1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Tình hình kinh tế huyện Tuyên Hóa từ khi tái lập tỉnh đến nay 2019

82 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh lịch sử thế giới có nhiều biến động, công cuộc đổi mới của Việt Nam đã được khởi động (từ năm 1986, đến năm 1989) Việt Nam đã bước đầu đạt được một số thành tựu quan trọng (từ một quốc gia thiếu lương thực Việt Nam bắt đầu xuất khẩu được 1,5 triệu tấn gạo). Ngày 01 tháng 7 năm 1989, tỉnh Quảng Bình được tái lập với địa giới và tên gọi cũ. Ngày 01 tháng 6 năm 1990, Huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình được tách thành 2 huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa. Huyện Tuyên Hóa mới được thành lập bao gồm hầu hết các xã của huyện Tuyên Hóa trong những năm 1964 - 1977 (riêng 2 xã Phù Hóa và Cảnh Hóa vẫn trực thuộc huyện Quảng Trạch). Sau khi điều chỉnh lại địa giới, bộ máy của huyện Tuyên Hóa mới trở nên gọn nhẹ hơn đã nhanh chóng đi vào ổn định. Trong gần 30 năm tái lập Huyện (1990 - 2019), với tinh thần đoàn kết, sáng tạo, Đảng bộ và nhân dân Tuyên Hóa đã từng bước giải quyết những khó khăn đưa nền kinh tế, xã hội của địa phương phát triển một cách toàn diện, duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của tỉnh nhà. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, nền kinh tế của Tuyên Hóa qua 29 năm thực hiện công cuộc đổi mới còn nhiều mặt hạn chế, bất cập cần sớm được khắc phục.Vì vậy việc nghiên cứu tổng kết lí luận và thực tiễn qua 29 năm tái lập tỉnh, đổi mới và phát triển kinh tế (1989 - 2018), để từ đó đề ra những giải pháp góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Tuyên Hóa trong xu thế hội nhập là cần thiết. Với mong muốn đóng góp một phần hiểu biết của mình vào việc đánh giá tiềm năng kinh tế của huyện Tuyên Hóa và đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển kinh tế của huyện nhà, mà tôi chọn vấn đề “Tình hình kinh tế huyện Tuyên Hóa từ khi tái lập tỉnh đến nay (1989 - 2018)” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. 2. Lịch sử vấn đề Trên thế giới, việc nghiên cứu về tình hình kinh tế và các học thuyết về kinh tế đã được quan tâm từ rất lâu, nhất là các nước tư bản phát triển. Khái niệm kinh tế học và phân tích sơ khai về kinh tế đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử, được tìm thấy đầu tiên trong các tác phẩm của những triết gia cổ Hy Lạp nổi tiếng như: Aristote và Platon (khoảng thế kỷ thứ IV và V trước công nguyên). Nhưng chỉ từ khi xuất hiện tác phẩm kinh tế học nổi tiếng của A. Smith "Nghiên cứu về nguồn gốc và bản chất sự giàu có của các dân tộc" (năm 1776). Kinh tế học mới thực sự phát triển và được hệ thống hóa một cách khoa học. Ở Việt Nam, nhận thấy rõ tầm quan trọng của phát triển kinh tế đối với sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, trong quá trình thực hiện sự nghiệp cách mạng và đặc biệt là sau hơn 33 năm đổi mới (kể từ năm 1986), nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đưa Việt Nam từ nước chậm phát triển trở thành nước có thu nhập trung bình thấp. Cùng với toàn Đảng, toàn dân trong quá trình phát triển đất nước, các nhà khoa học, các nhà kinh tế đã có những đóng góp to lớn trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước thông qua các chương trình nghiên cứu, các đề tài khoa học về vấn đề này. Trong những năm gần đây, từ các góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp, nông thôn trong quá trình đổi mới, Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá và hội nhập kinh tế thế giới, dưới nhiều góc độ khác nhau, được công bố dưới dạng chuyên đề, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các kỷ yếu đề tài cấp bộ, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí… Liên quan đến đề tài khóa luận ở mức độ lý luận về kinh tế tôi đã tham chiếu những công trình dưới đây: Ngô Tuấn Nghĩa (2018), Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, đã trình bày một cách sâu sắc về sự hình thành, phát triển, nội dung cốt lõi, đối tượng, phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác -Lênin. Trên cơ sở đó, hiểu được mối liên hệ giữa kinh tế chính trị Mác - Lênin với dòng chảy tư tưởng kinh tế của nhân loại. Nguyễn Đình Hương trong công trình Phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lý luận chính trị trình bày về vai trò của kinh tế thị trường trong việc phát triển nền quan hệ sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và tính đồng bộ giữa các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đề cập tới các tiềm năng thiên nhiên là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế của huyện Tuyên Hóa, hai tác giả Nguyễn Xuân Tuyến và Nguyễn Đức Lý trong công trình “Quảng Bình tài nguyên khoáng sản” nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, đã giới thiệu tiềm năng tự nhiên của huyện Tuyên hóa dựa trên kết quả tổng hợp các công trình nghiên cứu về địa chất, địa mạo, về khí tượng thủy văn, về động thực vật ở mức độ khái quát. Đặc biệt công trình này đã giới thiệu khá cụ thể nguồn tài nguyên khoáng sản của huyện Tuyên Hóa. Đây là cơ sở để huyện Tuyên Hóa xem xét hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mình. Lịch sử Đảng bộ huyện Tuyên Hóa tập 3 (1975 - 2000), nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, nội dung chính của sách viết về: Lịch sử Đảng bộ tuy nhiên có để cập ở mức độ sơ lược đến tình hình kinh tế của Huyện trong những năm 1975 - 2000. Nội dung chính của sách phản ánh khách quan các sự kiện lịch sử của huyện Tuyên Hóa trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội trong những năm 1975 - 2000. Báo cáo tình hình kinh tế- xã hội của Tỉnh Quảng Bình năm 2017 - 2018 có đề cập vài nét về tình hình kinh tế của huyện nhưng chỉ dừng lại ở mức độ chung. Một số công trình nói trên đã đi sâu phân tích những đặc điểm, vai trò, thực trạng, tính chất của nền kinh tế Việt Nam hoặc tỉnh Quảng Bình nói chung và đề xuất những giải pháp để phát triển kinh tế của quốc gia và của tỉnh Quảng Bình còn kinh tế Tuyên Hóa còn ở mức sơ lược. Ở mức độ gần với đề tài khóa luận hơn qua khảo sát, tôi thấy trong những năm từ năm 2000 đến 2018, UBND huyện Tuyên hóa đều có báo cáo tình hình kinh tế xã hội của Tuyên Hóa đánh giá thực trạng phân tích thành tựu, hạn chế, vạch ra nguyên nhân ưu điểm, hạn chế và định hướng phát triển năm sau. Trong Lịch sử Đảng bộ huyện Tuyên Hóa Tập 3 (1975 - 2000) đã giới thiệu tình hình kinh tế và xã hội của huyện Tuyên Hóa theo từng giai đoạn năm từ 1975 đến 1990 và 1990 đến 2000. Đặc biệt ông Hoàng Minh Đề - Bí thư huyện ủy trong bài viết “Huyện Tuyên Hóa - 30 năm đổi mới và phát triển trên lĩnh vực kinh tế xã hội (1989 - 2019)” đăng ký yếu Hội thảo Quảng Bình 30 năm đổi mới và phát triển, được nhà xuất bản Hồng Đức ấn hành đã dành 20 trang khổ 19 x 27 để giới thiệu sự phát triển kinh tế và xã hội của huyện Tuyên hóa với những số liệu được rút ra từ sự so sánh 2 lĩnh vực này tại 2 thời điểm từ 1990 và 2018. Bài viết đã đánh giá sự phát triển, những thành tựu, hạn chế chính cả về kinh tế lẫn xã hội đồng thời phân tích nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế rút ra 4 bài học kinh nghiệm và nêu lên định hướng mục tiêu nhiệm vụ từ 2019 đến 2030 tầm nhìn 2035. Đây là những tài liệu quan trọng mà tác giải khóa luận tham chiếu để thực hiện đề tài. Tóm lại, Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập một số vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình phát triển kinh tế và xã hội của huyện Tuyên Hóa có tính khái quát, hoặc theo giai đoạn nhưng thường giới thiệu chung cả kinh tế và xã hội của Huyện. Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống tình hình kinh tế ở huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình từ lúc tái lập tỉnh vào năm 1989 đến nay. Từ thực tiễn đó đòi hỏi phải có một đề tài nghiên cứu mang tính sâu sắc về nội dung trên. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã công bố, khóa luận này sẽ tái hiện lại bức tranh kinh tế cụ thể hơn, đi sâu phân tích tiềm năng thế mạnh, các thành tựu và hạn chế trong phát triển kinh tế của huyện. Mặt khác dựa trên thực trạng tình hình phát triển kinh tế đó để vạch rõ nguyên nhân thành công, hạn chế của quá trình phát triển kinh tế huyện Tuyên Hóa những năm 1989 - 2018, rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp để định hướng phát triển kinh tế huyện Tuyên Hóa một cách hợp lý, tận dụng được các nguồn lực góp phần đưa Tuyên Hóa vươn lên thành một huyện có nền kinh tế khá ở tỉnh Quảng Bình. 3. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở tái hiện lại bức tranh toàn cảnh về quá trình phát triển kinh tế của huyện Tuyên Hóa từ 1989 đến 2018. Mặt khác khóa luận mạnh dạn đề xuất các giải pháp hợp lý để phát triển kinh tế ở huyện Tuyên Hóa trong những năm tiếp theo. Hoàn thành đề tài với hy vọng khóa luận của tôi cung cấp được một tài liệu tham khảo cho lãnh đạo các ban ngành của huyện Tuyên Hóa và các địa phương trực thuộc, giúp người đọc đánh giá đúng thực trạng kinh tế Tuyên Hóa từ khi tái lập tỉnh năm 1989 đến nay. 4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Khách thể nghiên cứu Kinh tế xã hội của huyện Tuyên Hóa 4.2. Đối tượng nghiên cứu Tình hình kinh tế huyện Tuyên Hóa 4.3. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: khóa luận chủ yếu tập trung nghiên cứu ở huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. - Phạm vi thời gian: đề tài xác định phạm vi thời gian nghiên cứu là 30 năm từ khi tái lập tỉnh Quảng Bình (1989 - 2018). 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu những thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới trên lĩnh vực kinh tế của huyện Tuyên Hóa từ khi tái lập tỉnh cho đến nay (giai đoạn 1989 - 2018). - Đi sâu phân tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế chỉ ra nguyên nhân ưu điểm và hạn chế để rút ra bài học kinh nghiệm từ quá trinh phát triển kinh tế của huyện Tuyên Hóa. - Đề xuất những giải pháp góp phần thúc đẩy sự phát triểnkinh tế của huyện Tuyên Hóa giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 một cách toàn diện và bền vững. 6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6.1. Phương pháp luận Cơ sở phương pháp luận của đề tài là dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế, đặc biệt là sự vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới vào thực tiễn địa phương của Đảng bộ Tuyên Hóa. 6.2. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic: Thể hiện được tính hệ thống theo thời gian về sự chuyển biến của nền kinh tế huyện Tuyên Hóa trong phạm vi không gian như đã xác định; nhìn nhận một cách tổng quát những vấn đề đã trình bày trong mối quan hệ tác động lẫn nhau, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá về quá trình chuyển biến về mọi mặt, đồng thời nêu được khuynh hướng phát triển đi lên về kinh tế của Tuyên Hóa trong công cuộc đổi mới. - Phương pháp tổng hợp, thống kê, định lượng, so sánh, phân tích nhằm đánh giá, làm nổi bật sự phát triển trên các lĩnh vực. - Phương pháp dự báo, trên cơ sở thực tiễn (kết quả đạt được, tiềm năng, lợi thế của địa phương, tình hình thế giới trong nước; những hạn chế, khó khăn, thách thức) đưa ra triển vọng phát triển của địa phương đến năm 2035. 7. Đóng góp của đề tài 1) Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế huyện Tuyên Hóa, tập hợp được một danh mục tài liệu tham khảo khá đầy đủ cho những ai quan tâm nghiên cứu tình hình kinh tế huyện Tuyên Hóa của tỉnh Quảng Bình trong những năm từ 1989 đến nay. 2)Tái hiện lại bức tranh toàn cảnh về tinh hình kinh tế của huyện Tuyên Hóa giai đoạn 1998 - 2018, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của thành công và hạn chế đó. 3) Khóa luận đề xuất được những giải pháp mang tính khoa học và khả thi nhằm góp phần định hướng phát triển kinh tế trong thời kỳ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện Tuyên Hóa trong thời gian tới (2020 - 2035). 4) Hoàn thành khóa luận ngoài việc tập dượt nghiên cứu khoa học, vận dụng kiến thức kỹ năng đã học vào việc thực tiễn còn giúp cho tác giả nâng cao và bổ sung thêm kiến thức của bản thân làm hành trang nghề nghiệp và cuộc sống sau này. 8. Cấu trúc của khóa luận Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, thì nội dung chính của Khóa luận được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Tiềm năng kinh tế của huyện Tuyên Hóa. Chương 2: Tình hình kinh tế huyện Tuyên Hóa từ khi tái lập tỉnh đến nay (giai đoạn 1989 - 2018). Chương 3: Các giải pháp định hướng phát triển kinh tế huyện Tuyên Hóa từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035.

Trang 1

Lời Cảm Ơn Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến ThS Lê Trọng Đại là người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp

đỡ cho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận này Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Quảng Bình, cảm ơn Khoa Khoa học xã hội; Lãnh đạo huyện Tuyên Hóa đã tạo điều kiện tốt cho em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp.

Cảm ơn gia đình và tập thể lớp Đại học sư phạm Lịch sử K57 đã luôn động viên, an ủi, giúp đỡ, chia sẻ trong suốt thời gian học tập

-và thực hiện khóa luận tốt nghiệp.

Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện đề tài nhưng do điều kiện về thời gian, năng lực còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những sự góp

ý của thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn.

Em kính chúc các thầy cô giáo sức khỏe, thành công trong công việc

và cuộc sống cũng như trong sự nghiệp trồng người.

Em xin chân thành cảm ơn.

Quảng Bình, tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Hồ Thị Thúy Hằng

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản khóa luận là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

Tác giả khóa luận

Hồ Thị Thúy Hằng

MỤC LỤ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6

7 Đóng góp của đề tài 6

8 Cấu trúc của khóa luận 7

CHƯƠNG 1: TIỀM NĂNG KINH TẾ CỦA HUYỆN TUYÊN HÓA 8

1.1 Tiềm năng về tự nhiên 8

1.1.1.Vị trí địa lý 8

1.1.2 Địa hình 9

1.1.3 Khí hậu 9

1.1.4 Đặc điểm thủy văn 10

1.1.5.Tài nguyên đất 10

1.1.6.Tài nguyên nước 13

1.1.7.Tài nguyên rừng và đất rừng 14

1.1.8 Tài nguyên khoáng sản 15

1.1.9 Tài nguyên du lịch 16

1.2 Tiềm năng về xã hội 17

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH KINH TẾ HUYỆN TUYÊN HÓA TỪ KHI TÁI LẬP TỈNH ĐẾN NAY (1989 - 2018) 19

Trang 4

2.1 Vài nét tình hình kinh tế huyện Tuyên Hóa trước khi chia tách huyện (giai

đoạn 1977 - 1989) 19

2.2 Tình hình kinh tế huyện Tuyên Hóa từ khi chia tách huyện năm 1990 đến năm 2018 25

2.2.1 Kinh tế huyện Tuyên Hóa giai đoạn 1990 - 1995 25

2.2.1.1.Nông - Lâm - Ngư nghiệp 27

2.2.1.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 28

2.2.1.3 Thương mại, dịch vụ 28

2.2.2 Kinh tế huyện Tuyên Hóa giai đoạn 1996 - 2000 29

2.2.2.1 Nông - Lâm nghiệp 30

2.2.2.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 30

2.2.2.3 Thương mại, dịch vụ 30

2.2.3 Kinh tế huyện Tuyên Hóa giai đoạn 2001 - 2005 31

2.2.3.1 Nông - Lâm - Ngư nghiệp 31

2.2.3.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 32

2.2.3.3 Thương mại, dịch vụ 33

2.2.4 Kinh tế huyện Tuyên Hóa giai đoạn 2006 - 2010 34

2.2.4.1 Nông - Lâm - Ngư nghiệp 34

2.2.4.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 37

2.2.4.3 Thương mại, dịch vụ 38

2.2.5 Kinh tế huyện Tuyên Hóa giai đoạn 2011 - 2015 39

2.2.5.1 Nông - Lâm nghiệp 40

2.2.5.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 42

2.2.5.3 Thương mại, dịch vụ 43

2.2.6 Kinh tế huyện Tuyên Hóa giai đoạn 2016 - 2018 43

2.2.6.1 Nông - Lâm - Ngư nghiệp 44

2.2.6.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 47

2.2.6.3 Thương mại, dịch vụ 47

2.3 Hạn chế và nguyên nhân 48

2.3.1 Hạn chế 48

Trang 5

2.3.2 Nguyên nhân 49

2.4 Đánh giá tổng quan và bài học kinh nghiệm 50

3.1 Căn cứ để Tuyên Hóa xác định mục tiêu, quan điểm phát triển kinh tế 52

3.2 Quan điểm, mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế của huyện Tuyên Hóa từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035 53

3.2.1 Quan điểm 53

3.2.2 Mục tiêu 55

3.2.3 Phương hướng phát triển kinh tế 56

3.3 Xây dựng quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035 58

3.3.1 Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp 58

3.3.2 Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 58

3.3.3 Phát triển thương mại dịch vụ, du lịch 59

3.4 Một số giải pháp để phát triển kinh tế huyện Tuyên Hóa 59

3.4.1 Giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn 59

3.4.2 Giải pháp về vốn và sử dụng vốn 60

3.4.3 Giải pháp về thị trường 62

3.4.4 Giải pháp về khoa học công nghệ 63

3.4.5 Giải pháp về cơ chế chính sách 65

3.4.6 Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 68

3.4.7 Tích cực bảo vệ môi trường sinh thái trong phát triển kinh tế 69

3.4.8 Tăng cường và nâng cao năng lực quản lý nhà nước của chính quyền địa phương trong phát triển kinh tế 70

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh lịch sử thế giới có nhiều biến động, công cuộc đổi mới củaViệt Nam đã được khởi động (từ năm 1986, đến năm 1989) Việt Nam đã bướcđầu đạt được một số thành tựu quan trọng (từ một quốc gia thiếu lương thựcViệt Nam bắt đầu xuất khẩu được 1,5 triệu tấn gạo) Ngày 01 tháng 7 năm 1989,tỉnh Quảng Bình được tái lập với địa giới và tên gọi cũ Ngày 01 tháng 6 năm

1990, Huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình được tách thành 2 huyện Tuyên Hóa

và Minh Hóa Huyện Tuyên Hóa mới được thành lập bao gồm hầu hết các xãcủa huyện Tuyên Hóa trong những năm 1964 - 1977 (riêng 2 xã Phù Hóa vàCảnh Hóa vẫn trực thuộc huyện Quảng Trạch) Sau khi điều chỉnh lại địa giới,

bộ máy của huyện Tuyên Hóa mới trở nên gọn nhẹ hơn đã nhanh chóng đi vào

ổn định Trong gần 30 năm tái lập Huyện (1990 - 2019), với tinh thần đoàn kết,sáng tạo, Đảng bộ và nhân dân Tuyên Hóa đã từng bước giải quyết những khókhăn đưa nền kinh tế, xã hội của địa phương phát triển một cách toàn diện, duytrì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, đời sống

nhân dân từng bước được cải thiện, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung

của tỉnh nhà Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, nền kinh tế củaTuyên Hóa qua 29 năm thực hiện công cuộc đổi mới còn nhiều mặt hạn chế, bấtcập cần sớm được khắc phục.Vì vậy việc nghiên cứu tổng kết lí luận và thực tiễnqua 29 năm tái lập tỉnh, đổi mới và phát triển kinh tế (1989 - 2018), để từ đó đề

ra những giải pháp góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Tuyên Hóa trong

xu thế hội nhập là cần thiết

Với mong muốn đóng góp một phần hiểu biết của mình vào việc đánh giátiềm năng kinh tế của huyện Tuyên Hóa và đề xuất một số giải pháp góp phần

phát triển kinh tế của huyện nhà, mà tôi chọn vấn đề “Tình hình kinh tế huyện

Tuyên Hóa từ khi tái lập tỉnh đến nay (1989 - 2018)” làm đề tài khóa luận tốt

nghiệp của mình

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

Trên thế giới, việc nghiên cứu về tình hình kinh tế và các học thuyết vềkinh tế đã được quan tâm từ rất lâu, nhất là các nước tư bản phát triển Kháiniệm kinh tế học và phân tích sơ khai về kinh tế đã xuất hiện từ rất sớm tronglịch sử, được tìm thấy đầu tiên trong các tác phẩm của những triết gia cổ Hy Lạpnổi tiếng như: Aristote và Platon (khoảng thế kỷ thứ IV và V trước côngnguyên) Nhưng chỉ từ khi xuất hiện tác phẩm kinh tế học nổi tiếng của A.Smith "Nghiên cứu về nguồn gốc và bản chất sự giàu có của các dân tộc" (năm1776) Kinh tế học mới thực sự phát triển và được hệ thống hóa một cách khoahọc

Ở Việt Nam, nhận thấy rõ tầm quan trọng của phát triển kinh tế đối với sựnghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, trong quá trình thực hiện sự nghiệp cáchmạng và đặc biệt là sau hơn 33 năm đổi mới (kể từ năm 1986), nền kinh tế nước

ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đưa Việt Nam từ nước chậm pháttriển trở thành nước có thu nhập trung bình thấp Cùng với toàn Đảng, toàn dântrong quá trình phát triển đất nước, các nhà khoa học, các nhà kinh tế đã cónhững đóng góp to lớn trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước thông quacác chương trình nghiên cứu, các đề tài khoa học về vấn đề này Trong nhữngnăm gần đây, từ các góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học đã có rất nhiềucông trình nghiên cứu về vấn đề phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tếngành nông nghiệp, nông thôn trong quá trình đổi mới, Công nghiệp hoá - Hiệnđại hoá và hội nhập kinh tế thế giới, dưới nhiều góc độ khác nhau, được công bốdưới dạng chuyên đề, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các kỷ yếu đề tài cấp bộ,các bài viết đăng trên các báo, tạp chí…

Liên quan đến đề tài khóa luận ở mức độ lý luận về kinh tế tôi đã thamchiếu những công trình dưới đây:

Ngô Tuấn Nghĩa (2018), Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nhà xuất bản Lý

luận chính trị, đã trình bày một cách sâu sắc về sự hình thành, phát triển, nộidung cốt lõi, đối tượng, phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác -Lênin Trên cơ sở đó, hiểu được mối liên hệ giữa kinh tế chính trị Mác - Lêninvới dòng chảy tư tưởng kinh tế của nhân loại

Trang 10

Nguyễn Đình Hương trong công trình Phát triển các loại thị trường trong

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nhà xuất bản

Lý luận chính trị trình bày về vai trò của kinh tế thị trường trong việc phát triểnnền quan hệ sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất trong giai đoạn quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở nước ta và tính đồng bộ giữa các loại thị trường trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Đề cập tới các tiềm năng thiên nhiên là nguồn lực quan trọng cho pháttriển kinh tế của huyện Tuyên Hóa, hai tác giả Nguyễn Xuân Tuyến và NguyễnĐức Lý trong công trình “Quảng Bình tài nguyên khoáng sản” nhà xuất bảnKhoa học kỹ thuật, đã giới thiệu tiềm năng tự nhiên của huyện Tuyên hóa dựatrên kết quả tổng hợp các công trình nghiên cứu về địa chất, địa mạo, về khítượng thủy văn, về động thực vật ở mức độ khái quát Đặc biệt công trình này đãgiới thiệu khá cụ thể nguồn tài nguyên khoáng sản của huyện Tuyên Hóa Đây là

cơ sở để huyện Tuyên Hóa xem xét hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xãhội của mình

Lịch sử Đảng bộ huyện Tuyên Hóa tập 3 (1975 - 2000), nhà xuất bảnChính trị Quốc gia - Sự thật, nội dung chính của sách viết về: Lịch sử Đảng bộtuy nhiên có để cập ở mức độ sơ lược đến tình hình kinh tế của Huyện trongnhững năm 1975 - 2000 Nội dung chính của sách phản ánh khách quan các sựkiện lịch sử của huyện Tuyên Hóa trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh

tế xã hội trong những năm 1975 - 2000

Báo cáo tình hình kinh tế- xã hội của Tỉnh Quảng Bình năm 2017 - 2018

có đề cập vài nét về tình hình kinh tế của huyện nhưng chỉ dừng lại ở mức độchung Một số công trình nói trên đã đi sâu phân tích những đặc điểm, vai trò,thực trạng, tính chất của nền kinh tế Việt Nam hoặc tỉnh Quảng Bình nói chung

và đề xuất những giải pháp để phát triển kinh tế của quốc gia và của tỉnh QuảngBình còn kinh tế Tuyên Hóa còn ở mức sơ lược

Ở mức độ gần với đề tài khóa luận hơn qua khảo sát, tôi thấy trong nhữngnăm từ năm 2000 đến 2018, UBND huyện Tuyên hóa đều có báo cáo tình hìnhkinh tế xã hội của Tuyên Hóa đánh giá thực trạng phân tích thành tựu, hạn chế,

Trang 11

vạch ra nguyên nhân ưu điểm, hạn chế và định hướng phát triển năm sau Trong

Lịch sử Đảng bộ huyện Tuyên Hóa Tập 3 (1975 - 2000) đã giới thiệu tình hình

kinh tế và xã hội của huyện Tuyên Hóa theo từng giai đoạn năm từ 1975 đến

1990 và 1990 đến 2000

Đặc biệt ông Hoàng Minh Đề - Bí thư huyện ủy trong bài viết “HuyệnTuyên Hóa - 30 năm đổi mới và phát triển trên lĩnh vực kinh tế xã hội (1989 -

2019)” đăng ký yếu Hội thảo Quảng Bình 30 năm đổi mới và phát triển, được

nhà xuất bản Hồng Đức ấn hành đã dành 20 trang khổ 19 x 27 để giới thiệu sựphát triển kinh tế và xã hội của huyện Tuyên hóa với những số liệu được rút ra

từ sự so sánh 2 lĩnh vực này tại 2 thời điểm từ 1990 và 2018 Bài viết đã đánhgiá sự phát triển, những thành tựu, hạn chế chính cả về kinh tế lẫn xã hội đồngthời phân tích nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế rút ra 4 bài học kinh nghiệm

và nêu lên định hướng mục tiêu nhiệm vụ từ 2019 đến 2030 tầm nhìn 2035 Đây

là những tài liệu quan trọng mà tác giải khóa luận tham chiếu để thực hiện đềtài

Tóm lại, Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập một số vấn đề lýluận và thực tiễn của quá trình phát triển kinh tế và xã hội của huyện Tuyên Hóa

có tính khái quát, hoặc theo giai đoạn nhưng thường giới thiệu chung cả kinh tế

và xã hội của Huyện

Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứumột cách có hệ thống tình hình kinh tế ở huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình từlúc tái lập tỉnh vào năm 1989 đến nay Từ thực tiễn đó đòi hỏi phải có một đề tàinghiên cứu mang tính sâu sắc về nội dung trên Vì vậy, trên cơ sở kế thừa cóchọn lọc các kết quả nghiên cứu đã công bố, khóa luận này sẽ tái hiện lại bứctranh kinh tế cụ thể hơn, đi sâu phân tích tiềm năng thế mạnh, các thành tựu vàhạn chế trong phát triển kinh tế của huyện Mặt khác dựa trên thực trạng tìnhhình phát triển kinh tế đó để vạch rõ nguyên nhân thành công, hạn chế của quátrình phát triển kinh tế huyện Tuyên Hóa những năm 1989 - 2018, rút ra bài họckinh nghiệm và đề xuất các giải pháp để định hướng phát triển kinh tế huyệnTuyên Hóa một cách hợp lý, tận dụng được các nguồn lực góp phần đưa TuyênHóa vươn lên thành một huyện có nền kinh tế khá ở tỉnh Quảng Bình

Trang 12

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tái hiện lại bức tranh toàn cảnh về quá trình phát triển kinh tếcủa huyện Tuyên Hóa từ 1989 đến 2018 Mặt khác khóa luận mạnh dạn đề xuấtcác giải pháp hợp lý để phát triển kinh tế ở huyện Tuyên Hóa trong những nămtiếp theo Hoàn thành đề tài với hy vọng khóa luận của tôi cung cấp được một tàiliệu tham khảo cho lãnh đạo các ban ngành của huyện Tuyên Hóa và các địaphương trực thuộc, giúp người đọc đánh giá đúng thực trạng kinh tế Tuyên Hóa

từ khi tái lập tỉnh năm 1989 đến nay

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Kinh tế xã hội của huyện Tuyên Hóa

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Tình hình kinh tế huyện Tuyên Hóa

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới trên lĩnhvực kinh tế của huyện Tuyên Hóa từ khi tái lập tỉnh cho đến nay (giai đoạn 1989

- 2018)

- Đi sâu phân tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế chỉ ra nguyênnhân ưu điểm và hạn chế để rút ra bài học kinh nghiệm từ quá trinh phát triểnkinh tế của huyện Tuyên Hóa

- Đề xuất những giải pháp góp phần thúc đẩy sự phát triểnkinh tế củahuyện Tuyên Hóa giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 một cách toàndiện và bền vững

Trang 13

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận

Cơ sở phương pháp luận của đề tài là dựa trên quan điểm của chủ nghĩaMác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, quan điểm, đường lối củaĐảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế, đặc biệt là sựvận dụng sáng tạo đường lối đổi mới vào thực tiễn địa phương của Đảng bộTuyên Hóa

6.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic: Thể hiện được tính

hệ thống theo thời gian về sự chuyển biến của nền kinh tế huyện Tuyên Hóatrong phạm vi không gian như đã xác định; nhìn nhận một cách tổng quát nhữngvấn đề đã trình bày trong mối quan hệ tác động lẫn nhau, từ đó rút ra nhữngnhận xét, đánh giá về quá trình chuyển biến về mọi mặt, đồng thời nêu đượckhuynh hướng phát triển đi lên về kinh tế của Tuyên Hóa trong công cuộc đổimới

- Phương pháp tổng hợp, thống kê, định lượng, so sánh, phân tích nhằmđánh giá, làm nổi bật sự phát triển trên các lĩnh vực

- Phương pháp dự báo, trên cơ sở thực tiễn (kết quả đạt được, tiềm năng,lợi thế của địa phương, tình hình thế giới trong nước; những hạn chế, khó khăn,thách thức) đưa ra triển vọng phát triển của địa phương đến năm 2035

7 Đóng góp của đề tài

1) Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế huyệnTuyên Hóa, tập hợp được một danh mục tài liệu tham khảo khá đầy đủ chonhững ai quan tâm nghiên cứu tình hình kinh tế huyện Tuyên Hóa của tỉnhQuảng Bình trong những năm từ 1989 đến nay

2)Tái hiện lại bức tranh toàn cảnh về tinh hình kinh tế của huyện TuyênHóa giai đoạn 1998 - 2018, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân củathành công và hạn chế đó

3) Khóa luận đề xuất được những giải pháp mang tính khoa học và khả thinhằm góp phần định hướng phát triển kinh tế trong thời kỳ quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện Tuyên Hóa trong thời gian tới (2020 - 2035)

Trang 14

4) Hoàn thành khóa luận ngoài việc tập dượt nghiên cứu khoa học, vậndụng kiến thức kỹ năng đã học vào việc thực tiễn còn giúp cho tác giả nâng cao

và bổ sung thêm kiến thức của bản thân làm hành trang nghề nghiệp và cuộcsống sau này

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, thì nộidung chính của Khóa luận được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Tiềm năng kinh tế của huyện Tuyên Hóa

Chương 2: Tình hình kinh tế huyện Tuyên Hóa từ khi tái lập tỉnh đến nay(giai đoạn 1989 - 2018)

Chương 3: Các giải pháp định hướng phát triển kinh tế huyện Tuyên Hóa

từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035

Trang 15

CHƯƠNG 1: TIỀM NĂNG KINH TẾ CỦA HUYỆN TUYÊN HÓA

1.1 Tiềm năng về tự nhiên

1.1.1.Vị trí địa lý

Huyện Tuyên Hóa là huyện miền núi nằm về phía Tây Bắc tỉnh QuảngBình, có ranh giới: Phía Bắc giáp huyện Hương Khê, huyện Kỳ Anh và huyệnCẩm Xuyên của tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp huyện Minh Hóa và nước bạn Lào,phía Nam giáp huyện Bố Trạch, phía Đông giáp huyện Quảng Trạch của tỉnhQuảng Bình

Toàn huyện có 20 đơn vị hành chính, trong đó có Thị trấn Đồng Lê và 19xã: Lâm Hóa, Hương Hóa, Thanh Hóa, Thanh Thạch, Kim Hóa, Sơn Hóa, LêHóa, Thuận Hóa, Đồng Hóa, Thạch Hóa, Nam Hóa, Đức Hóa, Phong Hóa, MaiHóa, Ngư Hóa, Tiến Hóa, Châu Hóa, Cao Quảng, Văn Hóa Theo số liệu thống

kê năm 2016, dân số Tuyên Hóa có 79.469 người (trong đó nữ 39.845 người),với mật độ 70 người/km2 Toàn huyện có 7 dân tộc cùng chung sống Ngoài dântộc Kinh chiếm đại đa số còn có dân tộc Bru - Vân Kiều, dân tộc Tày và các dântộc như Mường, Sách, Chứt, Mã Liềng

Tổng diện tích tự nhiên huyện Tuyên Hóa (theo số liệu năm 2017) là112.869,38 ha, chiếm 14,27% và xếp thứ 5 so với toàn tỉnh Trong số 20 xã, thịtrấn của huyện thì xã Kim Hóa có diện tích tự nhiên lớn nhất là 18.488,77 hachiếm 16,38%; thị trấn Đồng Lê có diện tích nhỏ nhất 1.075,18 ha, chiếm 0,95%diện tích toàn huyện

Tuyên Hóa có tuyến đường sắt Bắc - Nam; tuyến đường Xuyên Á (12C),nối từ Vũng Áng đến biên giới Việt - Lào đi qua thị trấn Đồng Lê, đây là conđường nối liền ba nước Việt Nam - Lào - Thái Lan; đường Quốc lộ 12A nối liềnhuyện Quảng Trạch với Tuyên Hóa; hệ thống đường tỉnh lộ; cùng hệ thống đườngsông (Sông Gianh, với 2 nhánh: Rào Trổ và Rào Nậy; sông Ngàn Sâu; Sông Nan)chảy qua

Với vị trí như vậy, Tuyên Hóa có nhiều cơ hội để tiếp nhận những tácđộng tích cực từ bên ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế củahuyện

Trang 16

1.1.2 Địa hình

Tuyên Hóa nằm về phía Tây - Nam dãy Hoành Sơn, giáp với dãy TrườngSơn, có địa hình hẹp, độ dốc giảm (nghiêng) dần từ Tây sang Đông và bị chiacắt bởi nhiều sông, suối, núi đá; cao trình vùng thấp từ 2 - 6 m, cao trình vùngcao từ 25 - 100 m Địa hình phía Tây Bắc là núi cao và thấp dần về phía Đông -Nam Toàn huyện có thể chia thành 3 dạng địa hình chính:

- Địa hình núi cao trung bình: Phân bổ chủ yếu ở ranh giới phía Tây Bắchuyện, ở các xã Hương Hóa, Thanh Hóa, Thanh Thạch, Kim Hóa, Ngư Hóa,Lâm Hóa, Thuận Hóa giáp với tỉnh Hà Tĩnh và xã Cao Quảng ở vùng phía Namhuyện giáp với huyện Bố Trạch Địa hình vùng này có đặc điểm là núi có độ caotrung bình 300 - 400 m, một số đỉnh có độ cao trên 700 m; địa hình bị chia cắtmạnh, sườn núi có độ dốc lớn với các khe hẹp, lớp phủ thực vật chủ yếu là rừngnghèo và trung bình

- Địa hình vùng gò đồi đan xen các thung lũng: Phân bổ chủ yếu dọc sôngGianh (Rào Nậy, Rào Trổ) Bao gồm: Lê Hóa, Đồng Hóa, Thạch Hóa, Sơn Hóa,Nam Hóa, Đồng Lê Đặc điểm địa hình gồm các đồi có độ cao từ 20 - 50 m cónguồn gốc hình thành từ phù sa cổ nên sườn dốc khá thoải từ 5 - 15% đan xencác thung lũng nhỏ

- Địa hình vùng đồng bằng: Chủ yếu phân bổ ở các xã phía Đông Namhuyện gồm: Đức, Phong, Mai, Tiến, Châu và Văn Hóa Đồng bằng của huyện cóđặc điểm nhỏ hẹp ven sông, hàng năm thường ngập lũ nên được phù sa bồi đắp;đây là vùng trọng điểm lúa, màu và là nguồn cung cấp lương thực chính củatoàn huyện

1.1.3 Khí hậu

Tuyên Hóa nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có 2mùa chính, lượng mưa hàng năm bình quân khoảng 2.300 - 2.400 mm, cao nhấttoàn tỉnh; nhiệt độ bình quân 22 - 23oC

Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 9 Mùa mưa thường bắt

đầu từ giữa tháng 9 đến tháng 02 năm sau Tổng số ngày mưa trung bình là 169ngày/năm, chủ yếu từ giữa tháng 9 đến tháng 11 hàng năm

Trang 17

* Tuyên Hóa chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính:

+ Mùa đông có gió mùa Đông Bắc thịnh hành thổi theo hướng Bắc - ĐôngBắc

+ Mùa hè chủ yếu gió Tây Nam khô nóng xuất hiện từng đợt, bắt đầu từtháng 4 và kết thúc vào tháng 7

1.1.4 Đặc điểm thủy văn

Thủy văn: Toàn huyện chịu ảnh hưởng bởi lưu vực hệ thống Sông Gianh(Rào Nậy, Rào Trổ), Sông Nan, Ngàn Sâu, Khe Nét, Khe Núng, Khe Hà, KheDong, Khe Tre, khe Hồ Bẹ… Sông ngòi của huyện có đặc điểm là ngắn và dốcnên tốc độ dòng chảy rất lớn Về mùa khô, nước mặn dâng lên xâm nhập đếnMinh Cầm gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp Do có nhiều lưu vực sông lớnnên vùng thượng nguồn có thể xây dựng nhiều cụm thủy điện công suất 5 -15MW như Khe Rôn, Khe Nét, Rào Nan Đoạn Sông Gianh từ Phong Hóa vềbiển khá sâu và rộng đủ điều kiện cho các loại tàu thủy có tải trọng đến 1.000tấn hoạt động

Tuy nguồn nước dồi dào nhưng do địa hình không thuận lợi cho việc xâydựng các hồ chứa nước lớn nên mùa khô vùng đồi núi thường bị thiếu nước

1.1.5.Tài nguyên đất

Theo báo Quy hoạch sử dụng đất, toàn huyện có 112.869,38 ha Trong đó

có 3 nhóm chủ yếu sau:

- Nhóm đất feralit có nguồn gốc từ đá mẹ được hình thành nội sinh hoặc

sa diệp thạch chủ yếu phân bố ở vùng đồi núi có độ dốc cao, phía trên có thảmthực vật là rừng tự nhiên che phủ, tuy bị xói mòn mạnh nhưng độ phì tự nhiênvẫn còn khá nên khả năng tái sinh tự nhiên bằng khoanh nuôi bảo vệ hoặc xúctiến tái sinh rừng tốt Nhóm đất này thích hợp với các loại cây công nghiệp dàingày (cây thông), cây ăn quả (mít, xoài…), cây lấy gỗ (keo, tràm…), trồng cỏphát triển chăn nuôi gia súc ở quy mô vừa và nhỏ

- Nhóm đất phù sa cổ và đất feralit chủ yếu phân bố ở các địa hình núithấp hoặc gò đồi ở các xã Thanh, Hương, Kim, Đồng, Lê Hóa và Cao Quảng.Tuy bị xói mòn mạnh và bạc màu do tập quán canh tác tự phát, nhưng nhiều đất

có tầng dày khá, nếu canh tác khoa học có thể trồng cây công nghiệp ngắn ngày,trồng màu, cây ăn quả hoặc đồng cỏ chăn nuôi gia súc tốt

Trang 18

- Nhóm đất phù sa bồi đắp hàng năm phân bổ chủ yếu các vùng ven sôngchính và các thung lũng đan xen ở vùng gò đồi Nhờ hàng năm được phù sa bồiđắp nên đất có độ phì tự nhiên cao, tầng dày lớn, phù hợp cho việc gieo trồnglúa, ngô hoặc các loại hoa màu, rau đậu.

Tổng diện tích tự nhiên huyện Tuyên Hóa (theo số liệu năm 2017) là112.869,38 ha Trong đó: Đất nông nghiệp: 102.925,93 ha, chiếm 91,2%; đất phinông nghiệp: 6.184,78 ha, chiếm 5,5%; đất chưa sử dụng: 3.758,67 ha, chiếm3,3%

Bảng 1.1 Diện tích đất của huyện Tuyên Hóa

(%) TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN Ha 112.869,38 100.00

* Hiện trạng sử dụng đất

Đất nông - lâm - ngư nghiệp: Tổng diện tích 102.925,93 ha chiếm 91,2%

diện tích đất tự nhiên của huyện Trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp có8.501,57 ha, chiếm 8,260%; đất lâm nghiệp có 94.362,06 ha, chiếm 91,80%; đấtnuôi trồng thủy sản có 58,51 ha, chiếm 0,057%; đất nông nghiệp khác có 3,79

ha, chiếm 0,004% so với diện tích đất nông nghiệp

Bảng1.2 Diện tích và cơ cấu đất nông nghiệp huyện Tuyên Hóa năm 2017

Trang 19

hàng năm có 2.717,03 ha, chiếm 31,96%; đất trồng cây lâu năm có 4.019,09 ha,chiếm 47,28%

- Đất lâm nghiệp có 94.362,06 ha, chiếm 83,6% diện tích đất tự nhiêntoàn huyện và chiếm 91,68% trên tổng diện tích đất nông - lâm - ngư nghiệp.Trong đó: Đất rừng sản xuất có 61.558,69 ha, chiếm 65,24 %; đất rừng phòng hộ32.803,37 ha, chiếm 34,76% Đối với Tuyên Hóa, rừng đang là ưu thế cho tiềmnăng phát triển kinh tế của huyện

- Đất nuôi trồng thủy sản chỉ có 58,51 ha, chiếm 0,057% diện tích đấtnông - lâm - ngư nghiệp Nhưng Tuyên Hóa có hệ thống sông ngòi chằng chịtvới diện tích sông suối và mặt nước chuyên dùng 2.369,99 ha chưa khai thác, làtiềm năng rất lớn về nuôi trồng thủy sản nước ngọt của huyện

Đất phi nông nghiệp: Có 6.184,78 ha, chiếm 5,5% diện tích đất tự nhiên

của huyện Trong đó: Đất ở có 698,67 ha, chiếm 11,3%; đất chuyên dùng có2.770,68 ha, chiếm 44,8%; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng có 2.369,99

ha, chiếm 38,32%; đất nghĩa trang nghĩa địa có 333,41 ha, chiếm 5,39%; đất cơ

sở tôn giáo, tín ngưỡng có 12,03 ha, chiếm 0,19%

Bảng 1.3 Diện tích và cơ cấu đất phi nông nghiệp huyện Tuyên Hóa

Đất chưa sử dụng

Có 3.758,67 ha, chiếm 3,3% diện tích đất tự nhiên của huyện Trong đóphân bố rải rác ở các xã Kim Hóa: 909,11 ha; Cao Quảng: 708,83 ha; Lâm Hóa:629,59 ha; Thạch Hóa: 554,02 ha…

Tóm lại: Tuyên Hóa là huyện có diện tích đất lâm nghiệp có tỷ trọng

Trang 20

chiếm 91,68% trên tổng diện tích đất nông nghiệp, cho thấy điều kiện phát triểncác nghề rừng của huyện còn lớn Đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 8.501,57 ha,nhưng hầu hết diện tích đã đưa vào khai thác nên khả năng mở rộng sản xuấtnông nghiệp rất hạn hẹp Hiện nay chỉ còn một số diện tích đất chưa sử dụng,chủ yếu là đất gò đồi phù hợp với trồng cây công nghiệp dài ngày Vì vậy huyệncần lưu ý hạn chế việc chuyển đất sản xuất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúavào mục đích khác.

1.1.6.Tài nguyên nước

Với số lượng sông suối phân bố dày đặc và rộng lớn, huyện Tuyên Hóa cótiềm năng về nguồn nước ngọt rất lớn Hiện tại huyện có 3 dòng sông lớn chảyqua: Sông Gianh (hai nhánh: Rào Trổ, Rào Nậy); Sông Nan; sông Ngàn Sâu và

có nhiều suối nhỏ Nguồn tài nguyên này trong thời gian qua vẫn chưa đượckhai thác sử dụng đúng mức, chỉ mới sử dụng một lượng nhỏ phục vụ cho tướitiêu trong nông nghiệp Các sông suối của huyện có trữ lượng nước lớn, độ dốccao, có khả năng để xây dựng các nhà máy thủy điện Hiện trên địa bàn đã xâydựng nhà máy thủy điện Hố Hô và đang tiếp tục khảo sát để xây dựng nhà máythủy điện Rào Trổ, Khe Nét Tài nguyên nước của huyện thể hiện như sau:

- Nguồn nước mặt: Phụ thuộc chủ yếu vào lượng mưa tự nhiên, bình quân2.181 mm/năm, một phần được lấy từ Sông Gianh, sông Rào Trổ, Ngoài racòn có các hồ đập nhỏ khác phục vụ cho sinh hoạt và tưới tiêu của nhân dân

- Nguồn nước ngầm: Nước ngầm ở đây thường sâu và dễ bị cạn kiệt vàomùa khô, ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt của nhân dân trong vùng

1.1.7.Tài nguyên rừng và đất rừng

Bảng 1.4 Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất lâm nghiệp

Trang 21

Diện tích rừng trồng tập trung của huyện năm 2017 đạt 815 ha, chiếm0,86% so với diện tích đất lâm nghiệp; diện tích rừng được khoanh nuôi, phụchồi đạt 2.000 ha, chiếm 2,11 %; diện tích rừng được bảo vệ đạt 47.000 ha, chiếm42,6%tổng diện tích đất lâm nghiệp Tỷ lệ che phủ rừng đạt 76%.

Diện tích rừng được phân bố ở tất cả các xã và thị trấn trong huyện, songphân bố nhiều ở các xã Cao Quảng: 9.516,13 ha; Ngư Hóa: 5.789,39 ha; ThạchHóa 4.119,31 ha; Thanh Hóa: 3.291,27 và Lâm Hóa: 3.856,9 ha Diện tích rừngcủa huyện góp phần giữ nước đầu nguồn, hạn chế quá trình dòng lũ xói mòn đất,duy trì cảnh quan và bảo vệ môi trường

Thảm thực vật ở đây rất đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều loại gỗquý như lim xanh, đinh, gụ, pơmu… và nhiều loại thú quý hiếm như dê sừngthẳng, trĩ sao, gà lôi, các loại bò sát và các loài thú móng guốc khác

Rừng Tuyên Hóa có hệ động thực vật quý hiếm, nằm trong hệ vườn Quốcgia Phong Nha - Kẻ Bàng là di sản thiên nhiên thế giới, không những có tiềmnăng về phát triển kinh tế mà còn có khả năng mở rộng phát triển du lịch sinhthái, du lịch thám hiểm

1.1.8 Tài nguyên khoáng sản

Theo số liệu điều tra của ngành Địa chất thì Tuyên Hóa là huyện có nhiềuloại khoáng sản quý hiếm và quan trọng, có loại có trữ lượng rất lớn Tỉnh đã cóquyết định số 68/2005/QĐ-UBND ngày 30/12/2005 của UBND tỉnh QuảngBình về việc phê duyệt quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản trên

Trang 22

địa bàn tỉnh Quảng Bình đến năm 2015, theo đó huyện Tuyên Hóa có nhiều loạikhoáng sản được phép thăm dò, khai thác Cụ thể như sau:

- Nhóm khoáng sản kim loại:

+ Mỏ vàng: Có ở Khe Nang (Kim Hóa) có trữ lượng khoảng 3.555 kg;Khe Đập (Thuận Hóa) có trữ lượng khoảng 3.263 kg; khe Đá Trắng (ThuậnHóa) có trữ lượng khoảng 3.154 kg; Suối Kim (Ngư Hóa) có trữ lượng khoảng1.627 kg Hiện nay tỉnh đã có chủ trương cho Công ty Quảng Thông thăm dòkhảo sát

+ Mỏ sắt: Có ở Xóm Trúc (Tiến Hóa), Kim Lũ (Kim Hóa); Thôn 4 xãĐức Hóa, trữ lượng khoảng 0,015 triệu tấn; Đường 15 xã Hương Hóa, trữ lượngkhoảng 0,06 triệu tấn; Đường 15 xã Kim Hóa, trữ lượng khoảng 0,028 triệu tấn.Riêng quặng sắt ở Xóm Trúc có hàm lượng trên 40% Fe203 với trữ lượng khoảng98.000 tấn và đang được khai thác để làm phụ gia sản xuất xi măng

+ Mangan: Kéo dài từ Kim Hóa đến Nam Hóa khoảng 25 km, rộngkhoảng vài trăm mét, dày khoảng 2,5 m Hàm lượng mangan trung bình khoảng30%, với trữ lượng khoảng 122.000 tấn

- Nhóm khoáng sản phi kim:

+ Đá vôi: Có trên 2.100 ha, chủ yếu là các mỏ đá vôi có hàm lượngCaCO3 cao trên 55%, làm nguyên liệu để sản xuất xi măng và bột đá vôi chấtlượng cao, được phân bố chủ yếu dọc theo nguồn sông Rào Nậy Theo quyhoạch xi măng đến năm 2020 và theo đề xuất của các nhà đầu tư, UBND tỉnh đãcấp giấy phép sản xuất xi măng ở khu vực Phong, Mai, Tiến, Văn Hóa với quy

mô đến 10 triệu tấn/năm; có 2 nhà đầu tư sản xuất bột CaCO3 chất lượng cao vớicông suất mỗi nhà máy 200.000 - 250.000 tấn/năm

+ Sét xi măng: Có ở Mai Hóa, với trữ lượng khoảng 13,281 triệu tấn; có ở

xã Cao Quảng với trữ lượng khoảng 0,12 triệu tấn

+ Đá xây dựng: Có thể nói Tuyên Hóa là nguồn cung cấp đá xây dựng chothị trường Bắc Quảng Bình Các mỏ đá xây dựng được phân bổ dày và rải đềutrên nhiều vùng của huyện Tuyên Hóa Theo Quyết định số 32/2011/QĐ-UBND, ngày 22 tháng 12 năm 2011 của Ủy ban nhân tỉnh Quảng Bình thì các

mỏ sau đây được đưa vào quy hoạch: Lèn Ông Bắc, xã Hương Hóa; hung Cá

Trang 23

Tràu, xã Kim Hóa; lèn Minh Cầm, xã Phong Hóa; lèn Lâm Hóa, xã Lâm Hóa;hung Ba Tâm, xã Thuận Hóa; Xuân Canh, xã Thuận Hóa; Lèn Ong, xã ĐồngHóa; lèn Cụt Tai, xã Đức Hóa; lèn Cây Trỗ (hung Mè), xã Thạch Hóa; lènThống Lĩnh, xã Hương Hóa; Lèn Vịnh, xã Văn Hóa; Lèn Hung, xã Châu Hóa;hung Đồng Thọ, xã Cao Quảng; Thượng Lào, xã Thuận Hóa; lèn Minh Cầm, xãChâu Hoá; lèn Đồng Hung, xã Cao Quảng.

+ Cát xây dựng: Với lượng cát hàng năm được bổ sung trên dòng SôngGianh khá lớn, do đó Tuyên Hóa có nguồn cát đáp ứng cho nhu cầu xây dựngtrong huyện và cung cấp cho Quảng Trạch và Minh Hóa Theo Quyết định số32/2011/QĐ-UBND, ngày 22 tháng 12 năm 2011 của Ủy ban nhân tỉnh QuảngBình về việc điều chỉnh quy hoạch khoáng sản thì Tuyên Hóa có một số mỏ cátđược phép khảo sát thăm dò và khai thác như sau: Mỏ cát Ba Tâm, Đồng Lào xãThuận Hóa; mỏ cát Thượng nguồn Thác Dài, Khe Còi xã Đồng Hóa; mỏ cát HạĐình, Bãi Nèng, Cồn Sỏi xã Thạch Hóa; mỏ cát Sảo phong, Minh Cầm xãPhong Hóa; mỏ cát Đuồi 27 xã Mai Hóa; mỏ cát Bãi Bơi xã Tiến Hóa; mỏ cátBãi Rì Rì xã Văn Hóa; mỏ cát Rào Trổ xã Ngư Hóa Đây là ưu thế tốt củahuyện

+ Phosphorit: Có tại Kim Lũ, xã Kim Hoá, hiện nay đang được nghiên cứu

- Ngoài ra trên địa bàn xã Đức Hóa có mỏ đá cao silic với trữ lượngkhoảng 0,3 triệu tấn; Wonfram ở Kim Lũ xã Kim Hóa đang được nghiên cứu

Tóm lại Tuyên Hóa là huyện có lượng khoáng sản đa dạng và nhiều loại

có trữ lượng lớn, cho phép phát triển các ngành công nghiệp đa dạng

1.1.9 Tài nguyên du lịch

Tuyên Hóa là một huyện miền núi với nhiều địa danh đã đi vào huyềnthoại như Cao Mại, Minh Cầm, Đồng Lê, Kim Lũ, chợ Cuồi cùng với các ditích lịch sử như Lèn Hà, lèn Khe Vi, là điều kiện thuận lợi để phát triển dulịch Tuyên Hóa có lễ hội đua thuyền truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc,

có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử văn hóa, có tác dụng giáo dục truyền thống yêunước, yêu quê hương, động viên lao động và hấp dẫn khách du lịch Tuyên Hóa

có nguồn tài nguyên văn hóa độc đáo giàu chất dân gian như: Hò Kiều, ca trù…

Trang 24

Rừng Tuyên Hóa có thảm thực vật đa dạng, với hệ thống núi đá vôi hiểmtrở là nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã, do đó rất có khả năng pháttriển du lịch sinh thái, du lịch thám hiểm…

1.2 Tiềm năng về xã hội

Nguồn nhân lực và chất lượng lao động đóng vai trò chủ đạo trong sựphát triển của toàn bộ xã hội nói chung cũng như của nền kinh tế nói riêng Dân

số trung bình của huyện là 79.469 người (năm 2016) dân số lại phân bố khôngđồng đều, với mật độ trung bình là 70 người/km2 nhưng có nơi chỉ có 9người/km2 như xã Lâm Hóa, xã Ngư Hóa, có nơi mật độ dân số lại khá lớn nhưthị trấn Đồng Lê là 527 người/km2, hay xã Châu Hóa là 304 người/km2 Với sựphân bố không đồng đều như vậy đã gây ra khó khăn trong việc quản lý và quyhoạch phát triển của địa phương, đồng thời nó cũng tạo ra các lợi thế và khókhăn riêng cho mỗi vùng trong việc phát triển kinh tế xã hội

Theo thống kê của phòng thống kê huyện Tuyên Hoá nguồn nhân lực khádồi dào và không ngừng tăng lên qua các năm Năm 2003 có lực lượng lao độngtrong độ tuổi là 37.600 người, trong đó có 35.700 người làm việc trong cácngành nghề kinh tế Đến năm 2016, với tổng số 79.469 khẩu trong 18.407 hộdân, với tổng số 43.474 lao động trong đó có 38.704 người làm việc trong cácngành kinh tế, gồm:

- Nông lâm nghiệp: 31.970 người, chiếm 82,6%

- Công nghiệp, dịch vụ: 4.845 người, chiếm 12,5%

- Ngành khác: 1.889 người, chiếm 4,9%

Với lực lượng lao động như vậy đã cung cấp cho huyện một lợi thế lớn vềnguồn nhân lực Song vấn đề đặt ra là trình độ và chất lượng lao động ở đây cònkhá thấp so với yêu cầu phát triển trong thời đại hiện nay Lao động chủ yếu còndựa vào kinh nghiệm, thủ công chưa qua đào tạo, trình độ chuyên môn còn kém;

tỷ lệ lao động không có việc làm còn khá cao, chiếm khoảng 11% trong tổng sốlao động (năm 2016) Vì vậy, chính quyền cần có các chính sách và hỗ trợ hợp

lý để nâng cao hơn nữa chất lượng lao động và có chính sách tạo việc làm, đầu

tư phát triển các ngành nghề phụ để giải quyết lượng lao động dư thừa

Trang 25

Theo báo cáo tình hình kinh tế xã hội của UBND huyện năm 2018, trongnăm qua nhờ sự quan tâm chỉ đạo của các cấp Đảng ủy và chính quyền các cấp

đã tạo việc làm cho 3.268 lao động; xuất khẩu lao động 469 người; Công táchướng nghiệp dạy nghề đã được quan tâm, trung tâm dạy nghề của huyện đã đivào hoạt động, đã mở 15 lớp đào tạo nghề miễn phí cho 472 học viên

Trang 26

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH KINH TẾ HUYỆN TUYÊN HÓA

TỪ KHI TÁI LẬP TỈNH ĐẾN NAY (1989 - 2018)

2.1 Vài nét tình hình kinh tế huyện Tuyên Hóa trước khi chia tách huyện (giai đoạn 1977 - 1989)

Ngày 5-3-1977, Tỉnh ủy Bình Trị Thiên đã ban hành Nghị quyết số NQ/TU về việc sáp nhập huyện, quyết định nhập một số huyện nhỏ thành nhữnghuyện lớn Huyện Tuyên Hóa là một trong 7 huyện của tỉnh được hợp nhất trongđợt này Huyện Tuyên Hóa và huyện Minh Hóa hợp nhất thành một huyện vàlấy tên là huyện Tuyên Hóa 9 xã của huyện Tuyên Hóa bao gồm các xã VănHóa, Phù Hóa, Cảnh Hóa, Tiến Hóa, Mai Hóa, Châu Hóa, Ngư Hóa, Cao Hóa,Quảng Hóa sáp nhập vào huyện Quảng Trạch

02-Kể từ khi sáp nhập huyện, trong 4 năm 1977 - 1980, kinh tế huyện đã đạtđược những kết quả bước đầu, đó là:

Đã khai hoang, phục hóa, di dân lên vùng gò đồi, mở rộng thêm 1.536ha,

di dời gần 2.000 hộ dân, đưa tổng diện tích gieo trồng từ 8.150 ha lên 10.250 ha

Đi đôi với việc mở rộng diện tích, việc thâm canh và áp dụng các biện pháp kỹthuật liên hoàn đã có những chuyển biến tích cực, đã chủ động được việc tướitiêu, khắc phục hạn hán, tăng thêm 20% phân bón cho đồng ruộng, thực hiện

“tăng vụ tám, giảm vụ mười”, “tăng cấy, giảm vãi”, do đó tổng sản lượng lươngthực đã tăng từ 7.875 tấn lên 11.909 tấn, tỷ trọng mà tăng từ 44% lên 64% Nhờchủ động mà trong nhiều năm liên tục tuy thiên tai, mất mùa lúa nhưng đời sốngnhân dân cơ bản được đảm bảo, sản xuất được đẩy mạnh

Sản xuất lâm nghiệp được xem là một thế mạnh của huyện Trong 5 năm,

đã khai thác được trên 40.000m3 gỗ, 2,3 triệu ha cây nứa, trên 2 triệu sợi song,mây; khoanh nuôi và bảo vệ 6.667 ha rừng Tiến hành giao đất, giao rừng chocác hợp tác xã sản xuất, kinh doanh Gieo ươm 58 ha cây giống và trồng được778,5 ha cây các loại, trong đó có 612 ha cây ăn quả

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tuy còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chấtchưa phát triển, thiếu kinh nghiệm tổ chức, trình độ tay nghề lao động chưa cao,

Trang 27

nhưng nhờ biết vận dụng, kết hợp giữa lĩnh vực công nghiệp với lâm nghiệp vànông nghiệp tạo nên một quy trình khép kín bước đầu được tạo lập, phục vụ chosản xuất và nhu cầu tiêu dùng; các hoạt động công nghiệp và thủ công nghiệp cóđiều kiện phát triển Ngoài xí nghiệp cơ khí của huyện, trên địa bàn đã có thêm 5

cơ sở quốc doanh và 9 cơ sở sản xuất của các hợp tác xã chuyên nghiệp Tổnggiá trị sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong ba năm 1978 - 1980đạt 4,52 triệu đồng Các hợp tác xã mây tre đan, sản xuất vôi, gạch, ngói, chếbiến lâm sản tiếp tục được củng cố và phát triển

Giai đoạn 1983 - 1986, trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, từ một nền

kinh tế nông nghiệp lạc hậu, độc canh, mất cân đối đã bước đầu hình thành cơcấu sản xuất nông – lâm và tạo tiền đề cho phát triển Nắm vững quan điểm pháttriển nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, Đảng bộ đã tích cực chỉ đạo chuyển dầnthế độc canh sang phát triển toàn diện, tích cực đầu tư thâm canh, phát triển hệthống thủy lợi, đưa các hạt giống mới vào sản xuất, tăng cường phân bón, tăngdần diện tích cây công nghiệp, nhờ đó tổng diện tích gieo trồng hàng năm đạttrên 12.000 ha, năng suất cây trồng không ngừng tăng lên, tổng sản lượng lươngthực tăng bình quân 1.000 tấn/năm Tận dụng thế mạnh của mình để phát triểnchăn nuôi, tổng đàn gia súc đạt 42.145 con, tỷ lệ tăng bình quân 7,6% Nhận rõthế mạnh sản xuất lâm nghiệp, Đảng bộ Huyện đã tập trung chỉ đạo việc phâncông lại lao động, củng có các đội sơn tràng, mua sắm thêm công cụ, máy móc,kết hợp sản xuất nông nghiệp với lâm nghiệp, nhờ đó đã khai thác bình quânmỗi năm đạt 7.500 m3 gỗ các loại hàng triệu sợi mây, song, nứa, nhiều lâm sản

và dược liệu quý Phong trào trồng cây, bảo vệ rừng tập trung đã có nhiều tiến

bộ Trong 5 năm, đã trồng mới 450 ha rừng tập trung với 10 triệu cây phân tán,hình thành rừng thông vối diện tích 95 ha, đang từng bước hình thành rừng trẩuphục vụ xuất khẩu

Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có bước phát triển mới Đã

tăng thêm máy móc, xây dựng xí nghiệp chế biến bột giấy ở Đồng Lào, thi côngNhà máy điện Khe Rôn, chuẩn bị các tiền đề cho công nghiệp phát triển Tiểuthủ công nghiệp từ chỗ sản xuất nhỏ, manh mún đã được củng cố và tổ chức lại

Trang 28

Nhiều cơ sở đã tự lực xây dựng thêm lò gạch, ngói, vôi như các hợp tác xã NamPhong, Huyền Thủy, Thanh Thạch Nhiều cơ sở chế biến nông, lâm sản đượchình thành như đan mây, tre, làm chổi đót, chế biến dược liệu, xay xát Tuy quy

mô còn nhỏ nhưng đã mở rộng hình thức, nâng cao năng lực sản xuất [5, 142

-144]

Trong giai đoạn 1986 - 1989, với phương châm đẩy mạnh quá trình

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, huyện Tuyên Hóa đã đạt được một số kết quả nhấtđịnh trong việc thực hiện ba chương trình kinh tế lớn mà trung ương đã đề ra

Về lĩnh vực kinh tế: Đảng bộ đã chỉ đạo từng bước tổ chức và hình thành

cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất hợp lý bước đầu khai thác có hiệu quả tiềm năng,thế mạnh tại chỗ để thực hiện ba chương trình kinh tế lớn trên địa bàn huyện.Theo hướng phát triển nền nông nghiệp toàn diện giải quyết vấn đề lương thực

là nhiệm vụ trước mắt Đảng bộ đã chỉ đạo tích cực đổi mới cơ cấu cây trồng,tăng diện tích cây công nghiệp như trầu, lạc, đổi mới cơ cấu mùa vụ, đẩy mạnhthâm canh, tăng thêm diện tích ngô, khoai, đậu vụ hè thu và vụ đông, đẩy mạnhcông tác thủy lợi, áp dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, tăng thêm các loạigiống mới để tăng năng suất cây trồng, đẩy mạnh phát triển kinh tế vườn hộ,vườn rừng, kinh tế gia đình ; do đó tổng sản lượng lương thực hằng năm tăng,đạt khoảng 16.000 tấn; cơ bản giải quyết được nhu cầu về lương thực trên địabàn, góp phần ổn định đời sống nhân dân trong hoàn cảnh khó khăn chung củađất nước Nhiều hợp tác xã đã đẩy mạnh đầu tư, tích cực sản xuất, điển hình nhưcác hợp tác xã Thiết Sơn, Huyền Thủy (Thạch Hóa), Xuân Canh (Thuận Hóa),Đồng Lâm (Đức Hóa), Đại Sơn (Đồng Hóa), Thanh Lạng, Thanh Thạch (ThanhHóa)

Chăn nuôi tiếp tục phát triển, tổng đàn gia súc tăng bình quân 2,7%/năm.Huyện đã chỉ đạo thành lập, mở rộng thêm nhiều trang trại chăn nuôi mới, duytrì, củng cố đàn gia súc tập thể của các hợp tác xã, vừa cung cấp phân bón, vừacung cấp sức kéo phục vụ cho nông nghiệp phát triển Kết quả phát triển chănnuôi đã đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, tăng thêm sản phẩm hàng hóa, tạonguồn thực phẩm quan trọng, phục vụ nhu cầu trên địa bàn toàn huyện và cóxuất khẩu

Trang 29

Sản xuất lâm nghiệp đã đạt nhiều kết quả trong việc khai thác, thu muacác loại lâm sản Công ty lâm sản huyện thành lập và mua sắm thêm các thiết bị

xe máy, công cụ khai thác; củng cố lại tổ chức bộ máy cơ quan lâm trường vàcác đội sơn tràng Công tác trồng và bảo vệ rừng được chú ý Bình quân mỗinăm trồng mới 350 ha rừng tập trung, hàng triệu cây phân tán, hình thành cácđồi trẩu, vùng trẩu, mở thêm nhiều hướng phủ kín đồi trọc Kinh tế vườn đồi,vườn rừng, vườn lèn bước đầu phát triển đưa lại hiệu quả kinh tế rõ rệt Tuynhiên, bên cạnh kết quả đạt được, lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp vẫn cònbộc lộ một số yếu kém Hiệu quả của việc kết hợp sản xuất nông, lâm nghiệpchưa rõ nét Công tác bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên chưa tốt, một

số khu rừng bị khai thác kiệt quệ, gây tác hại đến môi trường và đất sản xuất,công trình thủy lợi; hiện tượng xói mòn ngày càng nhiều Sự đổi mới trong sảnxuất nông nghiệp còn hạn chế Nhiều nơi vẫn còn tình trạng sản xuất độc canh,quảng canh; nhiều vướng mắc trong sản xuất nông nghiệp chưa được tháo gỡ,nhân dân không hào hứng lao động; sản xuất giảm sút, chế biến màu còn yếu.Măc dù tổng sản lượng lương thực tăng nhưng lương thực sản xuất tại chỗ tăngkhông đáng kể, bình quân lương thực đầu người nhiều nơi giảm Sản xuất côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp có sự phát triển đi lên đúng hướng Đã tập trungmột khối lượng lớn vật tư và công sức đầu tư cho công trình thủy điện Khe Rônsớm hoàn thành đưa vào sử dụng Xí nghiệp Giấy Đồng Lào được hình thành và

đi vào sản xuất Xí nghiệp Cơ khí được tăng cường thêm máy móc, phương tiện,

mở rộng quy mô sản xuất, mở ra hướng liên kết giữa các xí nghiệp quốc doanhtrên địa bàn để mở rộng công nghiệp chế biến nông, lâm sản Các cơ sở xay xát,chế biến lương thực, thực phẩm, bánh kẹo, sản xuất và chế biến dược liệu, maymặc từng bước góp phần đáp ứng nhu cầu trên địa bàn Thủ công nghiệp trongcác hợp tác xã được duy trì và phát triển Một số cơ sở gạch ngói hoạt động tốtmang lại hiệu quả kinh tế như Nam Phong, Minh Cầm, Thiết Sơn Hợp tác xãThanh Thạch và Thuận Tiến đã biết sử dụng triệt để nguồn lao động và nguyênliệu sẵn có để sản xuất hàng mây, tre đan xuất khẩu, tăng thêm thu nhập chongười dân Tuy nhiên, do đặc thù của một huyện miền núi, điều kiện còn gặp

Trang 30

nhiều khó khăn nên sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vẫn còn trongtình trạng nhỏ lẻ, manh mún, chưa sử dụng tốt các thành phần kinh tế ngoàiquốc doanh Mối quan hệ hỗ trợ giữa nông nghiệp và công nghiệp còn yếu,nhiều tiềm năng và khả năng để phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thônchưa được tổ chức và sử dụng để phục vụ cho sản xuất và đời sống.

Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, phát huy tinhthần tự lực, tự cường, huyện đã huy động và tập trung nguồn vốn, vật tư, laođộng, xây dựng một số công trình trọng điểm như thủy điện, mua sắm một sốmáy móc, thiết bị để sản xuất Bình quân hằng năm đã vận chuyển trên 1,5 triệutấn hàng và 3 vạn hành khách Trong tình hình khó khăn của Huyện, các ngành

đã tranh thủ sự giúp đỡ của cấp trên, tích cực tạo thêm cơ sở vật chất, nhà ở, nhàlàm việc trên địa bàn Các cơ sở xã, hợp tác xã cũng đã nêu cao tinh thần tự lực,

tự cường để xây dựng các công trình phúc lợi ở địa phương như trường học,đường giao thông nông thôn, thủy lợi Kết quả là trong hai năm, toàn huyện đãđầu tư xây dựng cơ bản với số tiền là 737 triệu đồng Tuy nhiên, việc quản lý vật

tư, tiền vốn trong xây dựng cơ bản nhiều nơi thực hiện vẫn chưa tốt Một số địaphương còn mang nặng tư tưởng bao cấp, ỷ lại, việc củng cố, tăng cường cơ sởvật chất - kỹ thuật phục vụ cho sản xuất và đời sống còn yếu

Việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong các xí nghiệp quốc doanh vàhợp tác xã nông nghiệp được tổ chức thực hiện bước đầu có hiệu quả Trong các

xí nghiệp quốc doanh đã khắc phục được tư tưởng ỷ lại, trông chờ, bao cấp, pháthuy tính tự chủ trong hạch toán kinh doanh, từng bước gắn kế hoạch với thịtrường, làm ăn có lãi Một số công ty, xí nghiệp đã phát huy tính năng động,sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm, mở rộng liên doanh, liên kết để kinh doanhtổng hợp, đa dạng hóa các sản phẩm Điển hình như Công ty dược phẩm vừa mởrộng việc thu mua, chế biến dược liệu, sản xuất các loại rượu bổ, cao mềm, vừa

mở rộng liên kết ngoại tỉnh để tạo năng lực sản xuất, tăng thêm tích lũy cho xínghiệp, đảm bảo việc làm cho công nhân lao động Xí nghiệp Cơ khí đã biết tìmkiếm nguồn vật tư, nguyên nhiên liệu phục vụ cho hoạt động của xí nghiệp đảmbảo liên tục, phục vụ nhu cầu đa dạng của xã hội

Trang 31

Trong nông nghiệp, việc thực hiện cơ chế khoán mới đã khơi dậy nhiềutiềm năng phong phú ở nông thôn Xã viên phấn khởi lao động mở rộng thêmdiện tích, tăng cường thâm canh trên ruộng khoán Bộ máy quản lý giảm nhiều,đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong quản lý, đảm bảo quyền tự chủ của ngườisản xuất Công tác định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số được địnhhướng, các hợp tác xã làm mới đường giao thông, thủy lợi, san ủi mặt bằng, xâythêm trường học, thành lập tổ công tác và chi bộ đảng chuyên trách công tác dântộc Một số xã vùng cao như Lâm Hóa trong hai năm 1987 - 1988 đã huy độngsức dân làm thủy lợi, khai hoang tăng diện tích lúa nước từ 6 lên 10 ha; liêndoanh, liên kết giữa các công ty ngoại thương huyện, Công ty Ngoại thương thị

xã Đồng Hới, Xí nghiệp Giấy và Công ty Lâm sản khai thác xuất khẩu trên80.000 sợi song mây, 2.100 kg đót khô, hàng vạn cây lồ ô, nứa làm chân hương

và 200 tấn sắt thép phế liệu, đưa giá trị xuất khẩu từ 184 nghìn đồng năm 1986lên 42 triệu đồng năm 1988, đưa bình quân xuất khẩu đầu người từ 200 đồng lên46.000 đồng

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cơ chế quản lý mới, một số cơ sở còn

áp dụng rập khuôn, máy móc ở khu vực nông thôn, tư tưởng bảo thủ, trì trệ baocấp vẫn còn mang nặng, việc tiếp nhận thông tin chậm nên có nhiều hạn chếtrong quản lý tài vụ hợp tác xã nông nghiệp, lúng túng trong việc áp dụng cơ chếthị trường vào thực tế địa phương

Hoạt động phân phối, lưu thông bước đầu có những chuyển biến tốt; đãbiết tìm cách nắm nguồn hàng, nguồn tiền để kinh doanh, phục vụ sản xuất vàđời sống Trong hai năm tổng giá trị hàng hóa vật tư địa phương chiếm 30%,giải quyết được nhu cầu cơ bản của nhân dân về các mặt hàng thiết yếu như gạo,muối, hàng tiêu dùng Hoạt động tài chính - ngân hàng đã bám sát các nguồnthu, đảm bảo ngân sách và tiền mặt cho nhu cầu cần thiết và trả lương kịp thờicho cán bộ, công nhân, viên chức trên toàn huyện Một số đơn vị đã nỗ lực vươnlên làm ăn có hiệu qủa Công ty Ngoại thương huyện đã khai thác các nguồnhàng địa phương, liên kết với các huyện bạn để xuất khẩu Bình quân hằng nămthu về cho huyện trên 400 nghìn rúp ngoại tệ, nhập về một số lượng lớn lương

Trang 32

thực, vật tư và nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, phục vụ nhu cầu cho nhândân, góp phần quan trọng cân đối tiền, hàng trên địa bàn Tuy nhiên, do địa bàncách trở, giao thông đi lại khó khăn, mậu dịch quốc doanh chưa xuống tận cơ sở,trong lúc đó mạng lưới hợp tác xã mua bán còn hạn chế nên lưu thông hàng hóanhiều nơi còn ách tắc Nhiều loại vật tư, hàng hóa đưa về trên địa bàn nhưngphân phối không đồng đều, một số sản phẩm do nông dân làm ra không tiêu thụđược Do tư tưởng bao cấp, ỷ lại còn khá nặng nên ở một số nơi, công tác dịch

vụ phục vụ sản xuất và đời sống không được quan tâm Việc quản lý thị trường

có nơi còn lỏng lẻo, thiếu sự kiểm soát, thao túng tư thương Việc tổ chức xâydựng các nguồn thu ngân sách xã vẫn còn yếu, phần lớn chỉ tiêu tài chính củacác xã còn phụ thuộc vào bao cấp, tình hình đó gây cản trở không nhỏ cho hoạtđộng kinh tế - xã hội ở nông thôn

2.2 Tình hình kinh tế huyện Tuyên Hóa từ khi chia tách huyện năm 1990 đến năm 2018

2.2.1 Kinh tế huyện Tuyên Hóa giai đoạn 1990 - 1995

Trong gần 14 năm hợp nhất, nhân dân Tuyên Hóa đã đạt được nhữngthành tựu cơ bản trong phát triển kinh tế, tuy nhiên do địa bàn rộng, địa hình chủyếu là rừng núi, giao thông đi lại khó khăn, yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao nêncông tác lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền vẫncòn những hạn chế, thiếu sót nhất định Trên cơ sở đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủyQuảng Bình đã ban hành Chỉ thị số 11-CT/TU ngày 25-5-1990, về việc chỉ đạohuyện Tuyên Hóa thực hiện chia tách huyện Trước nguyện vọng của Đảng bộ

và nhân dân Tuyên Hóa, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định

số 190/HĐBT ngày 1-6-1990 chấp nhận kiến nghị của Hội đồng nhân dân huyệnTuyên Hóa về việc chia huyện Tuyên Hóa thành hai huyện Tuyên Hóa và MinhHóa, chuyển 6 xã Văn Hóa, Châu Hóa, Tiến Hóa, Mai Hóa, Cao Quảng, NgưHóa thuộc huyện Quảng Trạch về lại huyện Tuyên Hóa

Sau khi được tái lập, huyện Tuyên Hóa có 16 xã, trong đó có 10 xã trung

du, 6 xã miền núi Diện tích tự nhiên là 115.815 ha, chủ yếu là rừng núi, đấtnông nghiệp ít nhưng phù hợp với nhiều loại cây trồng Dân số toàn huyện là

Trang 33

65.931 người, địa hình dân cư phân bố chủ yếu dọc theo hai bên bờ sông Gianh,đất canh tác khá tốt, luôn được bồi đắp bởi phù sa hằng năm Từ những đặcđiểm, tình hình thực tế của huyện, trên cơ sở điều kiện địa hình, đặc điểm thổnhưỡng, địa lý, dân cư, tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, Ban Chấp hànhĐảng bộ đã thống nhất xác định huyện có bốn vùng kinh tế để có sự đầu tư đúnghướng.

“+ Vùng 1: Gồm 3 xã: Thanh Hóa, Hương Hóa, Lâm Hóa, xác định cơcấu kinh tế chủ yếu là lâm - nông nghiệp

+ Vùng 2: Gồm 4 xã: Kim Hóa, Lê Hóa, Thuận Hóa, Đồng Hóa, xác định

cơ cấu kinh tế chủ yêu là nông - lâm - công nghiệp

+ Vùng 3: Gồm 7 xã: Thạch Hóa, Đức Hóa, Phong Hóa, Mai Hóa, TiếnHóa, Châu Hóa, Văn Hóa xác định cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông - lâm - côngnghiệp, trong đó nông nghiệp đẩy mạnh phát triển toàn diện, tập trung thâmcanh lúa, ngô, phát triển các loại cây công nghiệp và cây thực phẩm như lạc, ớt,dâu tằm, dưa hấu, đậu các loại, phát triển mạnh kinh tế vườn đồi và chăn nuôigia đình

+ Vùng 4: Gồm 2 xã: Ngư Hóa và Cao Quảng, xác định cơ cấu kinh tếchủ yếu là cây công nghiệp và chăn nuôi đại gia súc.”

Để ổn định phát triển kinh tế, huyện chủ trương tập trung vào ba chươngtrình kinh tế lớn: lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Đặcbiệt ưu tiên mọi cơ sở vật chất, mọi lực lượng cho chương trình trọng điểmlương thực, thực phẩm, tuy nhiên phải đẩy mạnh sản xuất trên cơ sở xác định cơcấu kinh tế của huyện là nông - lâm - công nghiệp với phương châm kết hợpnông - lâm nghiệp chặt chẽ để phát triển nông nghiệp toàn diện Giải quyếtlương thực bằng nhiều cách, vừa sản xuất tại chỗ vừa đối lưu bằng sản phẩmlàm ra từ cây công nghiệp, lâm nghiệp để đảm bảo lương thực cho nhân dân,từng bước giải quyết khó khăn về lương thực, thực phẩm, đồng thời tạo nguồnvốn trên địa bàn để phục vụ trở lại cho sản xuất nông - lâm - công nghiệp, giaothông, vận tải, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh

Trang 34

2.2.1.1.Nông - Lâm - Ngư nghiệp

Về nông nghiệp, với chủ trương phát triển nông nghiệp toàn diện theohướng thâm canh là chính, đồng thời đẩy mạnh các loại cây công nghiệp (lạc, ớt,dâu tằm, tiêu, dứa, cà phê) trồng thêm cây thực phẩm, cây ăn quả để mở rộngmối quan hệ kinh tế và trao đổi hàng hoá Tận dụng triệt để diện tích lúa nước,phát triển trồng hoa màu những nơi có điều kiện, chuyển đổi cây trồng một cáchhợp lý, bao gồm cả những nơi có năng suất thấp Chú trọng phát triển chăn nuôi

hộ gia đình, mở rộng liên doanh để phát triển đàn bò, lai tạo giống bò, giống lợn

Về lâm nghiệp, chủ trương lúc bấy giờ là tập trung chăm sóc và tiến hànhgiao đất, giao rừng cho từng hợp tác xã và hộ gia đình, đồng thời xác định lại trữlượng gỗ và các loại lâm sản như song, mây để có kế hoạch khai thác hợp lý.Ngoài ra, đẩy mạnh việc trồng rừng ở các vùng đồi núi để cải tạo môi sinh, môitrường và phòng chống bão lụt

Với việc đề ra những chính sách phát triển như vậy, trong lĩnh vực nông lâm - thủy sản giai đoạn 1991 - 1995, huyện Tuyên Hóa đã thành công trong tạotiền đề cho việc thực hiện chiến lược ổn định và phát triển đời sống người dântrong những năm tiếp theo

-Trong giai đoạn 5 năm 1991 - 1995, với việc triển khai thực hiện Nghịquyết Trung ương 5 về đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và Nghịđịnh số 64/CP của Chính phủ về giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộnông dân đã tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển đúng hướng.Tổng sản lượng lương thực hàng năm đều tăng trưởng khá, từ 10.389 tấn năm

1991 lên 11.508 tấn năm 1995 Tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp tăng bìnhquân hàng năm 11,6% Chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá nước ngọt và trồngdâu nuôi tằm đều phát triển tốt Tổng đàn gia súc 35.000 con năm 1991 tăng lên45.000 con năm 1995 Việc mở rộng các mô hình nuôi trồng cây, con như nuôi

cá bè trên sông, nuôi dê, trồng dâu nuôi tằm bước đầu đạt kết quả khả quan, gópphần tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân

Trang 35

2.2.1.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cácngành nghề và thành phần kinh tế tư nhân phát triển đa dạng, góp phần tạo thêmviệc làm và tăng sản phẩm cho xã hội Trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,tập trung vào chế biến nông, lâm sản, sản xuất các loại vật liệu xây dựng, pháttriển các ngành nghề thủ công truyền thống (mộc, rèn, đan lát), hoàn thành sớmviệc lắp đặt Tổ máy số 1 Thủy điện Khe Rôn để đưa điện về phục vụ cho sảnxuất, đời sống trên khu vực Đồng Lê Hướng lâu dài là đầu tư đưa điện lướiquốc gia từ Ba Đồn lên Minh Cầm - Đồng Lê phục vụ cho sản xuất công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp vàđời sống nhân dân trên địa bàn

Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 1991 - 1995 đã từngbước vượt qua khó khăn, thử thách của quá trình chuyển đổi cơ chế và đang dần

đi vào thế ổn định, phát triển Để từng bước thực hiện sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, hệ thống đường điện 35kV Ba Đồn - Minh Cầm vàMinh Cầm - Đồng Lê cơ bản đã hoàn thành Sản xuất tiểu thủ công nghiệp cóchiều hướng phát triển mạnh trong kinh tế hộ tư nhân…Giá trị tổng sản lượngcông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 1992 - 1995 tăng bình quân hằngnăm đạt 13,2%

2.2.1.3 Thương mại, dịch vụ

Công tác thương mại dịch vụ ở đầu năm 1990 sau khi chia tách huyện cònyếu, sản xuất chưa gắn với thị trường, còn nặng tính chất sản xuất tự cấp, tự túc,chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường Đến năm 1991,các hoạt động phân phối, lưu thông hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn phát triển.Công ty Thương nghiệp và Hợp tác xã Mua bán đã có những chuyển hướng hoạtđộng phù hợp với cơ chế thị trường Công ty Thương nghiệp đã mua vào 450triệu, đạt 110% kế hoạch, bán ra 400 triệu, đạt 100% kế hoạch và nộp ngân sách

6 triệu đồng (75% kế hoạch) Hợp tác xã Mua bán sau khi tái lập huyện là mộtđơn vị có nợ lớn, đã từng bước phấn đấu kinh doanh có lãi và đóng góp mộtphần vào ngân sách Nhà nước Riêng Hợp tác xã Mua bán đạt doanh số mua vào

300 triệu đồng, đạt 300% kế hoạch và bán ra 350 triệu, đạt 292% kế hoạch, nộp

Trang 36

ngân sách gần 5 triệu đồng Các hoạt động ngân hàng tín dụng được chú ý đầu

tư, số tiền ngân hàng cho vay trong năm đạt doanh số gần 4 tỉ đồng, các nguồnvốn cho vay chủ yếu phục vụ nhu cầu phát triển sản xuất và thu mua các mặthàng chiến lược Doanh số thu nợ trong năm trên 3,3 tỉ đồng, dư nợ cuối nămgần 1,8 tỉ đồng Tuy nhiên, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ lưu thông hàng hóacòn yếu, chưa khai thác được tiềm năng và khả năng lao động sản xuất trên địabàn

Trong những năm tiếp theo 1992 - 1995, cùng với sự chuyển dịch và pháttriển kinh tế, hoạt động của ngân hàng cho vay phát triển kinh tế cũng có nhữngchuyển biến tích cực Hoạt động ngân hàng không ngừng đổi mới để thích ứngvới cơ chế mới, công tác kinh doanh và phục vụ của ngân hàng từng bước đápứng sự phát triển của kinh tế - xã hội trên địa bàn Việc vay vốn để phát triểnkinh tế có hiệu quả và thanh toán đúng hạn.Trong 5 năm, các hộ gia đình đã vaytrên 15 tỉ đồng phục vụ cho sản xuất, kinh doanh đã mang lại hiệu quả thiếtthực

2.2.2 Kinh tế huyện Tuyên Hóa giai đoạn 1996 - 2000

Tại Đại hội Đảng bộ huyện Tuyên Hóa lần thứ XVI, nhiệm kỳ 1996 - 2000,

từ đặc điểm, tình hình địa phương và Đảng bộ tỉnh trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đại hội đã đề ra mục tiêu tổng quát của kếhoạch 5 năm 1996 - 2000 về kinh tế là: Đẩy mạnh tốc độ và tăng trưởng kinh tếtheo hướng cơ cấu kinh tế nông - lâm - công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - dịch

vụ Tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa Ổn định sản xuất lương thực, tăng nhanh sản phẩm hàng hóa từ chăn nuôi

và các loại cây công nghiệp Đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật vàtích cực ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào các lĩnh vực sản xuất,kinh doanh trên địa bàn huyện

“Trên cơ sở mục tiêu tổng quát, Đại hội đã thống nhất các chỉ tiêu cụ thể trong kế hoạch 5 năm 1996 - 2000 là: Tổng sản phẩm xã hội (GDP) tăng bình quân hằng năm đạt 15 - 20%, tổng sản phẩm lương thực ổn định từ 14.000 tấn đến 15.000 tấn Tổng đàn gia súc tăng bình quân hằng năm 6%, trồng rừng tập

Trang 37

trung 2.000 ha Giá trị sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân hằng năm đạt 20 - 25%.” [5, 280].

2.2.2.1 Nông - Lâm nghiệp

Với chủ trương tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đưa lạihiệu quả cao nhất trên một đơn vị diện tích đất đai Có kế hoạch chủ động đưakhoa học - kỹ thuật tác động vào quá trình sản xuất Hướng phát triển lâmnghiệp trong thời gian tới là khoanh nuôi, bảo vệ, chăm sóc rừng hiện có, đẩymạnh phong trào trồng cây để từng bước phủ xanh đất trống, đồi núi trọc Chấmdứt tình trạng khai thác rừng bừa bãi làm kiệt quệ tài nguyên rừng

Trên cơ sở đó, mặc dù chịu nhiều biến động bất thường và khó khăn củathiên tai thời tiết, dịch bệnh, huyện Tuyên Hóa vẫn đạt được những kết quả quantrọng trong phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp

Trong giai đoạn 5 năm 1996 - 2000, tổng sản lượng lương thực hàng năm

có sự biến đổi mạnh, từ 10.973 tấn năm 1996 xuống 7.685 tấn vào năm 1998,sau đó tăng lên 13.124 tấn năm 2000 Chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá nướcngọt và trồng dâu nuôi tằm đều phát triển tốt Tổng đàn gia súc 47.100 con năm

1996 tăng lên 51.500 con năm 2000 Các mô hình đa dạng hóa các loại câytrồng, vật nuôi như nuôi cá bè trên sông, nuôi dê, trồng dâu nuôi tằm, trồng cácloại cây các loại cây công nghiệp vẫn được duy trì và phát triển tốt, đem lại thunhập ổn định chonhân dân

2.2.2.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, toàn huyện xác địnhchủ trương sản xuất khai thác vật liệu xây dựng và chế biến nông, lâm sản vẫn làchủ yếu Khuyến khích các cơ sở mở rộng dịch vụ chế biến nông, lâm sản nhằmđáp ứng tại chỗ nhu cầu cần thiết

Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 1996 - 2000 đã cónhững bước tiến mạnh mẽ Sản xuất tiểu thủ công nghiệp có chiều hướng pháttriển mạnh trong các thành phần kinh tế Giá trị tổng sản lượng công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp giai đoạn 1996 - 2000 tăng bình quân hằng năm đạt 23,13%

2.2.2.3 Thương mại, dịch vụ

Trang 38

Hoạt động thương mại, dịch vụ trong giai đoạn 1996 - 2000 về cơ bản đãtừng bước đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân Hàng hóa lưu thôngtrên thị trường ngày càng tăng về số lượng, đảm bảo về chất lượng, từng bướcđáp ứng nhu cầu về sản xuất và đời sống của nhân dân Hoạt động tài chính, tiền

tệ, thương mại, dịch vụ ổn định, phát triển lành mạnh, hỗ trợ tích cực cho sảnxuất kinh doanh và đời sống nhân dân

2.2.3 Kinh tế huyện Tuyên Hóa giai đoạn 2001 - 2005

“Kinh tế tiếp tục ổn định và tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7,5%/năm, đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XVII đề ra Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng và có nhiều tiến bộ Tỷ trọng Nông - Lâm - Ngư nghiệp giảm từ 49% năm 2000 xuống 43% năm 2005; Tỷ trọng Công nghiệp - Xây dựng tăng từ 14% năm 2000 lên 19% năm 2005; Tỷ trọng dịch vụ tăng từ 37% năm 2000 lên 38% năm 2005.”[2,6]

Tuy nhiên, kinh tế tăng trưởng khá nhưng chưa vững chắc: Quá trình thựchiện 4 chương trình kinh tế trọng điểm của tỉnh và 3 chương trình kinh tế trọngđiểm của huyện đạt hiệu quả còn thấp, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm,

tỷ trọng giá trị chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp còn thấp, chưatương xứng với thế mạnh của huyện

2.2.3.1 Nông - Lâm - Ngư nghiệp

Toàn huyện đã tập trung triển khai chương trình “chuyển dịch cơ cấu kinh

tế trong nông nghiệp”, chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, mở rộngdiện tích canh tác, đầu tư thâm canh, tăng vụ, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỷthuật vào sản xuất nông nghiệp, đưa các loại giống mới có năng suất cao vào sảnxuất đại trà nên năng suất, sản lượng cây trồng hàng năm đều tăng Tổng sảnlượng lương thực năm 2000: 11.460 tấn, năm 2004 đạt: 15.283 tấn, năm 2005ước đạt gần 14.000 tấn (Nghị quyết Đại hội XVII đề ra: 14.500 tấn - 15.000tấn); bình quân lương thực đầu người: 190 kg/năm Việc trồng dâu nuôi tằm tiếptục phát triển, diện tích dâu từ 45,5ha năm 2000 lên 108 ha năm 2005, sản lượngkén từ 14,5 tấn năm 2000 lên 20 tấn năm 2005

Trang 39

Chăn nuôi tiếp tục phát triển cả số lượng, chất lượng Đến nay toàn huyện

đã trồng được gần 50 ha cỏ phục vụ chăn nuôi Tổng đàn gia súc tăng từ 49.121con năm 2000 lên 55.000 con năm 2005 (Nghị quyết Đại hội XVII đề ra: 55.000con) Tổng đàn gia súc tăng bình quân hàng năm 2,3% Chương trình “sind hoáđàn bò”, “nạc hoá đàn lợn” được chú trọng; đàn bò lai sind từ 32 con năm 2000đến nay đã có 738 con, chiếm tỷ lệ 4,4% tổng đàn; tỷ lệ nạc hoá đàn lợn đạt 83%tổng đàn Chăn nuôi dê, nuôi Ong lấy mật tăng khá, đàn dê từ 500 con năm 2000lên 1.500 con năm 2005, đàn Ong từ 930 đàn năm 2000, lên 1.400 đàn năm

2005 Nuôi cá ao hồ và cá lồng trên sông đã có chuyển biến tích cực Năm 2000

có 500 lồng, năm 2005 có 710 lồng; Diện tích nuôi cá ao hồ từ 23 ha năm 2000lên 37 ha năm 2005; sản lượng thủy sản thu hoạch hàng năm đạt 450 - 500 tấn,tốc độ tăng 20,1%/ năm Kinh tế trang trại, kinh tế vườn hộ tiếp tục phát triển,nhiều hộ gia đình đã nhận đất, nhận rừng, nhận ao hồ để tổ chức sản xuất kinhdoanh Toàn huyện có 6 mô hình kinh tế trang trại, hàng trăm mô hình kinh tếvườn hộ đang phát triển tốt, có nhiều mô hình trồng cây ăn quả đã cho thu nhập

từ 30 triệu đến 100 triệu đồng/năm

Công tác quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi, chăm sóc rừng trồng và rừng tựnhiên được chú trọng Trong 5 năm đã trồng được 1.027 ha rừng tập trung, đưatổng diện tích rừng trồng lên 2.480 ha, hàng năm đã trồng 25.000 cây phân tán,nâng độ che phủ của rừng từ 55% năm 2000, lên 68% năm 2005

Tuy nhiên, việc chăm sóc và bảo vệ cây trồng còn yếu, nhất là chăm sócbảo vệ và trồng mới cao su; Công tác giao đất, giao rừng và việc sử dụng đấtđược giao chưa phát huy tốt hiệu quả Tình trạng khai thác, buôn bán lâm sảntrái phép, vi phạm luật đất đai vẫn còn xảy ra

2.2.3.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Đã tập trung xây dựng và triển khai thực hiện chương trình phát triển tiểuthủ công nghiệp và ngành nghề mới ở nông thôn Đẩy mạnh sản xuất hàng mâytre đan, ươm tơ, chế biến song mây, chổi đót…tạo điều kiện giải quyết việc làm,tăng thu nhập cho người lao động

Trang 40

Nhiều công trình mới trên địa bàn đã được đầu tư xây dựng: nhà máy ximăng sông Gianh công suất 1,4 triệu tấn/năm, thuỷ điện Hố Hô công suất13MW, nhà máy gạch Tuy nen 7 triệu viên/năm và một số công trình khác, đãgóp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn phát triển.

Việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trên các lĩnh vực đã có chuyểnbiến tốt Công tác bảo vệ môi trường có nhiều tiến bộ, đã tăng cường công tácquản lý đất đai trên địa bàn Các nguồn tài nguyên như đá vôi, cát sạn, các mỏđất sét, các mỏ khoáng sản, đã được đưa vào quy hoạch quản lý và khai thác cóhiệu quả, đảm bảo môi trường sinh thái Hệ thống nước sinh hoạt tiếp tục đượcnâng cấp, tỷ lệ hộ dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh toàn huyện đạt 60%

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, thì chỉ đạo phát triển tiểuthủ công nghiệp và ngành nghề mới ở nông thôn còn chậm, chỉ tiêu đề ra hàngnăm mỗi xã, thị trấn có một nghề mới nhiều xã chưa thực hiện được

2.2.3.3 Thương mại, dịch vụ

Hoạt động dịch vụ tiếp tục phát triển mạnh: Hàng hoá lưu thông trên thịtrường ngày càng phong phú, đa dạng, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất và tiêudùng của xã hội Hệ thống chợ nông thôn được đầu tư xây dựng, phát triển từ 16chợ năm 2000, lên 21 chợ năm 2005

Thành phần kinh tế tư nhân và cá thể toàn huyện có 1.270 cơ sở chiếm tỷtrọng 90% thị trường bán lẻ Tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội năm 2000: 64,7

tỷ đồng, năm 2005: 120 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm 13,1% (Nghị quyếtĐại hội XVII đề ra: 13%)

Dịch vụ vận tải tiếp tục phát triển, đáp ứng nhu cầu vận chuyển và đi lạicủa nhân dân Đến nay toàn huyện có 363 phương tiện vận tải, thu hút 455 laođộng Từ năm 2000 - 2005 tổng mức luân chuyển hàng hoá bình quân hàng nămtăng 17,1%, luân chuyển hành khách tăng 32,1%

Dịch vụ điện lực phát triển khá, lưới điện quốc gia đã được đưa về tất cảcác xã trong huyện từ năm 2003, đảm bảo phục vụ sản xuất và sinh hoạt củanhân dân; toàn huyện có 16 Hợp tác xã dịch vụ điện, sản lượng điện tiêu thụhàng năm 5 triệu KW/h đạt doanh thu trên 3 tỷ đồng/năm

Ngày đăng: 16/06/2019, 21:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w