; chúng rời thể xác và tồn tại như những nguyên tử khác.Chân không là khoảng không gian trống rỗng.Với Đémocrite, chân không cũng cần thiết như nguyên tử, nhờ nó nguyên tử mới vận động được.Nếu tất cả là đặc sệt các nguyên tử thì sẽ không

có điều kiện cho vận động.Khác với nguyên tử có kích thước, hình dáng, chân không thì vô hạn và không có hình dáng

Trong vũ trụ có hằng hà sa số những nguyên tử vận động theo nhiều hướng, khi thì tản ra, khi tụ lại Khi tụ vào một điểm nào đó, chúng va chạm vào nhau tạo thành một cơn xoáy tròn (cơn lốc nguyên tử) Cơn lốc này đẩy những nguyên tử nhỏ, nhẹ ra ngoài chu vi, còn những nguyên tử to, nặng quy vào tâm, nhờ đó các hành tinh, kể cả trái đất được hình thành Những hành tinh xuất hiện

và mất đi một cách tự nhiên, không do thần thánh hoặc một ai tạo ra.Đémocrite đứng trên lập trường vô thần phủ nhận Thượng Đế và Thần linh; Thần chỉ là sự nhân cách hóa hiện tượng tự nhiên hay thuộc tính của con người

Heraclite coi bản nguyên của thế giới là lửa Vũ trụ không phải do Thượng Đế hay một lực lượng siêu nhiên nào đó tạo ra, mà nó “đã” và “đang”

sẽ mãi mãi là ngọn lửa vĩnh hằng không ngừng bùng cháy và lụi tàn Tàn lụi và bùng cháy theo cái logos tức là “quy luật, trật tự” nội tại của chính mình Ông xem thế giới “vừa tồn tại vừa không tồn tại”, “không ai tắm hai lần trong một dòng sông” Thế giới vật chất “vừa đa dạng vừa thống nhất, vừa mang tính hài hòa vừa xung đột”

Ngày đăng: 18/06/2019, 17:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w