1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của XNM lên việc canh tác lúa trên địa bàn huyện trần đề, tỉnh sóc trăng

66 99 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

---TÓM TẮTNghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá biến động mặn và tác động của xâm nhập mặn đến canh tác lúa của người dân vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long trường hợp nghiên cứu tại huy

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

TÓM TẮT vi

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC BẢNG ix

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Nội dụng nghiên cứu 2

1.3.1 Thu thập các tài liệu, số liệu 2

1.3.2 Xác định hiện trạng canh tác lúa 2 vụ trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016 2

1.3.3 Đánh giá biến động mặn từ năm 2010 - 2016 3

1.3.4 Đánh giá tác động của xâm nhập mặn đến các khía cạnh kinh tế - xã hội - môi trường trong vùng canh tác lúa từ năm 2010 - 2016 3

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 4

2.1 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài 4

2.1.1 Ngoài nước 4

2.1.2 Trong nước 5

2.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 6

2.2.1 Vị trí địa lý 7

2.2.2 Đặc điểm địa hình 8

2.2.3 Điều kiện khí tượng thủy văn 9

2.2.3.1 Khí tượng 9

2.2.3.2 Chế độ thủy văn 10

2.2.4 Tài nguyên 10

2.2.4.1 Tài nguyên nước 10

Trang 2

-2.2.4.2 Tài nguyên đất 11

2.2.5 Điều kiện kinh tế - xã hội 12

2.2.5.1 Tăng trưởng kinh tế 12

2.2.5.2 Dân số 12

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

3.1 Phương pháp thu thập số liệu 13

3.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp 13

3.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp 14

3.2 Xử lý số liệu 16

3.2.1 Phương pháp thống kê mô tả 16

3.2.2 Công cụ GIS 18

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19

4.1 Hiện trạng canh tác lúa 2 vụ trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016 19

4.1.1 Lịch thời vụ của canh tác lúa 2 vụ 19

4.1.2 Hệ thống sông, kênh, cống điều tiết nước cho canh tác lúa 2 vụ 22

4.2 Biến động mặn trong giai đoạn 2010 - 2016 23

4.3 Tác động của XNM đến các khía cạnh kinh tế - xã hội - môi trường trong vùng canh tác lúa… 26

4.3.1 Tác động của XNM đối với các khía cạnh của kinh tế 27

4.3.2 Tác động của XNM đối với các khía cạnh của xã hội 33

4.3.2.1 Tác động của XNM đối với các vấn đề di cư lao động 33

4.3.2.2 Tác động của XNM đối với các vấn đề mâu thuẫn trong xã hội 36

4.3.3 Tác động của XNM đối với các khía cạnh của môi trường 38

4.3.3.1 Tác động của XNM đến môi trường nước 38

4.3.3.2 Tác động của XNM đến môi trường đất 40

4.3.4 Tác động tổng hợp của XNM đến các khía cạnh của kinh tế - xã hội - môi trường trong vùng canh tác lúa 41

4.3.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tác động của XNM trong vùng canh tác lúa43 4.3.5.1 Giải pháp công trình 43

Trang 3

4.3.5.2 Giải pháp phi công trình 44

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Kiến nghị 46

TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

PHỤ LỤC 50

Trang 4

-TÓM TẮT

Nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá biến động mặn và tác động của xâm nhập mặn đến canh tác lúa của người dân vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (trường hợp nghiên cứu tại huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng) Nghiên cứu sử dụng phương pháp kế thừa (thu thập số liệu thứ cấp) và phương pháp phỏng vấn nông hộ (canh tác lúa 2 vụ) và phỏng vấn cán bộ (tu thập số liệu sơ cấp) nhằm đánh giá và điều tra về biến động mặn và tác động của XNM đến các khía cạnh của kinh tế - xã hội - môi trường trong vùng canh tác lúa (2 vụ) từ năm 2010 - 2016 Kết quả nghiên cứu cho thấy, LTV ở khu vực nghiên cứu trong giai đoạn 2010 - 2016 diễn ra không đồng bộ, có sự chênh lệch giữa các nông hộ và có sự thay đổi phức tạp Vụ Hè Thu bắt đầu xuống giống từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 7 và thu hoạch vào cuối tháng 8 đến giữa tháng, vụ

Đông Xuân bắt đầu xuống giống từ giữa tháng 10 đến hơn giữa tháng 11 và thu hoạch vào cuối

tháng 1 đến đầu tháng 3 Bên cạnh đó, trong giai đoạn này, hệ thống sông, kênh và cống điều tiết nước ở đây cũng đang trong giai đoạn thực hiện nâng cấp và sửa chữa và cho đến nay cũng đã được thực hiện khá hoàn thiện Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, mặn có sự biến động với xu hướng gia tăng cả về nồng độ mặn và thời gian xâm nhập mặn trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016 tại cống Bà Xẩm và cống Cái Xe (nhất là vào năm 2016) Đặc biệt, xâm nhập mặn (2015 - 2016) đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các khía cạnh về kinh tế trong vụ Đông Xuân của hệ thống canh tác lúa 2 vụ Bên cạnh đó, vụ Hè Thu năm 2016 và Đông Xuân năm 2016 -

2017 cũng bị ảnh hưởng đáng kể do đợt xâm nhập mặn 2015 - 2016 gây ra Ngoài ra, xâm nhập mặn còn một số tác động nghiêm trọng như: làm tăng số lượng lao động di cư tự do của người dân gây ra việc thiếu lao động tại vùng nghiên cứu, làm phát sinh một số mâu thuẫn trong xã hội Bên cạnh đó, xâm nhập mặn cũng gây ra những ảnh hưởng rất lớn đến môi trường (môi trường đất và môi trường nước) tại khu vực nghiên cứu.

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Khu vực nghiên cứu 8

Hình 2: Sơ đồ phương pháp nghiên cứu 13

Hình 3: Thang đo Likert 5 mức độ 17

Hình 4: LTV của huyện Trần Đề giai đoạn 2010 - 2016 19

Hình 5: Sự thay đổi của LTV vụ Hè Thu qua các giai đoạn của huyện Trần Đề từ năm 2010 -2016 20

Hình 6: Sự thay đổi của LTV vụ Đông Xuân qua các giai đoạn của huyện Trần Đề từ năm 2010 -2016 21

Hình 7: Hiện trạng thủy lợi huyện Trần Đề giai đoạn 2010 - 2016 23

Hình 8: Diễn biến nồng độ mặn tại các cống Bà Xẩm giai đoạn 2010 - 2016 24

Hình 9: Diễn biến nồng độ mặn tại các cống Cái Xe giai đoạn 2010 - 2016 25

Hình 10: Diễn biến nồng độ mặn tại các cống quan trắc giai đoạn 2010 - 2016 26

Hình 11: Các giai đoạn và các khía cạnh của kinh tế - xã hội - môi trường bị tác động bởi XNM trong giai đoạn năm 2010 - 2016 27

Hình 12: Diện tích lúa vụ Đông Xuân bị ảnh hưởng bởi mặn năm 2015 - 2016 29

Hình 13: Năng suất lúa trong giai đoạn canh tác bình thường với giai đoạn canh tác bị tác động bởi XNM 32

Hình 14: Hiệu quả đồng vốn giữa giai đoạn bình thường và giai đoạn bị tác động bởi XNM trong vùng canh tác lúa 2 vụ giai đoạn 2010 - 2016 33

Hình 15: Nguyên nhân di cư của người dân tại vùng nghiên cứu 34

Hình 16: Hiệu quả về các khía cạnh của di cư trong xã hội giữa giai đoạn bình thường và giai đoạn bị tác động bởi XNM trong vùng canh tác lúa 2 vụ 36

Hình 17: Một số mâu thuẫn phát sinh bởi tác động của XNM trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016 .37

Hình 18: Hiệu quả về xã hội giữa canh tác bình thường và canh tác bị tác động bởi XNM trong vùng canh tác lúa 2 vụ giai đoạn 2010 - 2016 38

Hình 19: Hiệu quả về canh tác bị tác động bởi XNM môi trường nước giữa giai đoạn canh tác bình thường và giai đoạn canh tác bị tác động bởi XNM 39

Hình 20: Hiệu quả về môi trường đất giữa giai đoạn canh tác bình thường và giai đoạn canh tác bị tác động bởi XNM 41

Trang 6

-Hình 21: Hiệu quả tổng hợp của kinh tế - xã hội - môi trường trong vùng canh tác lúa ở giai đoạncanh tác bình thường và giai đoạn canh tác bị tác động bởi XNM 43

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Tài liệu thu thập 14

Bảng 2: Tiêu chí chọn vùng nghiên cứu 15

Bảng 3: Các chỉ tiêu đánh giá kinh tế - xã hội - môi trường 16

Bảng 4: Kết quả phân tích kinh tế trong giai đoạn canh tác bình thường 28

Bảng 5: Kết quả phân tích kinh tế trong giai đoạn canh tác bị tác động bởi XNM năm 2015 -2016 30

Bảng 6: Kết quả phân tích kinh tế trong giai đoạn canh tác bị tác động bởi XNM năm 2016 -2017 31

Bảng 7: Hiệu quả về kinh tế - xã hội - môi trường trong vùng canh tác lúa ở giai đoạn canh tác bình thường và canh tác bị tác động bởi XNM 41

Bảng 8: Tiến độ thực hiện đề tài 46

Trang 8

-DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 BĐKH Biến đổi khí hậu

2 ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

3 GIS Hệ thống thông tin địa lý Geographic Information System

4 KIP Phỏng vấn những người am

hiểu cung cấp thông tin

Key Informant Panel

6 LLLĐ Lực lượng lao động

8 NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn

9 TN&MT Tài nguyên và Môi trường

10 TBNN Trung bình nhiều năm

Trang 9

Chương 1 GIỚI THIỆU1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng hạ lưu của sông Mekong trướckhi đổ ra Biển Đông (Van, 2009), là nơi sản xuất lương thực và thực phẩm lớn nhấtViệt Nam, đóng góp hơn 53% sản lượng lúa gạo, 65% sản lượng nuôi trồng thủy

sản và khoảng 75% nguồn trái cây cho cả nước (Tuan et al., 2013) Tuy nhiên,

ĐBSCL lại là nơi chịu sự tác động của hai khối nước lớn là nước sông Mekong vàthủy triều của biển, do đó ĐBSCL có chế độ thủy văn rất phức tạp Trong mùa cạn,khi nước từ thượng nguồn về thấp, thủy triều xuất hiện mang nước mặn xâm nhậpsâu vào nội đồng gây khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất, đặc biệt trong bối cảnhbiến đổi khí hậu (BĐKH), mực nước biển có thể dâng cao dẫn đến nguy cơ mộtphần lớn đồng bằng sẽ bị ngập lụt và nhiễm mặn (Cục Quản lý tài nguyên nước,

2012) Bên cạnh đó, theo Syvitski et al., 2009 thì ĐBSCL là một trong những khu

vực chịu tổn thương lớn nhất của BĐKH và nước biển dâng (NBD) trên thế giới,

và là khu vực hiện nay đang bị ảnh hưởng nặng nhất của hạn hán, xâm nhập mặn(XNM) (Tổng cục thủy lợi, 2016)

Sóc Trăng là một tỉnh ven biển của ĐBSCL, nằm ở phía Nam cửa sông Hậu, cóđịa hình tương đối thấp và bằng phẳng với nhiều vùng sinh thái tự nhiên khác nhauđược đặc trưng bởi nguồn nước (mặt) ngọt - mặn - lợ, hệ thống đất giồng cát, đồngtrũng tạo điều kiện đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, hệ thống canh tác lúa 2 vụ,hoa màu, cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản lợ - mặn, góp phần thúc đẩy phát triển

kinh tế cho người dân địa phương (Linh et al, 2014) Với vị trí vùng ven biển Sóc

Trăng là 1 trong 10 tỉnh thuộc ĐBSCL bị ảnh hưởng nặng nề của BĐKH và NBD.Đối với tỉnh Sóc Trăng, BĐKH làm cho mực NBD, hạn hán, ngập lụt xảy ra vớitần suất ngày càng lớn hơn, những yếu tố đó sẽ làm gia tăng ngập úng, XNM, lantràn chua phèn,… BĐKH gây ra hạn hán, cùng với NBD, dòng sông cạn kiệt làtác nhân đưa nước mặn từ biển xâm nhập sâu vào đất liền, vào hạ lưu các sông

Mỹ Thanh, sông Hậu (Trung tâm kỹ thuật môi trường) Trần Đề là một huyệnven biển của tỉnh Sóc Trăng, nằm ở cuối dòng sông Hậu của miền Nam Việt Nam,nằm trên trục giao thông Quốc lộ Nam sông Hậu mới mở nối liền thành phố CầnThơ, tỉnh Hậu Giang, với tỉnh Bạc Liêu, cách Thành phố Hồ Chí Minh 260 km.Phần lớn diện tích là đất nhiễm mặn với diện tích tự nhiên 37,875.98 km2, dân

số 130,077 người, huyện được thành lập 23/12/2009 và chính thức đi vào hoạtđộng từ ngày 1/4/2010 (Cổng thông tin điện tử huyện Trần Đề) Là huyện venbiển bên cạnh các hoạt động đánh bắt nuôi trồng thủy hải sản thì các ngành côngnghiệp tiểu thủ công nghiệp thương mại dịch vụ cũng phát triển, đáng kể nhất là

Trang 10

sản xuất lúa Tuy nhiên huyện phải thường xuyên đối mặt với tình trạng khô hạn,thiếu nước ngọt vào mùa khô làm ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động canh tác lúacủa huyện.Theo Trung tâm kỹ thuật môi trường thì hạ lưu sông Hậu và sông MỹThanh là nơi thường xuyên bị nước mặn từ biển xâm nhập thông qua hai củabiển là Trần Đề và Mỹ Thanh mà huyện Trần Đề là huyện có cả hai con sông Hậu

và Mỹ Thanh đổ ra biển qua của biển Trần Đề và Mỹ Thanh Vì thế mà mỗi nămhuyện Trần Đề luôn đối mặt với tình trạng thiếu nước ngọt do mặn xâm nhập vàonội đồng ảnh hưởng rất lớn đến canh tác nông nghiệp của người dân trong huyện

Vì vậy, có thể nói tình trạng XNM là tình trạng đáng báo động tại khu vực này

Từ những vấn đề nêu trên, việc thực hiện đánh giá “Tác động của XNM lên việc canh tác lúa trên địa bàn huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng” là rất cấp thiết

nhằm đánh giá biến động của mặn và tác động của XNM lên việc canh tác lúa, từ

đó có thể hỗ trợ các nhà quản lý có được cái nhìn cụ thể về xu hướng thay đổi củamặn và tác động của XNM đến canh tác lúa để đưa ra những biện pháp, kế hạchnhằm góp phần nào giảm nhẹ được tác động của XNM đến canh tác của người dân,giúp người dân có cuộc sống ổn định hơn

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.3 Nội dụng nghiên cứu

1.3.1 Thu thập các tài liệu, số liệu

Các số liệu thứ cấp về quan trắc độ mặn được thu thập tại Chi cục Thủy lợitỉnh Sóc Trăng, báo cáo đánh giá hiện trạng thủy lợi của 7 vùng dự án trong tỉnhSóc Trăng được thu thập tại Công ty Cổ phần Thủy lợi Sóc Trăng Thu thập số liệu

từ báo cáo về XNM của ĐBSCL từ Tổng cục thủy lợi Báo cáo XNM tỉnh SócTrăng được thu thập tại Sở NN&PTNT tỉnh Sóc Trăng Thu thập báo cáo nôngnghiệp huyện Trần Đề, báo cáo XNM huyện Trần Đề tại phòng nông nghiệp huyệnTrần Đề, Thu thập số liệu từ các bài báo, tạp chí khoa học trường Đại học CầnThơ

1.3.2 Xác định hiện trạng canh tác lúa 2 vụ trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016

Trang 11

Xác định lịch thời vụ (LTV), xác định hệ thống sông, kênh, cống điều tiếtnước cho canh tác lúa 2 vụ cũng như là xem xét mức độ hoàn thiện và chất lượngcác cống điều tiết nước tại khu vực Dựa trên kết quả xử lý các số liệu thứ cấp cũngnhư là các sơ cấp đã thu thập được phỏng vấn từ các cán bộ, các nông hộ tại khuvực nghiên cứu, từ đó xác định được hiện trạng canh tác lúa 2 vụ giai đoạn từ năm

2010 – 2016 trên địa bàn huyện Trần Đề

1.3.3 Đánh giá biến động mặn từ năm 2010 - 2016

Các số liệu về mặn từ 2010 - 2016 được sử dụng để đánh giá và so sánh nồng

độ mặn tại các trạm quan trắc từ năm 2010 - 2016 trên địa bàn huyện Trần Đề

1.3.4 Đánh giá tác động của xâm nhập mặn đến các khía cạnh kinh tế - xã hội - môi trường trong vùng canh tác lúa từ năm 2010 - 2016

− Đánh giá chung về tác động của XNM đến vùng canh tác lúa và xác định giai đoạn

bị ảnh hưởng bởi XNM;

− Phân tích, so sánh hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường trong giai đoạn canh tácbình thường và giai đoạn canh tác bị XNM và đánh giá tác động của XNM đến cáckhía cạnh của kinh tế - xã hội – môi trường;

− Đánh giá tác động tổng hợp của XNM đến khía cạnh kinh tế - xã hội - môi trườngtrong vùn canh tác lúa

Đối với việc đánh giá tác động của XNM đến các khía cạnh kinh tế xã hội môi trường trong vùng canh tác lúa, trước hết cần phân tích đánh giá chung về tácđộng của XNM đến canh tác lúa: năng suất, lợi nhuận, nguồn nước tưới, lịch thời

-vụ, cơ cấu sử dụng đất Bên cạnh đó là các vấn đề về di cư và mâu thuẫn, ngoài racòn có các tác động về môi trường đất và nước Và kết quả phỏng vấn cán bộ vềtình hình chung tác động của XNM đến các khía cạnh kinh tế - xã hội - môitrường Từ đó đánh giá chung về tác động của XNM đến canh tác lúa cũng như từ

đó xác định được các giai đoạn mà XNM tác động Sau đó phân tích hiệu quả vềkinh tế: chi phí trung bình, thu nhập trung bình, lợi nhuận trung bình, hiệu quả sửdụng đồng vốn; xã hội: di cư, mâu thuẫn xã hội; môi trường: môi trường nước, môitrường đất trong giai đoạn canh tác bình thường và giai đoạn canh tác bị tác độngbởi XNM Từ các kết quả đó, so sánh hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường giữagiai đoạn canh tác bình thường và giai đoạn canh tác bị tác động bởi XNM Việc sosánh đó sẽ hỗ trợ một cách hiệu quả và minh bạch trong việc đánh giá tác động củaXNM đến các khía cạnh kinh tế - xã hội - môi trường trong vùng canh tác lúa

Trang 12

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Với xu thế phát triển kinh tế xã hội như hiện nay thì nhu cầu sử dụng nước(nước ngọt và nước sạch) cho các hoạt động của nước ta ngày một tăng cao Bêncạnh đó, nước ta là nước nông nghiệp nên tài nguyên nước là nguồn tài nguyên rấtquan trọng Nhưng hiện nay tình trạng XNM đã và đang diễn ra ngày càng gay gắtảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn tài nguyên nước của nước ta, đặc biệt là XNM

đã gây tình trạng thiếu nguồn nước ngọt trầm trọng và nồng độ mặn cao xâm nhậpvào khu vực nội đồng làm ảnh hưởng đến năng suất lúa của nước ta

Theo Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai: XNM là hiện tượng nướcmặn với nồng độ mặn bằng 4‰ xâm nhập sâu vào nội đồng khi xảy ra triều cường,NBD hoặc cạn kiệt nguồn nước ngọt Sự XNM của nước biển được giải thích là domùa khô nước giảm mạnh, khô hạn kéo dài nguồn nước ngọt trên thường nguồn vềkhông kịp hoặc có thể là về ít không đủ, từ đó nước biển theo các sông, kênh vàrạch tràn vào nội đồng Trong những năm gần đây, XNM đang diễn ra theo chiềuhướng ngày càng nghiêm trọng ở các tỉnh ven biển ĐBSCL làm thay đổi tính chấtđất theo chiều hướng bất lợi, diện tích đất nhiễm mặn ngày càng mở rộng và gây

trở ngại cho sản xuất nông nghiệp (Viet et al, 2015) Theo số liệu báo cáo của

Tổng cục thủy lợi, 2016 thì do ảnh hưởng của XNM, từ cuối năm 2015 đến năm

2016, nhiều diện tích cây trồng đã bị tác động Ở vụ Mùa và vụ Thu Đông năm

2015 có khoảng 90,000 ha bị ảnh hưởng đến năng suất, trong đó thiệt hại nặngkhoảng 50,000 ha (Kiên Giang 34,000 ha, Sóc Trăng 6,300 ha, Bạc Liêu 5,800ha, ) Vụ Đông Xuân có 104,000 ha bị ảnh hưởng nặng đến năng suất (chiếm 11%diện tích gieo trồng 8 tỉnh ven biển đang bị ảnh hưởng nặng của XNM)

2.1 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1.1 Ngoài nước

Nghiên cứu của tác giả Barlow et al., 2012 với đề tài “ XNM ở các vùng ven

biển Bắc Mỹ đã chỉ được nguyên nhân gây ra XNM là do việc khai thác nướcngầm và việc xây dựng các kênh tưới, tiêu nước Đồng thời cũng nêu ra được ảnhhưởng của XNM đến tầng chứa nước, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng của nguồnnước ngầm trong các giếng cung cấp nước

Năm 2009 nhà khoa học Mahmoud A Abdelfattah et al.,2009 đã tiến hành

nghiên cứu ứng dụng công nghệ Geography Information Systerm (GIS) và Viễnthám vào xây dựng mô hình thành lập bản đồ đất nhiễm mặn tại Abu Dhabi, ẢRập Sử dụng sản phẩm viễn thám mà cụ thể là ảnh Landsat-7 ETM và mẫu đất thuthập dùng để xây dựng song song hai mô hình Kết quả so sánh thực tế có độ tincậy là 91.2%, cho thấy khả năng ứng dụng kết hợp GIS và Viễn thám cho hiệu quả

Trang 13

rất cao Ngoài ra, Trong hoạt động nông nghiệp, nghiên cứu ước tính độ mặn của

đất trong cánh đồng ngô cũng được nhà khoa học Ahmed Eldiery et al tiến hành

thực hiện Bằng công cụ là dữ liệu viễn thám và GIS, kết hợp mẫu đất thực đo, cácnhà khoa học đã thành lập được bản đồ thể hiện mức độ mặn của đất dựa trên sựthay đổi sinh trưởng của cây ngô dưới tác động của độ mặn gia tăng trong đất Từ

đó kịp thời có các biện pháp ứng phó nhằm giảm thiểu thiệt hại đến nông nghiệp ởmức thấp nhất

Nghiên cứu XNM ở vùng cửa sông - áp dụng cho cửa sông Thái Bình củaPGS.TS Nguyễn Trung Việt thuộc Đại học Thủy lợi và ThS Nguyễn Văn Lựcthuộc Viện Khoa học Thủy lợi miền Trung và Tây Nguyên Nghiên cứu đã dự báoXNM ở vùng cửa sông Thái Bình theo 2 kịch bản chưa có và có xét đến điều kiệnBĐKH, nước biển dâng Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp công trình, phi côngtrình cho việc phòng và chống XNM

Nghiên cứu của tác giả Tran Quoc Dat et al., 2012 thuộc trường Đại học Cần

Thơ và Đại học Chulalongkorn - Thái Lan đã tiến hành nghiên cứu mô phỏngXNM ở ĐBSCL dưới tác động của NBD và sự suy giảm lưu lượng nước từ thượngnguồn Trong nghiên cứu này, XNM ở ĐBSCL được mô phỏng cho những kịchbản khác nhau của mực nước biển dâng và lưu lượng thượng nguồn giảm bằng môhình MIKE11 Mô hình được xây dựng dựa trên cở sỡ dữ liệu của hai năm 1998 và

2005 Kết quả mô phỏng XNM năm 1998 được chọn kịch gốc so sánh với bốn kịchbản XNM vào các năm 2020 và 2030 Bốn kịch bản này được xây dựng dựa trênkịch bản CRES B2, kịch bản tăng diện tích nông nghiệp và kịch bản diện tích nôngnghiệp không đổi Hai kịch bản đầu là khi mực NBD 14 cm và lưu lượng thượngnguồn giảm 11% và 22% Kịch bản số ba và bốn là khi mực NBD 20cm và lưulượng thượng nguồn giảm 15% Kết quả mô phỏng cho thấy rằng độ mặn 2.5g/lxâm nhập 14 km sâu hơn kịch bản gốc năm 1998 Ngoài ra XNM cũng tác động

Trang 14

hầu hết các dự án ngăn mặn ở ĐBSCL và kết quả các kịch bản cũng cho ta thấybức tranh toàn cảnh về XNM ở ĐBSCL vào mùa khô có thể xảy ra trong tương lai.

Nghiên cứu của Tran Thi Le Hang et al., 2015 đã sử dụng mô hình thủy lực

(HEC-RAC) để đánh giá động thái XNM trên hê thống sông chính vùng hạ lưu sông Tiềndưới tác động công trình cống Ba Lai và kết quả mô phỏng XNM đã dự báo đượcchiều sâu xâm nhập 4 g/L cho các kịch bản trong tương lai trên các sông chính Kếtquả dự báo cho thấy rằng, vào năm 2020, ứng với lưu lượng nước thượng nguồngiảm 20%; mực nước biển tăng thêm 14 cm thì độ mặn 4 g/L có thể lấn sâu vàothêm 11 km trên sông Hàm Luông và 25 km so với kịch bản gốc cho năm 2030.Nhìn chung hai nghiên cứu này rất hữu ích cho quy hoạch tài nguyên nước ở vùng

hạ lưu sông Tiền nói riêng và ĐBSCL nói chung trong tương lai trong điều kiện tácđộng BĐKH

Năm 2013 Cục Quản lý tài nguyên nước đã thực hiện nghiên cứu và nghiêncứu này chỉ ra trong 3 năm tới diện tích đất lớn nhất có thể bị ảnh hưởng bởi độmặn lớn hơn 4‰ khoảng 1,605,200 ha, chiếm 41% diện tích toàn ĐBSCL, tăng255,100 ha so với thời kỳ nền 1991 - 2000; diện tích chịu ảnh hưởng của độ mặnlớn hơn 1‰ khoảng 2,323,100 ha, chiếm 59% tích tự nhiên, tăng 193,200 ha.Trong 50 năm tới, diện tích đất lớn nhất có thể bị ảnh hưởng bởi độ mặn lớn hơn4‰ khoảng 1,851,200 ha, chiếm 47% diện tích toàn ĐBSCL, tăng 439,200 ha sovới thời kỳ nền 1991 - 2000; diện tích chịu ảnh hưởng của độ mặn lớn hơn 1‰khoảng 2,524,100 ha, chiếm diện 64% tích tự nhiên, tăng 456,100 ha Gần 4/5 diệntích vùng bán đảo Cà Mau bị ảnh hưởng mặn (ngoại trừ phần diện tích Tây sôngHậu) Toàn bộ diện tích các dự án Gò Công, Bảo Định, Bắc Bến Tre, Mỏ Cày, NamMăng Thít, Tiếp Nhật, bị nhiễm mặn Ngoài các thành phố, thị xã Bến Lức, Tân

An, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên vốn đã bịảnh hưởng mặn sẽ thêm Mỹ Tho, Vĩnh Long và Cần Thơ bị ảnh hưởng do nướcmặn xâm nhập sâu hơn Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ đánh giá một cách tổng quát

về tác động của XNM cho ĐBSCL trong tương lai chứ chưa đi sâu vào đánh giámột cách cụ thể tác động của XNM cho hiện trạng sản xuất nông nghiệp nói chung

và canh tác lúa nước nói riêng Trong khi, đó là vấn đề quan trọng và đặc biệt, canhtác lúa là lĩnh vực bị tác động nặng nề của mặn

Ngoài ra, năm 2017 tác giả Tran Van Be et al., 2017 đã tiến hành nghiên cứu

với đề tài “Ảnh hưởng của XNM đến sản xuất nông nghiệp, thủy sản huyện Trần

Đề, tỉnh Sóc Trăng” Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn nông hộ (sảnxuất lúa và nuôi tôm) và phỏng vấn cán bộ địa phương, kết quả của nghiên cứu chothấy, XNM (mùa khô năm 2016) ảnh hưởng chủ yếu đến sản xuất lúa 2 vụ Trongkhi đó, để giảm ảnh hưởng của XNM, người nuôi tôm đã pha loãng nước trong

Trang 15

vuông tôm Bên cạnh đó, kết quả của nghiên cứu cũng cho thấy XNM đã ảnhhưởng đáng kế đến số lượng lao động di cư tự do của người dân gây ra biến độngnguồn lao động tại khu vực nghiên cứu Tuy nhiên, nghiên cứu nầy chưa đi sâu vàocác vấn đề về tác động cụ thể của XNM đối với các khía cạnh của kinh tế, xã hội

2015 là 1,310,700 người Tỉnh Sóc Trăng có 11 đơn vị hành chính gồm 01 thànhphố thuộc tỉnh, 2 thị xã (Vĩnh Châu và Ngã Năm) và 8 huyện (Kế Sách, Long Phú,

Cù Lao Dung, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Trần Đề và Châu Thành) với 109 xã,phường, thị trấn Thành phố Sóc Trăng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa củatỉnh

Sóc Trăng có địa giới hành chính tiếp giáp 4 tỉnh trong vùng ĐBSCL:

− Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang

− Phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long qua sông Hậu

− Phía Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu

− Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 72 km

Trang 16

Dựa vào địa hình có thể chia tỉnh Sóc Trăng thành 3 vùng như sau:

− Vùng địa hình thấp, vùng trũng: Tập trung ở huyện Mỹ Tú, Châu Thành, ThạnhTrị, Ngã Năm và một phần phía Bắc huyện Mỹ Xuyên, thường bị ngập dài vàomùa mưa;

− Vùng địa hình cao ven sông Hậu và ven biển, gồm các huyện Vĩnh Châu, Trần Đề,

Long Phú, Cù Lao Dung, cao trình từ 1,2 - 2 m, giồng cát cao đến 2 m;

− Vùng địa hình trung bình: gồm có thành phố Sóc Trăng và huyện Kế Sách.

Địa hình có cao độ thấp, bị phân cắt nhiều bởi hệ thống các sông rạch vàkênh mương thủy lợi, lại tiếp giáp với biển cho nên dễ bị nước biển xâm nhập

Địa hình vùng biển ven biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng có sự phân bậc rõ rệt ở 3 mức độ sâu:

− Độ sâu từ 0 - 10 m nước: nhìn chung địa hình khá thoải và bằng phẳng Khu vực

cửa sông có địa hình khá phức tạp, thay đổi theo mùa do tương tác động lực sôngbiển, có nhiều cồn và doi cát ngầm đan xen với các luồng lạch;

Trang 17

− Độ sâu từ 10 - 20 m nước: địa hình có dạng sườn dốc, địa hình khu vực cửa sông

phía Đông Bắc dốc hơn phía Tây Nam Đây là giới hạn ngoài của khu vực lắngđọng trầm tích hiện đại và vì thế địa hình thường thay đổi theo thời gian;

− Độ sâu 20 - 30 m nước: địa hình khá thoải và rộng, có nhiều sóng cát, một số khu

vực phân bố các cồn ngầm thoải

2.2.3 Điều kiện khí tượng thủy văn

2.2.3.1 Khí tượng

Tỉnh Sóc Trăng thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có 2 mùa

rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 - 11 với gió mùa Tây Nam và mùa khô từ tháng 12 đếntháng 4 với gió mùa Đông Bắc

Nhiệt độ: Nền nhiệt độ trung bình trong mùa mưa ở mức cao hơn trung bình

nhiều năm (TBNN) 0.8 0C trong cùng thời đoạn Cụ thể ở từng tháng nhiệt độtrung bình tháng ở mức cao hơn từ 0.3 - 1.3 0C so với trung bình nhiều năm

(TBNN) từng tháng Nắng nóng xuất hiện muộn hơn so với các năm trước và kéo

dài đến giữa tháng 05

Nắng: Tổng lượng bức xạ trung bình trong năm tương đối cao, đạt 140 - 150

kcal/cm2 Tổng giờ nắng bình quân trong năm 2,292.7 giờ (khoảng 6.28 giờ/ngày), cao nhất thường vào tháng 3 là 282.3 giờ, thấp nhất thường vào tháng 9 là 141.5 giờ

Mưa: Mùa mưa năm 2016 đến muộn hơn so với TBNN Mùa mưa bắt đầu

trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng vào ngày 22/5, muộn hơn TBNN 17 ngày và xấp xỉnăm 2015 Do mùa mưa bắt đầu muộn, nên tổng lượng mưa ở các nơi trong tỉnhkhông đều, phần lớn đều ở mức thấp hơn TBNN trong cùng thời đoạn Tổng lượngmưa ở các nơi trong tỉnh (tính đến 31/10/2016) ở khoảng 1,010.6 - 1,709.2 mm, cụthể như sau: TP Sóc Trăng 1,449.5 mm (thấp hơn TBNN 226.5 mm, Kế Sách1,224.5 mm (thấp hơn TBNN 438.5 mm), Đại Ngãi 1,234.8 mm (thấp hơn TBNN493.2 mm), Long Phú 1,160.6 mm (thấp hơn TBNN 246.4 mm), Trần Đề 1,010.6

mm (thấp hơn TBNN 466.4 mm), Mỹ Tú 1,526.2 mm (cao hơn TBNN 57.2 mm),Vĩnh Châu 1,709.2 mm (cao hơn TBNN 352.2 mm), Ngã Năm 1,607.4 mm (cao

hơn TBNN 138.4 mm) Hầu hết các tháng trong mùa mưa đều xuất hiện những đợt

mưa to đến rất to với lượng mưa đạt từ 50.0 - 100 mm (trong 24h), vào ngày 22/05tại Mỹ Tú xuất hiện mưa đạt 101.2 mm, tại Vĩnh Châu 107.1 mm Trong tháng 07

đã xảy ra 2 đợt giảm mưa trên diện rộng: đợt 1 (từ ngày 02 – 05/07), đợt 2 (từ ngày

16 – 24/07) Tháng 8 xuất hiện đợt giảm mưa (từ ngày 16 -22/08), tuy nhiên chỉxảy ra cục bộ ở một số huyện

Gió: nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tỉnh Sóc Trăng có các hướng

gió chính như sau: Tây, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam và gió được chia làm haimùa rõ rệt là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Mùa mưa chịu ảnh hưởng

Trang 18

của gió mùa Tây Nam là chủ yếu; còn mùa khô chịu ảnh hưởng của gió mùa ĐôngBắc là chủ yếu với tốc độ gió trung bình là 1.77 m/s.

2.2.3.2 Chế độ thủy văn

Sông ngòi tỉnh Sóc Trăng đa phần thuộc vùng ảnh hưởng của chế độ bán nhậttriều không đều, cao độ mực nước của hai đỉnh triều và hai chân triều không bằngnhau Đỉnh triều cao nhất là 160 cm (vào tháng 10, 11), thấp nhất là 123 cm (vàotháng 5, 8), chân triều cao nhất là -24 cm (tháng 11), thấp nhất là -103cm (tháng 6),biên độ triều trung bình từ 194 - 220 cm Nguồn nước trên hệ thống sông rạch tỉnhSóc Trăng là kết quả của sự pha trộn giữa lượng mưa tại chỗ, nước biển và nướcthượng nguồn sông Hậu đổ về Vì vậy, nước trên sông trong năm có thời gian bịnhiễm mặn vào mùa khô, vào mùa mưa nước sông được ngọt hóa có thể sử dụngcho tưới nông nghiệp Phần sông rạch giáp biển thì bị nhiễm mặn quanh năm do đókhông thể phục vụ tưới cho nông nghiệp, nhưng bù lại nguồn nước mặn, lợ ở đâylại tạo thuận lợi trong việc nuôi trồng thủy sản

Tình hình mực nước thượng nguồn: đầu mùa mưa lũ năm 2016, mực nướccác trạm thượng nguồn sông Mekong luôn ở mức thấp hơn TBNN, trong tháng 7 -

8, vùng trung lưu sông Mekong xuất hiện 1 - 2 đợt lũ nhỏ với biên độ từ 3.0 - 4.0

m nhưng sau đó xuống nhanh Mực nước đầu nguồn sông Cửu Long chịu ảnhhưởng của thủy triều, đến hết tháng 10 mực nước cao nhất tại Tân Châu (sôngTiền) là 3.07 m, thấp hơn mức BĐI là 0.43 m; tại Châu Đốc (sông Hậu) là 2.84 m,thấp hơn mức BĐI là 0.16 m

Tình hình mực nước các sông rạch trong tỉnh: mực nước cao nhất tại trạmĐại Ngãi (sông Hậu) trong các tháng mùa mưa lũ đều ở mức cao hơn TBNN cùngthời kỳ từ: 0.01 - 0.31m Tính đến ngày 31 tháng 10, mực nước cao nhất tại trạmĐại Ngãi là: 2.02 m, ở mức thấp hơn cùng kỳ năm ngoái 0.03m; mực nước thấpnhất năm là: -1.77m, cao hơn cùng kỳ năm ngoái là: 0.12m

2.2.4 Tài nguyên

2.2.4.1 Tài nguyên nước

Mạng lưới dòng chảy sông ngòi, kênh rạch (tàu thuyền có thể lưu thông qua lại) cómật độ dày bình quân hơn 0.2 km/km2, trong đó quan trọng nhất là sông Hậu chảy ở phíaBắc tỉnh ngăn cách Sóc Trăng với Trà Vinh, và sông Mỹ Thanh chảy ở phía Đông Namtỉnh là nguồn cấp nước chủ yếu cho sản xuất đồng thời là tuyến đường sông ra biển củatỉnh Phần lớn mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chịu ảnh hưởng XNM vào mùa khô và dotác động của chế độ thủy triều lên xuống ngày 2 lần với mực nước dao động trung bình0.4 - 1.0 m Lưu lượng nước sông Hậu mùa mưa trung bình khoảng 7,000 - 8,000 m3/svào mùa khô giảm xuống chỉ còn 2,000 - 3,000 m3/s làm nước mặn xâm nhập sâu vào khu

Trang 19

vực bên trong đất liền (Long Phú, Trần Đề, Mỹ Tú), tương tự vào mùa khô nước mặn xâmnhập qua sông Mỹ Thanh theo kênh rạch vào tới vùng phía Tây (Thạnh Trị) của tỉnh gâykhó khăn về nguồn nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt Nguồn nước ngầm khá dồi dào,nước ngầm mạch sâu từ 100 - 180 m, chất lượng nước tốt để sử dụng cho sinh hoạt, nướcngầm mạch nông từ 5- 30 m thường bị nhiễm mặn vào mùa khô.

2.2.4.2 Tài nguyên đất

Đất đai Sóc Trăng có thể chia thành 6 nhóm chính:

Nhóm đất cát: diện tích 8,491 ha, bao gồm các giồng cát tương đối cao từ 1.2

- 2 m thành phần cơ giới nhẹ, chủ yếu là cát mịn đến cát pha đất thịt, có thể trồngmột số loại rau màu, phân bố theo các giồng cát chạy dọc ven biển thuộc VĩnhChâu, Mỹ Xuyên;

Nhóm đất phù sa: diện tích 6,372 ha thích hợp cho việc trồng lúa tăng vụ và

các cây ăn trái đặc sản và phân bố tập trung ở các huyện Kế Sách, Mỹ Tú;

Nhóm đất gley: diện tích 1,076 ha chiếm 0.33% diện tích tự nhiên, đất có

thành phần cơ giới lớp mặt là sét, lớp dưới là thịt pha sét, hiện được sử dụng đểtrồng lúa một vụ và nuôi thả thủy sản, phân bố ở vùng trũng, ngập nước mùa mưathuộc các xã phía Bắc huyện Kế Sách;

Nhóm đất mặn: diện tích 158,547 ha có thể chia ra làm nhiều loại: đất mặn

nhiều, đất mặn trung bình, đất mặn ít, đất mặn sú, vẹt, đước (ngập triều) trong đóđất mặn nhiều chiếm diện tích lớn 75,016 ha thích hợp với việc trồng lúa, rau màu,cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn, dài ngày ; các loại đất mặn khác chủ yếu trồnglúa kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản và được phân bố ở tất cả các huyện trong đótập trung với diện tích lớn ở các huyện Vĩnh Châu, Long Phú và Mỹ Xuyên;

Nhóm đất phèn: diện tích 75,823 ha, trong đó chia ra làm 2 loại đất phèn hoạt

động và đất phèn tiềm tàng, sử dụng loại đất này theo phương thức đa canh, trồnglúa kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản, phân bố rải rác ở các huyện, tập trung thànhdiện tích lớn ở các huyện Mỹ Tú, Ngã Năm, Mỹ Xuyên và một phần ở Thạnh Trị,Vĩnh Châu;

Nhóm đất nhân tác: diện tích 46,146 ha, đất phát triển trên nền đất phù sa cũ

do canh tác lâu đời nên bạc màu, độ phì thấp, hiện phần lớn được sử dụng để trồnglúa 2 - 3 vụ và rau màu và được phân bố ở tất cả các huyện, tập trung nhiều nhất ở

Kế Sách và Long Phú

Mặc dù còn một số hạn chế về điều kiện tự nhiên như thiếu nước ngọt và bịXNM trong mùa khô, một số khu vực bị nhiễm phèn, nhưng việc sử dụng đất ởSóc Trăng lại có nhiều thuận lợi cơ bản để phát triển nông, ngư nghiệp đa dạng

2.2.5 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.2.5.1 Tăng trưởng kinh tế

Trang 20

Năm 2014 là một năm được tỉnh Sóc Trăng đánh giá thành công lớn trênnhiều lĩnh vực của tỉnh Dù trải qua nhiều khó khăn, thử thách do ảnh hưởng của

đà suy thoái kinh tế, tình hình thế giới phức tạp, thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảyra nhưng Sóc Trăng vẫn vững bước đi lên, đạt được những thành tựu đáng phấnkhởi: tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt cao với mức 10.04% (năm 2013 là 9.4%); cơcấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm về nông nghiệp, tăng về côngnghiệp, dịch vụ; văn hóa xã hội phát triển, an ninh chính trị ổn định, an sinh xã hộiđược quan tâm, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng lên Với sảnlượng lúa đạt trên 2,265 triệu tấn, vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra là 2 triệu tấn, đây

là năm sản lượng lúa cao nhất từ trước đến nay Sản lượng thủy sản đạt 205,000tấn, vượt năm 2013 gần 15,000 tấn Sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ tuygặp nhiều khó khăn nhưng vẫn có sự tăng trưởng đạt giá trị 9,560 tỷ đồng, vượt13.8% chỉ tiêu Nghị quyết Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của tỉnh đạt 650 triệuUSD (tăng 160 triệu USD so với năm 2013, trong đó, riêng xuất khẩu thủy sản đạt

610 triệu USD) Tổng thu ngân sách nhà nước gần chạm ngưỡng 2,000 tỷ đồng,vượt 10.5% chỉ tiêu Nghị quyết, đáng mừng là thu ngân sách trong cân đối đã vượtmức 1,000 tỷ đồng (1,079 tỷ)

396 người/km2, thấp hơn mật độ dân số trung bình của ĐBSCL (434 người/km2) vàxếp hàng thứ 9 so với các tỉnh của vùng ĐBSCL, cao hơn Cà Mau, Kiên Giang,Bạc Liêu, Long An

3.1 Phương pháp thu thập số liệu

Trang 21

Để thực hiện tốt các mục tiêu đã đặt ra, đề tài đã áp dụng những phương pháp

về thu thập số liệu và xử lý số liệu như: thu thập số liệu thứ cấp, thu thập số liệu sơcấp, phương pháp thống kê mô tả kết hợp với phân tích chi phí - lợi luận (B/C) vàđánh giá định tính theo thang đo Likert 5 mức độ (Likert, 1932) và ứng dụng công

cụ GIS Phương pháp nghiên cứu của đề tài được trình bày ở sơ đồ (Hình 2) dưới

Bảng 1: Tài liệu thu thập

Trang 22

1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh

Cổng thông tin điện tửtỉnh Sóc Trăng, UBND tỉnh Sóc Trăng

2 Số liệu quan trắc định kỳ độ mặn tại các

Chi cục Thủy lợi Sóc Trăng

3

Bản đồ hiện trạng thủy lợi tỉnh Sóc Trăng

Báo cáo đánh giá hiện trạng thủy lợi của 7

vùng dự án của tỉnh Sóc Trăng

2010, 2016 Công ty Cổ phần

Thủy lợi Sóc Trăng

4 Báo cáo nông nghiệp huyện Trần Đề 2010 - 2016 Phòng Nông nghiệp

huyện Trần Đề

5 Báo cáo XNM tỉnh Sóc Trăng 2015 - 2016 Sở NN&PTNT tỉnh

Sóc Trăng

6

Báo cáo xâm nhập mặn vùng Đồng bằng

sông Cửu Long (2015-2016), hạn hán ở

miền Trung, Tây Nguyên và giải pháp khắc

phục

2016 Tổng cục thủy lợi

3.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Chọn khu vực để khảo sát cho đề tác động của XNM đến canh tác lúa trên địabàn huyện Trần Đề Các tiêu chí để chọn khu vực nghiên cứu, số lượng mẫu thuthập bao gồm các nội dung như: vị trí địa lý, mục đích sử dụng nước và công trìnhthủy lợi, cán bộ chuyên trách được thể hiện ở bảng 2

Bảng 2: Tiêu chí chọn vùng nghiên cứu

lượng

Thành phần

Trang 23

1 Vị trí địa lý

 Xã có nhiều hộ canh tác lúa 2vụ

 Xã có nhiều hộ bị ảnh hưởngcủa xâm nhập mặn;

 Công ty Cổ phần Thủy lợi SócTrăng

 Chi cục Thủy lợi tỉnh Sóc Trăng

5 Cán bộ

Xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn người dân tại khu vực nghiên cứu về môhình, diện tích canh tác; lịch thời vụ; nguồn nước cung cấp cho canh tác; các khíacạnh kinh tế: năng suất, đầu tư, thu nhập, lợi nhuận; các khía cạnh xã hội: di cư,mâu thuẫn xã hội; các khía cạnh môi trường: môi trường nước và môi trường đất.Các số liệu sơ cấp sẽ được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 40 mẫu tại 2 xãĐại Ân 2 và Trung Bình của huyện Trần Đề dựa trên bảng câu hỏi đã chuẩn bị theophương pháp phỏng vấn cấu trúc

Xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn cán bộ về hiện trạng các công trình thủylợi ở huyện Trần Đề như về mức độ hoàn thiện và chất lượng công trình điều tiếtnước tưới cho canh tác lúa cũng như tình hình chung về tác động của XNM đếncác khía cạnh kinh tế - xã hội - môi trường thông qua phương pháp phỏng vấn KIP(Key Informant Panel) qua đó chọn lựa các tác động làm ảnh hưởng đến vùng canhtác lúa của XNM

Các khía cạnh XNM tác động đến kinh tế - xã hội - môi trường trong vùngcanh tác lúa được thể hiện ở bảng 3

Bảng 3: Các chỉ tiêu đánh giá kinh tế - xã hội - môi trường

Trang 24

 Mâu thuẫn xã hội;

 Môi trường nước

3.2.1 Phương pháp thống kê mô tả

Các số liệu thứ cấp về quan trắc độ mặn được tổng hợp và vẽ biểu đồ, từ đó làm cơ

sở để đánh giá và so sánh nồng độ mặn tại các trạm quan trắc và đánh giá được biến động.Các báo cáo đánh giá hiện trạng thủy lợi của 7 vùng dự án trong tỉnh Sóc Trăng, báo cáonông nghiệp huyện Trần Đề được tổng hợp để đánh giá hiện trạng canh tác lúa 2 vụ tronggiai đoạn từ 2010 - 2016

Các số liệu sơ cấp được nhập vào file dữ liệu trên nền Microsoft Excel đểtính toán kết quả Các số liệu sẽ được phân tích và xử lý bằng phương pháp thống

kê mô tả trên nền Microsoft Excel để thống kê, phân tích tình hình sản xuất nhằm

hỗ trợ trong việc đánh giá hiện trạng canh tác lúa 2 vụ như diện tích canh tác,nguồn nước cung cấp cho canh tác và LTV, sau đó vẽ biểu đồ để mô tả LTV chokhu vực nghiên cứu Từ đó làm cơ sở trên xác định hiện trạng canh tác lúa 2 vụtrong giai đoạn từ 2010 - 2016 một cách hiểu quả và minh bạch

Đánh giá tác động của XNM đến các khía cạnh kinh tế - xã hội - môi trườngtrong vùng canh tác lúa:

− Các khía cạnh về kinh tế như: năng suất, chi phí, thu nhập, lợi nhuận sẽ được tínhtoán thống kê, bên cạnh đó kết hợp với phương pháp phân tích chi phí - lợi nhuận(Benefit Cost Ratio - B/C: tỷ số này cho biết với một đồng chi phí bỏ ra ta sẽ thu

Trang 25

Sau đó mô tả kết quả về chi phí trung bình, thu nhập trung bình, lợi nhuận trung bình

và hiệu quả sử dụng đồng vốn dưới dạng biểu bảng Từ đó làm cơ sở đánh giá tác độngcủa XNM đến khía cạnh kinh tế trong vùng canh tác lúa

− Các khía cạnh xã hội như: Di cư (số lượng, mục đích, thời gian và thời điểm, tácđộng), mâu thuẫn xã hội (vấn đề mâu thuẫn, nguyên nhân, cách giải quyết) cùngvới các tác động về môi trường như: môi trường nước, môi trường đất được đánhgiá định tính theo thang đo Likert 5 mức độ và được chuyển đổi từ định tính sangđịnh lượng từ 1 đến 5 (Roãn Ngọc Chiến, 2001) để xác định giá trị điểm (Hình 3),

từ đó cơ sở đó đánh giá tác động của XNM đến các khía cạnh của xã hội và môitrường trong vùng canh tác lúa

Hình 3: Thang đo Likert 5 mức độ

Các số liệu đã xử lý cho tác động của XNM đến kinh tế - xã hội - môi trườngchưa tổng hợp được vì không cùng đơn vị đo lường Để đánh giá tổng hợp tácđộng của XNM đến các khía cạnh kinh tế - xã hội - trường thì đề tài áp dụngphương pháp chuẩn hóa chia cho giá trị lớn nhất của các khía cạnh để đưa các giátrị về cùng đơn vị nằm trong khoảng từ 0 - 1 Công thức để đưa các giá trị về cùngđơn vị đo như sau:

Trong đó:

− Yi: Điểm sau khi được chuẩn hóa của chỉ tiêu thứ i

− Xi: Giá trị của chỉ tiêu thứ i trong các giai đoạn canh tác (giá trị được phân tích chi phí - lợi nhuận của kinh tế, giá trị được quy đổi từ định tính sang định lượng của xã hội và môi trường)

− XMax: Giá trị cao nhất của yếu tố X trong các giai đoạn canh tác

Sau khi đã đưa các giá trị về cùng đơn vị bằng phương pháp chuẩn hóa, đểđánh giá tác động tổng hợp của XNM đến các khía cạnh kinh tế - xã hội - môitrường thì sẽ tổng các điểm chuẩn hóa của các khía cạnh kinh tế - xã hội - môitrường lại với nhau Sau đó kết quả sẽ được mô tả bằng biểu bảng kết hợp với vẽbiểu đồ cột

Trang 26

3.2.2 Công cụ GIS

Ứng dụng công cụ GIS xây dựng bản đồ vùng nghiên cứu, bản đồ hiện trạngthủy lợi huyện Trần Đề, từ đó kết hợp với số liệu đã thu thập và xử lý về nguồnnước cung cấp cho canh tác, LTV và báo cáo đánh giá hiện trạng thủy lợi của 7vùng dự án để có thể đánh giá hiện trạng canh tác lúa 2 vụ trong giai đoạn từ 2010

- 2016 Từ đó góp phần cho việc đánh giá tác động của XNM đến canh tác lúa trênđịa bàn huyện Trần Đề

4.1 Hiện trạng canh tác lúa 2 vụ trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016

4.1.1 Lịch thời vụ của canh tác lúa 2 vụ

Đối với canh tác lúa nước, Trần Đề là huyện chủ yếu canh tác với mô hìnhlúa 2 vụ, vụ Hè Thu (vụ 1) với năng suất trung bình khoảng 757 kg/công và vụĐông Xuân (vụ 2) với năng suất trung bình khoảng 819 kg/công Diễn biến củaLTV của huyện Trần Đề trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016 như sau: vụ Hè Thubắt đầu xuống giống từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 7 (dương lịch) và thu hoạch vào

cuối tháng 8 đến giữa tháng 10 (dương lịch) cùng năm, vụ Đông Xuân bắt đầu

xuống giống từ giữa tháng 10 đến hơn giữa tháng 11 (dương lịch) và thu hoạch vàocuối tháng 1 đến đầu tháng 3 (dương lịch) của năm sau (Hình 4)

Trang 27

Hình 4: LTV của huyện Trần Đề giai đoạn 2010 - 2016

Tuy nhiên, cũng tùy thuộc vào diện tích canh tác nhiều hay ít và giống lúangười dân sử dụng mà thời gian xuống giống và thu hoạch của các nông hộ sẽ có

sự chênh lệch ít nhiều trong cả hai vụ Trong giai đoạn năm 2010 - 2016, LTV trênđịa bàn huyện Trần Đề có những thay đổi không đồng bộ, có sự chênh lệch LTVgiữa các nông hộ Từ năm 2010 - 2016 hơn 50% số hộ giữ nguyên LTV của mình,còn số nông hộ còn lại có sự thay đổi LTV theo hướng là giữ nguyên LTV từ năm

2010 - 2015 và từ năm 2015 - 2016 thì thay đổi Và trong số nông hộ thay đổi lịchtrong năm 2015 - 2016, có nông hộ thay đổi LTV sớm hơn so với LTV của họtrong giai đoạn 2010 - 2015, có nông hộ thì thay đổi LTV trễ hơn so với LTV của

họ trong giai đoạn 2010 - 2015 Bên cạnh đó, giai đoạn từ năm 2016 - 2017, LTVcũng có những thay đổi đáng kể Cụ thể, kết quả điều tra nông hộ cho thấy, sựchênh lệch giữa thời gian xuống giống và thu hoạch giữa các nông hộ khá lớn, qua

đó có thể thấy LTV không đồng bộ trong giai đoạn 2010 - 2016 Ở vụ Hè Thu, có52% số nông hộ không đổi LTV Còn lại 48% thì thay đổi, cụ thể có 16% số nông

hộ thay đổi LTV vào năm 2016 sớm hơn khoảng 1 tháng so với LTV của họ vàogiai đoạn 2010 - 2015 (bắt đầu xuống giống vào cuối tháng 5 năm 2016), có 32%

số nông hộ thay đổi LTV vào năm 2016 trễ hơn khoảng 1 tháng so với LTV của họtrong giai đoạn 2010 - 2015 (thời gian xuống giống vào tháng 6 đến đầu tháng 7năm 2016) Ngoài ra, kết quả điều tra cũng cho thấy, vụ Hè Thu năm 2017, LTVcủa nông hộ cũng có sự thay đổi (tương tự năm 2016) so với LTV của họ vào giaiđoạn năm 2010 - 2015 (Hình 5)

Trang 28

Hình 5: Sự thay đổi của LTV vụ Hè Thu qua các giai đoạn của huyện Trần Đề từ

2015 Cụ thể, trong 40% số nông hộ có LTV thay đổi thì trong đó có 12% số nông

hộ thay đổi LTV năm 2015 - 2016 trễ hơn khoảng từ 3 tuần đến 1 tháng so với LTVcủa họ vào giai đoạn năm 2010 - 2015 (thời gian xuống giống là vào đầu tháng 11đến giữa tháng 11 năm 2015) Bên cạnh đó, cũng có 28% số nông hộ dự kiến sẽthay đổi LTV vào năm 2016 - 2017 trễ hơn khoảng từ 3 tuần đến hơn 1 tháng sovới LTV của họ vào giai đoạn năm 2010 - 2016 (thời gian xuống giống là trongtháng 11 và cũng có trường hợp kéo dài đến đầu tháng 12 năm 2016) (Hình 6)

Trang 29

Hình 6: Sự thay đổi của LTV vụ Đông Xuân qua các giai đoạn của huyện Trần Đề từ năm

2010 - 2016

LTV không đồng bộ và có sự chênh lệch khá lớn giữa các nông hộ trong giaiđoạn năm 2010 - 2016, gây ra rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý và vậnhành các công trình thủy lợi để điều tiết nước cung cấp cho canh tác lúa, nhất làtrong việc thực hiện các giải pháp phòng chống tác động của XNM gây ra cho cácvấn đề liên quan tới các hoạt động của việc canh tác lúa

Bên cạnh đó, kết quả điều tra cũng cho thấy, thời gian canh tác lúa 2 vụ củanông dân ở khu vực này là từ 95 đến 100 ngày và từ 101 đến 110 ngày tùy theoloại giống mà nông dân sử dụng Đa số thì nông dân ở đây sử dụng lúa dài ngàynhiều hơn lúa ngắn ngày cho cả 2 vụ Hè Thu và Đông Xuân Cụ thể, vụ Hè Thu sốphần trăm có thời gian canh tác lúa từ 101 - 110 (68%) chiếm nhiều hơn gấp đôi sovới thời gian canh tác từ 95 - 100 (32%), (cho thấy lúa dài ngày được canh tácnhiều hơn so với lúa ngắn ngày) Bên cạnh đó, vụ Đông Xuân cũng có số phầntrăm có thời gian canh tác lúa từ 101 - 110 (64%) chiếm nhiều hơn so với thời giancanh tác từ 95 - 100 (36%), (cho thấy lúa dài ngày được canh tác nhiều hơn so vớilúa ngắn ngày), tuy nhiên so với vụ Hè Thu thì vụ Đông Xuân có tỷ lệ số nông hộ

sử dụng lúa dài ngày ít hơn Phần lớn nông hộ ở khu vực nghiên cứu sử dụng lúadài ngày chủ yếu là vì năng suất đạt hiệu quả và giá lúa cao Tuy nhiên, việc sửdụng giống lúa dài ngày (101 - 110 ngày), nhất là vào vụ Đông Xuân rất bất lợi chocanh tác, ảnh hưởng đến năng suất lúa, vì loại giống thời gian thu hoạch dài (có hộđến cuối tháng 2, giữa tháng 3 mới thu hoạch), đó cũng là thời gian mặn bắt đầu

Trang 30

tăng cao, canh tác lúa có thể bị mặn ảnh hưởng (thời gian mặn thường bắt đầu lên

là vào tháng 2)

4.1.2 Hệ thống sông, kênh, cống điều tiết nước cho canh tác lúa 2 vụ

Trần Đề là huyện nằm trong vùng dự án Long Phú - Tiếp Nhựt, được khépkín bởi hệ thống đê biển, đê sông, kênh và cống Nguồn nước cung cấp cho canhtác lúa 2 vụ trên hệ thống sông, kênh rạch trên địa bàn huyện chịu tác động mạnh

mẽ bởi chế độ thủy văn sông Hậu và chế độ triều biển Đông Mặc dù, huyện Trần

Đề có hai con sông lớn là sông Hậu và sông Mỹ Thanh, tuy nhiên, nguồn nướccung cấp cho canh tác lúa ở đây chủ yếu là được lấy từ sông Hậu (vì trên sông MỹThanh chủ yếu là hệ thống cống tiêu nước và ngăn mặn) thông qua hệ thống sôngSantard, sông Đinh, hệ thống kênh Bà Xẩm - Gòi, kênh Cái Xe - Ngân Rô, kênhBang Long và hệ thống các cống nằm trên các sông, kênh Trong đó, cống BàXẩm, cống Cái Xe và cống Cái Oanh là 3 cống chính cung cấp nước ngọt cho canhtác lúa ở huyện Trần Đề

Vào mùa khô (từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau) nước từ thượngnguồn đổ về ít kết hợp với thủy triều dâng cao dẫn đến tình trạng nước mặn xâmnhập vào nội đồng Từ năm 2010 trở lại đây tình hình XNM ngày càng có xuhướng gia tăng và diễn biến phức (cả về phạm vi ảnh hưởng, thời gian XNM vànồng độ), thời gian mặn bắt đầu từ tháng 2 và kết thúc vào tháng 5 (thời gian mặncao và kéo dài là thường rơi vào tháng 3 và tháng 4) Đặc biệt trong năm 2015 -

2016 mặn lên sớm hơn các năm về trước, bắt đầu từ cuối tháng 10 năm 2015 vàokéo dài tới tháng 6 năm 2016, mặn theo sông Hậu xâm nhập vào tới huyện KếSách, đã ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến vùng dự án Và đặc biệt là huyện Trần

Đề bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng bởi XNM, mà nguyên nhân chính là XNM kếthợp với nắng nóng kéo dài đã gây ra tình trạng thiếu nước ngọt cung cấp cho canhtác Bên cạnh đó, tình trạng các cống ngăn mặn bị rò rỉ và việc bơm nước mặn vàoruộng do không nắm bắt kịp thông tin về tình hình XNM (một phần khác là dokhông còn cách nào nên bơm liều của người dân) cũng đã làm ảnh hưởng tới canhtác lúa của người dân

Nhằm giảm tác động của XNM, ổn định sản xuất, dự án đã được tiếp tục đầu

tư khép kín, bổ sung, nâng cấp công trình đê sông, bờ bao, cống ngăn mặn, tạonguồn dẫn ngọt, tưới, tiêu, tăng cường nạo vét hệ thống kênh mương và đầu tưnâng cấp công trình thủy lợi nội đồng, tu sửa các cống đầu mối phục vụ tưới, tiêu

và ngăn mặn Và trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016, hệ thống công trình thủy lợi(sông, kênh và cống) điều tiết nước cho canh tác lúa và làm nhiệm vụ ngăn mặn ở

Trang 31

khu vực này đang được thực hiện nâng cấp và sửa chữa và cho đến nay công tácnâng cấp và sửa chữa cũng đã được thực hiện khá hoàn thiện (Hình 7).

Hình 7: Hiện trạng thủy lợi huyện Trần Đề giai đoạn 2010 - 2016

4.2 Biến động mặn trong giai đoạn 2010 - 2016

Tình hình XNM trên các sông, kênh, rạch thuộc địa bàn tỉnh Sóc Trăng vàđặc biệt là huyện Trần Đề đang ngày ngày gia tăng và diễn biến phức tạp Cụ thểXNM có sự biến động với chiều hướng gia tăng cả về nồng độ mặn và thời gianXNM trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016 , nhất là tại 2 cống Bà Xẩm và Cái Xe Diễn biến độ mặn từ năm 2010 - 2016 của cống Bà Xẩm (Hình 8) cho thấynồng độ mặn và thời gian XNM có sự biến động rất phức tạp và có xu hướng tănglên trong giai đoạn 2010 - 2016 Ở các năm 2010, 2011, 2013, 2015, 2016 có nồng

độ mặn cao hơn và thời gian XNM kéo dài so với năm 2012, 2014 Bên cạnh đó,trong các năm 2010, 2011, 2013, 2015, 2016 thì năm 2013 và năm 2016 có thờigian XNM liên cũng kéo dài hơn các năm còn lại Mặc dù năm 2013 và năm 2016

có thời gian XNM liên tục tương đương nhau (71 ngày), tuy nhiên so với năm

2013 thì năm 2016 có nồng độ mặn cao hơn (nồng độ mặn cao nhất trong năm

2013 là 8.5‰, năm 2016 là 12‰) và trong năm 2016 thời gian XNM liên tục bắtđầu kéo dài từ hơn giữa tháng 1 còn năm 2013 thì bắt đầu từ giữa tháng 2, từ đócho thấy sự chệnh lệch rất lớn Ngoài ra, trong năm 2016 khoảng thời gian từ đầutháng 1 đến tháng 4 chỉ có khoảng 5 ngày là có thể mở cống lấy là vào hơn giữa

Trang 32

đầu tháng 1 (ngày 20, 21 tháng 1), đầu tháng 4 (ngày 1 tháng 4) và vào cuối tháng

4 là (ngày 29, 30 tháng 4)

Bên cạnh đó, thời gian nồng độ mặn ở ngưỡng có thể mở cống lấy nước (dưới1‰) trong năm 2016 (76 ngày) ngắn hơn các năm 2012 (110 ngày), 2014 (106ngày) và 2015 (78 ngày) nhưng dài hơn so với 2010 (11 ngày), 2011 (29 ngày) và

2013 (29 ngày) Tuy nhiên, thời gian nồng độ mặn dưới 1‰ trong các năm 2010,

2011 và 2013 diễn ra xen kẽ trong các tháng và tập trung ở các tháng đầu Ngượclại, đối với năm 2016 thời gian nồng độ mặn dưới 1‰ lại tập trung chủ yếu vàocuối tháng 5 đến tháng 7 Qua đó có thể thấy XNM có sự biến động đột biến với xuhướng gia tăng rất lớn vào năm 2016 (cả về nồng độ lẫn thời gian XNM và tínhliên tục) đã gây ra những tác động nghiệm trọng đến canh tác lúa 2 vụ trên địa bàn

huyện Trần Đề do không có nước ngọt cung cấp cho canh tác

Hình 8: Diễn biến nồng độ mặn tại các cống Bà Xẩm giai đoạn 2010 - 2016

Diễn biến nồng độ mặn từ năm 2010 - 2016 của cống Cái Xe được thể hiện ởhình 9 cho thấy, nồng độ mặn và thời gian XNM có sự biến động rất phức tạp và

có xu hướng tăng lên trong giai đoạn 2010 - 2016 Ở các năm 2010, 2011, 2013,

2015, 2016 có nồng độ mặn cao hơn và thời gian XNM kéo dài so với năm 2012,

2014 Bên cạnh đó, trong các năm 2010, 2011, 2013, 2015, 2016 thì trong năm

2010, 2011 và 2016 có sự biến động khác thường về nồng độ mặn và thời gianXNM, thời gian XNM liên tục Đặc biệt năm 2016 có nồng độ mặn cao hơn (nồng

độ mặn cao nhất năm 2016 là 6.3‰, năm 2010 là 4.3‰ và năm 2011 là 3.7‰) vàthời gian XNM liên tục cũng kéo rất dài hơn so với các năm còn lại (chỉ trừ năm

2010, thời gian XNM liên tục năm 2010 là 124 ngày và năm 2016 là 117 ngày).Mặc dù năm 2010 có thời gian XNM và thời gian XNM liên tục dài hơn năm 2016

Trang 33

và trong năm 2016 thời gian XNM liên tục bắt đầu từ tháng 1 (ngày 5 tháng 1) vàkéo dài đến hết tháng 4 Trong khi đó, năm 2010 thời gian XNM liên tục thì bắtđầu từ tháng 3 (ngày 1 tháng 3) cho đến hết tháng 6, từ đó cho thấy sự chệnh lệchthời gian rất lớn Ngoài ra, trong năm 2016 khoảng thời gian từ đầu tháng 1 đếntháng 4 chỉ có khoảng 4 ngày là có thể mở cống lấy nước là vào 5 ngày đầu tháng

1 còn đối với năm 2010 thì hầu như có thể lấy nước trong tháng 2 chỉ trừ 5 ngàygần cuối tháng 2 (từ ngày 21 đến 25 tháng 2)

Bên cạnh đó, thời gian nồng độ mặn ở ngưỡng có thể mở cống lấy nước (dưới1‰) trong năm 2016 (66 ngày) ngắn hơn các năm 2012 (88 ngày) và 2014 (137ngày) nhưng dài hơn so với 2010 (23 ngày), 2011 (10 ngày), 2013 (52 ngày) và

2015 (59 ngày) Tuy nhiên, thời gian nồng độ mặn dưới 1‰ trong các năm 2010,

2011, 2013 và 2015 diễn ra xen kẽ trong các tháng và tập trung ở các tháng đầu (ví

dụ như năm 2013 thời gian nồng độ mặn ở ngưỡng dưới 1‰ tập trung vào tháng 2,năm 2015 là nữa đầu tháng 1) Ngược lại, đối với năm 2016 thời gian nồng độ mặndưới 1‰ lại tập trung chủ yếu vào cuối tháng 6 đến tháng 7 Qua đó có thể thấythời gian canh tác vụ Đông Xuân trong năm 2015 - 2016 lại không thể lấy nướcphục vụ canh tác Có thể nói trong năm 2010 tuy nồng độ mặn cao và thời gianXNM liên tục kéo dài nhưng lại không gây ảnh hưởng gì tới canh tác lúa 2 vụ ởkhu vực Ngược lại thì năm 2016 lại là năm mà canh tác lúa 2 vụ ở khu vực này bị

ảnh hưởng rất nghiêm trọng

Hình 9: Diễn biến nồng độ mặn tại các cống Cái Xe giai đoạn 2010 - 2016

Qua kết quả phân tích đánh giá và so sánh nồng độ mặn từ năm 2010 - 2016tại cống Bà Xẩm và cống Cái Xe (Hình 10) cho thấy so với cống Bà Xẩm, thờigian XNM tại cống Cái Xe kéo dài hơn nhưng với nồng độ mặn thấp hơn (cống BàXẩm có nồng độ mặn cao nhất từ năm 2010 - 2016 12‰ và cống Cái Xe là 6.3‰

Ngày đăng: 16/06/2019, 15:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w