Những quan điểm của Montesquieu về quyền tự docủa công dân đã thể hiện sự ảnh hưởng nhất định trong Hiến pháp Hoa Kỳ 1787 và Tuyênngôn của nước Pháp về quyền con người và quyền công dân
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài
Chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhândân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là một quyết định hoàn toàn đúng đắn, mangtính đột phá về tư duy, lý luận, khoa học Chủ trương này đã được cụ thể hoá trong Hiếnpháp năm 2013, trong đó khẳng định “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam lànhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, “tất cảquyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhânvới giai cấp nông nhân và đội ngũ trí thức”, “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảmquyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triểntoàn diện” Gắn liền với công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền là việc cải cách phápluật Nhận thức đúng đắn sự phát triển kinh tế trong quá trình xây dựng nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, pháp luật kinh tế được quan tâm xây dựng và hoànthiện tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế thị trường Trên cơ sở Hiến phápnăm 2013 về quyền con người, quyền tự do kinh doanh, pháp luật kinh tế đã cụ thể hóanhững đòi hỏi của quyền tự do kinh doanh
Thực tiễn quyền tự do kinh doanh đang có những rào cản, hạn chế khi tham giahoạt động kinh doanh Có thể kể đến đó là các thủ tục cấp phép đầu tư, đăng ký kinh doanh,điều kiện kinh doanh, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, góp vốn Nói như vậy, không cónghĩa là phủ nhận vai trò của hoạt động cấp phép kinh doanh hay những ngành nghề cóđiều kiện, nhưng không phải mọi quy định mang tính thủ tục hay điều kiện đều hoàn toànphù hợp trong quá trình cải cách nền kinh tế
Hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung cũng đã và đang hoàn thiện để đảm bảo tốtnhất quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh Tuy nhiên, để nghiên cứu tổng thể cả
hệ thống pháp luật đòi hỏi cần nghiên cứu tổng thể nhiều nội dung từ thượng tầng kiến trúctới hạ tầng cơ sở Do đó, trong phạm vi của đề tài này, người viết tìm hiểu các biện pháp đểbảo đảm quyền con người về tự do kinh doanh trong phạm vi hệ thống pháp luật quy định
về hoạt động kinh doanh và đầu tư nhằm tìm ra các giải pháp nhằm xóa bớt những rào cảngây ảnh hưởng tới quyền tự do kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể khi tiếnhành hoạt động kinh doanh, tạo tiền đề thúc đẩy bảo đảm quyền con người, quyền tự dokinh doanh đúng tinh thần Hiến pháp năm 2013
Trang 22 Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ quan niệm về quyền con người,quyền tự do kinh doanh, vai trò của pháp luật kinh tế đối với việc bảo đảm quyền con người
về tự do kinh doanh Trên cơ sở đó tìm ra những định hướng, giải pháp nhằm xây dựng vàhoàn thiện pháp luật kinh tế đảm bảo quyền con người về tự do kinh doanh ở nước ta.Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền con người, quyền tự do kinh doanh, từ đó xácđịnh đúng đắn bản chất, nội dung, những yếu tố chi phối quyền con người trong hoạt độngkinh doanh; nghiên cứu, lý giải vai trò của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo quyền tự
do kinh doanh của chủ thể kinh doanh
Phân tích, đánh giá thực trạng những nội dung cơ bản của quyền tự do kinh doanhcủa con người theo quy định pháp luật hiện hành
Đề ra những định hướng và giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinhdoanh, bảo đảm mọi người có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật hiệnhành
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền conngười trong việc tự do kinh doanh; các cơ quan, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp có liênquan đến hoạt động kinh doanh
4 Phạm vi nghiên cứu
Để thấy rõ quyền con người về tự do kinh doanh được pháp luật quy định, áp dụngtrong thực tiễn nên luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu các biện pháp bảo đảm quyềncon người gắn với tự do kinh doanh trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể tham giakinh doanh
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các phương pháp sau:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử;
- Phương pháp lịch sử, logic;
- Phương pháp phân tích, so sánh;
- Phương pháp thống kê, tổng hợp
Trang 36 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung gồm 03 chương:
Chương 1 Lý luận chung về quyền con người và quyền tự do kinh doanh
Chương 2 Quy định pháp luật về quyền tự do kinh doanh
Chương 3 Thực trạng pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luậtViệt Nam về quyền tự do kinh doanh
Trang 4CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
VÀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH 1.1 Khái niệm về quyền con người, kinh doanh và quyền tự do kinh doanh
1.1.1 Khái niệm quyền con người
Quyền con người là một phạm trù đa diện, trên thế giới có hàng trăm định nghĩakhác nhau về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ
ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộctính của quyền con người Nhưng nhìn chung, tất cả các định nghĩa về quyền con người đềukhông có sự phân biệt về giới tính, màu da, sắc tộc, chủng tộc, địa vị xã gội, tôn giáo củacon người.1
Ở cấp độ quốc tế, có một định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc vềquyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu Theo định nghĩa này,quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và cácnhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sựđược phép và tự do cơ bản của con người Ở Việt Nam, cũng có nhiều cách hiểu khác nhau
về quyền con người Theo Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người của KhoaLuật - Đại học quốc gia Hà Nội khẳng định có nhiều định nghĩa về quyền con người, nhưngnhìn chung, “quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn cócủa con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lýquốc tế”.2
Tuy nhiên, cần phân biệt quyền con người và quyền công dân Trong khi quyền conngười không phân biệt về quốc tịch và không bị chi phối bởi bất kỳ hệ thống pháp luật nàothì phạm trù quyền công dân lại gắn liền với một con người cụ thể của một quốc gia, một
hệ thống pháp luật nhất định thông qua chế định quốc tịch Những quy định về quyền côngdân trước hết và quan trọng nhất là những quyền được quy định trong Hiến pháp, là đạoluật gốc, đạo luật cơ bản nhất của một quốc gia Mỗi quốc gia có đặc điểm về chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ phát triển khác nhau, do vậy các quy định về quyền côngdân của các quốc gia có thể không giống nhau Tuy nhiên, giữa chúng vẫn có những giá trị
1 Mai Hồng Qùy: Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, NXB Lao Động, 2011, tr 12.
2 Mai Hồng Qùy: Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, NXB Lao Động, 2011, tr 16.
Trang 5chung, những nguyên tắc pháp luật và cả những quy định giống nhau Theo Giáo sư, Tiến
sĩ Nguyễn Đăng Dung thì “nếu như các quyền con người thể hiện ở quyền công dân thìquyền công dân phải là những quyền vốn có của con người mà nhà nước phải thừa nhận vìquyền con người là những quyền tự nhiên vốn có của con người”.3
1.1.2 Khái niệm kinh doanh
Theo Khoản 16, Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2014 “kinh doanh là việc thực hiệnliên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụsản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”
Theo khái niệm trên, kinh doanh là hoạt động rất đa dạng nhằm mục đích sinh lợi,tạo ra của cải vật chất Như vậy, nếu không có hoạt động kinh doanh thì con người khôngthể cải thiện điều kiện sống của bản thân và gia đình, đảm bảo “mọi người đều có quyềnđược hưởng một mức sống thích đáng” theo Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948(UDHR-1948)
1.1.3 Khái niệm quyền tự do kinh doanh
Tự do, với ý nghĩa triết học, nói như Montesquieu là được thể hiện ý chí của mìnhhoặc ít ra là được nói lên quan niệm về thực hiện ý chí ấy Trong tác phẩm nổi tiếng củamình, “Tinh thần pháp luật”, Montesquieu đã khẳng định rằng “tự do chính trị tuyệt đốikhông phải là muốn làm gì thì làm Trong một nước có pháp luật, tự do chỉ có thể là đượclàm những cái nên làm và không bị ép buộc làm điều không nên làm” Ông cũng nhấnmạnh rằng: “tự do là quyền được làm tất cả những điều mà luật cho phép Nếu một côngdân làm điều trái luật thì anh ta không còn được tự do nữa, vì nếu anh ta được tự do làm thìmọi người đều được làm trái luật cả” Những quan điểm của Montesquieu về quyền tự docủa công dân đã thể hiện sự ảnh hưởng nhất định trong Hiến pháp Hoa Kỳ 1787 và Tuyênngôn của nước Pháp về quyền con người và quyền công dân năm 1791.4
Ngày nay, quyền tự do cá nhân đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luậtquốc tế và quốc gia, trong đó phải kể đến quyền tự do kinh doanh của con người, xuất phát
từ quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền có được mức sống đầy đủ cho bản thân và gia đình,theo Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 (ICESCR-1966)
Vì vậy, việc ghi nhận con người có quyền tìm kiếm lợi nhuận thông qua các hoạt động kinhdoanh là một quyền tất yếu, là quyền kinh tế cơ bản của con người
3 Mai Hồng Qùy: Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, NXB Lao Động, 2011, tr 17.
4 Bùi Xuân Hải: “Tự do kinh doanh: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5 (277),
2011: 68.
Trang 6Tại Điều 33, Chương II, Hiến pháp năm 2013 đã thừa nhận quyền tự do kinh doanh
là quyền con người và là một trong những quyền cơ bản của công dân: “Mọi người cóquyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Quy định này
có nghĩa là mọi người có quyền tự do kinh doanh và quyền tự do kinh doanh bị giới hạn bởiđiều cấm của luật
Tự do kinh doanh là một phạm trù rất rộng và có nhiều cách định nghĩa khác nhau
Tự do kinh doanh có thể được hiểu là khả năng mà các tổ chức, cá nhân có thể làm những
gì họ muốn, có thể lựa chọn, có thể tự quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động kinhdoanh nhằm mục đích sinh lợi, trong đó có quyền thành lập doanh nghiệp, lựa chọn môhình doanh nghiệp, ngành nghề, quy mô và địa bàn kinh doanh, tự do hợp đồng, tư do lựachọn cơ chế giải quyết tranh chấp 5
1.2 Nội dung cơ bản về quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp
Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp là hệ thống các quyền mà cơ bản và
trước hết là các quyền:6
- Quyền thành lập doanh nghiệp;
- Quyền tự do góp vốn;
- Quyền tự do hợp đồng;
- Quyền tự do định đoạt trong các giải quyết tranh chấp kinh doanh
Các quyền tự do trên có mối quan hệ hữu cơ tạo thành một thể thống nhất của nộidung quyền tự do kinh doanh Quá trình phát triển của nền kinh tế chắc chắn sẽ làm phongphú thêm nội dung của các quyền này
1.3 Lịch sử quy định pháp luật về quyền tự do kinh doanh
Như đã trình bày trên đây, quyền tự do kinh doanh là quyền kinh tế cơ bản của conngười, là quyền hiến định luôn gắn liền với mỗi con người, gắn với một quốc gia nhất định
Do ảnh hưởng của quá trình cách mạng và quá trình phát triển của nền dân chủ Việt Nam,quyền tự do cá nhân được ghi nhận và bảo vệ trong từng thời kỳ luôn trong mối liên hệ chặtchẽ với các quyền và lợi ích của dân tộc, quốc gia Theo quan điểm mác xít “pháp luậtkhông thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển của chế độ kinh tế - xã hội”, pháp luật
5 Bùi Xuân Hải: “Tài liệu tham khảo môn pháp luật kinh doanh, thương mại”, Trung Tâm Tư Vấn Bồi Dưỡng Pháp Luật, http://phapluatkinhdoanh.edu.vn/download/hoc-tap-4.html/?p=2, [truy cập ngày 04-3-2017]
6 Mai Hồng Qùy: Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, NXB Lao Động, 2011, tr.
Trang 7là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng xã hội, cho nên qui định về quyền tự do kinh doanhchịu sự chi phối bởi cơ sở hạ tầng, bởi các điều kiện về kinh tế - xã hội của đất nước.7
Quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam gắn liền với quá trình đấu tranh xây dựng vàbảo vệ tổ quốc, qua 5 giai đoạn sau đây:8
- Trước khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời (trước 02/09/1945);
- Từ khi độc lập cho đến khi thống nhất nước nhà (giai đoạn 1945 - 1954);
- Giai đoạn đất nước bị chia cắt (1954 - 1975);
- Từ khi thống nhất đất nước cho đến trước đổi mới (giai đoạn 1975 - 1986);
- Từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay(từ cuối năm 1986 đến nay)
1.3.1 Quyền tự do kinh doanh trước khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời (trước ngày 02/09/1945) 9
Trước khi cuộc Cách mạng tháng Tám thành công và nước Việt Nam Dân chủ cônghòa ra đời (ngày 02/09/1945), quyền con người nói chung và quyền tự do kinh doanh nóiriêng không những chưa được thừa nhận ở Việt Nam mà những quyền cơ bản của conngười như quyền tự do, quyền được sống, được học tập, được làm việc còn bị thực dânpháp chà đạp
Từ khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng vào năm 1858 cho đến khi nướcViệt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, chưa bao giờ nước Pháp mang đến và thực hiện tại ViệtNam những nguyên tắc, tư tưởng tinh thần tự do bác ái, tôn trọng nhân quyền như được đềcao ở nước Pháp trong cuộc cách mạng tư sản
Vấn đề quyền tự do kinh doanh của người Việt Nam trong giai đoạn đất nước bịthực dân Pháp cai trị thể hiện qua mấy đặc điểm sau:
Thứ nhất: Không có các quy định và đảm bảo quyền con người nói chung và
quyền tư do kinh doanh nói riêng cho người Việt Nam trong giai đoạn lịch sử này BảnTuyên ngôn độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tố cáo rằng “bọn thực dânPháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta.Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa Về chính trị, chúng tuyệt đốikhông cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào Chùng thi hành những luật pháp dã
7 Bùi Xuân Hải: “Tài liệu tham khảo môn pháp luật kinh doanh, thương mại”, Trung Tâm Tư Vấn Bồi Dưỡng Pháp Luật, http://phapluatkinhdoanh.edu.vn/download/hoc-tap-4.html/?p=2, [truy cập ngày 04-3-2017].
8 Mai Hồng Qùy: Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, NXB Lao Động, 2011, tr 68.
9 Mai Hồng Qùy: Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, NXB Lao Động, 2011, tr 68.
Trang 8mang Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn,thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Thứ hai: Sự bất bình đẳng giữa người Việt Nam với người Pháp nói riêng và người
phương Tây nói chung về các vấn đề liên quan đến quyền con người và quyền kinh doanh ởViệt Nam, người Việt Nam hầu hết không có cơ hội và điều kiện để kinh doanh
Thứ ba: Pháp luật của thời kỳ này cũng đã có quy định về thương gia, về hội, về
công ty là những mô hình tổ chức kinh doanh đã ra đời và phát triển ở châu Âu Chẳng hạn,quy định tại Bộ luật dân sự Bắc kỳ 1931 và Bộ luật thương mại Trung kỳ 1942 Lần đầutiên, những cơ sở kinh doanh kiểu công ty đã được thành lập tại Việt Nam, cho dù hầu hếtthuộc quyền sở hữu của người nước ngoài Không thể phủ nhận những giá trị nhất định củanhững quy định này mặc dù chúng là những quy định còn sơ sài, là sự tiếp nhận thiếu tính
hệ thống và rời rạc pháp luật của Pháp, không phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của ViệtNam trong giai đoạn này
Thứ tư: Trong thực tế, các mô hình kinh doanh hầu như không có giá trị thực tiễn
đối với người Việt Nam, rất hiếm người Việt thành lập được công ty trong điều kiện bị ápbức, bóc lột và đối xử bất bình đẳng giữa nhà kinh doanh người Việt và nhà kinh doanhngoại quốc Tuy vậy, trong giai đoạn này có một số tư sản, địa chủ người Việt thành lậpđược các công ty kinh doanh lừng lẫy một thời, thậm chí đã giành thắng lợi lớn trong cáccuộc cạnh tranh với tư bản Pháp và Hoa kiều; điển hình phải kể đến nhà tư sản Bạch TháiBưởi (1874 - 1932), “Chúa sông Bắc kỳ”, ông được coi là một trong bốn người Việt giàunhất Việt Nam thời bấy giờ Công ty của Bạch Thái Bưởi chủ yếu kinh doanh trong lĩnhvực hàng hải, đóng tàu, khai thác than và in ấn
Như vậy, trong giai đoạn thực dân Pháp đô hộ người Việt Nam không có nhữngquyền con người cơ bản như đã thấy trong tuyên ngôn nhân quyền của Cách mạng tư sảnPháp và cũng chẳng có quyền tự do kinh doanh do chính sách đàn áp, bóc lột, sự phân biệtđối xử giữa người Việt và người nước ngoài và chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp.Tuy nhiên, mô hình công ty kinh doanh theo kiểu pháp luật Pháp bước đầu được ghi nhậntrong các bộ luật quan trọng thời bấy giờ và đã có vài công ty kinh doanh do người Việtlàm chủ sở hữu
Trang 91.3.2 Quyền tự do kinh doanh trong giai đoạn 1945 - 1954 10
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khaisinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, với những tư tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái từcách mạng tư sản phương Tây Bản Tuyên ngôn không chỉ là án văn bất hủ mà còn là vănkiện thể hiện những tư tưởng pháp quyền đầu tiên, tư tưởng tôn trọng và đề cao quyền conngười Tuyên ngôn độc lập cũng là một trong những nền tảng để chúng ta xây dựng bảnHiến pháp năm 1946
Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã có những ghi nhận
rõ ràng về quyền con người và quyền Kinh doanh sau đây:
- Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệtnòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo (Điều 1);
- Tất cả công dân Việt Nam đều ngang hàng về mọi phương diện: Chính trị, kinh
tế, văn hóa (Điều 6);
- Tất cả công dân Việt Nam đều có quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 7);
- Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức vàhội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài (Điều 10);
- Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm (Điều 12)
Như vậy, Hiến pháp 1946 ghi nhận tương đối đầy đủ các quyền cơ bản của côngdân, các tư tưởng về nhân quyền, bình đẳng, tự do, bác ái trong Tuyên ngôn độc lập củaChủ tịch Hồ Chí Minh đều đã được thể hiện
Mặc dù không có điều khoản nào trong Hiến pháp năm 1946 khẳng định công dân
có quyền tự do kinh doanh nhưng rõ ràng tư tưởng lập hiến đã thể hiện quan điểm khôngngăn cản công dân tự do kinh doanh, quyền tư hữu tài sản của công dân được nhà nước bảo
hộ, vì thế không thể nói rằng công dân chưa có quyền tự do kinh doanh theo Hiến phápnăm 1946 Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp là giai đoạn khó khăn của dân tộc,tất cả đều dồn lực cho kháng chiến, những quy định về tự do kinh doanh cũng chưa đượcquan tâm nhiều của chính quyền cách mạng
Sau khi nước nhà độc lập, Chính phủ lâm thời đã không ngăn cản tự do kinh doanh,cho phép các công ty kinh doanh, các hãng thương mại tiếp tục hoạt động kinh doanh bìnhthường như là sự biểu hiện của việc thừa nhận quyền tự do kinh doanh của công dân Tuy
10 Mai Hồng Qùy: Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, NXB Lao Động, 2011, tr 74.
Trang 10nhiên, trong những năm kháng chiến sau này và nhất là từ khi miền Bắc được giải phóng(1954), một số văn bản đã được ban hành thể hiện tư tưởng cải tạo chủ nghĩa tư bản, ngăncản và cấm đoán các hoạt động kinh doanh sinh lợi nhuận ở miền Bắc Việt Nam
Ngày 09 tháng 10 năm 1945, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 47 quy định cho đếnkhi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiệnhành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy khôngtrái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này
Ngày 10 tháng 10 năm 1945, Chính phủ ban hành Sắc lệnh 48 cho phép các công tyhay các hãng ngoại quốc tiếp tục được thực hiện hoạt động kinh doanh bình thường nhưtrước Cách mạng tháng Tám
Như vậy, với hai sắc lệnh trên cho thấy chính quyền cách mạng ngày đầu khôngngăn cản tự do kinh doanh, là sự lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ
Tuy nhiên, ngày 13 tháng 8 năm 1951, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 49 quyđịnh nguyên tắc các thể lệ và tổ chức về việc đấu tranh kinh tế với địch Theo Điều 2 Sắclệnh việc quản lý mậu dịch, việc đánh thuế các hàng hoá, việc mua bán trao đổi ngoại hối(vàng, bạc, tiền địch ) giữa vùng tự do và vùng tạm bị chiếm quy định theo các nguyên tắcsau đây: Nội thương được tự do, ngoại thương phải quản lý; khuyến khích bán hàng ra, hạnchế mua hàng vào; củng cố giá trị tiền tệ và làm cho tài chính quốc gia được dồi dào; bảo
vệ và phát triển sản xuất của ta Những quy định của sắc lệnh này thể hiện tư tưởng hạn chế
tự do kinh doanh của người dân
Ngày 04 tháng 12 năm 1953, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hànhLuật cải cách ruộng đất, Điều 12 của Luật quy định để khuyến khích sản xuất và phát triểnkinh tế quốc dân, công thương nghiệp được bảo hộ; không đụng đến công thương nghiệpcủa địa chủ; không đụng đến đất đai trực tiếp dùng vào việc kinh doanh công thươngnghiệp; những ruộng đất khác của địa chủ kiêm nhà công thương nghiệp và của nhà côngthương nghiệp kiêm địa chủ thì trưng mua
Như vậy, những năm tháng đầu tiên kể từ khi nước Việt Nam dân chủ công hòađược thành lập thì chính quyền cách mạng thừa nhận sự tồn tại và phát triển của kinh tế tưnhân và quyền tự do kinh doanh, Tuy nhiên, theo thời gian kinh tế thị trường, tư bản tưnhân và quyền tự do kinh doanh dần thay đổi theo chiều hướng hạn chế vai trò của kinh tế
tư nhân và quyền tự do kinh doanh của công dân
Trang 111.3.3 Quyền tự do kinh doanh giai đoạn 1954 - 1975 11
Quyền tự do kinh doanh ở nước ta trong giai đoạn 1954 - 1975 thể hiện rõ là giaiđoạn lịch sử đặc biệt Đất nước bị chia cắt thành hai miền với chế độ chính trị, kinh tế vàđường lối phát triển khác nhau Trong khi miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội thìmiền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ Chính vì vậy, vấn đề quyền con người vàquyền cá nhân ở Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề bởi điều kiện kinh tế, chính trị, xã hộitrong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt với những khó khăn chồng chất
Ở miền Nam, chính quyền vẫn cho thi hành những đạo luật ở thời Pháp thuộc chođến khi chính quyền Sài Gòn ban hành Bộ luật Thương mại Sài Gòn 1972 Mặc dù nềnkinh tế phụ thuộc nặng nề vào viện trợ của Mỹ, miền Nam phát triển nền kinh tế hàng hóa,theo cơ chế thị trường cho phép nhà đầu tư nước ngoài và Việt Nam thành lập doanhnghiệp, cơ sở kinh doanh, tự do kinh doanh vẫn được thừa nhận và khuyến khích phát triển
ở miền Nam Việt Nam
Ở miền Bắc, chủ trương xây dựng nền kinh tế theo mô hình xã hội chủ nghĩa, nềnkinh tế kế hoạch hóa tập trung, không công nhận nền kinh tế hành hóa theo cơ chế thịtrường, từng bước hạn chế và loại bỏ quyền tự do kinh doanh của công dân
Hiến pháp 1959 khẳng định nhà nước lãnh đạo hoạt động kinh tế theo một kếhoạch thống nhất (Điều 10), kinh tế quốc doanh giữ vai trò lãnh đạo nền kinh tế quốc dân
và được nhà nước bảo đảm phát triển ưu tiên (Điều 12) Tuy nhiên, Hiến pháp 1959 không
có quy định về quyền tự do kinh doanh của công dân
Ở góc độ quan hệ sở hữu, Hiếp pháp 1959 ghi nhận nhiều hình thức sở hữu khácnhau đối với tư liệu sản suất, trong số đó có hình thức sở hữu tư liệu sản xuất của “ngườilao động riêng lẻ” và của “nhà tư sản dân tộc” Hiến pháp 1959 không ghi nhận việc sở hữu
tư liệu sản xuất của tư nhân, của các nhà tư sản không phải là tư sản dân tộc
Theo Điều 16 Hiếp pháp 1959 “nhà nước khuyến khích và hướng dẫn tư sản dântộc đi theo con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp danh và nhữnghình thức cải tạo khác” Miền Bắc chỉ chấp nhận tạm thời hình thức sở hữu tư liệu sản xuấtcủa “người lao động riêng lẻ” và của “nhà tư sản dân tộc” để từng bước cải tạo, chuyển đổithành sở hữu xã hội chủ nghĩa đồng thời tiến tới xóa bỏ hoàn toàn hình thức công tư hợpdoanh vào năm 1960
11 Mai Hồng Qùy: Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, NXB Lao Động, 2011, tr 78.
Trang 12Trong giai đoạn này, quyền tự do kinh doanh vẫn được thừa nhận và phát triển ởmiền Nam nhưng không được thừa nhận ở miền Bắc, do hai miền có đặc điểm khác nhau
về chế độ chính trị, kinh tế và đường lối phát triển Miền Nam phát triển nền kinh tế hànghóa theo cơ chế thị trường, miền Bắc hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, xâydựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
1.3.4 Quyền tự do kinh doanh trong giai đoạn từ khi thống nhất đất nước cho đến trước khi đổi mới (1975 - 1986) 12
Sau hơn hai mươi năm đất nước bị chia cắt, hai miền Nam Bắc thống nhất đã cùngnhau đi lên chủ nghĩa xã hội theo chủ trương, định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam.Những quan điểm chủ đạo về xây dựng và phát triển đất nước sau chiến tranh đã được xácđịnh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976) và Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ V (năm 1981) của Đảng Theo đó, Đảng và nhà nước tuyên bố cải tạo kinh tế tư nhân,xóa bỏ kinh tế tư bản chủ nghĩa, không chấp nhận tự do kinh doanh
Nghị quyết Đại hội lần thứ IV xác định “để xây dựng quyền làm chủ tập thể vềkinh tế, phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa và cải tạo chế độ sở hữu cá thể, xác lậpchế độ xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức: Sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, bằng nhữngphương pháp và bước đi thích hợp Mọi tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội phải được sửdụng theo phương hướng và nhiệm vụ của kế hoạch nhà nước, nhằm phục vụ lợi ích củatoàn xã hội”
Đại hội lần thứ IV đề ra nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 năm 1976-1980 là hoànthành cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; cải tiến mạnh mẽ công tác thương nghiệp, giá cả, tài chính,ngân hàng
Hiến pháp 1980 ra đời thay thế Hiến pháp 1959 khẳng định tiếp tục cải tạo xã hộichủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế chủ yếu có hai thành phần quốc doanh và hợp tác xã, trong
đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo và được phát triển ưu tiên, loại bỏ các thành phầnkinh tế cá thể và tư bản tư nhân
Hiến pháp 1980 giống như Hiến pháp 1959 cũng không có quy định nào về quyền
tự do kinh doanh của công dân, không chấp nhận nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thịtrường Đối với lao động riêng lẻ họ chỉ được tự lao động để tìm thu nhập để trang trải cuộcsống trong một số lĩnh vực nhất định Hiếp pháp 1980 không ghi nhận quyền sở hữu tư
12 Mai Hồng Qùy: Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, NXB Lao Động, 2011, tr 85.
Trang 13nhân đối với tư liệu sản xuất, yếu tố không thể thiếu để tiến hành hoạt động kinh doanh, trừĐiều 27 “những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riênglẻ”.
Hiến pháp 1980 thể hiện tư tưởng nóng vội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, phủ nhận kinh tế thị trường,phủ nhận sở hữu tư nhân, không thấy hết vai trò của nhà nước pháp quyền đã dẫn đếnnhững sai lầm và tác động tiêu cực đến vấn đề nhận thức và đảm bảo quyền con người ởViệt Nam
1.3.5 Quyền tự do kinh doanh từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay (1986 đến nay)
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất đến năm 1985, cơ chế kinh tế kế hoạch hoátập trung quan liêu bao cấp, thủ tiêu các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa đã làm chođất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện Sau khi phân tích phê phán nghiêm túc sai lầm,thiếu sót trong thời gian qua, Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới kinh tế toàndiện cho đất nước trong thời kỳ mới Tiếp theo, các Đại hội VII (tháng 6/1991), Đại hộiVIII (tháng 6/1996) và Đại hội IX (tháng 12/2001) đã tiếp tục khẳng định và bổ sung, hoànthiện các chủ trương chính sách đổi mới kinh tế, đổi mới phát triển công nghiệp và thựchiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa Có những nội dung chủ yếu sau:13
- Đại hội VI đã đề ra chủ trương bố trí lại cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư các ngànhkinh tế Đổi mới trong cải tạo và xây dựng, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, thựchiện chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất, khẳngđịnh sự tồn tại lâu dài của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
- Nhà nước đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả các thành phầnkinh tế; bảo đảm quyền hạn và trách nhiệm kinh doanh hợp pháp theo luật định; bảo đảmquyền và lợi ích hợp pháp của người lao động làm thuê trong các xí nghiệp tư nhân
13 Mai Hồng Qùy: Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, NXB Lao Động, 2011, tr 89- tr
115.
Trang 14- Đại hội XI của Đảng năm 2011 đã nhấn mạnh: Hoàn thiện thể chế, chính sách đểphát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế Tạođiều kiện hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoànkinh tế nhà nước, thu hút đầu tư nước ngoài đặc biệt là lĩnh vực công nghệ cao, phát triểnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế.
- Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, rất nhiều đạo luật được ban hành đã ghi nhận
và đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dân như Luật đầu tư 1987, Luật Công ty
1990, Luật doanh nghiệp tư nhân 1990 các đạo luật này đã cho phép các nhà đầu tư nướcngoài đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam; các tổ chức, cá nhân Việt Nam có quyền thành lậpdoanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiện hữu hạn và công ty cổ phần tại Việt Nam; chủdoanh nghiệp tư nhân có quyền tự do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinhdoanh
- Lần đầu tiên quyền tự do kinh doanh được ghi nhận trong Hiến pháp nước ta.Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của phápluật” Quyền tự do kinh doanh trở thành quyền hiến định, quyền cơ bản của công dân Điều
25 Hiến pháp 1992 khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệvào Việt Nam theo quy định của pháp luật Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không
bị quốc hữu hóa
- Sau khi Hiếp pháp năm 1992 ra đời, Quốc hội ban hành các đạo luật nhằm cụ thểhóa Hiến pháp năm 1992 như: Bộ luật dân sự năm 1995, Luật thương mại năm 1997, Luậtkhuyến khích đầu tư trong nước Như vậy, bằng việc Nhà nước ban hành hàng loạt các đạoluật nhằm phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường và đảmbảo quyền tự do kinh doanh của công dân Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tàisản, vốn đầu tư, lợi nhuận hợp pháp của nhà đầu tư và tài sản, vốn đầu tư, lợi nhuận hợppháp của chủ đầu tư không bị quốc hữu hóa
- Hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung phù hợp với tìnhhình phát triển của đất nước Hiến pháp năm 1992 ghi nhận các thành phần kinh tế baogồm: Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tưbản Nhà nước dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, mở rộnghợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới Kinh tế quốc doanhđược củng cố và phát triển, nhất là trong những ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủđạo trong nền kinh tế quốc dân Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản
Trang 15xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ vàcùng có lợi Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất,kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trongnhững ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọithành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nướcbảo hộ Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân,
tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
- Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 được ban hành và lần lượt được sửa đổi, thaythế bởi các luật năm 1990, 1992, 2000 và Luật đầu tư năm 2005; Luật doanh nghiệp 2005thay thế Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 Luật doanhnghiệp 2005 chịu ảnh hưởng khá nhiều của trường phái luật công ty Anh - Mỹ với sự thôngthoáng trong thủ tục thành lập doanh nghiệp, bỏ quy định về vốn pháp định, tạo điều kiệncho các cổ đông, thành viên công ty tự quyết định các vần đề phát sinh trong hoạt độngkinh doanh, quyết định nội dung trong điều lệ công ty giảm rất nhiều sự can thiệp của nhànước và dỡ bỏ các thủ tục hành chính rườm rà liên quan đến doanh nghiệp
- Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật đầu tư năm 2005, Luật thương mại năm 2005
và Bộ luật dân sự năm 2005 đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dân, quyền tự dokinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ, Cá nhân có quyền lựachọn hình thức, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, lập doanh nghiệp, tự do giao kết hợpđồng, thuê lao động và các quyền khác phù hợp với quy định của pháp luật
Hiến pháp năm 2013 được quốc hội ban hành thay thế Hiến pháp năm 1992 (sửađổi năm 2001) quy định:
- Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luậtkhông cấm
- Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vớinhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
- Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốcdân Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo phápluật
- Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khácđầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất
Trang 16nước Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luậtbảo hộ và không bị quốc hữu hóa.
- Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sởtôn trọng các quy luật thị trường
Để cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Quốc hội ban hành hàng loạt các luật mới vềlĩnh vực đầu tư, kinh doanh như Luật đầu tư năm 2014, Luật doanh nghiệp năm 2014, Bộluật dân sự năm 2015 tiếp tục khẳng định quyền tự do kinh doanh của công dân Luật doanhnghiệp năm 2014 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đivào cuộc sống của Luật doanh nghiệp năm 2005, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bổ sungnhiều quy định mới như bỏ quy định ghi ngành nghề kinh doanh trong giấy phép kinhdoanh, bỏ quy định danh sách cổ đông sáng lập đối với Công ty cổ phần Điều này dẫn đếnviệc khi thay đổi ngành, nghề kinh doanh; thay đổi cổ đông sáng lập đối với công ty cổphần doanh nghiệp chỉ phải thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh để được bổ sungtrong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp mà không phải đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinhdoanh để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới.14
Điều 5 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định Nhà nước công nhận sự tồn tại vàphát triển lâu dài của các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm bình đẳng trước pháp luật củacác doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tínhsinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh; Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữutài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ
sở hữu doanh nghiệp; Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữudoanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính Vềquyền của doanh nghiệp được quy định tại Điều 7 có thể chia thành hai nhóm quyền nhưsau:
Nhóm quyền liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh gồm:
- Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm
- Tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọnngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghềkinh doanh
14 Phòng Đăng ký kinh doanh: “Một số điểm đổi mới cơ bản của Luật doanh nghiệp 2014”, Sở Kế hoạch Đầu tư Bà Rịa Vũng Tàu”, http://sokhdt.baria-vungtau.gov.vn/News/1226/mot-so-diem-doi-moi-co-ban-cua-luat-doanh-nghiep- 2014.html, [truy cập ngày 11-4-2017].
Trang 17- Lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn.
- Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng
- Tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh
- Chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh vàkhả năng cạnh tranh
- Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp
Nhóm quyền liên quan gián tiếp đến hoạt động kinh doanh gồm:
- Khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
- Tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật
- Từ chối yêu cầu cung cấp nguồn lực không theo quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, Bộ luật dân sự năm 2015 giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảmthực hiện quyền tự do kinh doanh được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, cụ thể: Hoànthiện chế định quyền sở hữu, đồng thời ghi nhận thêm các quyền tài sản khác của doanhnghiệp; ghi nhận sự bình đẳng giữa các chủ sở hữu tài sản; không hạn chế về số lượng vàgiá trị của tài sản thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân; tăng cường cơ sở pháp lý choviệc thực hiện quyền tự do hợp đồng
Như vậy, quyền tự do kinh doanh là quyền hiến định, hàng loạt các đạo luật có liênquan trực tiếp hay gián tiếp đến quyền tự do kinh doanh lần lượt được ban hành và ngàycàng hoàn thiện, được thể hiện cụ thể trong các nội dung sau đây: Quyền tự do lựa chọnngành nghề kinh doanh; Quyền tự do lựa chọn mô hình kinh doanh; Quyền tự do lựa chọnloại hình tổ chức kinh tế; Quyền tự do lựa chọn hình thức, cách thức huy động vốn; Quyền
tự do hợp đồng; Quyền tự do lựa chọn hình thức, cách thức giải quyết tranh chấp
Trang 18CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH
2.1 Quyền thành lập doanh nghiệp
Điều 33 Hiến pháp năm 2013 quy định, “mọi người có quyền tự do kinh doanhtrong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Để bảo đảm quyền tự do kinh doanhcủa công dân, pháp luật phải quy định về quyền thành lập cơ sở kinh doanh, quy định vềkhởi nghiệp của cơ sở kinh doanh và tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền này trongthực tiễn
Nghị quyết số 142/2016/QH13 của Quốc hội khóa XIII về kế hoạch phát triển kinhtế-xã hội 5 năm 2016-2020 xác định, “ tạo mọi điều kiện thuận lợi phát triển mạnh khuvực doanh nghiệp tư nhân; hoàn thiện pháp luật, chính sách để doanh nghiệp tư nhân tiếpcận các nguồn lực, nhất là về vốn, đất đai, tài nguyên Đẩy mạnh tinh thần khởi nghiệp gắnvới chính sách hỗ trợ của nhà nước… khuyến khích phát triển các hình thức doanh nghiệp
cổ phần…” Nhà nước bảo vệ quyền tự do kinh doanh của công dân, thực hiện chủ trươngnhà nước kiến tạo, lấy doanh nghiệp là đối tượng phục vụ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệpđầu tư, kinh doanh và phát triển Các quy định về điều kiện kinh doanh phải rõ ràng, minhbạch, dễ thực hiện, có lộ trình phù hợp để sớm loại bỏ giấy phép con, phí, phụ phí bất hợp
lý
Theo Ngân hàng Thế giới, khi đánh giá về tự do kinh doanh của một quốc gia cầnphải đánh giá mức độ dễ dàng để khởi nghiệp, thành lập cơ sở kinh doanh Quyền tự dokinh doanh thể hiện trong việc thành lập cơ sở kinh doanh không chỉ là về chủ thể có quyềnthành lập hay góp vốn vào cơ sở kinh doanh mà còn các quy định về trình tự thủ tục thànhlập cơ sở kinh doanh, chi phí liên quan đến thành lập cơ sở kinh doanh và điều kiện để tiếnhành hoạt động kinh doanh.15
Khi so sánh Luật doanh nghiệp năm 2005 và Luật đầu tư năm 2005 với Luật doanhnghiệp năm 2014 và Luật đầu tư năm 2014 đã có sự thay đổi phương pháp tiếp cận Nếunhư trước đây, trong luật quy định những lĩnh vực được phép đầu tư kinh doanh thì lần này,luật sửa đổi được thay bằng phương pháp minh bạch và rõ ràng hơn là cái gì cấm, hạn chếkinh doanh được ghi vào trong luật Điều này đã thể hiện đúng tinh thần Hiến pháp năm
2013 về quyền tự do kinh doanh, những gì luật pháp không cấm thì được tự do đầu tư, kinhdoanh
15 Mai Hồng Qùy: Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam, NXB Lao Động, 2011
Trang 19Điều 27 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định, thời gian Cơ quan đăng ký kinhdoanh có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ.Trước đây, Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định 10 ngày Điều 28 Nghị định78/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định thời hạn Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanhnghiệp giảm từ 05 ngày làm việc so với trước đây xuống còn 03 ngày làm việc kể từ ngàynhận được hồ sơ hợp lệ.
Như vậy, thời gian thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp, cấp Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp, thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp của Luật doanh nghiệpnăm 2014 và Nghị định 78/2015/NĐ-CP đã giảm đáng kể, rút ngắn thời gian đăng ký,thành lập doanh nghiệp, tiết kiệm thời gian, chi phí, tạo điều kiện thuận lợi cho doanhnghiệp nắm bắt các cơ hội kinh doanh
Theo Điều 67 Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định, công dân Việt Nam đủ 18 tuổi,
có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ; các hộ gia đình có quyền thànhlập hộ kinh doanh và có nghĩa vụ đăng ký hộ kinh doanh theo quy định; cá nhân, hộ giađình chỉ được đăng ký một hộ kinh doanh trong phạm vi toàn quốc Điều 66 của Nghị địnhtrên quy định hộ kinh doanh chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm Do vậy, hộkinh doanh muốn kinh doanh ở nhiều địa điểm khác nhau bắt buộc phải đăng ký một trongcác hình thức doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014
Khoản 3, Điều 183 Luật doanh nghiệp năm 2014, mỗi cá nhân chỉ được quyềnthành lập một doanh nghiệp tư nhân Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời làchủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh Ngoài ra, tại Khoản 1, Điều 175 Luậtdoanh nghiệp năm 2014 còn quy định thành viên hợp danh không được làm chủ doanhnghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được
sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại
Như vậy, khác với việc thành lập doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh hay thànhviên hợp danh của công ty hợp danh, một cá nhân có quyền tham gia thành lập nhiều doanhnghiệp Các quy định trên hoàn toàn phù hợp và không hạn chế quyền tự do kinh doanh củacác chủ thể kinh doanh Bởi vì, Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định tại Điểm b, Khoản
1, Điều 172 thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản củamình về các nghĩa vụ của công ty và Khoản 1, Điều 183 tiếp tục quy định doanh nghiêp tư
Trang 20nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sảncủa mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; Đối với hộ kinh doanh, tại Khoản 1, Điều 66Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định “…chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đốivới hoạt động kinh doanh” Các quy định trên có một điểm chung là các chủ thể chịu tráchnhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình Do đó, nếu thành viên hợp danh, chủ doanh nghiệp tưnhân, chủ hộ kinh doanh đồng thời là thành viên hợp danh, chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ
hộ kinh doanh khác thì khi hoạt động kinh doanh không hiệu quả, không có khả năng thanhtoán các khoản nợ thì các chủ thể không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mìnhtheo quy định của pháp luật và ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể khác
Quy định về quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam Theo quy địnhtại Khoản 2, Điều 18 Luật doanh nghiệp năm 2014, các tổ chức, cá nhân sau đây không cóquyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thànhlập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức,viên chức;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòngtrong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệptrong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làmđại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ nhữngngười được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanhnghiệp khác;
- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mấtnăng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định
xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấmhành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đếnkinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật vềphá sản, phòng, chống tham nhũng