1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng

57 1,1K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 156,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay việc khôi phục, củng cố, và phát triển các cơ sở văn hóa, giá trị truyền thống dântộc tại địa bàn tỉnh Sóc Trăng là việc làm rất cần thiết, góp phần thúc đẩy, từng bước hoàn thi

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 4

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5

3.1 Đối tượng nghiên cứu 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu 5

4 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

4.1 Quan điểm nghiên cứu 6

4.2 Phương pháp nghiên cứu 6

4.2.1 Phương pháp thu nhập và xử lý thông tin 6

4.2.2 Phương pháp khảo sát thực tế 6

4.2.3 Phương pháp thống kê du lịch 7

5 CẤU TRÚC CỦA TIỂU LUẬN 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH 8

1.1 TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH 8

1.1.1 Khái niệm 8

1.1.2 Phân loại du lịch 9

1.1.3 Tài nguyên du lịch 12

1.1.4 Chức năng của du lịch 13

1.2 TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA 15

1.2.1 Khái niệm văn hóa 15

1.2.3 Vai trò của văn hóa 16

1.3 DU LỊCH VĂN HÓA VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA Ở VIỆT NAM 16 1.3.1 Khái niệm về du lịch văn hóa 16

1.3.3 Phân loại du lịch văn hóa 18

1.3.4 Tình hình phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam 19

Tiểu kết chương 1: 21

CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH SÓC TRĂNG 22

2.1 TỔNG QUAN VỀ SÓC TRĂNG 22

2.1.1 Lịch sử hình thành và nguồn gốc tên gọi 22

2.1.2 Vị trí địa lí 23

2.1.3 Đặc điểm tự nhiên 24

2.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội 26

2.2 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH SÓC TRĂNG 27

2.2.1 Di tích lịch sử - văn hóa – nghệ thuật – kiến trúc 27

Trang 2

2.2.2 Nghề và làng nghề truyền thống 31

2.2.3 Văn hóa ẩm thực 32

2.2.4 Lễ hội truyền thống 34

2.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI SÓC TRĂNG 38

2.3.1 Khách du lịch 38

2.3.2 Doanh thu du lịch 40

2.3.3 Hoạt động thông tin, tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch 41

2.3.4 Nguồn nhân lực 42

2.3.5 Cơ sở vật chất kĩ thuật 43

2.3.6 Về sản phẩm du lịch 44

2.3.7 Thực trạng hoạt động du lịch diễn ra tại các điểm du lịch 45

2.3.8 Công tác xúc tiến quảng bá 46

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI SÓC TRĂNG 47

2.4.1 Thuận lợi 47

2.4.2 Khó khăn 48

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH SÓC TRĂNG 49

3.1 CƠ SỞ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA CỦA SÓC TRĂNG 49

3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH SÓC TRĂNG .50 3.2.2 Định hướng trong vấn đề bảo tồn tài nguyên du lịch nhân văn 50

3.2.3 Phát triển thị trường và sản phẩm du lịch 51

3.2.4 Đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng phục vụ du lịch 52

3.2.5 Chiến lược quảng bá du lịch 52

3.3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH SÓC TRĂNG 53

3.3.1 Cơ chế quản lý 53

3.3.2 Vốn đầu tư 53

3.3.3 Nguồn nhân lực 54

3.3.4 Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 55

3.3.5 Xúc tiến, quảng bá du lịch 55

3.3.6 Bảo tồn tài nguyên và môi trường du lịch 56

KẾT LUẬN 57

1 KẾT QUẢ CẦN ĐẠT 57

2 Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 58

3 HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

MỞ ĐẦU

Trang 3

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu ăn mặc, nghỉ ngơi và vui chơi giải trí củacon người ngày một đòi hỏi ở mức độ cao hơn, chính vì thế du lịch ra đời nhằm đáp ứng cho conngười những nhu cầu thiết yếu đó Du lịch phát triển dựa trên nhiều yếu tố, bao gồm tài nguyên dulịch, khách du lịch, cơ sở vật chất kĩ thuật, sản phẩm du lịch và thị trường du lịch

Văn hóa đặc trưng của từng vùng miền là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định sựthu hút du khách cũng như quá trình phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng ViệtNam ta có 54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó mỗi dân tộc lại mang những bản sắc văn hóa riêng,thể hiện ở nếp sống, tín ngưỡng, lễ hội, trang phục, hay những làng nghề truyền thống, điều nàytạo nên nét đặc trưng riêng của mỗi dân tộc, mỗi vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam

Sóc Trăng cũng là một trong những tỉnh thành may mắn có những nét văn hóa đặc trưngtiêu biểu cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long Sóc Trăng có hệ thống chùa chiềng độc đáo và đặcsắc không chỉ tiêu biểu cho lối kiến trúc như chùa Dơi, chùa Chén Kiểu, chùa Đất Sét, chùaKhleang, chùa Bốn Mặt; mà còn có các lễ hội văn hóa truyền thống như lễ Ok Om Bok, lễ hộiChol Chnam Thmay, lễ Dolta; các làng nghề truyền thống nổi tiếng như làng đan đát Phú Tân, làngnghề dệt chiếu, làng nghề làm bánh pía Vũng Thơm Bên cạnh đó, Sóc Trăng có những tấm gươnganh hùng có những cống hiyến lớn lao cho sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp công nghiệp hóa đấtnước như: anh hùng Thiều Văn Chỏi, nhà bác học Lương Định Của,… Chính từ sự đa dạng về cácloại hình văn hóa đã tạo nên những nét phong phú về các sản phẩm du lịch văn hóa, góp phầnmang lại cho khách du lịch những trải nghiệm thú vị và hấp dẫn

Hiện nay việc khôi phục, củng cố, và phát triển các cơ sở văn hóa, giá trị truyền thống dântộc tại địa bàn tỉnh Sóc Trăng là việc làm rất cần thiết, góp phần thúc đẩy, từng bước hoàn thiệnkhả năng đáp ứng du lịch, đồng thời cũng góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần chongười lao động, bên cạnh đó tôn vinh nét đẹp văn hóa truyền thống, nhằm quảng bá, giới thiệuhình ảnh vùng đất và con người Sóc Trăng

Xuất phát từ những thực trạng trên đây tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Tiềm năng

và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng” nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về nhữngđiều kiện, cơ sở phát triển cũng như những thực trạng tồn tại của du lịch văn hóa trong sự pháttriển du lịch chung của tỉnh, đồng thời thông qua đó đưa ra những đề xuất nhằm hướng tới nhữnggiải pháp và phương hướng giúp mang lại hiệu quả cao cho nền du lịch văn hóa của tỉnh nhà trongviệc khai thác tiềm năng du lịch hiện có của mình

Trang 4

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Sóc Trăng cũng được xem là một tỉnh giàu tiềm năng về du lịch văn hóa, nhưng thực tế việcnghiên cứu chuyên về mảng đề tài này còn khá là hạn chế, tiêu biểu có những tác phẩm nghiên cứunhư:

- “Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở tỉnh Sóc Trăng” (2002) của Trần Hồng Liên, trng sách đã đềcập đến hai vấn đề lớn đó là về dân tộc Khmer và dân tộc Hoa là hai dân tộc sinh sống lâu đời đãtạo nên nét văn hóa bản địa nơi đây, vấn đề thứ hai đó là vấn đề tôn giáo là tôn giáo Phật giáo Tiểuthừa đây là tôn giáo chiếm số lượng lớn các phật tử tín đồ của tỉnh Vì để phát triển hai mảng ngàycàng được tiến bộ và phát huy giá trị sẵn có nên tác giả đã cho ra đời quyển sách nhằm nói lên thựctrạng của hai nhóm dân tộc cũng như là tôn giáo chủ yếu của tỉnh này Từ đó đưa ra những hướnggiải quyết phù hợp

- “Di tích lịch sử Sóc Trăng” (2009) của nhiều tác giả, trong sách đề cập tới những di tíchlịch sử tại tỉnh Giới thiệu khái quát về lịch sử được xây dựng của các di tích, từng giai đoạn lịch sử

mà di tích tồn tại, đặc biệt là di tích có vai trò trong quá trình bảo tồn giá trị văn hóa và phát huynét đẹp văn hóa của tỉnh

- “Văn hóa người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long” (1993) của Trường Lưu, trongsách đã giới thiệu về việc quá trình hình thành cư dân của người Khmer nơi đây, từ lối sống cáchsinh hoạt đời sống hằng ngày hay trong những lễ hội, lễ tết của dân tộc mà từ đây đã hình thànhnên một phần văn hóa dân tộc Khmer trong 54 dân tộc của Việt Nam

- “Non nước Việt Nam” ( 2007) của Vũ Thế Bình, khi tham khảo sách đã cho em biết được

vì trí mà tỉnh Sóc Trăng thuộc miền nào của Việt Nam, hiểu thêm về dân tộc, tôn giáo, địa giớihành chính, đặc biệt đã cung cấp cho em biết về những địa điểm du lịch tiêu biểu nhất của tỉnh

- Hội thảo khoa học “Du lịch Sóc Trăng – Tiềm năng và giải pháp phát triển” được tổ chức

Trong dịp Lễ hội Ok om bok – Đua ghe Ngo lần thứ 3, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long- SócTrăng năm 2017, trong hội thảo đã đưa ra những thuận lợi và khó khăn trong phát triển du lịch củatỉnh Sóc Trăng tìm hướng giải quyết thích hợp để pahst triển du lịch cho tỉnh nhà và đề ra nhữnghướng phát triển theo hướng bền vững

Tọa đàm về giải pháp phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng được tổ chức vào ngày 11 9

-2017 Tại buổi tọa đàm, đại diện Hiệp hội Du lịch Việt Nam, lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng cùng đoàn

Famtrip đã thảo luận về những tiềm năng, giải pháp để góp phần phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng

Trang 5

Tuy nhiên, đến nay chưa có một tài liệu nào nghiên cứu riêng, chi tiết về thực trạng pháttriển du lịch văn hóa tại tỉnh Sóc Trăng, đồng thời chưa đưa ra được những giải pháp mang tính cụthể, chi tiết, khả thi cho việc phát triển du lịch tại nơi này

Chính vì vậy tôi chọn đề tài này nhằm góp phần vào sự nghiệp phát triển du lịch văn hóanói riêng và du lịch nói chung của tỉnh Sóc Trăng Bên cạnh đó, thông qua quá trình nghiên cứu tôi

có dịp vận dụng các kiến thức đã học trên giảng đường vào thực tế, tích lũy thêm kinh nghiệmcùng những bài học thực tiễn để phục vụ cho quá trình nghiên cứu và cả tương lai nghề nghiệp saunày

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa của tỉnh SócTrăng dựa trên những tiềm năng, hiện trạng đã tồn tại và phát triển ở các huyện trong địa bàn tỉnh,với xu hướng hội nhập và kinh tế phát triển như hiện nay thì việc nghiên cứu về du lịch văn hóa làrất hết sức cần thiết, điều đó mang lại những kết quả to lớn trong quá trình định hướng những giảipháp phù hợp, khai thác du lịch văn hóa một cách có hiệu quả, đồng thời qua đó quảng bá sảnphẩm du lịch văn hóa, nâng cao giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: Để thực hiện một đề tài Tiểu luận việc xác định được không giannghiên cứu là vô cùng quan trọng Vì khi xác định đúng không gian nghiên cứu thì trong quá trìnhlàm đề tài mới tìm đúng tài liêu, khảo sát đạt hiệu quả cao và tìm ra hướng phát triển đúng đắn.Trong Tiểu luận “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng” thì khônggian nghiên cứu đề tài này là toàn tỉnh Sóc Trăng

- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu và thực hiện một đề tài Tiểu luận đòi hỏi cần một quãng thời

gian nghiên cứu tìm tòi kĩ lưỡng thì bài Tiểu luận mới đạt kết quả cao Với đề tài “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng” thì việc nghiên cứu thu thập số liệu phải

lấy theo mỗi năm tính từ năm 2010 cho đến 2017

4 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Quan điểm nghiên cứu

4.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Quan điểm này dựa trên sự tương quan, tác động qua lại với nhau giữa yếu tố lãnh thổ vàvấn đề nghiên cứu, đòi hỏi phải khai thác chúng ở nhiều khía cạnh khác nhau để đi tới cái nhìntoàn diện và tổng quát Đối với đề tài “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tỉnh SócTrăng” thì quan điểm này thể hiện ở sự kết hợp những nét đặc trưng tiêu biểu của nền văn hóa đó,

Trang 6

gắn liền với yếu tố dân cư, địa bàn cư trú, nơi tồn tại những giá trị văn hóa hiện hữu Chính vì thế

để khai thác hiệu quả đề tài nghiên cứu về du lịch văn hóa của Sóc Trăng, tôi đã vận dụng quanđiểm này để xem xét, đồng thời đưa ra những phương hướng, giải pháp cho việc quy hoạch, pháttriển du lịch văn hóa của tỉnh một cách hợp lí và hiệu quả

4.1.2 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh

Đối với bất kì một đối tượng của sự vật hiện tượng nào khi chúng ta muốn hiểu rõ tường tận

về chúng thì việc nghiên cứu từ nguồn gốc, xuất xứ sẽ mang lại hiệu quả cao hơn Vì thế trong việcthực hiện đề tài “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng” thì quan điểmnày giúp tôi có một cái nhìn toàn diện, tổng thể về đối tượng cần nghiên cứu thông qua quá trìnhhình thành và phát triển của nó, qua đó có một cách nhìn mới về định hướng tương lai, góp phầnhoàn thiện cũng như củng cố du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp thu nhập và xử lý thông tin

Việc tìm tài liệu liên quan đến đề tài “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóatỉnh Sóc Trăng” đòi hỏi người viết phải biết tổng hợp, lựa chọn và sáng tạo từ các nguồn tài liệukhác nhau như: sách, báo, Internet,… từ đó thông qua những kiến thức có sẵn có cộng với quátrình tìm tòi và sáng tạo ta sẽ xử lý những thông tin đó thành những kiến thức cơ bản liên quan đến

đề tài phục vụ cần thiết cho quá trình nghiên cứu

4.2.2 Phương pháp khảo sát thực tế

Trong quá trình thực hiện đề tài “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tỉnhSóc Trăng” tôi đã áp dụng phương pháp này là bắt buộc tôi phải trực tiếp đến tận địa bàn nghiêncứu nhằm thu thập thông tin cần thiết, góp phần khai thác một cách triệt để vấn đề nghiên cứu quacái nhìn sinh động và thực tế

4.2.3 Phương pháp thống kê du lịch

Trong việc thực hiện đề tài “Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tỉnh SócTrăng” là phương pháp không thể thiếu trong quá trính nghiên cứu mặt lượng trong mối quan hệchặt chẽ với mặt chất của các hiện tượng và qúa trình , đối chiếu biến động, phát triển trong hoạtđộng du lịch Phương pháp này áp dụng để thống kê các hệ sinh thái đặc thù, các tài nguyên du lịchquan trọng và phụ trợ, thống kê hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch; thống kê đánh giá lượngkhách; đánh giá tỷ lệ doanh thu; tỷ trọng và mức tăng trưởng du lịch nói chung để đưa ra bức tranhchung về hiện trạng trong việc thực hiện đề tài

5 CẤU TRÚC CỦA TIỂU LUẬN

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về du lịch

Trang 7

Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng

Tại Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch diễn ra ở Canada (1991) đã đưa ra định nghĩa về

du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài nơi ở thường xuyên

Trang 8

của mình trong một khoảng thời gian được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích củachuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động để kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”

Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trong những hình thức

di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác màkhông thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc

Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhucầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao,nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác

Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiềuthành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Nó vừa mang đặc điểm của ngànhkinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội

Xét ở nhiều khía cạnh khác nhau thì du lịch vừa là một dạng hoạt động của con người lạivừa là một nghành kinh tế, người ta thường ví ngành du lịch là “con gà đẻ trứng vàng” Nguồnkhách du lịch tăng lên theo thời gian, đồng nghĩa với doanh thu mang lại từ du lịch cũng tăng theo,chính vì lẽ đó, ngành kinh tế du lịch đã hình thành và phát triển ngày một mạnh mẽ hơn với nhiềucách thức và loại hình đa dạng, phong phú

Đứng trên góc độ kinh tế du lịch được định nghĩa như sau: “Du lịch là một ngành kinhdoanh tổng hợp bao gồm các hoạt động: tổ chức, hướng dẫn du lịch: sản xuất, trao đổi hàng hóa vàdịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch”

Trong quá trình hoạt động du lịch các chủ thể có tác động qua lại lẫn nhau, trong đó, khách

du lịch được đóng vai trò trung tâm của toàn bộ hoạt động du lịch

Có thể biểu diễn công thức về du lịch như sau:

Du lịch = Đi lại + Lư trú, nghỉ ngơi + Vui chơi, giải trí + Tham quan, tìm hiểu

Tổng hợp từ những góc độ nêu trên, có thể định nghĩa về du lịch theo Tổ chức du lịch thếgiới WTO (1994): “Du lịch là một tập hợp các hoạt động và du lịch đa dạng, liên quan đến việc dichuyển tạm thời của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm mục đích giải trí,nghỉ ngơi, văn hóa, dưỡng sức,… Và nhìn chung là vì những lí do không phải để kiếm sống”

Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày 14/6/2005: “Dulịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên củamình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời giannhất định”

Trang 9

Tóm lại : Du lịch là họat động rời khỏi nơi mình cư trú sang một nơi khác sinh sống, vớithời gian trên một ngày và dưới một năm, trong thời gian đó có thể kết hợp với các hoạt động vuichơi giải trí tham quan tìm hiểu, và không kiếm tiền tại nơi mình đi du lịch.

1.1.2 Phân loại du lịch

Hoạt động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm khác nhau tuỳ thuộc tiêu chí đưa ra Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí

cơ bản dưới đây

a Phân chia theo môi trường tài nguyên:

Trang 10

- Du lịch người cao tuổi

h Phân loại theo độ dài chuyến đi

Trang 11

1.1.3.1 Khái niệm tài nguyên du lịch

Căn cứ pháp lý: Điều 4 Luật du lịch 2005 Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu

tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhânvăn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành cáckhu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.

1.1.3.2 Phân loại tài nguyên du lịch

a Tài nguyên du lịch tự nhiên

- Địa hình:

Địa hình miền núi thường rất đa dạng và có khả năng thu hút khách du lịch Có rất nhiềuloại hình du lịch ở miền núi: du lịch thám hiểm, du lịch sinh thái, săn bắn, leo núi và thể thao, dulịch mạo hiểm,… Địa hình núi thường có rừng, thác nước và hang động,…Vì vậy, miền núi cónhiều hướng phát triển du lịch

Địa hình biển và bờ biển có khả năng khai thác du lịch khá thuận lợi, nhất là du lịch biển:tắm biển, nghĩ biển, du thuyền ra đảo, lăn biển và các loại hình du lịch thể thao Ngoài ra, biển cónhiều hải đảo nên khả năng khai thác rất đa dạng

Địa hình đồng bằng thường đơn điệu nên ít có khả năng trực tiếp phát triển du lịch Tuynhiên đồng bằng thường là nơi tập trung sinh sống nên cũng có khả năng phát triển du lịch

Trang 12

- Khí hậu: Khí hậu còn tạo ra nhịp điệu mùa của du lịch Thường thì mùa hè là mùa du lịchcủa các vùng bãi biển nhiệt đới Mùa đông lại là mùa của các điểm du lịch thể thao ở các vùng ônđới.

- Nước: là môi trường có nhiều loại hình hoạt động du lịch: tắm, bơi lặn, du thuyền, lướtván, câu cá, tham quan đáy biển,…

Các hồ nước, thác nước, sông suối,… cũng là những yếu tố có giá trị nhiều mặt đối với dulịch

Nguồn nước khoáng còn là tiềm năng để hình thành các khu du lịch nghĩ dưỡng Trên thếgiới có nhiều điểm du lịch về nước khoáng

- Tài nguyên sinh vật: cũng có giá trị du lịch rất to lớn Các vườn quốc gia, khu bảo tồnthiên nhiên,… là những nơi còn tồn tại nhiều loài động – thực vật nguyên sinh rất thuận lợi để pháttriển các loại hình du lịch sinh thái, tham quan nghiên cứu

b Tài nguyên du lịch nhân văn

- Tài nguyên du lịch nhân văn được định nghĩa ngắn gọn là các đối tượng, hiện tượng docon người tạo ra Bao gồm tài nguyên vật thể và phi vật thể, tồn tại song song và có mối quan hệmật thiết với nhau

- Di tích lịch sử văn hóa: là những gì tồn tại trong quá khứ Di tích được chia làm 4 nhómchủ yếu: Di tích khảo cổ; Di tích lịch sử; Di tích kiến trúc nghệ thuật; Danh lam thắng cảnh: Danhlam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiênvới công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học; Lễ hội; Làng nghề thủ công Các đặctrưng văn hóa dân tộc: thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, như trang phục, tôn giáo, tín ngưỡng,phong tục tập quán, lễ hội, thói quen sinh hoạt kinh tế, văn hóa nghệ thuật,… chính từ đặc điểmnày mà du lịch cũng rất thu hút

- Sự kiện văn hóa – thể thao: các yếu tố cơ bản sau đây là những thể hiện: Các hội chợ triễnlãm; Các cuộc thi đấu thể thao, liên hoan âm nhạc, thi hoa hậu,… cũng là những yếu tố tác độngmạnh mẽ đến sự thu hút du lịch

- Ngoài ra còn một số nhân tố khác cũng nằm trong nhóm tài nguyên du lịch nhân văn đó là:Bảo tàng; Công trình kiến trúc và các sản phẩm kinh tế; Các giá trị văn hóa nghệ thuật, ẩm thực

Trang 13

1.1.4 Chức năng của du lịch

1.1.4.1 Chức năng kinh tế

Từ lâu du lịch được mệnh danh là “con gà đẻ trứng vàng”, hay “ngành công nghiệp khôngkhói”, bởi nó đang là ngành kinh doanh lớn nhất và có vai trò trọng yếu trong nền kinh tế củanhiều nước cũng như nền kinh tế toàn cầu

Du lịch mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều quốc gia Ở các nước du lịch phát triểnthì nguồn ngoại tệ mà du lịch mang lại chiếm tới 20% hoặc cao hơn trong tổng nguồn thu nhậpngoại tệ của quốc gia đó

Bên cạnh đó, nhu cầu du lịch ngày càng đa dạng cũng góp phần hình thành những dịch vụ

du lịch mới mẻ, góp phần khai thác các giá trị văn hóa tinh thần, và khai thác một cách có hiệu quảnguồn tài nguyên thiên nhiên vào sự phát triển kinh tế

1.1.4.2 Chức năng sinh thái

Du lịch có sự gắn bó và liên hệ mật thiết với môi trường xung quanh nó, thông qua các hoạtđộng du lịch mà con người trở nên yêu thiên nhiên và có ý thức hơn trong việc bảo tồn và sử dụngnó

Ngày nay việc giáo dục bảo vệ môi trường sinh thái được đưa vào du lịch góp phần đưa dulịch đến gần hơn với môi trường, việc tiếp xúc với thiên nhiên hùng vĩ, bao la và thơ mộng, tâm lýcon người trở nên thoải mái, dễ chịu và hoàn toàn cân bằng, trong khi phải thường xuyên làm việc

và sinh sống ở thành thị, tiếp xúc với môi trường luôn bị khói bụi và tiếng ồn ô nhiễm Chính từnhững trải nghiệm này, họ thấy được môi trường thật sự có một ảnh hưởng rất lớn đến chuyến dulịch mà họ đang hưởng thụ Điều đó góp phần củng cố và nâng cao tình yêu thiên nhiên và ý thứcgiữ gìn môi trường tự nhiên ấy

1.1.4.2 Chức năng văn hóa - chính trị - xã hội

Đối với nhu cầu xã hội ngày một nâng cao thì những đòi hỏi trong hoạt động du lịch cũngkhông ngừng tăng lên, du lịch không chỉ góp phần thỏa mãn nhu cầu của con người, mà thông qua

đó còn nâng cao nhận thức, mở rộng tầm hiều biết về nhiều lĩnh vực cho người dân

Sức khỏe là một vấn đề đáng quan tâm, trong khi đó, du lịch chẳng những giúp nâng caosức khỏe, hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ, mà còn có thể nâng cao thể lực và khả năng lao động

Du lịch góp phần đáng kể các chi phí của xã hội trong việc khám và chữa bệnh, nâng cao số ngàylàm việc và năng suất lao dộng xã hội

Đối với sự đoàn kết hữu nghị giữa các quốc gia thì du lịch lại đóng vai trò như chất xúc tácgiúp tăng cường giao lưu, mở rộng quan hệ xã hội Du lịch góp phần tuyên truyền và thực hiện

Trang 14

đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Qua các chuyến tham quan du lịch đếnViệt Nam, khách nước ngoài sẽ trực tiếp chững kiến những thành tựu của đất nước đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân được nâng cao.

Du lịch còn là nhân tố rất quan trọng góp phần củng cố hòa bình thế giới Vào năm

1967, WTO đã lấy chủ đề cho năm năm lịch là: “Du lịch là giấy thông hành của hòa bình”

1.2 TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA

1.2.1 Khái niệm văn hóa

Trong tác phẩm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa về vănhóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sángtạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác của con người và môi trường tựnhiên xã hội của mình”

Theo nhận định cuả chủ tịch Phạm Văn Đồng lại cho rằng: “Nói tới văn hóa là nói tới lĩnhvực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liênquan đến con người trong suốt quá trình tồn tại và phát triển”

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loàingười mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, vănhọc, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng.Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”

UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như làmột tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay mộtnhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phươngthức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”

Từ những nhận định trên ta có thể thấy rằng văn hóa là những giá trị vật chất tinh thần đượchình thành và sáng tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người

1.2.2 Phân loại văn hóa

Con người có hai loại nhu cầu cơ bản là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, do vậy, conngười cũng có hai loại hoạt động cơ bản là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Từ đó, văn hoánhư một hệ thống thường được chia làm hai dạng: văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần

1.2.2.1 Văn hóa vật chất

Văn hóa vật chất là toàn bộ những gì do công nghệ sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất

ăn, mặc, ở, đi lại, công cụ sản xuất, phương tiện sản xuất,… nói lên trình độ phát triển của con

Trang 15

người trong lĩnh vực sản xuất vật chất, thể hiện trình độ chiếm lĩnh và khai thác những vật thể trong tự nhiên.

Vd: xe, nhà, quần áo, bàn ghế,…

1.2.2.2 Văn hóa tinh thần

Văn hoá tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần củacon người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ,văn chương, …

Lĩnh vực Văn hóa tinh thần gồm các thành tố: Văn hóa tư tưởng, Văn hóa giáo dục, Vănhóa nghệ thuật, Văn hóa lối sống, Văn hóa lễ hội,… Những thành tố này có quan hệ chặt chẽ vớinhau tạo thành nền tảng tinh thần xã hội Vd: âm nhạc, lễ hội, tác phẩm văn học,…

1.2.3 Vai trò của văn hóa

Chức năng giáo dục: là một trong những chức năng quan trọng, tác động một cách có hệthống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, làm cho con người dần dần có nhữngphẩm chất và năng lực theo những chuẩn mực của xã hội tạo ra Do đó, văn hóa đóng vai trò quyếtđịnh tạo nên nhân cách con người

Chức năng nhận thức: là chức năng đầu tiên, tồn tại trong mọi hoạt động văn hóa Đối vớicon người không có nhận thức thì không thể tạo ra một hành động văn hóa nào Nâng cao trình độnhận thức của con người chính là phát huy những tiềm năng của con người

Chức năng thẩm mỹ: cùng với nhu cầu thiết yếu của con người, cảm nhận và hưởng thụ cáiđẹp, văn hóa còn đóng vai trò chủ thể để con người tiếp nhận, đồng thời thanh lọc mình vươn tớicái đẹp, khắc phục những cái xấu của mình, góp phần hoàn thiện bản thân

Chức năng giải trí: đây là một trong những chức năng được thể hiện rõ nét nhất Ngoài cáchoạt động lao động, sáng tạo, con người còn có những nhu cầu giải trí khác như: tham gia câu lạc

bộ, lễ hội, ca nhạc, biểu diễn nghệ thuật,…

1.3 DU LỊCH VĂN HÓA VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA Ở VIỆT NAM

1.3.1 Khái niệm về du lịch văn hóa

Du lịch văn hóa là loại hình phổ biến trong du lịch tập trung mối quan tâm đến một quốc gia

hay một vùng đất nào đó chủ yếu dưới góc độ văn hóa

Du lịch văn hóa bao gồm các tuyến du lịch đến một đô thị có bề dày lịch sử hoặc nhữngthành phố lớn cùng các công trình văn hóa của nó như: viện bảo tàng, nhà hát,… Hình thức nàycũng bao gồm việc đưa du khách đến những vùng hẻo lánh để dự các lễ hội ngoại trời, đi thăm nơi

ở các danh nhân văn hóa, những công trình kiến trúc hay thắng cảnh thiên nhiên được biết đến và

Trang 16

ca ngợi qua văn chương, hội họa Thông thường du khách có những hứng thú thưởng thức các giátrị văn hóa đi du lịch thường xuyên hơn, ổn định hơn các du khách có những mục tiêu khác.

Du lịch văn hóa còn là loại hình du lịch gắn liền với con người cũng như các giá trị truyềnthống do con người sáng tạo ra Du lịch văn hóa bao hàm việc hòa nhập vào đời sống cộng đồngdân cư, tìm hiểu và hòa mình vào những phong tục tập quán, những truyền thống của các dân tộc,các địa phương

1.3.2 Đặc trưng loại hình du lịch văn hóa

Với tình hình nền kinh tế thế giới đang có dấu hiệu trì trệ, suy thoái, mặc dù vậy nhưng cáchoạt động du lịch vẫn diễn ra hàng ngày nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách trong và ngoài nước.Bên cạnh những loại hình du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, khám phá,

du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm rất có lợi thế của những nước có nền kinh tế đang trên

đà phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế

Du lịch văn hóa phát triển trên cơ sở khai thác những sản phẩm văn hóa, lễ hội truyền thốngcủa dân tộc, kể cả những phong tục và tín ngưỡng,… để tạo sức hút đối với du khách từ khắp nơitrên thế giới Đối vơi du khách có sở thích nghiên cứu cũng như khám phá những nét độc đáo củacác dân tộc thì du lịch văn hóa là một lựa chọn thông minh và phù hợp với sở thích, niềm đam mêcủa họ

Du lịch văn hóa gắn liền với một địa phương, một vùng đất, hay một quốc gia, nơi lưu trữnhững giá trị truyền thống, yếu tố văn hóa bản địa Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựachọn những thời điểm lễ hội truyền thống được tổ chức để thực hiện những chuyến tham quan củamình Chính vì thế thu hút khách tham quan du lịch chính là tạo ra dòng chảy mới, cải thiện cuộcsống của người dân địa phương thông qua các sản phẩm của văn hóa lễ hội

Đồng thời thông qua các hoạt động du lịch văn hóa, lễ hội truyền thống được khôi phục, tổchức một cách có nề nếp, lành mạnh, phát huy được giá trị vốn có của nó Ngày nay việc khôi phụcnhững làng nghề truyền thống, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ đang được sự quan tâm, đầu tư củanhà nước Từ những nguồn thu từ những sản phẩm nàygiúp cải thiện thu nhập của người dân, thúcđẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giả nghèo

Du lịch phát triển cũng tạo nên nhiều nguồn thu để tôn tạo, trùng tu các di tích, góp phầnnâng cao ý thức người dân về trách nhiệm cảu mình trong việc giữ gìn và phát huy những di sảnvăn hóa

Trang 17

1.3.3 Phân loại du lịch văn hóa

Du lịch văn hóa là xu hướng của các nước đang phát triển, chủ yếu dựa vào những sảnphẩm văn hóa, lễ hội truyền thống các dân tộc, hay phong tục và tín ngưỡng,… Sau đây là nhữngloại hình du lịch văn hóa được nhiều quốc gia khai thác:

- Nhóm 1: Du lịch văn hóa vùng di sản

- Nhóm 2: Du lịch văn hóa thắng cảnh nhân văn

- Nhóm 3: Du lịch văn hóa những điểm đen

- Nhóm 4: Du lịch văn hóa công viên chuyên đề

Từ 4 nhóm cơ bản trên ta có các loại hình du lịch văn hóa tiêu biểu như sau:

- Thứ nhất: Du lịch văn hóa cảm xúc

-Thứ hai: Du lịch văn hóa sự kiện, lễ hội

- Thứ ba: Du lịch văn hóa di sản

- Thứ tư: Du lịch “ con đường văn hóa”

- Thứ năm: Du lịch văn hóa hiện đại

- Thứ sáu: Du lịch văn hóa nông thôn

- Thứ bảy: Du lịch văn hóa nghệ thuật ăn ngon

- Thứ tám: Du lịch văn hóa ngôn ngữ

- Thứ chín: Du lịch làng nghề truyền thống

Chính sự đa dạng các loại hình du lịch văn hóa mà từ đó tạo ra sự thu hút đối với du khách.Hình thức du lịch văn hóa làm thỏa mãn sở thích khám phá, nghiên cứu đối với đối tượng du kháchquan tâm đến văn hóa, phong tục tập quán của các nước bản địa nơi họ tham quan, nghiên cứu

1.3.4 Tình hình phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam

Trong tình hình hiện nay khi mà ngành du lịch đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọncủa đất nước thì việc nhà nước quan tâm phát triển du lịch văn hoá ngày càng nhiều hơn Nhà nước

đã ban hành các văn bản quản lý đầu tư tôn tạo các di tích lịch sử, di sản văn hoá, đặc biệt là việcphong sắc hiệu và xếp hạng các di tích lịch sử, di sản văn hoá có ý nghĩa quan trọng đối với việc

Trang 18

phát triển du lịch văn hoá, ngoài ra nhà nước còn cho thành lập các công ty du lịch, các Sở du lịch,

Bộ văn hoá - Thông tin với các hoạt động kinh doanh lữ hành, đặc biệt là bán các Tour du lịch vănhoá với mạng lưới và các chi nhánh văn phòng ngày càng rộng lớn trong cả nước

Với bề dày lịch sử trong quá trình dựng nước và giữ nước, Việt Nam có nguồn tài nguyênnhân văn dồi dào Đi đến bất kỳ một vùng miền nào của tổ quốc, ta đều bắt gặp các giá trị văn hóahiện hữu trong đời sống của con người, đó là cây đa, bến nước, sân đình, lễ hội làng, các phiên chợquê, mang những nét riêng mà ít quốc gia có được

Cùng với các tài nguyên tự nhiên, tài nguyên văn hóa là một trong những đặc trưng cho pháttriển du lịch của Việt Nam Giá trị của những di sản văn hóa như di tích lịch sử, công trình kiếntrúc, loại hình nghệ thuật, tập quán, làng nghề, là những đối tượng cho du khách khám phá tìmhiểu Du lịch văn hóa ở Việt Nam được tổ chức dựa trên đặc điểm của địa phương, từng vùng miềnnhư du lịch vùng Tây Bắc, Đồng bằng Nam Bộ, con đường di sản miền Trung

Du lịch Việt Nam đang tập trung khai thác các di tích đã được UNESCO công nhận là di sảnthế giới, đây là những điểm thu hút sự quan tâm của khách du lịch Quần thể di tích cố đô Huế, nơilưu giữ, chứa đựng nhiều giá trị tiêu biểu cho trí tuệ và tâm hồn dân tộc, bao gồm các công trìnhthành quách, cung điện, lăng tẩm nguy nga, tráng lệ Phố cổ Hội An có giá trị rất lớn về mặt kiếntrúc, hầu như các công trình vẫn được giữ nguyên vẹn, thể hiện sự giao thoa của văn hóa bản địavới Trung Hoa, Nhật Bản Khu đền tháp Mỹ Sơn là dấu tích còn lại của nền văn hóa và tín ngưỡngChămpa xưa Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long là minh chứng cho nền văn hiến lâu đời củangười Việt trong suốt chiều dài lịch sử, với nhiều di tích khảo cổ cho thấy đây là trung tâm kinh tế,chính trị, văn hóa của nước ta qua nhiều vương triều,

Ngoài ra một loại hình du lịch văn hóa cũng rất được quan tâm, đó là du lịch thăm lại chiếntrường xưa, đối tượng chính để khai thác đó là các điểm, khu vực còn lưu giữ lại các di tích chiếntranh, ghi dấu tội ác của quân xâm lược như Điện Biên Phủ, Ngã ba Đồng Lộc, địa đạo Củ Chi,nhà tù Côn Đảo, nghĩa trang Trường Sơn,

Bên cạnh việc khai thác các giá trị văn hóa vật thể, hiện nay các giá trị văn hóa phi vật thểcũng được khai thác vào mục đích du lịch Việt Nam được coi là cái nôi văn hóa của khu vực ĐôngNam Á, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, thế hệ ông cha ta đã sáng tạo ra nhiều loại hình nghệthuật mang đặc trưng riêng của văn hóa dân tộc như chèo, tuồng, cải lương, hát then, ca Huế, hát vídặm, mang sắc thái từng vùng miền riêng biệt, những âm hưởng và tình cảm khác nhau Đặc biệtmột số những loại hình nghệ thuật đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể như

ca trù, nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, quan họ Bắc Ninh

là những sản phẩm văn hóa tiêu biểu cho quá trình phát triển, giao lưu văn hóa giữa Việt Nam vớicác dân tộc khác, và là nguồn tài nguyên độc đáo để thu hút khách tham quan

Trang 19

Hiện nay, ngành du lịch đã phát triển một số tour du lịch bản làng, khai thác các phong tụctập quán của đồng bào các tộc người, bằng cách đưa khách về các buôn, bản sinh hoạt, ăn ở cùngvới dân, sống theo tập quán nơi họ đến trong một khoảng thời gian, để khách có thể tìm hiểu đượcnhững nét văn hóa truyền thống đặc trưng của từng tộc người Loại hình này thích hợp với nhữngnơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt phát triển mạnh ở Sa Pa, và được coi là một hướng

đi mới, vừa góp phần xóa đói giảm nghèo, vừa phát huy bản sắc văn hóa của mỗi tộc người

Ở Việt Nam lễ hội thường diễn ra quanh năm, nhưng tập trung nhất là vào mùa xuân, phầnlớn các lễ hội gắn liền với các sự kiện lịch sử, tưởng nhớ những người có công đối với đất nước

Sự đa dạng lễ hội của nước ta vừa là nét đẹp văn hóa dân tộc, vừa là một trong những sản phẩm dulịch hấp dẫn du khách

Festival, được xem là hoạt động du lịch văn hóa đặc sắc nhất Việt Nam, là loại hình du lịchmới, nhưng lại phát triển rất mạnh, được du khách ưa thích Nước ta có nhiều festival như FestivalHuế, Festival hoa Đà Lạt, Festival lúa gạo, Festival trái cây, Festival gốm sứ, Festival pháo hoa ĐàNẵng, Đây chính là nơi quảng bá hình ảnh về đất nước con người Việt Nam tới bạn bè thế giớimột cách hiệu quả nhất

Du lịch làng nghề, là loại hình du lịch văn hóa tổng hợp giữa tham quan, với mua sắm ViệtNam có rất nhiều lợi thế cho phát triển, bởi chúng ta có rất nhiều làng nghề nổi tiếng, có lịch sửhình thành từ lâu đời như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, tranh Đông Hồ, chiếu Nga Sơn, vàng bạcChâu Khê, Trong những năm gần đây du lịch làng nghề thu hút được rất nhiều khách, đặc biệt làkhách Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,

Hiện nay, khi xây dựng các chương trình, các loại hình, chúng ta đều đảm bảo phát triển dulịch theo hướng bền vững Việc phát triển du lịch bền vững, đã mang lại lợi ích thiết thực cho cộngđồng, chẳng những không phá hủy hoặc làm suy thoái các nguồn tài nguyên du lịch, mà còn đónggóp vào sự tăng trưởng về kinh tế, xã hội, môi trường

Trong thời gian qua việc định hướng phát triển tràn lan quản lý lỏng lẻo (ví dụ trong du lịchvăn hoá) thì việc công nhận xếp hạng các di tích lịch sử, di sản văn hoá) dẫn đến sự lộn xộn trongcông tác du lịch làm thiệt hại cho Nhà nước và những đơn vị kinh doanh du lịch văn hoá chínhthống, hiện tượng trốn thuế kinh doanh hoặc quá trình giành giật khách hàng bằng mọi giá từ khâudịch vụ xét cấp thị thực nhập cảnh, đến khâu vận chuyển, ăn nghỉ, gây ra nhiều lộn xộn Nhànước chưa có sự đầu tư thích đáng cho việc bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử di sản văn hoá,nhiều di tích, danh lam thắng cảnh đáng giá đang xuống cấp trầm trọng Các di tích lịch sử văn hoákhông được trông nom, tu bổ, ngược lại ngày càng bị phá hủy nghiêm trọng Cơ quan chủ quảnchịu trách nhiệm vẫn làm ngơ và pháp luật chưa nghiêm trị những đối tượng làm tổn hại giá trị vănhoá Đồng thời Nhà nước chưa có những chính sách thích đáng hoặc nếu có thì các chính sách đưa

Trang 20

ra vẫn chưa có hiệu lực trong việc đầu tư tái tạo lại các di tích lịch sử văn hoá đã bị mất đi do tànphá chiến tranh hoặc còn lại thì không có được vẻ đẹp trang trọng của đền đài thâm nghiêm từngàn xưa để có sức thu hút khách vì "càng những công trình kiến trúc tôn giáo, công trình kiến trúc

cổ, kiến trúc văn hoá sẽ có niên đại càng xa thì càng có sức thu hút du khách"

Tiểu kết chương 1:

Trong việc thực hiện một đề tài tiểu luận để tốt nghiệp, trước khi vào phần trọng tâm vấn đề

mà mình nghiên cứu thì việc đầu tiên phải thực hiện đó là đưa ra những cơ sở chung, những kháiniệm và quá trình thực hiện để hoàn đề tài

Trong chương 1 em đã trình bày về Cơ sở chung về du lịch để giúp hiểu rõ hơn về kháiniệm du lịch, phân loại du lịch, đặc biệt là đối tượng em nghiên cứu chính của đề tài là Du lịch vănhóa tỉnh Sóc Trăng, ngoài ra ở chương 1 em còn khái quát sơ lược về tình hình phát triển Du lịchvăn hóa của Việt Nam ở thời điểm hiện tại

Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH

SÓC TRĂNG 2.1 TỔNG QUAN VỀ SÓC TRĂNG

2.1.1 Lịch sử hình thành và nguồn gốc tên gọi

2.1.1.1 Lịch sử hình thành

Sóc Trăng là một tỉnh nằm trong địa bàn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long Gắn liền vớiquá trình khai phá và hình thành vùng đất này vào thời chúa Nguyễn là những sự thay đổi về têngọi cũng như ranh giới hành chính theo biến cố thăng trầm của thời gian ở nhiều giai đoạn khácnhau

Trang 21

Trong khoảng hơn 200 năm nay, vào thế kỷ XVII - XVIII, Sóc Trăng thuộc vùng Ba Thắccủa Chân Lạp Năm 1698, chúa Nguyễn sai Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đàngtrong (Nam bộ) và tiến hành xác lập địa giới hành chính vùng đất này, lập thành phủ Gia Định.Năm 1732, chúa Nguyễn lập dinh Long Hồ tại Cái Bè (lúc đó là Cái Bè Dinh), năm 1780 được đặttại vùng chợ Vĩnh Long và đổi tên là Vĩnh Trấn Dinh, sau đó đổi thành trấn Vĩnh Thanh Lúc nàySóc Trăng thuộc vùng Ba Thắc (nằm trong trấn Vĩnh Thanh, phủ Gia Định).

Năm 1832, vua Minh Mạng chia Nam kỳ thành 6 tỉnh, 3 tỉnh miền Đông là: Gia Định, BiênHòa, Định Tường; 3 tỉnh miền Tây gồm: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên Vùng đất Sóc Trăngthuộc tỉnh Vĩnh Long

Năm 1835 lại lấy đất Ba Thắc (tức vùng đất Sóc Trăng) nhập vào tỉnh An Giang, lập thêmphủ Ba Xuyên, gồm 03 huyện: Phong Nhiêu, Phong Thạnh và Vĩnh Định Đây là điểm mốc có ýnghĩa lịch sử rất quan trọng về địa danh hành chính tỉnh Sóc Trăng sau này

Năm 1867, thực dân Pháp chiếm 03 tỉnh miền Tây trong đó có Sóc Trăng, sau đó Pháp chiaNam kỳ lục tỉnh thành nhiều hạt Đến năm 1876, thực dân Pháp chia toàn Nam kỳ thành 04 khuvực hành chính gồm: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Sắc (Bassac), mỗi khu vực hành chính lớnlại chia nhỏ thành nhiều tiểu khu, tiểu khu Sóc Trăng thuộc khu vực Bát Sắc

Theo nghị định số 31/NĐ, ngày 21/2/1976 của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòamiền Nam Việt Nam quy định giải thể cấp khu, hợp nhất một số tỉnh Tỉnh Sóc Trăng hợp nhất vớitỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang

Trong kỳ hợp lần thứ 10 (khóa VIII), vào ngày 26 tháng 12 năm 1991, quyết định tách tỉnhHậu Giang thành 02 tỉnh Sóc Trăng và Cần Thơ Tỉnh Sóc Trăng chính thức đi vào hoạt động vàođầu tháng 4/1992 gồm các huyện: Mỹ Tú, Kế Sách, Thạnh Trị, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu

và thị xã Sóc Trăng

2.1.1.2 Nguồn gốc tên gọi

Theo dân gian thì tên gọi Sóc Trăng do từ Srok Kh'leang của tiếng Khơmer Srok tức là

“xứ”, “cõi”, Kh'leang là “kho”, “vựa”, “chỗ chứa bạc” SrokKh'leang là xứ có kho chứa bạc củanhà vua Tiếng Việt phiên âm ra là : “Sốc-Kha-Lang” rồi sau đó đọc lệch thành Sóc Trăng

Dưới triều Minh Mạng, Sóc Trăng bị đổi là Nguyệt Giang tỉnh do chữ Sóc biến thành chữSông, Trăng thành Nguyệt nên Sóc Trăng biến thành Sông Trăng rồi bị đổi thành Nguyệt Giang.Sau này lại lấy tên Sóc Trăng làm tên gọi chính thức

Trang 22

- Tỉnh có địa giới hành chính tiếp giáp như sau:

+ Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang

+ Phía Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu

+ Phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh

+ Phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông

2.1.3 Đặc điểm tự nhiên

2.1.3.1 Khí hậu

Sóc Trăng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng gió mùa, hàng năm có mùakhô và mùa mưa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 nămsau Nhiệt độ trung bình hàng năm là 26.80C, ít khi bị bão lũ Lượng mưa trung bình trong năm là1.864 mm, tập trung nhất từ tháng 8, 9, 10, độ ẩm trung bình là 83%, thuận lợi cho cây lúa và cácloại hoa màu phát triển

2.1.3.2 Đất đai, thổ nhưỡng

Sóc Trăng có tổng diện tích đất tự nhiên là 322.330 ha Đất đai của Sóc Trăng có độ màu

mỡ cao, thích hợp cho việc phát triển cây lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu nành,bắp, các loại rau màu như hành, tỏi và các loại cây ăn trái như bưởi, xoài, sầu riêng,…

Trang 23

Đất đai Sóc Trăng có thể chia thành 6 nhóm chính: Nhóm đất cát có 8.491 ha, bao gồm cácgiồng cát tương đối cao từ 1.2 - 2 m thành phần cơ giới nhẹ, chủ yếu là cát mịn đến cát pha đất thịt,

có thể trồng một số loại rau màu; nhóm đất phù sa có 6.372 ha thích hợp cho việc trồng lúa tăng vụ

và các cây ăn trái đặc sản, nhóm đất giây có 1.076 ha, ở vùng thấp, trũng, thường trồng lúa một vụ;nhóm đất mặn có 158.547 ha có thể chia ra làm nhiều loại: đất mặn nhiều, đất mặn trung bình, đấtmặn ít, đất mặn sú, vẹt, đước (ngập triều) trong đó đất mặn nhiều chiếm diện tích lớn 75.016 hathích hợp với việc trồng lúa, rau màu, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn, dài ngày,… các loại đấtmặn khác chủ yếu trồng lúa kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản; nhóm đất phèn có 75.823 ha, trong đóchia ra làm 2 loại đất phèn hoạt động và đất phèn tiềm tàng, sử dụng loại đất này theo phương thức

đa canh, trồng lúa kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản; nhóm đất nhân tác có 46.146 ha

Mặc dù còn một số hạn chế về điều kiện tự nhiên như thiếu nước ngọt và bị xâm nhập mặntrong mùa khô, một số khu vực bị nhiễm phèn, nhưng việc sử dụng đất ở Sóc Trăng lại có nhiềuthuận lợi cơ bản để phát triển nông, ngư nghiệp đa dạng và trên cơ sở đó hình thành những khu dulịch sinh thái phong phú

Đặc biệt, Sóc Trăng còn có dải cù lao thuộc huyện Kế Sách, Long Phú và Cù Lao Dungchạy dài ra tận cửa biển với nhiều cây trái nhiệt đới, không khí trong lành như cồn Mỹ Phước, khu

du lịch Song Phụng, Cù Lao Dung, là địa điểm lý tưởng để phát triển loại hình du lịch sinh thái

2.1.3.3 Đặc điểm địa hình

Sóc Trăng có địa hình thấp và tương đối bằng phẳng Độ cao tuyệt đối từ 0.4 – 1.5 m, độdốc thay đổi khoảng 45 cm/km chiều dài Nhìn chung địa hình tỉnh Sóc Trăng có dạng lòng chảo,cao ở phía sông Hậu và biển Đông thấp dần vào trong, vùng thấp nhất là phía Tây và Tây Bắc.Tiểu địa hình có dạng gợn sóng không đều, xen kẽ là những giồng cát địa hình tương đối cao vànhững vùng thấp trũng nhiễm mặn, phèn Đó là những dấu vết trầm tích của thời kỳ vận động biểntiến và lùi tạo nên các giồng cát và các vùng trũng ở các huyện Mỹ Tú, thị xã Sóc Trăng, MỹXuyên, Long Phú, Vĩnh Châu Vùng đất phèn có địa hình lòng chảo ở phía Tây và ven kinh CáiCôn có cao trình rất thấp, từ 0 – 0.5 m, mùa mưa thường bị ngập úng làm ảnh hưởng tới hoạt độngsản xuất và đời sống nhân dân trong vùng Vùng cù lao trên sông Hậu cũng có cao trình thấp,thường bị ngập khi triều cường, vì vậy để đảm bảo sản xuất phải có hệ thống đê bao chống lũ

2.1.3.4 Sông ngòi

Sóc Trăng có hệ thống kinh rạch chịu ảnh hường của chế độ thủy triều ngày lên xuống 2lần, mực triều dao động trung bình từ 0.4 m đến 1 m Thủy triều vùng biển không những gắn liềnvới các hoạt động sản xuất mà còn ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sinh hoạt thường ngày Nhờvào địa thế đặc biệt, nơi dòng sông Hậu đổ ra biển Đông Nam bộ, vùng có nhiều trữ lượng tôm cá,Sóc Trăng có đủ điều kiện thuận lợi để cũng như phát triển kinh tế biển tổng hợp

Trang 24

2.1.3.5 Sinh vật

Sóc Trăng còn có nguồn tài nguyên rừng với diện tích 11.356 ha Trong đó rừng tự nhiênchiếm 66.5% với các cây như mắm, bần, giá, sú Diện tích rừng trồng là 33.5% với các loại câynhư tràm, đước, mắm, dừa nước,… Rừng của Sóc Trăng thuộc hệ rừng ngập mặn ven biển và rừngtràm ở khu vực đất nhiễm phèn

Với hệ sinh thái ngập mặn có đường bờ biển dài 72 km và diện tích đồng bằngrộng lớn, SócTrăng có hệ động vật khá phong phú, bao gồm sinh vật nước mặn như tôm,cua, còn có những sinhvật nước lợ và nước ngọt bao gồm các loại cá đồng, cá biển, cá da trơn,… Trên mặt nước nhiềusinh vật cũng đang phát triển mạnh như rái cá, khỉ, heo rừng, chim, dơi,… Chính điều này cànglàm cho hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Sóc Trăng thêm phong phú về thực vật và động vật

2.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Sóc Trăng đạt gần 1.303.700 người với mật độ dân sốđạt 394 người/km² Trong khi đó, mật độ dân số của vùng đồng bằng sông Cửu Long là 434 người/

km2, chứng tỏ rằng dân cư ở đây còn thưa thớt Thêm vào đó, là sự phân bố không đồng đều giữadân số sống tại thành thị và dân số sống tại nông thôn, giữa dân số nam và dân số nữ

Các đơn vị hành chính của năm 2010: Sóc Trăng bao gồm 1 thành phố, 10 huyện: Thànhphố Sóc Trăng; Huyện Mỹ Xuyên; Huyện Vĩnh Châu; Huyện Cù Lao Dung; Huyện Kế Sách;Huyện Mỹ Tú; Huyện Châu Thành; Huyện Ngã Năm; Huyện Trần Đề; Huyện Thạnh Trị; HuyệnLong Phú

Về kinh tế, Sóc Trăng là một tỉnh có vị trí ven biển của vùng đồng bằng Sông Cửu Long,với lịch sử hình thành và phát triển còn khá là non trẻ, nên nền kinh tế chủ yếu thuộc lĩnh vực sau:Nông – Lâm – Ngư nghiệp, Công nghiệp – Xây dựng và Thương mại – Dịch vụ

+ Nông – Lâm – Ngư nghiệp: với diện tích đất nông nghiệp là 276.677 ha, với độ màu mởcao nên thích hợp để canh tác nền nông nghiệp lúa nước ( chiếm 90% đất canh tác) Diện tích rừngven biển của tỉnh là 11.356 ha, thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ở khu vựcđất nhiễm phèn, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các nền kinh tế biển Bên cạnh đó canh tácthủy hải sản cũng không ngừng khẳng định vị thế của mình, và từng bước chứng tỏ mình là nềnkinh tế mũi nhọn của tỉnh Sóc Trăng, góp phần không nhỏ vào việc cải thiện việc làm, tăng thunhập và tăng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh

+ Công nghiệp – Xây dựng: với mục tiêu hướng tới phát triển kinh tế nên các ngành côngnghiệp tại Sóc Trăng đang được chú trọng đầu tư và phát triển

Trang 25

Hiện nay với tỉ trọng trong ngành công nghiệp của tỉnh vẫn còn thấp, chưa cân xứng vớitiềm năng sẵn có nhưng những năm qua tỉnh đã không ngừng đầu tư phát triển chẳng những về quy

mô mà còn đa dạng hóa sản phẩm

Các ngành công nghiệp đang là thế mạnh của tỉnh là: Công nghiệp chế biến lương thực thựcphẩm, công nghiệp chế biến thủy hải sản, công nghiệp mía đường Bên cạnh đó còn có côngnghiệp cơ khí, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác và các nghành tiểuthủ công nghiệp khác

+ Thương mại – Dịch vụ: một lĩnh vực được xem là khá mới mẻ trong sự phát triển của nềnkinh tế tỉnh nhà, nhưng nhờ có sự đầu tư cũng như chú trọng phát triển mà hiện nay thương mạidịch vụ đã có những bước phát triển đáng kể Chính từ những thế mạnh sẵn có về nông sản, thủysản để xây dựng và đầu tư đầu mối, thương mại Bên cạnh đó, tiềm năng về du lịch cũng là mộtnhân tố góp phần đa dạng hóa nền kinh tế thương mại dịch vụ, với những hình thức du lịch đa dạngnhư: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch tôn giáo…

2.2 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH SÓC TRĂNG

2.2.1 Di tích lịch sử - văn hóa – nghệ thuật – kiến trúc

Theo thống kê của sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng, toàn tỉnh hiện có 31 ditích được công nhận và xếp hạng Trong đó có 7 di tích lịch sử cấp quốc gia và hơn 10 di tích cấptỉnh

Bảng 2.1 Thống kê các di tích và khả năng thu hút du khách của tỉnh Sóc Trăng

Trang 26

4 Đình Hòa Tú Ấp Hòa Trực, xã Hòa Tú I,

Trăng

*

9 Khu du tích lưu niệm

doanh nhân Lương

Định Của

Ấp Ngãi Hội 1, xã Đại Ngãi,huyện Long Phú…

**

11 Thánh thất Cao Đài 52 đường 30/4, Khóm 6, P 3,

(chùa Sro Lon)

Quốc lộ 1A, thuộc xã ĐạiTâm, huyện Mỹ Xuyên

***

Trang 27

16 Chùa Đất Sét 286 đường Tôn Đức Thắng,

thuộc phường 5, thànhphố Sóc Trăng

***

Chú thích:

*** Rất thu hút ; ** Thu hút; * Chưa thu hút

Sau đây là một số nét sơ lược về các di tích quan trọng của tỉnh:

Trong khuôn viên chùa còn có khu vực dành riêng cho Trường Trung cấp Pali Nam Bộđược ngân sách nhà nước cấp xây dựng mới, để đào tạo những vị sư cho các chùa cũng như đểgiảng dạy văn hóa và dạy chữ Khmer Ngoài ra, chùa còn là nơi cử hành các nghi thức lễ truyềnthống của dân tộc Khmer: Tết Chôl –Chnăm – Thmây, lễ hội Dolta, Lễ Ok om bok và đua gheNgo,

Khi đến tham quan tại ngôi chùa, du khách sẽ chiêm ngưỡng được vẻ đẹp cổ kính của ngôichùa, cùng với không gian yên tĩnh mà cây cối mang lại Du khách có thể đến đây bất kì khoảngthời gian nào trong năm, tuy nhiên lúc thu hút nhiều du khách nhất đó là khoảng thời gian sau TếtNguyên Đán, đặc biệt là các lễ tết cổ truyền của người dân Khmer đó là lễ Chol Chăm Thmay, lễDolta, lễ Ok om bok,

b Chùa Mahatup (chùa Dơi)

Cách trung tâm thành phố Sóc Trăng khoảng 3km, thuộc phường 3, thành phố Sóc Trăng.Chùa Dơi mà tiếng Khmer gọi là Serây técbô mabatúp, có nghĩa là do phúc đức tạo nên Không ainhớ nổi ngôi chùa này ra đời khi nào và do ai trụ trì đầu tiên

Trang 28

Đây là một địa điểm du lịch tiêu biểu của tỉnh Sóc Trăng của du khách thập phương Điểmđặc biệt nhất của ngôi chùa này là sự tồn tại của hàng ngàn con dơi, đúng như cái tên thường gọicủa nó Hơn thế nữa, chùa Dơi còn có những kiến trúc đặc trưng tiêu biểu cho nền phật giáo tiểuthừa của đồng bào dân tộc Khmer Một địa điểm du lịch độc đáo nổi tiếng của vùng đất Sóc Trăngnày.

Du khách đến tham quan tìm hiểu chùa Dơi, quý khách được tham quan khuôn viên chùavới ngôi chánh điện được xây dựng và trang trí đẹp mắt, nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc của Phậtgiáo nguyên thủy, đối diện là Sa la được xây dựng rộng rãi, để cho các Phật tử, sư sãi làm việc,nghỉ ngơi, sinh hoạt, đây là nơi trưng bày dàn nhạc ngũ âm là loại nhạc truyền thống lâu đời củangười dân Khmer, bên hiên của Sala du khách sẽ thấy được chiếc ghe ngo, đây là phương tiện đểngười dân thi đấu bơi trên sông với nhau vào ngày lễ Ok om bok Điều đặc biệt mà khi du kháchđến đây không thể bỏ qua đó là nhìn ngắm những con Dơi ngựa treo lủng lẳng trên cây cao, rồiđược nhìn và nghe các sư sãi trong chù kể về truyền thuyết heo Năm móng nổi tiếng của ngôi chùa

Vì tọa lạc tại trung tâm thành phố nên khi du khách đến đây thì đây là điểm tham quankhông thể bỏ qua Du khách đến đây tham quan có thể đi vào mọi thời điểm, vì điều kiện khí hậu ởđây không quá khắc nghiệt, con người ở đây cũng rất thân thiện và đón chào du khách một cáchnồng hậu

c Chùa Đất sét (Bửu Sơn Tự)

Ngôi chùa có tên chữ là Bửu Sơn tự tọa lạc trên phần đất rộng gần 400m² tại 163A, đườngLương Định Của, phường 5, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Chùa được gia đình người họNgô xây dựng, người có công cuối cùng cũng là người có công nhiều nhất trong việc xây dựngngôi chùa đó là ông Ngô Kim Tòng

Điều gây ngạc nghiên và nể phục với khách tham quan chính là 4 cặp nến cao 2,6 m trongchùa Ba cặp nến lớn, mỗi cây nặng 200 kg, bề ngang bằng 1 vòng tay người ôm, còn cặp nhỏ mỗicây nặng 100 kg được đốt cháy liên tục suốt ngày đêm kể từ năm 1970 khi ông Tòng mất Cây nếnvẫn đang cháy và dự kiến có thể cháy thêm vài năm nữa mới tắt Đó là chưa nói trong chùa còn 3cây nhang lớn, mỗi cây nặng 50kg chưa sử dụng, cao 1,5m, nếu thắp lên chắc sau vài năm mới tàn

d Khu căn cứ tỉnh ủy rừng tràm Mỹ Phước

Di tích khu căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng nằm trong khu rừng tràm phân trường Mỹ Phước,thuộc địa phận xã Mỹ Phước, Huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng Căn cứ Tỉnh ủy rừng tràm Mỹ Phước

là cái nôi của Đảng bộ, là trung tâm điểm cách mạng, đồng thời là một minh chứng, khẳng địnhlòng tin, sự che chở của dân đối với Đảng, là nguyên nhân, là sức mạnh giúp cho Đảng bộ Sóc

Ngày đăng: 16/06/2019, 15:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Công tác phía Nam, Sóc Trăng vùng đất giàu tiềm năng du lịch, xem tạihttp://vhttdlkv3.gov.vn/Ve-dep-phuong-Nam/Soc-TrangVung-dat-giau-tiem-nang-du-lich.1238.detail.aspx 2 Link
17. Cổng thông tin điện tử Du lịch, Khách sạn Việt Nam – Hiệp hội Du lịch Việt Nam, Sóc Trăng – Vùng đất giàu tiềm năng du lịch, xem tạihttp://www.vietnamtourism.com.vn/news/vn/detail/330/21060 Link
1. Trần Thúy Anh, Triệu Thế Việt, Nguyễn Thu Thủy, Phạm Thị Bích Thủy, Phan Quang Anh (2013), Giáo trình du lịch văn hóa những lý luận và nghiệp vụ, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
2. Trần Đức Cường (chủ biên), Võ Sĩ Khải, Nguyễn Đức Nhuệ, Lê Trung Dũng (2016), Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam bộ (Từ khởi thủy đến năm 1945), NXB Khoa Học - Xã Hội 3. Đào Ngọc Cảnh (2009), Giáo trình Tổng quan du lịch, NXB Trường Đại học Cần Thơ Khác
4. Sơn Phước Hoan (Chủ biên), Sơn Ngọc Sang, Danh Sên (1998), Các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ, NXB Giáo dục Khác
5. Hồ Phước Hưng (2014), Nghệ thuật tạo hình của người Khmer ở Sóc Trăng, NXB Công ty cổ phần in Sóc Trăng Khác
6. Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2006), Luật Du lịch, NXB Chính trị quốc gia Khác
7. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
8. Võ Minh Tín (2013), Các loại hình du lịch, Tài liệu lưu hành nội bộ, Trường Đại học Văn Hiến Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w