Thuật lại câu chuyện “hầu Trời” của Tản Đà trong bài thơ và làm rõ tài hư cấu của tác giả chú ý phân tích cách tạo tình huống, chọn chi tiết, dựng đối thoại, bố trí các cảnh, miêu tả tâ
Trang 1ĐỂ HỌC TỐT NGỮ VĂN 11
TẬP 2
Trang 2
LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG
(Xuất dương lưu biệt – Phan Bội Châu)
1 Giải nghĩa bốn câu thơ đầu của bài thơ và làm rõ ý thức về hoài bão,
sứ mệnh của nhân vật trữ tình – người thanh niên trước thời cuộc?
Quan niệm về chí làm trai và tư thế tầm vóc của con người trong vũ trụ
Ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc: chủ động xoay chuyển thời thế ⇒ một cái tôi đầy tinh thần trách nhiệm, gánh vác giang sơn
2 Tìm trong hai câu 5 – 6 những từ ngữ thể hiện thái độ quyết liệt và
tình cảm đau đớn của nhà thơ trước thực trạng đất nước Riêng trong câu
6, nhà thơ đã bày tỏ thái độ nào đối với nền tư tưởng, học vấn cũ của nước nhà?
Những từ ngữ thể hiện rõ thái độ quyết liệt và tình cảm đâu đớn của nhathơ trước thực trạng đất nước: “tử hỉ”, “đồ nhuế”, “liêu nhiên”, “diệc si”.Câu 6: Sách thánh hiền răn dạy đạo đức lễ nghĩa là nhất đạo làm tôi phảitrung với vua Nhưng thời thế đã thay đổi, vua tài tướng giỏi không còn, chỉ còn ông vua phản dân hại nước nên trung với vua như vậy là ngu muội, chẳng có lợi ích gì Câu thơ thức tỉnh ý thức hành động thiết thực, yêu nước là phải cứu nước
3 Hai câu 7 – 8 thể hiện mong muốn gì của tác giả?
Dựa theo bản dịch nghĩa, hãy phân tích vẻ đẹp hào hùng của hình tượngMuôn lớp sóng bạc cùng bay theo Câu 7 – 8 thể hiện khát vọng lên
đường với một sức mạnh, khơi dậy nhiệt huyết của cả một thế hệ Vẻ đẹp hào hùng của hình tượng Muôn lớp sóng bạc cùng bay theo: : là hình ảnh hào hùng lãng mạn Sóng của biển cả hay nhiệt huyết cứu nướctrào dâng chắp cánh cho ý chí vượt đại dương, tìm đường cứu nước thêmphần hăm hở, tự tin Tư thế và khát vọng lên đường của chủ thể trữ tình
ở câu kết có một sức truyền cảm mạnh mẽ
Trang 34 Theo anh (chị), vì sao bài thơ có được sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với
thế hệ thanh niên yêu nước đầu thế kỉ XX?
Khát vọng sống hào hùng, mãnh liệt Tư thế con người kì vĩ, đầy lãng mạn, sánh ngang cùng vũ trụ Khí phách ngang tàng, dám đương đầu vớimọi thử thách Giọng thơ tâm huyết, sâu lắng mà sục sôi, hào hùng
HẦU TRỜI
Tản Đà
1 Thuật lại câu chuyện “hầu Trời” của Tản Đà trong bài thơ và làm rõ
tài hư cấu của tác giả (chú ý phân tích cách tạo tình huống, chọn chi tiết, dựng đối thoại, bố trí các cảnh, miêu tả tâm lí đa dạng của nhân vật,…) Lúc canh ba, Tản Đà đang nằm vắt chân ngâm thơ thì có hai cô tiến xuống mời nhà thơ lên đọc thơ cho Trời nghe Khi ngâm văn thơ cho Trời, Tản Đà kể rất chi tiết về cuộc đời viết văn làm thơ của mình Hư cấu: Tình huống: được Trời mời lên hầu đọc thơ Cách đối thoại giữa tácgiả với Tời, Chư tiên rất tự nhiên, không có gì đạo mạo, mà rất ngộ
ngĩnh, bình dân: lè lưỡi, chau mày, tranh nhau dặn,…
2 Chuyến “hầu Trời” bằng tưởng tượng đã giúp nhà thơ nói được gì về
bản thân cùng quan niệm mới của ông về văn và nghề văn? Tự cho mìnhvăn hay, không ai đáng là tri âm với mình ngoài Trời và Chư tiên Xem mình là một “trích tiên” bị “đày xuống hạ giới vì tội ngông” Người hành nghề văn: người nhà Trời xuống hạ giới thực hàng “Thiên lương”, một sứ mệnh cao cả
3 Tìm các chi tiết thể hiện ý thức các nhân của tác giả
“Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn Quê ở Á châu về Địa Cầu Sông Đà níu Tản nước Nam Việt” Nêu tên những tác phẩm đã được in ấn
Trang 44 Chỉ ra nét cách tân của bài thơ ở giọng điệu và cách dùng các yếu tố
thuộc khẩu ngữ
Giọng điệu hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc Thể thơ: thất ngôn trường thiên tự do, không bị trói buộc bởi khuôn mẫu nào
5 Nhận xét chung về giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ
Ý thức cá nhân, ý thức nghệ sĩ của tác giả
"Nếu tôi và em lấy nhau, mà con cái chúng ta lại đẹp như tôi và thông minh như em, thì đáng sợ biết bao!"
Gợi ý: Bớc–na Sô không bác bỏ đề nghị, tức là không bác bỏ luận điểm
mà chỉ bác bỏ cách lập luận Lập luận của cô vũ nữ chỉ đề cập tới một khả năng còn Bớc – na Sô vạch ra khả năng thứ hai, là khả năng xấu hơn
2 Lập luận để phản bác sai lầm trong luận điểm sau (nêu dàn ý): Có tiền
là có hạnh phúc
Gợi ý: Tham khảo ý kiến của nhà văn Anh Thác-cơ-rê (sách giáo khoa, trang 17) để bác bỏ luận điểm trên “Có tiền là có hạnh phúc”.Tất nhiên, trước hết hay giải thích cho đúng nội dung của luận điểm trên Câu ấy có
Trang 5nghĩa là có tiền thì sẽ mua được hanh phúc Đó chỉ là câu nói nhằm đề cao sức mạnh vạn năng của đồng tiền Điều đó có đúng một phần, song sức mạnh ấy có giới hạn Thực tế cho thấy không phải cái gì cũng có thểmua được, đặc biệt là hanh phúc Như thế là bác bỏ luận điểm cần đưa
ra các dẫn chứng để lập luận bác bỏ có sức thuyết phục
ĐỌC THƠ
NGHĨA CỦA CÂU
1.
Cam: Nghĩa tình thái chỉ sự việc chưa xảy ra
- Vẫn: Nghĩa tình thái chỉ sự việc đã xảy ra
- Liền: Nghĩa tình thái chỉ sự việc xảy ra đồng thời
- Không thể: Nghĩa tình thái chỉ khả năng xảy ra của sự việc
- Có lẽ: Nghĩa tình thái chỉ khả năng xảy ra của sự việc
- Nên: Nghĩa tình thái chỉ sự việc được nhận thức như là một đạo lí
- Không thể không: Nghĩa tình thái chỉ sự việc được nhận thức như là một đạo lí
- Sẽ: Nghĩa tình thái chỉ sự việc chưa xảy ra
2.
a Mất và chắc: Hướng tới sự việc
Trang 6Mất → phỏng đoán về nguy cơ chưa chắc chắn xảy ra Đây còn là sự đánh giá tiêu cực nên không đi với những trường hợp tích cực.
Chắc → phỏng đoán về một sự việc còn nửa tin, nửa nghờ - không hàm
ý tiếu cực hay tích cực, có thể đi với cả hai
b Nhỉ và mà: Hướng tới sự việc
Nhỉ → phỏng đoán khả năng sự việc xảy ra chưa chắc chắn
Mà → khẳng định một sự việc để đáp lại một thái độ nghi ngại
c Nhỉ và mà: Hướng tới người đối thoại
Nhỉ → Thân mật, tin chắc vào nhận định của mình, có ý chờ sự đồng tình của người nghe về nhận định đó
Mà → hướng tới người dối thoại, thúc giục
3.
a Bác ấy đã thưởng cho em tôi ba cuốn sách
b Bác ấy tính sẽ thưởng cho em tôi ba cuốn sách
c Hình như bác ấy muốn thưởng cho em tôi ba cuốn sách
d Bác ấy tính phải thưởng cho em tôi ba cuốn sách
đ Bác ấy thưởng cho em tôi những ba cuốn sách
e Bác ấy chỉ thưởng cho em tôi ba cuốn sách
BÀI VIẾT SỐ 5 (NGHỊ LUẬN VĂN HỌC)
1.
Trang 7Nội dung phân tích một tác phẩm văn xuôi là hết sức phong phú, đa dạng (phân tích một tác phẩm văn xuôi trọn vẹn, phân tích một đoạn trích, phân tích một nhân vật, phân tích một vấn đề nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm, phân tích một chi tiết,…) Tuy nhiên, do thời lượng viết bài chỉ 1 tiết, nên học sinh trình bày một vấn đề nhỏ nào đó (về nội dung hoặc nghệ thuật) của tác phẩm Cách nêu vấn đề cũng theo tinh thần mới, chủ yếu là nêu đề tài (vấn đề) ít nêu các yêu cầu cụ thể về thaotác và phương thức biểu đạt (trước thường gọi là kiểu bài)… Việc ra đề như thế cũng phần nào tránh được thói quen chép nguyên xi bài giảng của thầy, các bài viết của nhà phê bình hoặc ảnh hưởng văn mẫu,… Các
đề nêu trong sách giáo khoa cho Bài viết số 5 đã được biên soạn theo tinh thần đó
Trong các tác phẩm được nêu trong các đề bài đó, có hai tác phẩm đọc thêm (Nghệ thuật băm thịt gà — Đề 1 và Tinh thần thể dục – Đề 4) Theo tinh thần mới, đề có thể kiểm tra cả các tác phẩm đọc thêm, vì những tác phẩm này nằm trong chương trình, có trong sách giáo khoa,
có nội dung và hình thức gần gũi với các tác phẩm học chính thức
2 Học sinh tự làm.
3 Một số gợi ý về phương hướng giải các đề
Đề 1 – Đoạn trích miêu tả rất tài tình nghệ thuật chia thịt gà của anh mõ làng (tên là Mới) Người đọc khó hình dung ra nổi một con gà làm được “hơn hai chục cỗ”, một chiếc sỏ gà pha năm, phao gà pha bốn
“miếng nào cũng có dính một tí mỏ”, “miếng nào cũng có đầu bầu, đầu nhọn” Nghệ thuật ấy còn được anh mõ giảng giải lí thuyết và thực hành một cách thật tuyệt diệu Ngô Tất Tố đã tả lại cảnh băm thịt gà của anh
Trang 8mõ một cách thật sinh động “tả như vậy thật như vẽ ra trước mắt” (Vũ Ngọc Phan).
− Qua việc tác giả miêu tả nghệ thuật băm thịt gà trong trích đoạn, người đọc ai cũng thán phục cái tài điêu luyện, lành nghề của anh mõ, nhưng đọc xong ngẫm nghĩ mới thấy thật chua xót cho cái “lệ làng” cổ
hủ ấy ; mới thấy “miếng ăn giữa làng” ngày xưa sao nặng nề, khổ nhục đến thế ; mới thấy sức mạnh ghê gớm của những “lệ làng” mà đến “phépvua” cũng không thắng nổi,… Phải chăng ấy chính là cái dư âm mang ý nghĩa phê phán sâu kín mà Ngô Tất Tố muốn chuyển đến bạn đọc ?
Đề 2 – Nhân vật và chi tiết nào trong truyện ngắn Đời.thừa được cho là có ý nghĩa sâu sắc nhất, học sinh tự chọn theo định hướng nhân vật hoặc chi tiết ấy phải có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với thiên truyện
− Sau khi xác định được nhân vật và chi tiết cụ thể, bài viết cần triển khai theo lô gích sau : Nhân vật hoặc chi tiết ấy có ý nghĩa sâu sắc ở chỗnào ? Cụ thể là ý nghĩa về nội dung là gì ? Nó làm nổi bật tư tưởng, chủ
đề của thiên truyện ở chỗ nào ? Về nghệ thuật, nó có vai trò và tác dụng như thế nào trong việc thể hiện nội dung, tư tưởng ?
− Đánh giá chung về giá trị và ý nghĩa của nhân vật hoặc chi tiết ấy
Đề 3 – Bi kịch, ngoài nghĩa là một thể loại kịch, nghĩa thông thườngcủa từ này chỉ tình cảnh éo le, mâu thuẫn đến đau thương (Từ điển tiếng Việt — 2000) Khi nói số phận bi kịch tức là muốn chỉ một con người
Trang 9mắc vào những mâu thuẫn, nghịch cảnh oan trái, éo le dẫn tới những kết cục bi đát, đau thương.
Nhân vật Vũ Như Tô trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Huy Tưởng
là một nhân vật bi kịch Phân tích và chứng minh tính chất bi kịch của nhân vật này qua trích đoạn Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài Mâu thuẫn giữa cái tài, ước vọng cao cả, niềm khát khao và đam mê sáng tạo cái đẹp của
Vũ Như Tô với thực tế đầy phũ phàng, ngang trái của xã hội dẫn đến sự
vỡ mộng thê thảm : Cửu Trùng Đài bị đốt, cả Vũ Như Tô và Đan Thiềm đều bị đưa ra pháp trường chịu chết…
Đề 4 – Nghệ thuật châm biếm “thường dùng những lời lẽ sắc sảo, cay độc, thâm thuý để vạch trần thực chất xấu xa của nhũng đối tượng
và những hiện tượng này hay hiên tượng khác trong xã hội” (Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, 2007) Trong tác phẩm tự sự, nghệ thuật châm biếm được thể hiện trên nhiều phương diện cụ thể như : tình huống truyện độc đáo, thủ pháp cường điệu (phóng đại), cách tạo mâu thuẫn, ngôn ngữ, bút pháp miêu tả,…
− Phân tích nghệ thuật châm biếm của Nguyễn Công Hoan theo các biểu hiện cụ thể trên thông qua truyện Tinh thần thể dục
Trang 10
VỘI VÀNG
Xuân Diệu
1 Bài thơ có thể chia làm mấy đoạn? Nêu ý chính của từng đoạn.
Bài thơ có thể được chia thành ba đoạn:
Đoạn 1 (13 câu thơ đầu): Bộc lộ tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết Đoạn 2 (từ câu 14 đến câu 29): Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian
Đoạn 3 (còn lại): Lời giục giã cuống quýt, vội vàng để tận hưởng những giây phút tuổi xuân của mình giữa mùa xuân của cuộc đời, của vũ trụ
2.Đọc toàn bài, anh (chị) có cảm nhận thế nào về nhạc điệu của bài thơ?
Nhạc điệu ấy được tạo ra bằng những thủ pháp gì?
Sự tổng hợp của những cảm xúc nồng nàn, hối hả; nhịp thơ sôi nổi, gấp gáp; hơi thở dạt dào… Thủ pháp nghệ thuật tạo ra nhạc điệu cho bài thơ:điệp cú, đảo ngữ, cách ngắt nhịp linh hoạt và có sự chuyển tiếp các thể thơ khác nhau
3 Tác giả đã cảm nhận về thời gian như thế nào? Phân tích đoạn từ câu
14 đến câu 24 để làm nổi bật cảm nhận ấy
Cảm nhận về thời gian của thi nhân ở đây gắn liền với mùa xuân và tuổitrẻ của một con người yêu cuộc sống thiết tha, say đắm, nên mang nét riêng của Xuân Diệu rất rõ
Xuân đường tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân
sẽ già, Xuân Diệu ý thức rất rõ về sự tàn phá của thời gian và thi nhân sợ
sự trôi nhanh của nó Sự đối lập giữa “đương tới” và “đương qua” ⇒ để
từ đó khẳng định về sự đồng nhất giữa mùa xuân và tác giả:
Trang 11“Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất”
Thời gian cướp đi mùa xuân cũng có nghã là cướp mất tuổi trẻ của nhà thơ Đây chính là nỗi xót đau và lo lắng của Xuân Diệu:
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thười trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Qua cảm nhận về thời gian – cũng là qua nỗi băn khoăn của Xuân Diệu trước cuộc đời, ta thấy hiện lên cái đẹp nhất, hấp dẫn nhất trên cõi đời
mà nhà thơ khao khát Đó là tình yêu mùa xuân, yêu tuổi trẻ, yêu cuộc đời tha thiết như muốn sống mãi trong tuổi trẻ, trong mùa xuân của cuộcđời
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả dất trời,
Mùa tháng năm đều rướm vị chia phôi,
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…
4 Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc quanh ta được tác giả cảm
nhận và diễn tả một cách hấp dẫn như thế nào? Điều ấy thể hiện quan niệm gì của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc?
Chính vì yêu tha thiết cuộc sống đời thường xung quanh mình, Xuân Diệu đã phát hiện ra trong cuộc sống đó những nét đẹp thật tinh tế, đáng yêu, giàu chất thơ
Những hình ảnh quen thuộc trong trần thế: hương đồng cỏ nội, của ong bướm, chim chóc…
Trang 125 Phân tích nghệ thuật sử dụng ngôn từ (điệp từ, tính từ,…) trong đoạn
thơ từ câu 31 đến câu 39, qua đó làm nổi bật tuyên ngôn về lẽ sống của Xuân Diệu
Điệp từ: tác giả muốn diễn tả cảm xúc mãnh liệt của một thi sĩ Cái tôi
đã hòa vào cái ta khiến âm điệu của tâm hồn say sưa, chuếch choáng Tính từ chỉ sắc xuân, trạng thái được dùng khéo léo, chuyển tải được tình yêu mãnh liệt và táo bạo của cái tôi thi sĩ
6 Qua bài thơ có thể hình dung cái tôi của Xuân Diệu như thế nào?
Có ý thức về giá trị sống cả thể, ý thức nhân bản, nhân văn rất cao Một niềm tha thiết với cuộc sống trần thế, với niềm vui trần thế Một khát khao sống mãnh liệt và một tâm thế sống cuồng nhiệt
ĐÂY MÙA THU TỚI
Xuân Diệu
1.
Đã có quá nhiều bài bình, phân tích, giảng văn về bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu Nhưng cho tới nay vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau Một trong những nguyên nhân do sự cảm nhận và lí giải mặt ngữ nghĩa của tác phẩm Bài viết này xin nêu một cách hiểu đói với một
số từ ngữ và hình tượng của bài thơ
Nhiều người cho rằng bài thơ mở đầu đã gợi một nẫu sầu tang tóc đến
đọ héo hắt bi thương Ấn tượng đó có bởi các chữ “đìu hiu” “chịu tang”
“lệ hàng ngàn” trong hai câu mở đầu:
“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ hàng ngàn”
Trang 13Song nếu hiểu hai câu này chỉ có vậy thì khó tránh khỏi có mâu thuẫn với tiếng reo đầy mâu thuẫn của nhà thơ – chủ thể của cảm xúc trước toàn cảnh đất trời vào thu rực rỡ nắng vàng ở hai câu tiếp liền sau đó:
“Đây mùa thu tới ! Mùa thu tới !
Với áo mơ phai dệt lá vàng.”
2.
Cả bốn câu thơ mở đầu này gợi tả cảnh đất trời vào thu và tâm trạng của con người lúc thu sang Cũng cần phải nói rằng người thi nhân ấy là mộtcon người rất trẻ cả về cảm xúc lẫn tâm hồn Xuân Diệu sáng tác “ Đây mùa thu tới” khi ông mới 18 tuổi đời và hồn thơ Xuân Diệu lúc ấy
đương ở vào độ tuổi non tơ rạo rực, sôi nổi, và bồng bột nhất
Câu thơ thứ ba với điệp ngữ “ Đây mùa thu tới” và dấu chấm than lặp lạihai lần giống như một tiếng reo vui không kìm nén nổi, bất giác bật ra khi nhà thơ chợt thấy tín hiệu báo thu sang đầu tiên trên những hạt liễu rủ
3.
Những cây liễu rủ bên hồ được tác giả cảm nhận giống như các nàng thiếu nữ thướt tha, yểu điệu nghiêng mình buông những suối tóc dài Trong gió thu lạnh đìu hiu,dáng liễu cũng giống như dáng người "đứng chịu tang, tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng" Một hình ảnh buồn nhưng cũng thật là gợi cảm
Những cành liễu mềm mại, êm đềm rủ xuống chính là dấu hiệu mùa thuđầu tiên mà Xuân Diệu bất chợt nhận ra một cách ngạc nhiên thích thú.Đằng sau những tiếng reo hồ hởi của nhà thơ, người đọc có thể hình
Trang 14dung ra ánh mắt trẻ trung ngơ ngác của ông sững sờ trước vẻ đẹp bấtngờ của thiên nhiên tạo vật Bốn câu thơ tả mùa thu mới chớm và tâmtrạng của con người lúc thu sang thật gợi cảm, tươi sáng; tuy có buồnnhưng không hề ảm đạm, héo hắt; buồn mà vẫn đẹp, đẹp bởi sự cảmnhận tinh tế và mới mẻ những chuyển vận của thiên nhiên cùng bước
đi của thời gian, đẹp bởi màu sắc đường nét tươi sáng, bởi vẻ yểu điệuthiết tha rất trẻ trung lãng mạn phù hợp với mùa thu mới chớm ấn
tượng và cảm giác chung trong bốn câu thơ mở đầu này đã chi phối
không khí chung của cả bài thơ
"luồng" với đảo ngữ "run rẩy rung rinh lá" khiến cho người đọc thơ như
có thể cảm giác được cả cái run rẩy rùng mình vì ớn lạnh của chính tâmhồn nhà thơ Xuân Diệu có tài tả rét, trong Nguyệt cầm, trong Lời kỹnữ và đặc biệt trong Đây mùa thu tới Đúng ra thi sĩ có tài cảm nhậncái rét mướt lạnh lẽo theo diệu tâm hồn riêng của mình Cũng như ởnhững câu thơ trên, đây là một câu thơ mới mẻ, đầy ấn tượng
Trang 15Xuân Diệu là một nhà thơ rất mới về nhiều phương diện nhưng trướchết là phương diện ngôn từ Nhiều cách đặt câu dùng từ của ông nay đãtrở thành quen thuộc và phổ biến đối với người Việt Nam nhưng hồiXuân Diệu mới xuất hiện, đấy là một cuộc cách tân mạnh dạn Hãy nghemột nhận xét khá thú vị của người cùng thời với ông cách đây hơn nửathế kỷ: "Ngay lời văn của Xuân Diệu cũng có vẻ chơi vơi Xuân diệu viết văn tựa trẻ con học nói hay như người ngoại quốc mới võ vẽ tiếng Nam Câu văn tuồng bỡ ngỡ
Nhưng cái bỡ ngỡ ấy chính là chỗ Xuân Diệu hơn người Dòng tư tưởngquá sôi nổi không thể đi theo những đường có sẵn Ý văn xô đẩy, khuônkhổ câu văn phải lung lay
LUYỆN TẬP THAO TÁC LẬP LUẬN BÁC BỎ
1.
a Đoạn văn của Nguyễn Đình Thi Sử dụng cách bác bỏ luận điểm
Luận điểm cần bác bỏ: Có người nghĩ rằng thơ là những lời đẹp
Luận cứ dung để bác bỏ: Không phải thơ là những lười đẹp
Không phải thơ là những đề tài đẹp
b Đoạn văn của Đặng Thai Mai bác bỏ luận điểm bằng cách dùng lập luận phân tích để bác bỏ
Luận điểm cần bác bỏ: Trong sáng tác văn nghệ, lí tính không tham dự
Lập luận phân tích dùng để bác bỏ: Lí tính chi phối việc:
Trang 16Luận điểm cần bác bỏ: Có rồi hãy cho
Cách bác bỏ: bài viết có 6 đoạn :
Đoạn 1: Xác định luận điểm cần bác bỏ
Đoạn 2: Chỉ ra thực chất của luận điểm trên là sản phẩm của chủ nghĩa thực dụng
Đoạn 3: Dùng luận cứ tỉ lệ dân nước Mĩ ăn bám và luận điểm về mẹ rê-da để bác bỏ
Tê-Đoạn 4: Phê phán luận điểm của Ây Ren-đơ là thiếu hiểu biết xã hội và bản chất nhân văn của xã hội loài người
Đoạn 5: Khẳng định tính đúng đắn của luận điểm “Giá trị của một ngườichính là ở chỗ người đó phục vụ xã hội như thế nào” để gián tiếp bác bỏ luận điểm “có rồi cho”
Đoạn 6: Chỉ ra sự thiển cận và phiến diện của chủ nghĩa thực dụng Ây Ren-đơ
2 Lập dàn ý bác bỏ luận điểm sau:
“Chỉ có vào đại học thì cuộc đời mới có tương lai”
Gợi ý: Vào đại học thường có một tương lai rất tốt đẹp Vẫn còn có nhiềucon đường khác để đi tới tương lai tốt đẹp Con đường đi chi phối tương lai nhưng quan trọng hơn là cách đi như thế nào
Trang 17⇒ Khẳng định không chỉ vào đại học thì cuộc đời mới có tương lai.
3.
Chọn một trong hai thành ngữ sau nhằm bác bỏ ý cũ và tìm ý mới:
a Múa rìu qua mắt thợ
b Bới lông tìm vết
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
Hàn Mặc Tử
1 Bài thơ có ba khổ, mỗi khổ ngiêng về một cảnh sắc, một tâm tình
Hãy nêu nhận xét về sắc thái khác nhau ở mỗi khổ thơ và mạch liên kết giữa các khổ
Cảnh sắc, tâm tình được thể hiện trong mỗi khổ thơ có một sắc thái
riêng Trong khổ đầu, cảnh hiện lên tươi trong, sắc nét, gieo vào lòng người một cảm xúc nhẹ nhàng, hân hoan Sang khổ hai, cảnh trở nên bất định, mơ hồ, được bao bọc trong một thứ ánh trăng mơ màng, da diết, biểu hiện nỗi khắc khoải, bất an của một cõi lòng tràn đầy dự cảm về sự chia lìa Ở khổ cuối, hư thực dường như không còn phân biệt được,
khoảng cách dù tương đối giữa ngoại cảnh và nội tâm bị xoá đi và ngườiđọc tưởng như nghe được những tiếng nói trái ngược nhau của một nội tâm đầy bi kịch
2 Mỗi khổ thơ trong bài đều chứa đựng câu hỏi Các câu hỏi ấy đã góp
phần tạo nên âm điệu riêng của bài thơ Âm điệu ấy đã thể hiện mạch tâm trạng gì của tác giả?
Trang 18Mỗi khổ thơ trong bài chứa đựng một câu hỏi Những câu hỏi này đã giúp độc giả nhận ra được tiếng nói trữ tình sâu thẳm của bài thơ Với câu hỏi đầu tiên vốn có dáng dấp của một lời tự nhắc (“Sao anh không
về chơi thôn Vĩ ?”), ta nghe được niềm xốn xang trong lòng nhân vật trữtình khi kỉ niệm về Huế, về thôn Vĩ được đánh thức một cách đột ngột Câu hỏi thứ hai (“Có chở trăng về kịp tối nay ?”) cho thấy nhân vật trữ tình đang dần chìm sâu vào mặc cảm về thân phận và tự thấy mình là kẻ
“chậm chân”, “lỡ chuyến” giữa cuộc đời Câu hỏi xuất hiện cuối bài (“Ai biết tình ai có đậm đà ?”) chứa đựng một chút hoài nghi, một chút trách móc, vừa thoáng vẻ cam chịu vừa nhói lên khát vọng sống khôn cùng
3 Hình ảnh "nắng hàng cau nắng mới lên" thật giản dị, cũng thật giàu
sức gợi Hãy dùng những hiểu biết và trí tưởng tượng của mình để cảm nhận và tái tạo vẻ đẹp của hình ảnh ấy
Khổ thơ đầu giống như một bức tranh tuyệt đẹp về vườn thôn Vĩ Gây ấntượng trước hết là hình ảnh hàng cau thẳng vút đang vươn lên để đón nhận những tia nắng đầu tiên, tinh khiết của buổi mai Tiếp theo, cả khu vườn ửng rạng lên trong một thứ ánh sáng huyền ảo như ngọc Sau
nhành lá trúc, ta thấy thấp thoáng một khuôn mặt chữ điền bình dị, gợi cảm xúc thân thụộc, đầm ấm Đằng sau lời thơ tả cái mướt của cây lá đẫm sương đêm, ta nghe được một tiếng reo trầm trồ, ngỡ ngàng, thán phục,… Tuy nhiên, bức tranh này cũng đậm màu sắc tượng trưng Vườn thôn Vĩ thực chất cũng là “vườn mơ ước”, cõi mơ ước của tác giả
4 Anh (chị) có cảm nhận gì về ý nghĩa của hai câu thơ: "Gió theo lối gió
mây đường mây - Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay"?
Xét theo lô gích thông thường, hai câu thơ đầu của khổ hai thật vô lí vì
nó diễn tả một điều không xảy ra trong thực tế : gió và mây mỗi thứ đi mỗi đường chứ không phải là gió thổi mây bay, mây cuốn theo chiều
Trang 19gió Thêm nữa, từ buồn thiu cũng như muốn thông báo về một cái gì khác hơn việc vẽ cảnh dòng nước trôi chậm quạnh hiu Đặt vào mạch cảm xúc của bài thơ, ta hiểu hai câu này còn muốn gợi lên tình trạng phân rẽ, chia lìa trong cuộc đời, trong tình yêu và tình trạng đó đem lại cho nhân vật trữ tình một nỗi buồn lạ lùng, thảm đạm, không có cách gì làm tan loãng được.
5 Khổ thơ thứ hai có hai câu: "Thuyền ai đậu bến sông trăng đó - Có
chở trăng về kịp tối nay?" Chữ "kịp" gợi lên điều gì về mối tâm tư đầy uẩn khúc của tác giả?
Đúng là từ kịp ờ câu “Có chở trăng về kịp tối nay?” mang thông điệp về một số phận, cho dù tác giả có thể không hoàn toàn ý thức được điều này Nhìn bề ngoài, câu thơ khá “tối nghĩa”, tuy vậy, nó đã biểu đạt được một cách thật “sáng rõ” cảm giác lo âu, bồn chồn, phấp phỏng, nghi ngờ,… đang dấy lên trong lòng nhân vật trữ tình – thứ cảm giác thường đến “làm bạn” với những con người có số phận không may mắn hoặc đau khổ
6 Câu thơ "Ai biết tình ai có đậm đà?" có chút hoài nghi Theo anh
(chị), đó là nỗi hoài nghi của sự chán đời hay của niềm tha thiết với cuộcđời? Tại sao?
Hình ảnh “Áo em trắng quá nhìn không ra” là một hình ảnh thơ đa
nghĩa, gợi nhiều cách lí giải khác nhau Thực ra, đây không hoàn toàn là một hình ảnh Đúng hơn, đây là một cảm giác, cảm nhận Qua nó, dườngnhư nhân vật trữ tình tự thú sự bất lực trong việc thu hẹp khoảng cách giữa mình với những cái gì mơ ước (cũng có thể cái mơ ước đó là cái vốn thân thuộc nhưng bây giờ đã tuột ra khỏi tầm tay) Màu áo trắng kì
lạ có thể hiểu là biểu tượng của một cái gì thực sự hiện hữu nhưng lại không thể tri giác được và có sức ám ảnh vô cùng lớn đối với thi nhân Lòng yêu đời không phải bao giờ cũng được diễn đạt theo chiều thuận
Trang 20Đọc khổ thơ sau cùng ta có thể thấy rõ điều này Câu hỏi cuối có thoáng qua một ý trách móc, nghi ngờ, giận dỗi (tất nhiên, không phải là sự trách móc, nghi ngờ, giận dỗi đối vói một cá nhân cụ thể nào) Tất cả cáccung bậc tình cảm đã nêu không hề nói lên sự lụi tắt của niềm hi vọng Ngược lại, nó giúp ta nhận ra bản năng sống mạnh mẽ của nhân vật trữ tình – một con người dù lâm vào tình thế bi đát vẫn không thôi tra vấn, thắc mắc về ý nghĩa cuộc đời.
TRÀNG GIANG
Huy Cận
1 Anh (chị) có cảm nhận như thế nào về âm điệu chung của toàn bài
thơ? Âm điệu ấy đã góp phần thể hiện tâm trạng gì của tác giả trước thiên nhiên?
Bài thơ được bao trùm bởi âm điệu buồn Qua âm điệu đó, ta dễ dàng nhận ra nỗi sầu rất đặc trưng của thơ Huy Cận cùng một kiểu cảm nhận
có màu sắc bi quan về cuộc đời
2 Hãy nêu cảm nhận của anh (chị) về bức tranh thiên nhiên được thể
hiện trong bài thơ Câu đề từ :Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài" có mối liên hệ gì đối với hình ảnh tạo vật thiên nhiên và tâm trạng của tác giả được thể hiện trong bài?
Với sắc thái trang trọng, cổ kính và với ý nghĩa khái quát vốn có của một
từ Hán Việt, nhan đề Tràng giang hết sức phù hợp với nội dung triết lí của tác phẩm, đưa tác phẩm vượt lên trên lối miêu tả đơn giản những yếu tố hữu hình Sự điệp âm chứa đựng trong từ ghép này còn có khả năng gợi lên ấn tượng về một cái gì mênh mang, vô tận Điều đó cũng
Trang 21thật sự ăn khớp với tính chất của thứ không gian mà bài thơ đã tạo dựng được
Với câu đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, tác giả như muốn mách bảo trước cùng độc giả rằng: điều sẽ được tập trung thể hiện trong bài là một nỗi bâng khuâng - tức là một thứ cảm xúc man mác và khá khó hiểu dấy lên trước không gian, trước trời rộng, sông dài Bức tranh chiều sông nước đã được tạo hình rất có ấn tượng trong bài thơ, dù điều
cơ bản tác giả muốn hướng tới không phải là tả cảnh Đặc điểm nổi bật của nó là buồn, một nỗi buồn toát lên từ sự dàn trải mênh mông của không gian trong ánh chiều tà, từ tình trạng thiếu vắng những liên hệ giữa các sự vật, từ sự nhạt nhoà của màu sắc, sự mơ hồ, mong manh của
âm thanh, từ những chuyển động vô hướng của các sự vật bé mọn giữa một không gian dài, rộng tưởng như vô tận,… Dĩ nhiên, bức tranh này thấm đẫm tâm trạng, nói đúng hơn, nó chính là tâm trạng tác giả được vật thể hoá
3 Hãy phát biểu nhận xét về hình thức tổ chức câu thơ và việc sử dụng
lời thơ trong các cặp câu sau:
- Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
- Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu
Cả hai cặp thơ trên về hình thức tổ chức câu thơ cũng như sử dụng lời thơ để có sự vận dụng và phát huy một cách sáng tạo những yếu tố cổ điểm Đường thi để thể hiện tâm trạng của cái tôi mới
Cách thức tổ chức câu thơ tuân theo phép đối ngẫu phổ biến của thơ Đường Chứng đều là những cặp câu đối nhau Tuy nhiên, dạng thức
Trang 22mẫu mực của đối, theo quan niệm cổ điển, là phải đối nhau triệt để: đối câu, đối ý, đối chữ, đối âm
Ở đây, Huy Cận chỉ mượn nguyên tắc tương xứng của đối, chứ không đẩy lên thành đối chọi Vì thế, câu thơ tạo ra vẻ cân xứng trang trọng,
mở ra được nhiều chiều kích vô biên của không gian, mà không gây cảmgiác gò bó, nệ cổ
Nghĩa là, một nét thi pháp cổ điển Đường thi đã được cách tân để phù hợp với tâm lí hiện đại Cách sử dụng lời thơ: có những ngôn từ được dùng theo lối thơ Đường, cụ thể là học theo lối dùng từ láy, theo lối songsong của Đỗ Phủ ở bài Đăng cao
4 Hình ảnh "Củi một cành khô lạc mấy dòng" và hình ảnh "Chim
nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa" gợi cho anh (chị) những cảm nghĩ gì?
Các hình ảnh “Củi một cành khô lạc mấy dòng” và “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa” vừa có tính chất tả thực vừa có tính chất tượng
trưng
Với hình ảnh đầu, tác giả đã nói được rất sâu sắc cảm nhận của mình về cái tàn tạ của sự sống và sự vô định của kiếp người Với hình ảnh sau, tác giả muốn thể hiện nỗi cô đơn, bất lực và sự yếu ớt của con người trước cuộc sống Cánh chim vốn đã nhỏ như lại càng nhỏ hơn khi được đặt trong tương quan với núi mây nặng nề và bóng chiều u ám Cánh chim như một bóng dáng lẻ loi đơn độc của sự sống không thể nào
xuyên thủng được bức thành sầu dày đặc
5 Tạo sao có thể nói tình yêu thiên nhiên ở đây cũng chứa đựng lòng
yêu nước thầm kín?
Trang 23Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ là nỗi buồn non nước thể hiện lòng yêu quê hương đất nước thầm kín của một lớp thanh niên của chế độ cũ Cảm hứng xuyên suốt Tràng giang là nỗi buồn miên man vô tận, là nỗi sầu nhân thế.
LUYỆN TẬP VỀ NGHĨA CỦA CÂU
1 Nghĩa tình thái chung của các câu này là đều chỉ khả năng xảy ra
của sự việc Có thể phân ra ba nhóm : (a) các câu (2), (6) chỉ khả năng
đó là cao ; (b) câu (4) chỉ khả năng đó là thấp ; và (c) gồm các câu còn lại, không thể cho là có nghĩa chỉ khả năng cao như (a), mà cũng không thể xếp vào loại khả năng thấp như (b)
2 Khi dùng như một từ tình thái cuối câu, đã diễn đạt ý “cần làm
một việc nào đó trước, rồi mới làm việc khác” ; nào có ý thúc
giục ; nhỉ có sắc thái thân mật, tỏ ý muốn được người đối thoại đồng tình
; đi chỉ sự cầu khiến ; chứ thể hiện ý thúc giục khi thấy người đối thoại chưa chịu ăn ; mà đưa đến cho câu nói màu sắc năn nỉ.
3 a) Dễ dàng thấy ở câu (a), từ có thể đứng sau chủ ngữ, trong khi ở
câu (b) lại đứng trước chủ ngữ
b) Ở câu (b) từ có thể chỉ khả năng xảy ra của sự việc trong khi ở
câu (a) chấp nhận một trong ba cách hiểu sau : 1 khả năng xảy ra ; 2 năng lực của chủ thể và sự được phép
4 Các câu (a) là trần thuật khẳng định, thể hiện sự đánh giá của
người nói Trong khi các câu (b) là trần thuật phủ định, thể hiện thái độ của chủ thể của sự việc
Những từ ngữ nỡ, đang tâm, đành ờ các câu trên biểu đạt sự việc
được nhận thức như là một đạo lí
TƯƠNG TƯ
Trang 24Nguyễn Bính
1. Nhân vật trữ tình của bài thơ là một chàng trai quê thôn Đoài Đây
là nhân vật trữ tình nhập vai, không trùng với tác giả nhưng không hoàn toàn đối lập, cách biệt, xa lạ với tác giả Nội dung cảm xúc được nhân vật trữ tình bày tỏ trong bài là nỗi tương tư, nỗi nhớ nhung, nỗi khao khát yêu đương với các sắc thái đa dạng và phức tạp của nó
2 Những cung bậc của nỗi tương tư mà chàng trai thôn Đoài đã trải
qua : nhớ – tự phân tích nỗi nhớ – tráeh móc, ngờ vực, băn khoăn –
ngậm ngùi thương mình, mong được chia sẻ – đợi chờ phấp phỏng và khao khát gặp gỡ, sum vầy
3 Trong quan hộ yêu đương, sự trách móc nhau vẫn thường xảy ra Ở
đây, lời trách của chàng trai rất thiếu cơ sở : chuyện của hai thôn vốn
thuộc lĩnh vực hành chính, làm sao có thể đồng nhất với chuyện tình yêuvốn thuộc lĩnh vực của trái tim được Giữa chúng chẳng có mối liên hộ
tất yếu nào Thêm vào đó, không sang không phải là chuyện của khoảng
cách địa lí mà là chuyện của khoảng cách tình cảm Vin vào đó để bắt bẻquả không tránh khỏi sự hồ đồ Tuy nhiên, kẻ đang yêu có bao giờ hiểu được điều đó Lí lẽ của một trái tim yêu quả thật khác thường và cũng thật đáng cảm thông !
4 Hai câu thơ “Ngày qua ngày lại qua ngày – Lá xanh nhuộm đã thành
cây lá vàng” cho thấy rất rõ sự tài hoa trong cách sử dụng ngôn ngữ của
tác giả Hai từ ngày, qua được lặp đi lặp lại đầy biến hoá đã diễn tả rất hay một thực tế không hề biến hoá : hết qua rồi lại qua, tất cả vẫn không
có gì khác ngoài cái ngày vô vị ấy ! Từ lại được cài vào rất nghệ thuật
cũng góp phần biểu đạt sâu sắc thêm cảm giác này ở nhân vật trữ tình
Trong câu thơ sau, âm điệu của từ nhuộm cũng như hiện tượng đảo vị trí
từ vừa xác nhận dấu ấn rõ rệt của thời gian in trên cây lá, vừa khắc hoạ thật tài tình tâm trạng nặng nề của kẻ tương tư không làm sao tránh được
sự nhắc nhở thường xuyên của thời gian
5 Trong bài thơ, Nguyễn Bính đã tạo dựng được một không gian
nghệ thuật riêng phù hợp với mối tình chân quê mà ông nói tới Ta thấy
Trang 25bao trùm ở đây hình ảnh của thôn Đoài, thôn Đông với mái đình, giàn trầu, hàng cau liên phòng cùng những cây lá đổi màu theo bước mùa đi,
… Nhờ nó, người đọc mới có được ấn tượng đặc biệt đến vậy về nỗi mong nhớ mơ hồ xa xôi, cách tính đếm thời gian theo dấu ấn của mùa trên cây cỏ, chút ỡm ờ trong cách biểu đạt cảm xúc của chàng trai
Không gian làng quê lúc này không tồn tại như một bối cảnh thuần tuý
mà tự nó cũng toát lên, cũng hàm chứa một “nội dung” sâu xa
6 Có một hệ thống hình ảnh cặp đôi tồn tại trong bài thơ : thôn Đoài
– thôn Đông, bến – đò, hoa khuê các — bướm giang hồ, cưu –
giậu (trầu) Hệ thống hình ảnh này thật giàu màu sắc dân gian, biểu đạt
rất hay khát vọng lứa đôi của các đối tượng được giả định là bình dân
về hình ảnh trầu – cau, ai cũng biết nó gắn liền với chuyện kết duyên,
chuyện cưới hỏi Đây là hình ảnh cặp đôi được nhắc sau cùng, thể hiện đúng mạch “đi tới” của tình cảm tương tư và quy luật phát triển của tình yêu ở người dân quê : tình yêu tất gắn với hôn nhân Bốn câu cuối của bài thơ được tổ chức thành các vế song song Hai câu trên muốn nói : tiền đề của sự giao kết đã ngầm chứa sẵn trong thực tế khách quan Nếu cau hày trầu chỉ trơ trọi một mình thì chúng sẽ mất hết giá trị Theo áp lực nghĩa của hai câu đó, dù bài thơ kết thúc bằng một câu hỏi lửng lơ, tavẫn đọc ra được “lời đáp” trong mong chờ và tin tưởng : cau thôn Đoài không nhớ, không làm bạn với trầu không thôn Đông thì còn nhớ, còn làm bạn với cái gì, với ai được nữa !
7 Dấu ấn của nền văn hoá truyền thống khá đậm trong bài thơ :
− Nhân vật trữ tình tự nhìn thấy mình như một bộ phận của thiên nhiên, vũ trụ và hiểu rõ mối tương quan hoà hợp giữa các đối tượng, sự vật
− Tuy có băn khoăn, nghi ngờ, chàng trai vẫn không thôi hi vọng ;
đằng sau từ bao giờ đầy mơ hồ, khắc khoải là một niềm tin – cái niềm
tin vẫn tiềm tàng trong những, con người sống cuộc đời bình dị đằng sauluỹ tre xanh
− Tình cảm tương tư đã được biểu hiện một cách ý nhị, kín đáo, khá phù hợp với văn hoá nói năng, ứng xử của người Việt xưa, v.v
8 Dù có giọng “quê mùa”, Tương tư vẫn là một bài thơ mới đích
thực nội tâm con người, đặc biệt là cảm xúc yêu đương được mổ xẻ tường tận và miêu tả một cách tinh tế xen vào giữa các câu có cách diễn
Trang 26đạt lấp lửng, kín đáo là một’ số câu dám gọi đích danh sự vật, tạo môi
trường cho cái tôi cá nhân lộ ra ở bình diện thứ nhất,…
TỐNG BIỆT HÀNH
Thâm Tâm
1 Trong Tống biệt hành, “cánh bè” cắm chặt trên sông là cuộc sống gia
đình quẩn quanh, tù túng Cuộc sống này không phải không có chất thơ :cảnh sắc quê nhà cũng như chị gái, em thơ ở lại nhà được miêu tả bằngnhững hình ảnh tuyệt vời Trong bài Lưu biệt, cuộc sống tù túng khôngthiếu những điều quyến rũ, níu giữ người ra đi : thơ và nhạc, “giọng đànlưu luyến” và “tiếng cười”, “cố nhân”, “rượu xuân… đượm say mùicũ”… Nhưng người ra đi vẫn quyết giã từ… Đó là ý nghĩa của câu “Mộtgiã gia đình, một dửng dưng” Sự “dửng dưng” không thuộc bản tính củangười ra đi Đây chỉ là nỗ lực tâm lí cuối cùng
Phong cách bài thơ vừa gợi ra hơi hướng lãng mạn vừa tạo dáng cốtcách trượng phu ở nhân vật người ra đi Nhưng người ra đi là ai ? Mộtđấng trượng phu có hơi hướng lãng mạn hay một người lãng mạn códáng dấp trượng phu ? Tôi thiên về nhận định sau Phải nhận rằng trongbài Tống biệt hành có những từ, những điệu bộ và khẩu khí bị quy địnhbởi tính chất cổ xưa của điệu hành mà tác giả lựa chọn có ý thức làm thểloại cho tác phẩm của mình Thâm Tâm trước sau là con người củaphong trào Thơ mới Người ra đi là một nhân vật lãng mạn, phần còn lại
là văn chương, là cách điệu, là điệu bộ và “trò diễn ngôn từ” “Đầyhoàng hôn trong mắt trong” là nét lãng mạn tuyệt vời ở nhân vật này
Mà văn chương lãng mạn Việt Nam, cả một thời Thơ mới và Tự lực vănđoàn cũng không tạo được một nét nào tuyệt vời hơn cho nhân vật lãngmạn đương thời
Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?
Trang 27Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?
Tiếng sóng trong lòng ai ? Có thể dễ dàng nhất trí tiếng sóng ở tronglòng người đưa tiễn Nhưng “đầy hoàng hôn” trong mắt ai ? Lời trongbài thơ từ đầu chí cuối là lời của người đưa tiễn, dù người ấy thầm nóivới mình hay thầm nói với bạn, thầm nghĩ về mình hay thầm tưởng vềbạn… Vậy thì người tiễn chỉ có thể nhìn thấy “hoàng hôn” trong mắtngười đi Bởi lẽ người tiễn (và bất kì ai cũng vậy) không thể nhìn thấymắt của chính mình (trừ phi buổi tiễn đưa, có mang theo một chiếcgương, chốc chốc lại đưa ra soi)
Khổ kết thúc bài thơ :
Người đi ? ừ nhỉ, người đi thực !
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say
Về ba câu cuối có hai cách hiểu khác nhau : (người ra đi) thà coi (mẹ)như chiếc lá bay hay (bà) mẹ thà coi (người con ra đi) như chiếc lá bay
và vân vân… ở câu 1 người tiễn đưa thầm nghĩ về người đi thì ba câutiếp theo hiểu như là người tiễn “nhập cảm” vào người đi để ném ra bachữ thà sẽ tự nhiên hơn hiểu như là người tiễn lần lượt “nhập cảm” vào
“mẹ”, “chị” và “em” và lần lượt buông ra ba chữ “thà” Với cách hiểuthứ nhất, có chút gì đó “nhẫn tâm”, “khinh bạc” ở người ra đi, điều này ởmột “người đàn ông” xem ra có thể chấp nhận được Với cách hiểu thứhai, “nhẫn tâm” và “khinh bạc” được gán cho “mẹ già”, “chị gái”, “emthơ”, điều này rất khó chấp nhận về mặt đạo đức cũng như về mặt mĩhọc
Trang 28Đọc Tống biệt hành của Thâm Tâm có những cách hiểu rất khác nhaunhưng mọi người đều nhất trí đây là một bài thơ hay Như thế là thếnào ? “Một sự kiện mà nhiều người biết là bài thơ, một mặt, có lớp ýnghĩa đầu tiên có thể dịch ra được bằng văn xuôi, mặt khác nó sốngtrong tâm trí người đọc một cuộc sống thứ hai, chính cuộc sống này xácđịnh nó như là một bài thơ” (Merleau Ponty).
2 Bài thơ thống nhất một trạng thái cảm xúc từ câu đầu đến câu cuối.
Nhưng sự thống nhất lại sinh ra từ những tình thế đối lập gay gắt trongcảnh ngộ, trong tâm lý Cái thái độ một giã gia đình, một dửng dưng cốche đậy, cố giấu nỗi xót thương mẹ già em dại, hai chị lỡ làng Ba câucuối cùng nói như buông xuôi, như nhẹ nhõm để nén một tiếng gào Cáicảm giác tức tưởi của bài thơ càng dồn xuống lại càng bật lên Âm điệurắn rỏi của thể thơ càng thêm sự bùi ngùi của tình huống Cái tên bàithuần chữ Hán cùng các từ ngữ cổ kính trang trọng đối chiếu với cuộc đicủa đời thực, với diễn biến của tâm trạng, chỉ như một sự an ủi nhỏ nhoi,càng làm ta xót thương Những yếu tố đó đã làm Tống biệt hành thànhbài thơ hay và đầy vẻ lạ lùng so với các bài thơ cùng thời
CHIỀU XUÂN
Anh Thơ
1.
Chiều xuân” qua ngòi bút của Anh Thơ hiện lên qua tranh: buổi chiều
tà, cảnh xuân ở đồng quê miền Bắc nước ta
- Bài thơ thể hiện sự quan sát tinh tế, bao quát cảnh vật
- Bức tranh buổi chiều yên bình, êm ả, có phần vắng lặng
→ Nắm được linh hồn cảnh vật
Trang 29- Buổi chiều xuân đặc trưng ở cảnh mưa: mưa bụi, mưa xuân thưa thớtbay
- Mưa gọi mầm non thức dậy
+ Cảnh đầu tiên được tác giả chú ý là cảnh bến đò
+ Con đò dường như cũng hòa với sự êm ả của buổi chiều khi con
đò “biếng lười nằm mặc nước sông trôi”
+ Điểm xuyết liên tục thêm vào bức tranh là quán tranh vắng, là
những chùm hoa xoan tím “rụng tơi bời”
- Cảnh được mở rộng, cao, xa hơn
- Nêu bật đặc trưng của mùa xuân miền Bắc: cỏ non tràn biếc cỏ, đànsáo đen, cánh bướm rập rờn,
Khổ thứ hai hình ảnh độc đáo, đẹp, nhưng đượm buồn bởi cảnh vậtchìm vào tĩnh lặng
- Ba khổ thơ là thơ tả cảnh, tập hợp thành bức tranh quê giản dị, mộcmạc, thanh nhã, hơi gợi buồn vì cảnh thanh vắng, yên tĩnh
+ Hai câu thơ cuối có hình ảnh con người xuất hiện
- Khoảnh khắc lao động của người thiếu nữ đi vào thơ
+ Cô thôn nữ chăm chỉ trong buổi chiều tĩnh lặng
Trang 30+ Câu thơ tả động nhưng để nói về cái tĩnh
+ Cái tĩnh để nhằm nhấn mạnh vào nhịp sống yên bình của vùng quêcòn nguyên sơ
3.
Thi sĩ dùng nhiều từ láy để dựng cảnh, gợi ra tinh thần của cảnh:
+ Mưa êm đềm, quán tranh đứng im lìm
+ Hoa xoan rụng tơi bời
+ Diễn tả trạng thái thụ động hoặc đều đều của chủ thể
+ Từ láy làm nổi bật vẻ đẹp dịu dàng, yên ả, thanh bình của cảnhchiều xuân,cũng như nhịp sống khoan thai nơi đồng quê của tác giả
LUYỆN TẬP PHÂN TÍCH ĐỀ,LẬP DÀN Ý CHO BÀI VĂN NGHỊ
LUẬN VĂN HỌC
1 Trong các đề nghị luận văn học, có đề bài nêu rõ vấn đề cần trình
bày và các thao tác chính cần thực hiện, có đề bài không nêu yêu cầu cụ thể, đòi hỏi người viết tự xác định nội dung và các thao tác trình bày ; có
đề bài đưa ra ý kiến, nhận định làm cơ sở để người viết xác định và triển khai vấn đề Theo anh (chị), đề văn nào trên đây tương ứng với mỗi loại nêu trên ? Từ đó xác định những điểm giống nhau và khác nhau của mỗi
đề văn
2
Trang 31Vấn đề trọng tâm
Thao tác chính Phạm vi tư liệu
sắc mà bài thơ Vội Vang đêm lại cho bản thân
của hai nhân vật Huấn Cao
và viên quản ngục
phá,sáng tạo của thơ ca
3 Hãy đặt ra và trả lời các câu hỏi để tìm các ý lớn, ý nhỏ cho mỗi đề
bài Chẳng hạn, với Đề 3, có thể đặt và trả lời các câu hỏi như sau :
− Ý kiến của Nguyễn Tuân đề cập đến vấn đề gì ? Có thể giải thích
ý nghĩa của các cụm từ “mở ra”, “phong kín” để thấy được nội dung lời nhận xét của Nguyễn Tuân về nét riêng trong nghệ thuật sáng tạo thơ ca − Tại sao Nguyễn Tuân đưa ra nhận xét đó ?
Có thể xuất phát từ đặc trưng của thơ ca để lí giải :
+ Thơ là sự khám phá hiện thực theo những góc nhìn và xúc cảm rấtriêng của người nghệ sĩ
+ Sự khám phá ấy lại được thể hiện bằng một hình tượng nghệ thụậtrất riêng (về cấu tứ, về ngôn từ,…), đem lại những cảm xúc bất ngờ, thú
vị cho người đọc
− Ý kiến của Nguyễn Tuân được chứng minh như thế nào ? Có thể phân tích một số bài thơ tiêu biểu để thấy nét độc đáo trong cách cảm nhận, khám phá hiện thực và trong nghệ thuật xây dựng hình tượng
4 Hãy căn cứ vào yêu cầu của mỗi phần mở bài, thân bài, kết bài
khi triển khai một đề văn nghị luận để lập dàn ý cho mỗi đề Chẳng hạn,
có thể lập dàn ý cho Đề 3 như sau :
− Mở bài :
Giới thiệu về Nguyễn Tuân và ý kiến nhận xét về thơ của ông
− Thân bài : Các ý chính cần triển khai :
Trang 32+ Giải thích từ ngữ, tìm hiểu nội dung lời nhận xét.
+ Lí giải nội dung, quan niệm của Nguyễn Tuân về thơ qua lời nhậnxét
+ Chứng minh qua việc phân tích một số bài thơ tiêu biểu
1 Bài viết số 6 chủ yếu hướng vào các tác phẩm thơ, rèn luyện cách
phân tích thơ hiện đại đầu thế kỉ XX cho học sinh Các đề đều gắn với những tác phẩm văn học đang học trong phần Đọc văn như Lưu biệt khixuất dương của Phan Bội Châu, Hầu Trời (Tản Đà), một số bài thơ của Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Huy Cận,… Vì thế để viết tốt bài văn này, cần nắm vững các giá trị về nội dung và nghệ thuật của cáctác phẩm, đã học
2 Một nhận xét nào đó có thể đúng hoàn toàn, có thể sai và có thể vừa
đúng vừa sai ; cũng có những nhận xét chưa chuẩn xác, cần điều chỉnh Bài tập này nêu lên một nhận xét tình cảm trong thơ mới Nhận xét ấy đúng, sai như thế nào tuỳ vào nhận thức của học sinh Cần vận dụng những hiểu biết về lập luận bác bỏ đã học
3 Một số gợi ý về phương hướng giải các đề
Đề 1 – Cái tôi trong thơ trữ tình là sự bộc lộ bản lĩnh và ỷ thức cá nhân của nhà thơ trước hiện thực cuộc sống Nó thường thể hiện qua cách xưng hô, cách nói, giọng điệu, cách dùng từ ngữ, hình ảnh,…
Trang 33− Ở bài thơ Hầu Trời, cái tôi độc đáo của Tản Đà được thể hiện trên nhiều phương diện : từ việc “bịa” chuyện “hầu Trời” đến cách
xưng hô tên tuổi, quế quán ; từ nụ cười hóm hỉnh, tinh quái sau câu chữ đến cách tự đề cao mình (tự cho văn mình hay đến mức Trời cũng phải tán thưởng ; không thấy ai có thể làm tri âm, tri kỉ với mình ngoài Trời
và chư tiên, tự xem mình là “trích tiên” bị đày xuống hạ giới vì tội
ngông, coi các đấng siêu nhiên cũng bình dân, suồng sã, ngang hàng vớimình,…) Đấy chính là những biểu hiện của một cái tôi “ngông ngạo”,
“ngông nghênh” thường thấy trong văn học trung đại nhưng cũng in đậm dấu ấn của Tản Đà
Đề 2 Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trữ tình trong bài thơ Lưu biệt khi xuất dương thể hiện ở một số phương diện sau đây :
− Vẻ đẹp của “chí làm trai”
− Vẻ đẹp của tinh thần dám chịu trách nhiệm trước lịch sử
− Vẻ đẹp của tinh thần cách mạng, thấm thìa nỗi nhục mất nước − Vẻ đẹp “hùng tâm tráng chí” của con người quyết ra đi
Có thể nói Vẻ đẹp của nhân vật trữ tình thể hiện rõ nhất ở hình ảnh
ra đi và ước nguyện “Muốn vượt bể Đông theo cánh gió” ở cuối bài thơ Hai câu thơ kết bài nói lên rất rõ cái “hùng tâm tráng chí” của
người viết Cái ước nguyện của tác giả thật lớn lao, cao cả Nội dung tâm hồn, tình cảm ấy được diễn tả bằng giọng thơ đĩnh đạc, ung dung Người ra đi lồng lộng giữa đất trời, biển cả Bể Đông, cánh gió, sóng bạc,… hay là cả đất trời non nước quê hương đã tiễn con người ấy ra đi.Hình ảnh người ra đi đạp trên muôn trùng sóng bạc nhắc ta nhớ tới câu nói nổi tiếng của người anh hùng Triệu Thị Trinh năm xưa : “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp sóng dữ chém cá kình ở biển Đông…”
Trang 34Đề 3 Để tạo nên bộ “y phục tối tân” giữa làng thơ mới Việt Nam hồi đầu thế kỉ XX, Xuân Diệu đã thay đổi và cách tân nhiều yếu tố hình thức của thơ ca Hình ảnh và nhịp điệu là những yếu tố nổi bật trong đó − Từ các bài thơ đã nêu trong đề, người viết chỉ ra các từ ngữ – hình ảnh và những cách ngắt nhịp độc đáo, khác lạ nhằm làm mới câu thơ, ý thơ Phân tích và chỉ ra vai trò và tác dụng của các yếu tố hình ảnh và nhịp điệu ấy trong việc thể hiện nội dung.
− Một số hình ảnh độc đáo : “Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu –
Lả lả cành hoang, nắng trở chiều”, “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá”,
“Mây biếc về đâu bay gấp gấp – Con cò trên ruộng cánh phân vân” (Thơ duyên), “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang – Tóc buồn buông
xuống lệ ngàn hàng”, “Những luồng run rẩy rung rinh lá… – Đôi nhánhkhô gầy xương mỏng manh”, “ít nhiều thiếu nữ buồn không nói – Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì” (Đây mùa thu tới), “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, “Con gió xinh thì thào trong lá biếc”, Hỡi xuân
hồng, ta muốn cắn vào ngươi !” (Vội vàng)
− Nhịp điệu khẩn trương, gấp gáp, vồ vập, cuống quýt,… thể hiện khá rõ trong bài Vội vàng ; nhịp điệu tha thiết, êm ả, mơ hồ, có phần u hoài, bâng khuâng,… thể hiện khá rõ trong các bài Thơ duyên và Đây mùa thu tới
NHẬT KÍ TRONG TÙ CỦA HỒ CHÍ MINH
1 Trước hết hãy giải nghĩa thế nào là “hành động ngẫu nhiên” và “như
một câu chuyện vạn bất đắc dĩ” ?
− “Hành động ngẫu nhiên” là hành động không có chủ ý, việc khôngđịnh mà làm ; “như một câu-chuyện vạn bất đắc dĩ” : việc không muốn làm mà phải làm
− Thực ra tác giả Nhật kí trong tù đã giải đáp rất rõ ràng trong
bài Mỏ đầu tập Nhật kí :
Trang 35Ngãm thơ ta vốn không ham, Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây ; Ngày dài ngâm ngợi cho khuây, Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
− Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói : “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng đượchọc hành”[1] Vì ham muốn tột bậc đó, Hồ Chí Minh dồn hết tâm trí, sức lực cho hoạt động cách mạng, mọi thích thú khác, nếu có, đều dẹp đi hết,
kể cả thú làm thơ nghệ thuật (có thích thú thì khi cần giải trí mới giải trí bằng thơ)
Nhưng bị giam trong ngục, nhất là trong bốn tháng đầu, Hồ Chí Minh hoàn toàn không có điều kiện hoạt động cho cách mạng Buồn bựcquá, Người đành phải làm thơ để khuây khoả “Hành động ngẫu nhiên” hay “bất đắc dĩ” là như thế
− Tuy nhiên, dù làm thơ để giải trí thì cũng vẫn thể hiện tâm hồn
cao đẹp của Hồ Chí Minh Trong Nhật kí trong tùcó không ít bài thơ hay
: tâm hồn cao đẹp, vốn sống, vốn văn hoá phong phú, có tài và có cảm hứng chân thật, nói như Tố Hữu, thơ có thể “bật ra ngoài chủ ý”[2], hay nói như Lê Quý Đôn “Cảnh không hẹn mà tự đến, nói không mong hay
mà tự hay”[3]
2 Nhật kí là ghi chép những sự kiện, những ý nghĩ hằng ngày mà
tác giả quan tâm Nhưng Nhật kí trong tù lại ghi chép bằng thơ Thơ hay văn học nói chung có khả năng phản ánh hiện thực và biểu hiện tâm hồn con người một cách rất sâu sắc
− Nhật kí trong tù có hai đối tượng ghi chép : Một là những điều tác
giả tai nghe, mắt thấy trong nhà tù hay ngoài nhà tù (trên đường bị giải
đi từ nhà lao này đến nhà lao khác) như những bài Cơm tù, Cái cùm, Tù
cờ bạc, Mới đến nhà lao Thiên Bảo, Tiền đèn, Tiền vào nhà giam, Cảnh binh khiêng lợn cùng đi, Phu làm đường,v.v Những bài này chủ yếu
hướng ngoại Kết hợp những bài này lại, có thể dựng lên một bức tranh rất cụ thể, tỉ mỉ về nhà tù và một phần bộ mặt của xã hội Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch Hai là tâm sự diễn biến hằng ngày của nhà thơ
khi đối diện với mình, với cảnh như những bài : Buổi trưa, Quá trưa,
Ngắm, trăng, Học đánh cờ, Không ngủ được, Đêm ngủ ỏ Long Tuyền,
Trang 36v.v Những bài này chủ yếu hướng nội Kết hợp những bài này lại, ta có
được bức chân dung tinh thần tự hoạ của Hồ Chí Minh Loại bài thứ nhấtthường dùng bút pháp tự sự tả thực Loại bài thứ hai nói chung, dùng bútpháp trữ tình
3 Bức chân dung tinh thần tự hoạ của Hồ Chí Minh gồm rất nhiều
ở phong thái ung dung vượt lên rất cao trên những thử thách gian khổ của nhà tù, đồng thời tâm trí luôn luôn hướng về Tổ quốc Và chủ nghĩa lạc quan mãnh liệt trong bất cứ tình huống nào cũng luôn luôn hướng về
sự sống, ánh sáng và tương lai
4 Thép là chất chiến đấu, là tinh thần chiến sĩ Thép cũng là sự vượt
lên mọi thử thách ác liệt của nhà tù
Trong Nhật kí trong tù, những bài thơ thể hiện trực tiếp “chất thép”
(Hoài Thanh nói là “nói chuyện thép” và “lên giọng thép”) cũng có, nhưng không nhiều Những bài thơ thể hiện “chất thép” một cách gián tiếp ở phong thái ung dung thi sĩ nhiều hơn Cho nên hình ảnh nổi bật
của Hồ Chí Minh trong Nhật kí trong tù chủ yếu không phải là hình ảnh
chiến sĩ mà là hình ảnh thi sĩ Những bài thơ thể hiện “chất thép” như thế, phải đặt trong hoàn cảnh sáng tác mới thấy được
5 Bài tập này đề cập đến một nét phong cách rất độc đáo của thơ
Hồ Chí Minh trong Nhật kí trong tù (đúng ra là của thơ nghệ thuật của
Hồ Chí Minh nói chung)
Trang 37Yêu cầu của bài tập là phải phân tích thơ Hồ Chí Minh đế làm sáng
tỏ hai phương diện : vừa đậm chất Đường thi, vừa khác với Đường thi, nghĩa là vừa tán thành vừa bác bỏ nhận xét bài tập đưa ra
− Đậm chất Đường thi : Giàu cảm hứng về thiên nhiên, thường quansát thiên nhiên từ cao, từ xa, chấm phá vài nét cốt ghi lấy linh hồn của tạo vật; nhân vật trữ tình sống hoà hợp với thiên nhiên, phong thái ung dung tự tại như một bậc hiền triết thời xưa ; các thi đề đăng sơn, đăng cao, giai thì (thời gian đẹp), mĩ cảnh (cảnh đẹp), thắng sự (sự việc hay), lương bằng (bạn tốt),… Ngoài ra thường dùng biểu tượng, ước lệ, lời thơhàm súc, giàu ý ngoài lời (ý tại ngôn ngoại)
− Khác với Đường thi : Cảnh trong thơ luôn vận động hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai (cảnh trong thơ xưa thường tĩnh, gọi là phi thời gian), nhân vật trữ tình không ẩn đi giữa thiên nhiên, con người là chủ thể trong quan hệ với thiên nhiên (trong thơ xưa, thiên nhiên là chủ thể)
CHIỀU TỐI
Hồ Chí Minh
1 Trước hết phải hiểu hoàn cảnh của tác giả, sau đó mới quan sát cảnh
thiên nhiên trong bài thơ và phân tích nghệ thuật diễn tả của nhà thơ
a) Hoàn cảnh của tác giả lúc Chiều tối:
− Đây là cảnh ngoài nhà tù, vậy tất nhiên là Hồ Chí Minh chỉ có thể quan sát được trên đường chuyển lao
− Thường Hồ Chí Minh bị giải đi từ sáng sớm (Giải đi sơm), vậy lúcChiều tối tất nhiên là đã ở cuối hành trình chuyển lao và Người đã phải qua một ngày đường vất vả
− Chiều tối (Mộ) tức là chiều muộn, trời đang chuyển sang tối hẳn,
và qua bài thơ, ta biết nhà thơ đang đứng giữa cảnh núi rừng (chim mỏi
về rừng, cô em xóm núi)
b) Hãy đặt mình vào hoàn cảnh của nhà thơ như thế để nhận xét
nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong bài Chiều tối
− Giữa chốn núi rừng, tất nhiên bốn phía chân trời đều bị che khuất, ánh sáng cuối cùng của một ngày tàn chỉ có thể nhìn thấy trên đỉnh trời
Trang 38để nhận ra một cánh chim bay về rừng và một chòm mây lững lờ trôi qua Nhưng khi trời tối hẳn, nghĩa là khi ánh sáng của thiên nhiên khôngcòn nữa, thì con mắt nhà thơ tự nhiên phải hướng về nơi có ánh lửa của con người ở những thôn xóm quanh vùng Ấy là lò lửa rực hồng của nhà
ai bên xóm núi : “Cô em xóm núi xay ngô tối – Xay hết, lò than đã rực hồng”
c) Vậy là thoạt đầu đọc bài thơ ta tưởng như tác giả tả cảnh theo
công thức ước lệ : chiều thì chim bay về tổ, chòm mây lững lờ bay
ngang trời Hai hình ảnh này thường thấy trong thơ cổ khi tả cảnh chiều
“Chim hôm thoi thót về rừng” (Nguyễn Du), “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” (Bà Huyện Thanh Quan), v.v Nhưng đặt trong hoàn cảnh cụ thể của nhà thơ thì thấy tác giả mô tả cảnh thiên nhiên một cách chính xác, tự nhiên, đúng như cảnh thật mà mình quan sát được chứ không gò theo công thức ước lệ
2 Bài thơ dịch có câu “Cô em xóm núi xay ngô tối” Thực ra câu thơ
thứ ba này trong nguyên tác không có chữ tối (“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc” : Cô gái ở xóm núi xay ngô) Như thế là tác giả không hề nói- đến sự vận chuyển của thời khắc mà tả được sự vận chuyển ấy Khi trời còn ánh sáng thì nhìn lên cao thấy chim và mây bay qua, khi tròi tối hẳn thì thấy lò lửa ở xóm núi rực sáng (trời chưa tối thì không thể nhìn thấy ánh lửa ở tận một xóm núi nào đó)
Vậy là không nói tối mà tả được trời tối – tác giả dùng ánh sáng để tả bóng tối Đây là một thủ pháp nghệ thuật, mượn cái này để tả cái kia –
“Vẽ mây nẩy trăng”, “Hoạ vân hiển nguyệt”, lấy động tả tĩnh, lấy sáng tảtối,…
3 Muốn hiểu “tâm cảnh” của tác giả thì phải biết rõ cảnh ngộ cụ thể
của nhà thơ, sau đó tìm hiểu bài thơ trong quan hệ với cảnh ngộ ấy
a) Cảnh ngộ của nhà thơ
trong Nhật kí trong tù, như các bài Mới đến nhà lao Thiên Bảo hay Đi
Nam Ninh,v.v.).
− Vất vả như thế nhưng cái gì chờ đợi người tù sau một ngày bị đày
ải ? Chính tác giả đã nói rõ trong các tác phẩm của mình (có thể lấy dẫn
Trang 39chứng ở các bài Đêm ngủ ỏ Long Tuyền hay Mới đến nhà lao Thiên Bảo,
v.v.).
− Xa Tổ quốc, ở nơi đất khách quê người, cách biệt với đồng bào, đồng chí ; yêu cầu của cách mạng rất khẩn trương mà người đứng đầu lại bị giam giữ không biết đến bao giờ ; cảnh núi rừng vắng vẻ vào lúc chiều muộn càng dễ gợi nỗi buồn,…
b) Diễn biến tâm trạng của nhà thơ
− Hai câu đầu với các chi tiết : “Quyện điểu” (Chim mỏi mệt) và
“Cô vân mạn mạn” (Chòm mây cô đơn trôi lững lờ), đúng là có tính chấtcông thức ước lệ thường thấy ở thơ cổ để tả cảnh chiều, nhưng cũng rất phù hợp với tâm sự nhà thơ
− Nhung hai câu cuối lại có hình ảnh “lò than rực đỏ” và “cô gái xayngô” xua tan đi cái lạnh lẽo, cô quạnh của núi rừng cũng như trong lòng người, thể hiện niềm vui của nhà thơ sẵn sàng chia sẻ với niềm vui giản
dị đời thường của người dân lao động, quên hẳn cảnh ngộ riêng của mình không có gì đáng vui cả
Có thể gọi đây là tinh thần nhân đạo đến mức quên mình
4 Muốn hiểu “chất thép” ở bài thơ phải đặt nó trong hoàn cảnh cảm
hứng cụ thể Hoàn cảnh nhà thơ rất khổ cực, vậy mà Người vẫn ung dung ngắm cảnh và làm thơ Đấy là “chất thép” kiên cường Tố Hữu nói rất đúng :
Lại thương nỗi : đoạ đày thân Bác Mười bốn trăng tê tái gông cùm
Ôi chân yêu, mắt mờ, tóc bạc
Mà thơ bay… cánh hạc ung dung !
(Theo chân Bác)
5 Bài thơ một mặt có màu sắc cổ điển : bút pháp chấm phá vài nét
đơn sơ cốt ghi lấy linh hồn của tạo vật
Sử dụng những hình ảnh quen thuộc của cổ thi, không khác gì sự sửdụng ước lệ trong thơ cổ
Nhưng mặt khác lại có tinh thần hiện đại :
− Quan hệ giữa con người với thiên nhiên khác cổ thi Con người,
sự sống, ngọn lửa của con người là trung tám của bức tranh thiên nhiên Con người không ẩn đi mà hiện ra, con người là chủ thể trong bức tranh đó
Trang 40− Tâm hồn nhà thơ hướng, về sự sống và ánh sáng, thể hiện tinh thần lạc quan cách mạng trong bất kì tình huống nào.
LAI TÂN
Hồ Chí Minh
1 Anh (chị) có nhận xét gì về kết cấu của bài thơ? (Chú ý: Ba câu đầu
và câu cuối có chức năng diễn đạt khác nhau như thế nào? Chúng có quan hệ với nhau ra sao xét về phương diện kết cấu của bài thơ?)
Về chức năng diễn đạt, ba câu đầu là ba câu tự sự, kể việc: ban trưởng ngày ngày đánh bạc, cảnh trưởng thì bóc lột phạm nhân, còn huyện trưởng thì chong đèn hút thuốc phiện Câu kết lại là một câu trữ tình, phát biểu một nhận xét, thể hiện một thái độ đánh giá Như thế là bài thơ gồm hai phần, quan hệ rất chặt chẽ: ba câu đầu thuật kể một hiện tượng; câu kết nhận xét hiện tượng ấy
2 Bộ máy quản lí nhà tù của chính quyền Tưởng Giới Thạch ở Lai Tân
được miêu tả như thế nào qua ba câu đầu của bài thơ?
Ban trưởng nhà lao thường xuyên đánh bạc Cảnh trưởng tham lam ăn tiền của phạm nhân bị giải Huyện trưởng chong đèn làm công việc ⇒ Nếu theo nghĩa huyện trưởng chăm chỉ làm việc thì cũng ngụ ý mỉa maibởi lẽ không biết ông làm việc gì mà cấp dưới ăn chơi, ăn chặn quan vẫn không biết Còn nếu hiểu theo nghĩa chong đèn hút thuốc phiện thì hợp logic phê phán, châm biếm từ câu 1 và câu 2
3 Câu kết "Trời Lai Tân vẫn thái bình" có mâu thuẫn gì với nội dung ba
câu đầu của bài thơ? Hiệu quả châm biếm của bài thơ như thế nào khi tác giả hạ mấy chữ "y cựu thái bình thiên" ("vẫn thái bình")?
Câu kết bài thơ tạo một bất ngờ Đọc hết ba câu đầu, người ta chờ đợi một lời lên án tính chất thối nát của bọn quan lại ở nhà tù Lai Tân
Nhưng câu kết lại không làm như vậy, mà lại phát biểu một nhận xét dường như là không ăn nhập gì với ba câu trên: “Trời đất Lai Tân vẫn thái bình” Chẳng có gì là rối loạn, là bất thường cả Nhưng đó lại là