Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ tuổi được xác định trong pháp luậthình sự của mỗi quốc gia, mà chỉ đến độ tuổi đó trở về sau, một người thực hiện hành vi phạm tội mới có thể bị truy
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3.1 Mục đích 2
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Dự kiến các các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn 4
7 Bố cục tiểu luận 4
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 5
1.1 Khái quát về tuổi chịu trách nhiệm hình sự 5
1.1.1 Khái niệm về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự 5
1.1.2 Đặc điểm về tuổi chịu trách nhiệm hình sự 6
1.1.3 Lịch sử luật hình sự Việt Nam về tuổi chịu trách nhiệm hình sự 8
1.1.4 Cơ sở quy định tuổi trong Luật hình sự Việt Nam 14
1.2 Quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự củ pháp luật hiện hành 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 24
2.1 Thực trạng về tuổi chịu trách nhiệm hình sự 24
2.2.1 Thuận lợi 25
2.2.2 Khó khăn 26
2.3 Các kiến nghị về tuổi chịu trách nhiệm hình sự 27
2.3.1 Quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hiện nay 27
Trang 22.3.2 Nâng cao trình độ của các cán bộ làm công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu 28 2.3.3 Đào tạo đội ngũ tiến hành tố tụng đủ năng lực trình độ và chuyên môn thực hiện chức năng giải quyết vụ án 31 2.3.4 Xây dựng cơ sơ pháp lý phục vụ cho việc xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 34 KẾT LUẬN 35
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày 20 tháng 6 năm 2017 Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đôi, bổ sung năm 2017 BộluậtHình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01năm 2018, chỉnh sửa sai sót về mặt kỹ thuật cũng như sửa đổi, bổ sung nhiều quy định
để phù hợp với thực tiễn xã hội Việt Nam hiện nay Vấn đề trách nhiệm hình sự đốivới người chưa thành niên đang được dư luận xã hội hết sức quan tâm Tuy nhiên, việcxác định những giới hạn độ tuổi thích hợp, đặc biệt là độ tuổi tối thiểu chịu tráchnhiệm hình sự luôn là vấn đề khó khăn khi xây dựng chính sách hình sự ở mỗi quốcgia để phù hợp với các điều ước quốc tế đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế kháchquan của xã hội ở mỗi quốc gia cụ thể.Với quan điểm nhất quán trong việc bảo vệ trẻ
em, Nhà nước Việt Nam đã tham gia Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ emngày 20 tháng 2 năm 1990 và đã thúc đẩy việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệquyền trẻ em, trong đó, đã dành sự quan tâm đặc biệt cho đối tượng trẻ em vi phạmpháp luật, nhất là những trường hợp người chưa thành niên phạm tội
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hình
sự của mỗi quốc gia, thể hiện quan điểm của Nhà nước về cách thức xử lý người phạmtội, vừa đảm bảo trật tự an toàn cho xã hội nhưng phải đạt được mục đích bảo vệquyền con người, đặc biệt là quyền của người chưa thành niên, kể cả khi họ thực hiệnhành vi nguy hiểm cho xã hội Chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với việc truycứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên là nhằm giúp đỡ, cải tạo, giáodục để người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi trở lên nhận ra sailầm, từ đó sửa chữa những sai lầm của mình, tạo điều kiện để các họ có khả năng táihòa nhập cộng đồng
Công việc xác định tuổi của bị can, bị cáo, cũng như người bị hại còn nhiều khókhăn Ngoài ra, trong xã hội thực trạng làm giấy tờ giả, giấy tờ không thống nhất hoặckhông có giấy tờ xác minh tuổi càng phổ biến với nhiều lý do khác nhau, làm cho côngtác điều, tra truy tố và xét xử gặp nhiều khó khăn
Từ những lý luận và thực tiễn trên, người viết quyết định chọn đề tài “Tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017” làm đề tài nghiên cứu tiểu luận tốt nghiệp của nhân luật.
Trang 42 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tuổi chịu trách nhiệm là một trong những dấu hiệu quan trọng thuộc chủ thểphạm tội và đặc điểm thiết yếu thuộc về nhân thân người phạm tội Nghiên cứu tuổichịu trách nhiệm hình sự có ý nghĩa to lớn trong việc đấu tranh phòng và chống tộiphạm, dựa trên đặc điểm về tâm lý đội tuổi
Các công trình nghiên cứu khác cũng ít đề cập đến vấn đề về tuổi hay cách xácđịnh tuổi của con người trong mối quan hệ với trách nhiệm hình sự Tuy nhiên cũng có
thể kể đến một số công trình nghiên cứu như sau: Luận văn Thạc sĩ “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam” – Nguyễn Phú Bền.Tạp chí Luật học số 10/2014 “Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam.” – Phạm Văn Bầu.
Các bài viết đăng trên tạp chí có liên quan đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự như:
“Hoàn thiện quy định xóa án tính đối với người dưới 18 tuổi bị kết án trong Bộ luật Hình sự năm 2015” – Ths Phan Thị Thương Hiền;“Quyền tư pháp và vấn đề bảo vệ quyền con người của trẻ em hiện nay” – Ths Tạ Thị Thu Hương; “Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong bộ luật hình sự năm 2015” – Trần Văn Cường đã được
đăng trên Tạp chí dân chủ và pháp luật
Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu, bình luận, giải quyết những vấn đề
về mặt lý luận cũng như thực tiễn của pháp luật hình sự qua các thời kỳ Tuy nhiên, kể
từ thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 được thông qua
vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về “Tuổi chịu trách nhiệm hình sự” là một trong những điểm mới quan trọng của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi,
bổ sung năm 2017
Người viết phân tích về mặt lý luận và đánh giá thực tiễn áp dụng về những vấn
đề liên quan đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự với mục đích làm rõ nội dung và thựctiễn áp dụng theo quy định Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Nghiên cứu làm rõ một cách cơ bản và toàn diện những vấn đề lý luận và pháp lýquy định về tuổi chịu trách nhiệm theo Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sungnăm 2017 Phân tích, đánh giá thực tiễn về các đối tượng người chưa thành niên phạmtội và chứng minh đối tượng chưa thành niên trong các vụ án hình sự
Trang 53.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tuổi của người phạm tội là “thước đo” tính chất, mức độ nguy hiểm của tộiphạm, độ tuổi thực hiện tội phạm còn mang ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý tộiphạm, nó liên quan đến vấn đề có chịu trách nhiệm hình sự hay không Vì vậy, khinghiên cứu đề tài này, cần phải làm rõ một số vấn đề sau:
- Phân tích quy định về chế định tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 so với Bộ luật Hình sự năm
1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009
- Đánh giá thực tiễn chế định tuổi chịu trách nhiệm hình sự, những khó khăn, bấtcập trên cơ sở lý luận và thực tiễn
- Đưa ra giải pháp nhằm khắc phục và đề xuất nhằm hoàn thiện quy định về tuổichịu trách nhiệm hình sự
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là quy định pháp luật và lý luận, thực tiễn và liên quan đếntuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sungnăm 2017:
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu mọi trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm
rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123,
134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251,
252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa
đổi, bổ sung năm 2017
4.2 Phạm vi nghiên cứu.
Tiểu luận nghiên cứu về các chủ thể phạm tội là người từ đủ 16 tuổi trở lên vàngười từ đủ 14 đến 16 tuổi quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửađổi, bổ sung năm 2017 Đánh giá thực trạng về các vấn đề liên quan đến tuổi chịutrách nhiệm hình sự
5 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu đặc thù như: phương phápphân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh luật học, phương pháp đối chiếu và tổnghợp các tài liệu nghiên cứu có liên quan để nghiên cứu và làm rõ các vấn đề lý luận,pháp lý, thực tiễn về tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 2015, sửađổi, bổ sung năm 2017
Trang 66 Dự kiến các các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn
- Sửa đổi, bổ sung về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
- Phát hiện những điểm bất cập trong việc xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự
trong các vụ án mà người phạm tội là người chưa thành niên Những thiếu sót, hạn chếcủa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc chứng minh đối tượng phạm tội
- Nêu ra các kiến nghị, giải pháp đối với các cơ quan nhà nước làm việc liên quan
đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Trang 7CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH
NHIỆM HÌNH SỰ 1.1 Khái quát về tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1.1.1 Khái niệm về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là một trong những quy định cơ bản củaluật hình sự Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ tuổi được xác định trong pháp luậthình sự của mỗi quốc gia, mà chỉ đến độ tuổi đó trở về sau, một người thực hiện hành
vi phạm tội mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Luật hình sự của các nước dựatrên cơ sở kết quả các công trình nghiên cứu, khảo sát về tâm lý cũng như căn cứ vàochính sách hình sự của mình mà quy định tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hình sự
và tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ Mức tuổi cụ thể của tuổi bắt đầu cónăng lực trách nhiệm hình sự và tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ được xácđịnh ở mỗi nước là không giống nhau như ở Anh (Scotland) quy định từ 08 tuổi, ở Mỹ
7 tuổi, ở Hàn Quốc 12 tuổi, 1
Ở nước ta, căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm và trên cở sởtham khảo kinh nghiệm các nước khác, Nhà nước đã xác định trong Bộ luật Hình sựnăm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tuổi chịu trách nhiệm hình sự bắt đầu từ 14tuổi Tuy nhiên, họ chỉ chịu trách nhiệm hình sự về một số tội theo quy định tại Điều
12 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, còn người từ đủ 16 tuổi trởlên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm trừ trường hợp Bộ luật Hình sự năm
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có quy định khác
Quy định trên đây xuất phát từ đường lối của Nhà nước ta về xử lí các trườnghợp phạm tội của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi trở lênqua các vụ án hình sự cũng như xuất phát từ cơ sở nghiên cứu thực tiễn đấu tranhphòng chống tội phạm ở nước ta Bên cạnh việc xác định tuổi như là ngưỡng chịutrách nhiệm hình sự, tuổi cũng là yếu tố để xác định loại hoặc mức trách nhiệm mà họphải gánh chịu khi phạm tội Chính vì vậy, tuổi chịu trách nhiệm hình sự là yếu tốkhông thể thiếu trong quá trình xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mộtngười
Trên cơ sở phân tích về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như trên, có thể rút ra định
nghĩa về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ tuổi được luật hình sự quy định nhằm xác định một người phát triển đến độ tuổi đó
1 “Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Việt Nam và trên thế giới là bao nhiêu?” (http://m.boluathinhsu.com/ hoi-dap/do-tuoi-chiu-trach-nhiem-hinh-su-tai-viet-nam-va-tren-the-gioi-la-bao-nhieu_t12-c003-a75-m13.html),
truy cập ngày 8/2/2018.
Trang 8mới có thể phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc loại trách nhiệm, mức trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội do mình gây ra 2
Việc quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự có ý nghĩa rất lớn Một mặt, khẳngđịnh, chỉ ở độ tuổi nhất định người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mới bị coi
là tội phạm, đồng thời mới có khả năng thiết lập quan hệ với Nhà nước Mặt khác,thông qua việc quy định độ tuổi tối thiểu tạo ra hành lang vững chắc nhằm bảo vệquyền cho người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi trở lên khi họthực hiện tội phạm
1.1.2 Đặc điểm về tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Mỗi ngành luật có cách xác định khác nhau về độ tuổi Về nguyên tắc, khi xácđịnh tuổi chịu trách nhiệm hình sự, chúng ta cần căn cứ vào những quy định của luậthình sự mà không viện dẫn các quy định của các ngành luật khác3 Vì vấn đề độ tuổi
để xác định tư cách chủ thể là một nội dung có tính chuyên biệt, được xác định theotừng ngành luật Nên chỉ khi trong những trường hợp luật hình sự dẫn chiếu sang quyđịnh của những ngành luật khác thì chúng ta mới sử dụng cách tính tuổi của ngành luật
đó để xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Các ngành luật đều có cách xác định tuổi của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật
do mình điều chỉnh Đối với chủ thể tội phạm, luật hình sự Việt Nam xác định tuổi làtheo tuổi đủ Điều này thể hiện tại điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sungnăm 2017 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự: “người từ đủ 16 tuổi” và “người
từ đủ 14 tuổi”, đây là ngưỡng để tính tuổi tối thiểu của người phạm tội và xác địnhtrách nhiệm hình sự của người phạm tội Cách tính tuổi đủ tức là phải lấy đầy đủ ngày,tháng, năm sinhcủa người đó để tính Trong một số trường hợp đặc biệt, khi luật hình
sự dẫn chiếu sang ngành luật khác thì phải tính tuổi theo quy định của ngành luật đó.Đối với các trường hợp xác định tuổi đối với người bị buộc tội là người dưới 18tuổi ngoài những vấn đề bắt buộc phải chứng minh (ví dụ như xác định chính xácngày, tháng, năm sinh của người phạm tội) đối với các vụ án hình sự nói chung, thì cầnphải xem xét những yếu tố sau đây:
Tuổi, mức độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành viphạm tội của người dưới 18 tuổi Việc xác định tuổi của bị cáo chưa thành niên đặcbiệt quan trọng vì đây là căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự của người phạm tội, cũngnhư việc xác định trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về
2 Trần Thị Hoàng Lan (năm 2012), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Khoa luật Đại học Quốc Gia Hà Nội, trang 10.
3 Trần Thị Hoàng Lan (năm 2012), tlđd (2), trang 11.
Trang 9hành vi phạm tội giúp người tiến hành tố tụng đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểmcho xã hội do hành vi phạm tội của người chưa thành niên gây ra để có thể áp dụngbiện pháp tư pháp hay hình phạt thích hợp, bảo đảm chế độ thi hành án theo quy địnhcủa pháp luật.4
Điều kiện sinh sống và giáo dục: Hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổithường bắt nguồn từ điều kiện sống và môi trường giáo dục trong gia đình, nhà trường,
xã hội Cho nên, làm rõ yếu tố ngày cũng góp phần nhằm giúp xác định khả năng cảitạo và giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội, đồng thời cũng có thể giúp cho việc xácđịnh nguyên nhân và điều kiện phạm tội để có thể đưa ra những biện pháp phòng ngừathích hợp Khoa học đã chứng minh con người chịu ảnh hưởng qua lại của tác độngxung quanh, hành vi phạm tội không phải ngẫu nhiên hình thành, nó phát sinh khôngphải từ chính môi trường, chính bản thân người đó mà do sự tác động qua lại giữa môitrường và cá nhân người đó, thể hiện rõ rệt, đó là: điều kiện sinh sống của gia đình,cách ứng xử của cha mẹ, những người thân trong gia đình, điều kiện học tập và sinhhoạt ở nhà trường, đoàn thể, nơi làm việc, nơi cư trú
Có hay không người trên 18 tuổi xúi giục: Việc xác định có hay không người trên
18 tuổi xúi giục cũng như nguyên nhân và điều kiện phạm tội là những vấn đề quantrọng, làm cơ sở cho việc đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạmtội của người dưới 18 tuổi đã thực hiện, từ đó đề ra những biên pháp hữu hiệu ngănchặn tái phạm
Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội: Việc người dưới 18 tuổi phạm tội
là một hiện tượng đang tồn tại trong xã hội Hiện tượng này không phải ngẫu nhiênxuất hiện mà bao giờ cũng có nguyên nhân và điều kiện dẫn đến nó Chúng ta muốnđấu tranh phòng, chống tội phạm và đề ra những biện pháp khắc phục, ngăn ngừa cóhiệu quả thì phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân và điều kiện dẫn đến việc họ thực hiện hành
vi phạm tội
1.1.3 Lịch sử luật hình sự Việt Nam về tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1.1.3.1 Giai đoạn khi có Bộ luật Hình sự năm 1985 đến trước khi có Bộ luật
Hình sự năm 1999
Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội khóa VII kỳ họp thứ 9 thông qua ngày27/6/1985 là Bộ luật hình sự đầu tiên của nước ta ra đời trên cơ sở của nền kinh tế baocấp và thực tiễn của tình hình tội phạm thời kỳ đó Bộ luật Hình sự năm 1985 với ýnghĩa là nguồn duy nhất trong đó quy định tội phạm và hình phạt Để đáp ứng và phục
4 “Thủ tục xét xử những vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,
trang 11, ( nien-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-56106/ ) truy cập ngày 8/2/2018.
Trang 10http://luanvan.net.vn/luan-van/luan-van-thu-tuc-xet-xu-nhung-vu-an-ma-bi-cao-la-nguoi-chua-thanh-vụ công cuộc đổi mới của đất nước, luật hình sự buộc phải có những thay đổi mangtính phát triển Sự phát triển này được thể hiện qua 4 lần sửa đổi, bổ sung vào các ngày28/12/1989; 12/8/1991; 22/12/1992; 10/5/1997 và là công cụ quan trọng góp phần đấutranh phòng chống tội phạm và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là một chế định quan trọng được quy định ngay tạiphần chung cùng với nhiều chế định về trách nhiệm hình sự với một số độ tuổi nhấtđịnh Trên cơ sở căn cứ khoa khọc cũng như từ thực tiễn công tác đấu tranh phòngchống tội phạm có thể nói Bộ luật Hình sự năm 1985 đã có một bước phát triển vượtbậc thể hiện trình độ cũng như kỹ thuật lập pháp của nước ta Tuổi chịu trách nhiệm
hình sự được quy định tại Điều 58: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý Người từ
đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.”
Cách tính tuổi do luật quy định là “đủ 14 tuổi” hoặc “đủ 16 tuổi”, tức là tính theotuổi tròn Thí vụ sinh từ ngày 1/1/1975 đến ngày 1/1/1989 mới đủ 14 tuổi Trongtrường hợp không có điều kiện xác định chính xác ngày sinh thì ngày sinh tính theongày cuối cùng của tháng sinh và nếu cũng không có điều kiện xác định chính xáctháng sinh thì xác định ngày sinh là 31/12/năm sinh.5
Luật cũng có sự phân biệt đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý Do đó,hành vi nguy hiểm do vô ý thì người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi khôngphải chịu trách nhiệm hình sự Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải thì chịu trách nhiệmhình sự về mọi tội phạm
Khoản 2 điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1985 cũng quy định: “Tội phạmnghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất củakhung hình phạt đối với tội ấy là trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.Những tội phạm khác là tội phạm ít nghiêm trọng.”
Nếu người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi thực hiện hành vinguy hiểm thuộc tội ít nghiêm trọng, tức là hành vi không gây nguy hại lớn cho
xã hội hoặc mức hình phạt cao nhất là đến năm năm tù thì người từ đủ 14 tuổitrở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi thực hiện hành vi đó không phải chịu trách nhiệmhình sự
Ví dụ: Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy định tạiĐiều 102 Bộ luật Hình sự năm 1985, khung hình phạt cao nhất đối với tội này là đến
5 Nghị quyết 02-HĐTP-TANDTC/QĐ Hướng dẫn áp dụng mốt số quy định của Bộ luật Hình sự của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao ngày 05 tháng 1 năm 1986
Trang 11ba năm tù Do đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có hành vi giết người do vượtquá giới hạn phòng vệ chính đáng thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Hoặc vớirất nhiều tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1985 mà người từ đủ 14tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự như: Tội xúi giục hoặc giúpngười khác tự xác (Điều 106), Tội cố ý không cứu giúp người đang trong tình trạngnguy hiểm đến tính mạng (Điều 107), Tội đe dọa giết người (Điều 108), Tội không tốgiác tội phạm (Điều 247)
Đồng thời những hành vi nguy hiểm cho xã hội do vô ý tức là trong những
trường hợp sau: “Người phạm tôi do cẩu thả mà không thấy trước khả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước Người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.” 6
Trong những trường hợp trên thì người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đếndưới 16 tuổi cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự Hành vi đó có thể cấuthành tội mà mức cao nhất của khung hình phạt có thể trên năm năm tù, có thểgây nguy hại lớn cho xã hội thì người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi cũng khôngphải chịu trách nhiệm hình sự
Ví dụ: Tội vô ý làm chết người quy định tại điều 104 Bộ luật Hình sự năm
1985, khung hình phạt cao nhất đối với tội này là mười lăm năm nhưng do hìnhthức lỗi của tội phạm này là vô ý nên người dưới 16 tuổi không phải chịu tráchnhiệm hình sự
Tóm lại, Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời là một bước ngoặt trong côngtác đấu tranh phòng chống tội phạm, từ ngày ban hành đến khi được thay thế,
Bộ luật đã qua 4 lần sửa đổi, bổ sung Tuy nhiên, tình hình kinh tế trong nướccũng như quốc tế đã qua nhiều biến đổi, một số hành vi quy định là tội phạmkhông còn phù hợp nữa, một số hành vi khác có tính nguy hiểm cao hơn cho xãhội cần phải được hình sự hóa Yêu cầu đổi mới mọi mặt về đời sống cho đấtnước đặt ra nhiệm vụ xem xét và sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1985một cách cơ bản và toàn diện nhằm kịp thời thể chế hóa chính sách của Đảng vàNhà nước trong giai đoạn phát triển mới, đảm bảo hiệu quả cao trong công cuộcđấu tranh phòng ngừa và phòng chống tội phạm
1.1.3.2 Giai đoạn khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015
6 Điều 10, Bộ luật Hình sự năm 1985.
Trang 12Bộ luật Hình sự năm 1999 được xây dựng trên cơ sở kế thừa những nội dung hợp
lý, tích cực của Bộ luật Hình sự năm 1985 Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hộikhóa X kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21-12-1999, có hiệu lực từ ngày 01-7-2000, đượcsửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Hình sự số 37/QH/12ngày 19 tháng 6 năm 2009 So với Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm
1999 có những thay đổi cơ bản mang tính tương đối toàn diện thể hiện sự phát triểnmới của Luật hình sự Việt Nam
Bộ luật Hình sự năm 1999 đưa Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định
về tuổi chịu trách nhiệm hình sự lên Điều 12 của Chương III Tội Phạm quy đinh về
tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”
Như vậy, quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với người đủ 16 tuổi trởlên, về cơ bản vẫn được giữ nguyên như quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm
1985 Đó là người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.Riêng về trách nhiệm hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì có điểmsửa đổi cơ bản là thay đổi phạm vi xử lý của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vềnhững hành vi nguy hiểm cho xã hội Trước đây, theo Bộ luật Hình sự năm 1985, quyđịnh người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự vềnhững tội phạm nghiêm trọng do cố ý Điều đó có nghĩa là những người ở lứa tuổi trênkhông phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng kể cả là vô ý
và những tội phạm nghiêm trọng do vô ý
Nếu theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1985 thì tộiphạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhấtcủa khung hình phạt đối với tội ấy là trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tửhình Các tội phạm khác là tội phạm ít nghiêm trọng7 Thì đối với trách nhiệmhình sự của người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi theo Bộ luật Hình
sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 phải chịu trách nhiệm hình sự về tộiphạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng cho dùngười phạm tội thực hiện nó với mục đích cố ý hay vô ý thì vẫn phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội phạm mà mình gây ra
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đượcquy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, tội phạm
7 Khoản 2,Điều 8, Bộ luật Hình sự năm 1985
Trang 13được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rấtnghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.8
Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mứccao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng làtội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội
ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho
xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù;tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội màmức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chungthân hoặc tử hình.9
So sánh hai quy định trên đây thì thấy Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổsung năm 2009 đã mở rộng phạm vi áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạmtội ở lứa tuổi từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi Sau khi Bộ luật Hình sự năm
1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 có hiệu lực thì người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưngchưa đủ 16 tuổi thực hiện một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng với lỗi vô ý thì vẫn phảichịu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt cao nhất là mười lăm năm tù.10
Ngoài những quy định tại Điều 12, trong phần chung của Bộ luật Hình sự năm
1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 còn chứa đựng những quy định khác bao hàm nộidung tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cụ thể về đường lối xử lý người chưa thành niênphạm tội được quy định tại chương X của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sungnăm 2009 Theo đó, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội nhằm giáo dục, giúp
đỡ, uốn nắn, sửa sai, giúp họ phát triển, hoàn thiện về nhận thức và về hành vi phù hợpvới xã hội; không áp dụng hình phạt chung thân, tử hình, hình phạt tiền, hình phạt bổsung đối với người chưa thành niên phạm tội11 Như vậy, Bộ luật Hình sự năm 1999,sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã quy định cụ thể về tuổi chịu trách nhiệm hình sự vàđồng thời quy định những vấn đề liên quan đến giảm nhẹ hình phạt đối với người từ đủ
14 tuổi trở lên đến dưới 18 tuổi phạm tội
Về cơ bản cách tính tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm
1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 là áp dụng tính tuổi đủ, tuổi tròn Trong trường hợp
có đủ điều kiện để xác định ngày, tháng, năm sinh thì tính đến ngày tháng năm sinhcủa người đó Việc xác định độ tuổi của người phạm tội thông thường dựa trên cácgiấy tờ hợp pháp như giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân Khi xét
8 Khoản 2, Điều 8, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009
9 Khoản 3, Điều 8, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
10 Khoản 3, Điều 8, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
11 Khoản 5, Điều 69,Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009
Trang 14xử các vụ án hình sự có bị cáo là người chưa thành niên, Tòa án cần phải xác địnhđúng tuổi của họ cũng như sự phát triển về thể chất, tinh thần, cũng như mức độ nhậnthức hành vi phạm tội của họ Trong trường hợp không có cơ sở để xác định tuổi của
bị cáo chưa thành niên thì tiến hành điều tra kết luận tuổi của người phạm tội theonguyên tắc quy định trong Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao,
Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội tại Điều 6 chương 2
Việc xác định tuổi của bị can, bị cáo là người chưa thành niên do cơ quantiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật Trường hợp đã áp dụngcác biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác ngày, tháng,năm sinh của bị can, bị cáo thì tuổi của họ được xác định như sau: Trường hợpxác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì trong tháng đó lấyngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh Trường hợp xác định được quýnhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuốicùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh Trường hợp xác định được nửa củanăm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của thángcuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh Trường hợp xác định đượcnăm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của thángcuối cùng đó làm ngày, tháng sinh Trường hợp không xác định được năm sinhthì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.12
1.1.3.3 Giai đoạn khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015 đến nay
Bộ luật Hình sự (Luật số 100/2015/QH13) được Quốc hội khóa XIII, kỳhọp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Bộ luật Hình số 100/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 20tháng 6 năm 2017, cả 2 luật trên có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2018 là Bộ luật Hình sự hiện hành của nước ta Về nội dung quy định về tuổichịu trách nhiệm hình sự cơ bản không thay đổi, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửađổi, bổ sung năm 2017 vẫn kế thừa những quy định của Bộ luật Hình sự năm
1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 nhưng cụ thể hơn và chi tiết hơn So sánh với
Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì Bộ luật Hình sự năm
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã có những quy định mới Nếu như theo Bộluật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định người từ đủ 14 trởlên đến dưới 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêmtrọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Thì Bộ luật Hình sự năm
12 Khoản 2, Điều 417, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Trang 152015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 lại quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ khi thỏa mãn một số điều kiện đượcquy định theo khoản 2, Điều 12 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sungnăm 2017.
Trong đó, người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu tráchnhiệm hình sự khi phạm tội rất nghiệm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc
26 tội danh, còn đối với 03 tội danh khác (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổnhại cho sức khỏe người khác; tội hiếp dâm; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản)thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự kể cả trong trường hợp phạm tội ít nghiệmtrọng hoặc tội nghiêm trọng Như vậy, riêng đối với 03 tội danh này thì phạm vichịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có mở rộnghơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 nhằm đápứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm chưa thành niên.Ngoài ra, theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành, người từ đủ 14tuổi đến dưới 16 tuổi sẽ có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợpphạm tội rất nghiêm trọng trừ tội phạm quy định tại các Điều 123, 134, 141,
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 lại quy định “người từ
đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác” Điều này có nghĩa, Bộ luật Hình sự
năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định về điều khoản loại trừ vềviệc chịu trách nhiệm hình sự đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên nếu thuộc cáctrường hợp theo quy định của Bộ luật Hình sự
Điển hình cụ thể như Điều 146 Tội dâm ô với người dưới 16 tuổi, thì Luật
đã quy định: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” Hoặc
Điều 147 Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm có quy định:
“Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” Là một trong các điều luật không thuộc “phạm vi” phạm tội của người từ
đủ 16 tuổi trở lên
Trang 16Các trường hợp này được Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Hình sự năm 2015 quy định cụ thể tại Khoản 2, Điều 91 như sau: “Người dưới
18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự
và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này; Người từ
đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của
Bộ luật này.”
Như vậy, nếu người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể được miễn tráchnhiệm hình sự trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêmtrọng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả Thayvào đó người này sẽ được áp dụng một trong các biện pháp giám sát; giáo dục
áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự
Điểm giống nhau ở 3 Bộ luật Hình sự năm 1985; Bộ luật Hình sự năm
1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sungnăm 2017 là không đề cập đến độ tuổi miễn trách nhiệm hình sự Nếu đến một
độ tuổi con người mới có khả năng nhận thức về hành vi của mình, thì theo thờigian đến một độ tuổi nhất định, sự già yếu và bệnh tật sẽ làm giảm đi trí nhớ sựminh mẫn, khả năng nhận thức cũng như điều khiển hành vi đó Do đó, nênchăng quy định về độ tuổi tối đa phải chịu trách nhiệm hình sự
1.1.4 Cơ sở quy định tuổi trong Luật hình sự Việt Nam
1.1.4.1 Tâm sinh lý học
Một người từ khi sinh ra không thể nhận thức đầy đủ về hành vi của mình Chỉkhi họ đạt đến một độ tuổi nhất định, họ mới có khả năng nhận thức đầy đủ và điềukhiển hành vi của mình Sự phát triển đó gắn liền với tâm sinh lý học ở mỗi người.Những thay đổi trong cuộc sống và hoạt động trong quá trình phát triển sẽ gây ảnhhưởng rất lớn đến nhân cách, và giá trị đạo đức ở mỗi con người
Con người phát triển qua từng giai đoạn, mỗi giai đoạn được coi như là cột mốcquan trọng của đời mình Có thể chia các giai đoạn trong sự phát triển của tâm sinh lý
ở con người như sau:
Giai đoạn tiểu học: Từ 6 tuổi đến 11 tuổi, ở giai đoạn này các em được tiếp xúc
đến những thứ mới mẻ hơn, quan hệ bạn bè, trường lớp sẽ ảnh hưởng đến một phầntrong sự hình thành tâm sinh lý ở các em Tuy nhiên, ở giai đoạn này các em chưanhận thức được nhiều hành vi mang nguy hiểm cho xã hội, mọi hoạt động điều có sự
Trang 17giám sát của các bậc phụ huynh và thầy cô giáo, những người lớn xung quanh các em.Các em chưa thực sự có thể đưa ra quyết định của riêng mình Vì những lý do trên nêntuổi chịu trách nhiệm hình sự không được quy định ở độ tuổi này
Giai đoạn trung học: Từ 12 đến 15 tuổi, đây là giai đoạn bước vài trung học cở
sở Lứa tuổi này là giai đoạn khá quan trọng, nó là sự chuyển giao giữa tuổi thơ và tuổitrưởng thành Giai đoạn này là sự phát triển mạnh về mọi mọi mặt như thể chất, trí tuệ,tình cảm, đạo đức Tuyến nội tuyết bắt đầu hoạt động mạnh (đặc biệt là tuyến giáptrạng), thường dẫn đến sự rối loạn của hoạt động thần kinh Do đó trẻ em trong độ tuổi
từ 11 đến dưới 15 tuổi thường dễ xúc động, dễ bực tức Vì thế, có thể thấy các emthường có những phản ứng gay gắt, mạnh mẽ và những cơn xúc động13 Sự phát triểncủa các em tại giai đoạn này có nhiều điểm giống các khía cạnh khác nhau của nhữngngười lớn xung quanh các em Điều này hình thành do hoàn cảnh sống, hoạt động khácnhau của các em tạo nên
Giai đoạn phổ thông: Từ 16 đến 18 tuổi, là giai đoạn phát triển về thể chất và
tâm sinh lý một cách hoàn chỉnh Mọi hoạt động của ở giai đoạn này đối với các emđều gắn liền với “trách nhiệm”, mặc dù sự phát triển ở giai đoạn này vẫn còn chịu sựgiám sát của cha mẹ hoặc người lớn xung quanh Đây là thời kỳ phát triển phức tạpnhất và cũng là thời kỳ chuẩn bị cho những bước phát triển sau này Hoạt động của họ
sẽ hình thành nhân cách, đạo đức cho họ và môi trường sống cũng ảnh hưởng mộtphần lớn đến việc phát triển tâm sinh lý ở giai đoạn này
Hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển ở các lứa tuổi trong các giaiđoạn ở một con người giúp cho chúng ta có cách cư xử đúng đắn trong xã hội cũngnhứ trong quan hệ pháp luật Và đây sẽ là những căn cứ để xác định độ tuổi chịu tráchnhiệm hình sự
1.1.4.2 Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm là cơ sở thực tiễn để xác định và quyđịnh độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Mỗi quốc gia khác nhau quy định về độ tuổichịu trách nhiệm hình sự là khác nhau Dựa trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn và sự pháttriển tâm, sinh lý (thể chất, trí tuệ) của con người của mỗi nước mà các quốc gia quyđịnh độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và những quy định phù hợp với nước mình Theo dõi Báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạmpháp luật trước Quốc hội vào kỳ họp cuối mỗi năm từ năm 2011 đến năm 2016, chothấy kết quả phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật ở nước ta đã có nhữngchuyển biến tích cực Nếu như năm 2011 tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật
13 Trần Thị Hoàng Lan (năm 2012), tlđd (2), trang 18
Trang 18được Chính phủ nhìn nhận là diễn biến phức tạp, hầu hết các loại tội phạm đều tăng sovới cùng kỳ những năm trước đó (tăng cả về số tội phạm và loại tội), với tính chất vàmức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội ngày càng tăng; tội phạm có tổ chức dướihình thức băng nhóm bao kê nhà hàng, đòi nợ thuê dưới danh nghĩa thành lập cácdoanh nghiệp kinh doanh nhà hàng, vũ trường, cầm đồ…, tội phạm sử dụng công nghệcao, mua bán người,… có xu hướng tăng; hành vi phạm tội chống đối người thi hànhcông vụ mang tính manh động cao; tội phạm sử dụng vũ khí có chiều hướng gia tăng,thủ đoạn phạm tội tinh vi, manh động, liều lĩnh, tội phạm giết người mang tính dãman, tàn bạo, gây bức xúc trong xã hội… thì từ năm 2012 cho đến năm 2016 tình hìnhtội phạm, vi phạm pháp luật dần được kiềm chế và đặc biệt năm 2016 thì về tổng thểtình hình tội phạm có giảm.14
Lứa tuổi từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là lứa tuổi cơ bản hình thành về nhân cáchcũng như cách ứng xử của họ trong quá trình giao tiếp hằng ngày Quá trình hìnhthành nhân cách, khả năng nhận thức từ cuộc sống hằng ngày, từ môi trường trong giađình, họ hàng, bạn bè thầy cô Tuy nhiên, khoảng thời gian hình thành nhân cách, khảnăng nhận thức trong lúc này còn nằm dưới sự kiểm soát của cha mẹ, thầy cô Mọihoạt động còn dựa trên cảm tính trước các tình huống cụ thể xung quanh cuộc sốngcủa những người từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Nhưng thực tiễn cho thấy những người ởlứa tuổi từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi cũng đã gây không ít thiệt hại, nguy hiểm cho xãhội ảnh hướng và xâm phạm đến quyền, lợi ích của người khác Do vậy, trách nhiệmhình sự của những người ở lứa tuổi này cũng được quy định trong những trường hợpxác định
Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cũng cho thấy những người từ 16 tuổitrở lên là lứa tuổi phổ biến nhất thực hiện hành vi nguy hiểm xâm phạm và các quan
hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Thực tiễn cũng cho thấy, bắt đầu từ 16 tuổi trở lên,hầu như các hành động của cá nhân trong hoạt động giao tiếp xã hội đều do họ tựquyết định Vì vậy pháp luật hình sự nước ta mới xác định từ lứa tuổi này họ phải chịutrách nhiệm về mọi tội phạm do họ gây ra.15
1.1.4.3 Mối quan hệ giữa tuổi chịu trách nhiệm hình sự với năng lực trách nhiệm hình sự
Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để có thể xác định con người
có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Chỉ người có năng lực tráchnhiệm hình sự mới có thể là chủ thể của tội phạm.Theo qui định của Bộ luật Hình sự
14 “Phòng, chống tội phạm hiện nay ở nước ta hiện nay – thực trạng và một số kiến nghị”
( http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2142 ) truy cập ngày 15/4/2018.
15 Trần Thị Hoàng Lan (năm 2012), tlđd (2), trang 20.
Trang 19năm 2017, sửa đổi, bổ sung năm 2017: chủ thể của tội phạm bao gồm con người vàpháp nhân thương mại Trong bài nghiên cứu này, người viết sẽ chỉ đề cập đến nănglực trách nhiệm hình sự của cá nhân.
Theo Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: Tội phạm
là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý
hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâmphạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, antoàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền,lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xãhội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự16 Tuy nhiên,một người có năng lực trách nhiệm hình sự cũng phải đạt đến một độ tuổi nhất định
Mà theo khoa học luật hình sự thì “Chủ thể của tội phạm là người có năng luật trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể”17
Bộ luật không quy định như thế nào là năng lực trách nhiệm hình sự mà chỉ đềcập đến tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại Chương IV
Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự ở Điều 21: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự” Như vậy, một người nếu đạt đến một độ tuổi nhất định nhưng lại phát
triển về mặt tâm sinh lý không được bình thường, mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnhlàm mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi mà thực hiện tộiphạm thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Và nếu, một người phát triển bìnhthường về mặt sinh lý, đã đạt đến một độ tuổi nhất định mà thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội theo Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy địnhthì hiển nhiên sẽ bị xử lý Vậy, một người khi trở thành chủ thể phạm tội khi thõa mãncác điều kiện nhất định
Điều kiện thứ nhất, chủ thể đó phải là người có năng lực trách nhiệm hình
sự Mà năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức và điều khiển hành
vi của một người Đó là khả năng tâm lý của một người, không phụ thuộc vàopháp luật Năng lực nhận thức có ở mỗi con người từ khi mới sinh ra Nó pháttriển và hoàn thiện theo sự phát triển của cấu tạo sinh học cơ thể con người qua
16 Khoản 1, Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
17 Trường Đại học Luật Hà Nội (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, trang 122.
Trang 20quá trình lao động và giáo dục trong xã hội Đến một thời điểm nhất định trongđời sống của con người thì năng lực này mới được xem là tương đối đầy đủ Như vậy, năng lực trách nhiệm hình sự hình thành trên hai cơ sở: sự pháttriển sinh học của cơ thể và đời sống xã hội Bộ luật Hình sự không quy địnhmột người như thế nào là thoả mãn điều kiện về khả năng nhận thức và khảnăng điều khiển hành vi mà chỉ đề cập đến trường hợp người mất khả năngnhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi Như vây, để nhận biết mộtngười đủ năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi hay không phảidựa vào hai yếu tố trên.
Điều kiện thứ hai, chủ thể của tội phạm phải đạt đến độ tuổi nhất định thì
mới được coi là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, vì khi đạt đếnmột độ tuổi nhất định thì con người mới có đủ khả năng nhận thức, điều khiểnhành vi và chịu trách nhiệm về hành vi của mình Khi đạt đến một ngưỡng tuổinào đấy thì con người cũng sẽ phát triển vể cơ thể cũng như tâm sinh lý Và chủthể của tội phạm phải thực hiện hành vi phạm tội củ thể và thỏa mãn hai điềukiện trên thì mới được coi là tội phạm theo quy định của luật hình sự ở nước ta Việc luật đưa ra một độ tuổi nhất định là dựa vào cơ sở khoa học, căn cứ vàothực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm và trên cở sở tham khảo kinh nghiệm cácnước khác, Nhà nước ta đã xác định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sungnăm 2017, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi trở lên phảichịu trách nhiệm hình sự theo luật định Nội dung này nhằm ngụ ý rằng người từ đủ 14tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi trở lên đã có khả năng nhận thức và điềukhiển hành vi của mình Và nếu họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, thực hiệnmột hành vi phạm tội cụ thể thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộluật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Như vậy, một con người được coi
là có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ thì phải đáp ứng hai điều kiện nêu trên
Mỗi người có sự phát triển bình thường về tâm, sinh lý đến một giai đoạnnhất định trong đời sống sẽ hoàn thiện năng lực này và khi đó họ được coi làchủ thể của tội phạm Giai đoạn hoàn chỉnh này trong đời sống của mỗi cá nhânđược luật hình sự mỗi nước trên thế giới quy định không giống nhau Việc làmnày phù hợp với sự phát triển tâm, sinh lý (thể chất, trí tuệ) của con người ởmỗi quốc gia vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự và năng lực trách nhiệm hình sự là hai kháiniệm có mối liên hệ “chặt chẽ” với nhau Con người từ khi sinh ra đã có ý thứcnhưng không phải có ý thức là có năng lực trách nhiệm hình sự mà phải quamột quá trình phát triển về tâm, sinh lý trong điều kiện xã hội nhất định thì năng