1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy chế pháp lí về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi

26 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 74,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được hình thành trên cơ sở cả sinh học, tâm lí và kinh tế xã hội có liên quan đến quyền và lợi ích thiết thântrong quan hệ lao

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, nó không chỉ tạo ra của cảivật chất, nuôi sống, cải tạo xã hội mà nó còn mang lại những giá trị tinh thần làmphong phú thêm cho đời sống con người

Quyền làm việc và quyền nghỉ ngơi là một trong những quyền rất cơ bản của conngười được pháp luật bảo vệ Con người là một thực thể sinh học Hệ thần kinh củacon người cũng hoạt động theo chu kì Các nhà khoa học đã nhất trí rằng một conngười bình thường phải dành ít nhất 8 giờ đồng hồ để ngủ mỗi ngày Như vậy, trong số

24 giờ mỗi ngày sẽ chỉ còn lại trên dưới 16 giờ, trong đó có một số giờ dành cho làmviệc Một người làm việc hiệu quả là khi họ phải tuân theo những quy luật tự nhiên vànguyên tắc làm việc Để có thể làm việc hiệu quả, người lao động phải có thời giannhất định dành cho nghỉ ngơi Đó chính là giai đoạn mà người lao động tái xuất sứclao động

Pháp luật quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được hình thành trên cơ

sở cả sinh học, tâm lí và kinh tế xã hội có liên quan đến quyền và lợi ích thiết thântrong quan hệ lao động, được người lao động và cả người sử dụng lao động cùng quantâm, tạo hành lang pháp lí nhằm bảo vệ sức khoẻ người lao động trong quan hệ laođộng để làm việc được lâu dài, có lợi cho hai bên, có một tỉ số hợp lí giữa hai loại thờigiờ này, có tính đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, vừa không thiệt hạicho sản xuất kinh doanh, vừa không làm giảm sút khả năng lao động, khả năng sángtạo của người lao động suy cho cùng là nhằm bảo vệ việc làm, tăng năng suất, chấtlượng, hiệu quả của lao động hướng vào chiến lược của con người

Để hiểu rõ hơn những quy định mà pháp luật lao động quy định về thời giờ làm việc

và thời giờ nghỉ ngơi, tôi xin chọn đề tài “Quy chế pháp lí về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi”, làm tiểu luận kết thúc khoá học với mong muốn nắm bắt cặn kẽ

và hiểu rõ hơn những quy chế pháp lí về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi mà Bộluật Lao động 2012 quy định từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật

hiện hành về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong Bộ luật Lao động 2012

2. Tình hình nghiên cứu

Tuy nhiên, hiện nay tình trạng vi phạm trong lĩnh vực này ngày càng phổ biến.Trong thời gian vừa qua đã có một số đề tài,công trình nghiên cứu về các quy định củapháp luật về thời giờ làm việc,thời giờ nghỉ ngơi như: Đặng Xuân Lợi (2000), Phápluật về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, thực trạng và một số kiến nghị, Khoá luận tốtnghiệp, Đại học Luật Hà Nội; Đỗ Thị Hằng (2009), Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉngơi – Quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện ở một số doanh nghiệp ở tỉnh BắcGiang, Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội; và một số bài đăng trên các tạp chí

Trang 2

khoa học pháp lí… Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là một trongnhững quy định quan trọng của pháp luật lao động, vì nó liên quan thiết thực đến đờisống và việc làm của người lao động.

Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về vấn đề “Pháp luật vềthời giờ làm việc ,nghỉ ngơi ở Việt Nam-Thực trạng và một sô ý kiến nghị” là việc làmmang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tiểu luận tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản và nội dung của phápluật về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi theo quy định của BLLĐ 2012 nhằm đưa chúng ta

có thể hiểu được những nội dung:

- Khái quát chung về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

- Các quy định cụ thể của pháp luật về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi theo pháp luậthiện hành,kết hợp với việc tham khảo tổng hợp thực trạng thực hiện các quy định phápluật về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi trên thực tế

- Đề xuất cá nhân, đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật

Chương 2: Pháp luật hiện hành về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi.

Chương 3: Một số nhận xét về thực trạng áp dụng luật về thời giờ làm việc, thời giờ

nghỉ ngơi và đưa ra kiến nghị để hoàn thành pháp luật

Trang 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ

LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI

1.1 Khái quát chung về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là hai phạm trù mà được Bộ luật Lao động

2012 quy định nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành quy chế không thểtách rời trong pháp luật Lao động Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có thể hiểu ởcác góc độ khác nhau như: Khoa học, Kinh tế, Lao động,… Việc nghiên cứu về thờigiờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi ở góc độ nào đi chăng nữa thì mục đích của việc quyđịnh này nhằm đưa ra một khoảng thời gian hợp lí cho người lao động làm việc và cómột thời gian để người lao động nghỉ ngơi

1.1.1 Khái niệm về thời giờ làm việc , thời giờ nghỉ ngơi

1.1.1.1 Dưới góc độ khoa học kinh tế lao động

Thời giờ làm việc là độ dài thời gian cần thiết mà người lao động phải tiến hànhhoàn thành một công việc theo định mức thời gian

Thời giờ nghỉ ngơi là độ dài thời gian mà người lao động được tự do sử sụng để táisản xuất sức l ao động

Theo đó thời giờ làm việc và nghỉ ngơi được xem xét chủ yếu dưới góc độ của việc

tổ chức quá trình lao động và phải được đặt trong mối quan hệ sản xuất hữu cơ vớinăng suất, chất lượng và hiệu quả lao động với mục tiêu: Sử dụng ít nhất thời gian làmviệc mà vẫn đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất Dưới góc độ này, thời giờ làm việcchính là khoảng thời gian cần và đủ để năng suất lao động hoàn thành, thời giờ nghỉngơi là khoảng thời gian cần thiết để người lao động tái sản xuất lại sức lao động đãhao phí nhằm đảm bảo quá trình lao động diễn ra liên tục

1.1.1.2 Dưới góc độ khoa học pháp lí

Thời giờ làm việc là khoảng thời gian do pháp luật quy định theo đó người lao độngphải có mặt tại nơi làm việc và thực hiện những công việc đã được thoả thuận tronghợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể với những giới hạn theo quy định củapháp luật

Thời giờ nghỉ ngơi là khoảng thời gian do pháp luật quy định mà theo đó người laođộng không phải thực hiện những nghĩa vụ lao động và được quyền tự do sử dụng thờigian ấy

Theo đó thời giờ làm việc và nghỉ ngơi được biểu hiện dưới dạng quyền và nghĩa vụcủa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật lao động Quan hệ này thể hiện sự ràngbuộc trách nhiệm giữa người lao động và người sử dụng lao động Khi tham gia quan

hệ này,người lao động phải trực tiếp hoàn thành nghĩa vụ của mình, phải tuân thủ

Trang 4

những quy định nội bộ và có quyền được hưởng những thành quả trong khoảng thờigian đó Ngoài thời giờ làm việc là thời giờ nghỉ ngơi, người lao động được tư do sửdụng khoảng thời gian đó theo ý muốn của bản thân mình.

1.1.2 Sự cần thiết phải có pháp luật về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi

1.1.2.1 Pháp luật về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi xuất phát từ yêu cầu bảo vệ người lao động

Bảo vệ người lao động là nguyên tắc quan trọng nhất của pháp luật lao động ngay

từ những năm đầu phát triển kinh tế thị trường, tuy nhiên trên thực tế người lao độngthường có vị thế bất bình đẳng so với người sử dụng lao động Về phương diện kinh tế,người sử dụng lao động là người bỏ vốn đầu tư cơ sở, vật chất cho hoạt động kinhdoanh, quyết định về công nghệ, quy mô hoạt đông…nên họ hoàn toàn chủ động về kếhoạch việc làm, phân phối lợi nhuận cũng như sắp xếp, phân bố thời gian làm việc,nghỉ ngơi cho người lao động.Như vậy, ở một mức độ nhất định, người lao động bịphụ thuộc vào người sử dụng lao động Sự phụ thuộc này vừa là bản chất cố hữu, vừa

là đặc điểm riêng của quan hệ lao động, không phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh

tế hay chế độ chính trị trong mỗi quốc gia Đây không những là lí do chính để phápluật lao động của các nước không chỉ điều chỉnh thời giờ làm việc, nghỉ ngơi mà còn

là căn cứ xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động đồng thờibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động

Bên cạnh đó, người lao động hướng tới tiền lương, thu nhập, còn người sử dụnghướng tới việc thu được lợi nhuận cao Điều đó cũng có nghĩa là để có tiền lương, thunhập cao, người lao động bất chấp tính mạng, sức khoẻ của mình làm thêm giờ, làmban đêm, Còn người sử dụng lao động vì mục đích tối đa hoá lợi nhuận, họ có xuhướng tận dụng triệt để các biện pháp, các quy định của pháp luật, các lợi thế để khaithác sức lao động của người lao động trong đó có việc kéo dài thời gian làm của ngườilao động

Như vây, từ các lí do trên, cần có sự điều chỉnh của pháp luật về thời giờ làm việc,nghỉ ngơi để bảo vệ người lao động, tránh sự lạm dụng sức lao động từ phía người sửdụng lao động

1.1.2.2 Pháp luật về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi xuất phát từ sự tác động của nền kinh tế thị trường

Trong lĩnh vực lao động, kinh tế thị trường đã mở ra điều kiện thuận lợi để phát huycác nguồn lực, tạo nhiều việc làm cho người lao động đồng thời thúc đẩy năng lựccạnh tranh giữa các doanh nghiệp Điều đó đã tạo ra một nền kinh tế đa dạng, năngđộng, có tốc độ phát triển cao Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu linh hoạt của thị trường,người sử dụng lao động thường xuyên phải thay đổi kế hoạch, quy mô sản xuất …Đặcbiệt khi mục đích cao nhất là lợi nhuận , người sử dụng lao động có xu hướng kéo dàithời gian làm việc, giảm thời gian nghỉ ngơi Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến sức

Trang 5

khoẻ, đến khả năng tái sản xuất sức lao động mà còn ảnh hưởng đến các nhu cầu kháctrong đời sống, ảnh hưởng đến khả năng phát triển toàn diện của người lao động

Vì vậy, các quy định về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi đã trở thành một trong nhữngnội dung cơ bản trong luật lao động ở các quốc gia, để sử dụng sức lao động hợp lí,làm cơ sở bảo vệ người lao động trong những trường hợp cần thiết

1.1.3 Ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật đối với thời giờ làm việc ,thời giờ nghỉ ngơi.

Quyền làm việc và quyền nghỉ ngơi là một trong những quyền rất cơ bản của con

người Trước hết là người lao động trong quan hệ lao động phải được pháp luật canthiệp và bảo vệ Hiến pháp của các nước đều ghi nhận điều này trong đó có Hiến phápcủa nước ta.Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hiệp quốc năm 1948 cũng ghi nhận điều

đó Pháp luật lao động của các quốc gia quy định về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉngơi đã tạo hành lang pháp lí nhằm bảo vệ sức khoẻ người lao động trong quan hệ laođộng để làm việc được lâu dài, có lợi cho cả hai bên

Việc điều chỉnh pháp luật đối với chế độ về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có

ý nghĩa rất quan trọng, cụ thể:

1.1.3.1 Đối với người lao động

Thứ nhất, việc quy định thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tạo điều kiện cho

người lao động thực hiện đầy đủ nghĩa vụ lao động trong quan hệ, đồng thời giúpngười lao động bố trí, sử dụng quỹ thời gian của mình hợp lí hơn, vừa đảm bảo thờigian lao động vừa có thời gian tái tạo lại sức lao động

Thứ hai, quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có ý nghĩa trong

bảo hộ lao động, đảm bảo thời gian nghỉ ngơi cho người lao động Trong khoảng thờigian lao động người lao động phải tuân thủ các nội quy an toàn để tự bảo vệ mìnhtrong suốt khoảng thời gian lao động

1.1.3.2 Đối với người sử dụng lao động

Thứ nhất, việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi giúp người sử dụng

lao động xây dựng kế hoạch tổ chức sản xuất kinh doanh khoa học và hợp lí, sử dụngmột cách tiết kiệm các nguồn tài nguyên trong doanh nghiệp nhằm hoàn thiện tốt tất

cả các mục tiêu đã đề ra Các doanh nghiệp hoạt động theo kế hoạch sử dụng các tàinguyên để sản xuất sản phẩm nên cần một thời gian cố định làm việc của nguồn laođộng để đảm bảo bộ máy hoạt động hiệu quả

Thứ hai, những quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là căn cứ pháp lí

cho việc người sử dụng lao động thực hiện quyền quản lí, điều hành, giám sát laođộng, đặc biệt trong xử lí kỉ luật lao động ,từ đó tiến hành trả lương ,thưởng, khenthưởng và xử phạt người lao động

Trang 6

1.1.3.3 Đối với Nhà nước

Quy định pháp luật về thời giờ làm việc,thời giờ nghỉ ngơi thể hiện rõ thái độ củaNhà nước đối với nguồn lực lao động vừa tuân thủ các công ước quốc tế vừa tạo điềukiện thời giờ làm việc cho người lao động

1.2 Các nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

1.2.1 Nguyên tắc thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi do nhà nước quy định

Nội dung của nguyên tắc biểu hiện ở chỗ: Nhà nước quy định khung thời giờ làmviệc ở mức tối đa, thời giờ nghỉ ngơi ở mức tối thiểu

Cụ thể, Nhà Nước đã quy định ngày làm việc tiêu chuẩn, tuần làm việc tiêu chuẩn, sốgiờ mà người sử dụng lao động được phép huy động người lao động làm thêm trongmột ngày, một năm

Nhà nước cũng quy định những khoảng thời gian nghỉ ngơi xen kẽ với thời giờ làmviệc, nghỉ hằng tuần, nghỉ hằng năm,…Bằng cách đưa ra các cụm từ “không quá”, “ítnhất” đã đảm bảo sự mềm dẻo, linh hoạt cho các bên tự do thoả thuận và áp dụng chế

độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi phù hơp với điều kiện cụ thể Riêng với cơquan Nhà Nước, do đặc thù của quan hệ lao động mà việc áp dụng quy định về thờigiờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là bắt buộc, không đơn vị nào có quyền thoả thuậnhay tự ý thay đổi thời giờ làm việc đã được ấn định

Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcho người lao động, đồng thời thể hiện sự quan tâm của Nhà Nước tới đối tượng laođộng này Trên cơ sở đó, Nhà Nước thực hiện việc kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạtđộng của các doanh nghiệp trong việc đảm bảo thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơicho người lao động của mình trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động đặc biệttrong việc đảm bảo giờ làm giờ nghỉ ngơi cho người lao động

1.2.2 Nguyên tắc thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi do các bên trong quan hệ lao động thoả thuận

Nội dung của nguyên tắc thể hiện rõ ở việc Nhà Nước chỉ can thiệp ở tầm vĩ mô

bằng việc quy định giới hạn lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làmthêm,… Việc cụ thể hoá như thế nào sẽ tuỳ thuộc vào ý chí của chủ thể tham gia trên

cơ sở thoả thuận này được ghi trong thoả ước lao động tập thể, hợp đồng lao động vànội quy lao động Khi đã thống nhất ý chí trên cơ sở phù hợp với pháp luật, nhữngthoả thuận đó đã trở thành cơ sở pháp lí cho việc thực hiện quan hệ lao động và giảiquyết tranh chấp lao động phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ

Mặt khác nguyên tắc này còn thể hiện ở việc Nhà Nước khuyến khích những thoảthuận về thời giờ làm việc có lợi hơn cho người lao động Trong khả năng của mình,

Trang 7

người sử dụng lao động hoàn toàn có thể giảm giờ làm mà vẫn đảm bảo quyền lợi chongười lao động.

Thực hiện nguyên tắc này vừa đảm bảo quyên tự do kinh doanh, quyền chủ độngtrong hoạt động sản xuất kinh doanh, quyền tự định đoạt của người lao động, vùa bảo

vệ được quyền lợi của người lao động

1.2.3 Nguyên tắc rút ngắn thời gian làm việc đối với các đối tượng đặc biệt hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại

Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở việc quy định giảm số giờ làm việc tối đa,

tăng số giờ nghỉ ngơi tối thiểu so với thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi bình thường

mà người lao động vẫn được đảm bảo quyền lợi Ngoài ra các đối tượng này cũngđược cũng được bảo vệ bởi những quy định chặt chẽ trong các trường hợp làm thêmgiờ, làm đêm Nguyên tắc này là sự cụ thể hoá việc bảo hộ lao động đối với các laođộng đặc thù, có ý nghĩa trong việc đảm bảo tính mạng, sức khoẻ, thể chất cho ngườilao động yên tâm làm việc

1.3 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển pháp luật về thời giờ làm việc , thời giờ nghỉ ngơi ở nước ta

Cũng giống như các quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam, vấn đề thời giờ làmviệc thời giờ nghỉ ngơi được Đảng và Nhà nước quan tâm, điều này thể hiện ở một hệthống các văn bản pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi khá lớn có phạm

vi rộng kể từ sau cuộc Cách mạng tháng 8 thành công đến những năm đổi mới saunày Lịch sử phát triển của pháp luật nói chung và pháp luật lao động nói riêng gắnliền với lịch sử phát triển của đất nước mà các mốc quan trọng đánh dấu sự ra đời củanước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà hoàn toàn độc lập là cuộc CMT8 do Đảng và Bác

Hồ lãnh đạo Vì thế, có thể chia lịch sử phát triển của chế định thời giờ làm việc, thờigiờ nghỉ ngơi thành các thời kì chủ yếu sau:

Thời kì từ năm 1945 đến năm 1954: nhiều văn bản về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi

được ban hành như Sắc lệnh số 55 ngày 20/11/1945 của Chính phủ quy định về việcnghỉ có lương ngày 1/5, ngày lễ, tết kỉ niệm lịch sử và ngày lễ tôn giáo Hiến pháp năm1946; Sắc lệnh số 29-SL ngày 12/3/1947 Sắc lệnh 29-SL đã có những quy định kháđầy đủ và tiến bộ mà các quy định sau này phải ghi nhận;

Thời kì từ năm 1955 đến năm 1975: Đây là thời kì đất nước ta bị chia cắt làm hai

miền Nhà nước đã banh hành nhiều văn bản quy định về thời giờ làm việc, thời giờnghỉ ngơi như Thông tư số 05-LĐTT ngày 9 tháng 3 năm 1955 quy định về thời giờlàm việc tại các xí nghiệp quốc doanh và công trưởng;

Thời kì từ năm 1976 đến nay: Chính phủ đã có một sô văn bản như Nghị định 233

của Hội đồng bộ trưởng ngày 22/06/1990 ban hành quy chế hoạt động đối với các xínghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

Trang 8

Ngày 23/6/1994, Quốc hội đã chính thức thông qua Bộ luật lao động có hiệu lực tưngày 1/1/1995 Đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong điều chỉnh quan

hệ lao động Trong đó thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là một chế định quan trọngcủa Bộ luật lao động được quy định tại chương VII Sau các lần sửa đổi, bổ sung vàocác năm 2002, 2006, 2007 và hiện nay là 2012, Bộ luật lao động cũng đã khẳng địnhđược vai trò Mặc dù ra đời muộn hơn so với các nước trên thế giới nhưng các quyđịnh của pháp luật lao động Việt Nam nói chung và các quy định của chế định thời giờlàm việc, thời giờ nghỉ ngơi nói riêng cũng tương đối phát triển Chế định thời giờ làmviệc, thời giờ nghỉ ngơi trong Bộ luật Lao động là một chế định khá hoàn thiện, nókhông chỉ bảo vệ có hiệu quả quyên lợi của người lao động mà còn góp phần khôngnhỏ trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà Đảng và Nhà nước tađang thực hiện

Trang 9

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC ,THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI

ĐƯỢC QUY ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012

Hiện nay việc quy định về thời giờ làm việc,thời giờ nghỉ ngơi được Bộ luật Lao động

2012 quy định tại Chương VII,trong đó có 04 mục 14 điều cụ thể là từ điều 104 quyđịnh về Thời giờ làm việc bình thường đến điều 117 quy định về Thời giờ làmviệc,thời giờ nghỉ ngơi đối với người làm công việc có tính chất đặc biệt.Để hiểu rõhơn những quy định trong chương này,tôi xin đề cập đến một số vấn đề như sau:

2.1 Pháp luật về thời giờ làm việc

2.1.1 Thời giờ làm việc bình thường

Theo quy định tại Điều 104 BLlĐ 2012 thì “ Thời giờ làm việc bình thường khôngqua 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần” Theo như quy định thì trong điềukiện làm việc bình thường người lao động làm việc không quá 08 giờ trong 01 ngày và

48 giờ trong 01 tuần.Quy định này là cơ sở pháp lí vững chắc bảo vệ quyền lợi chongười lao động, đảm bảo tái sản xuất sức lao động, ngăn chặn các hậu quả có thể xảy

ra, đồng thời đảm bảo lợi ích lâu dài cho người sử dụng lao động Đây là mốc thời gianlàm việc tiêu chuẩn được áp dụng cho người lao động làm việc trong điều kiện môitrường lao động bình thường, bao gồm những loại thời gian được quy định tại điều 3nghị định 45/2013/NĐ-CP hướng dẫn bộ luật lao động về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi

và an toàn lao động, vệ sinh lao động

Tại khoản 2 Điều 104 BLLĐ 2012 quy định “Người sử dụng lao động có quyềnquy định làm việc theo giờ hoặc ngày hoặc tuần; trường hợp theo tuần thì thời giờ làmviệc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày, nhưng không qua 48 giờ trong 01tuần” Việc quy định như vậy nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng lao độngthảo thuận với người lao động để có thời giờ làm việc hợp lí phù hợp với tính chất củacông việc, trên cơ sở quy định này đã góp phần khuyến khích giảm giờ cho người laođộng đảm bảo tăng cường sức khoẻ cũng như đời sống tinh thần cho người lao động Đối với người sử dụng lao động có hành vi thực hiện thời giờ làm việc bình thườngquá số giờ làm việc theo quy định của pháp luật sẽ b phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến25.000.000 đồng ( Điều 3 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP,điểm a khoản 3 Điều 14 Nghịđịnh số 95/2013/NĐ-CP)

2.1.2 Thời giờ làm việc ban đêm

Theo quy định tại Điều 105 BLLĐ 2012 thì Thời giờ làm việc ban đêm là thời giờ làm việc từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau hoặc từ 21 giờ đến 5 giờ tuỳ theo vùng khí hậu và khi người lao động làm việc trong khoản thời gian này thì được hưởng phụ cấplàm thêm Làm việc ban đêm có những ảnh hưởng biến đổi nhất định đến tâm sinh lí của người lao động, làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể ,tạo điều kiện cho sự phát

Trang 10

triển của các tình trạng bệnh lí … Điều này dẫn đến nhu cầu được bảo vệ và bù đắp hao phí sức lao động cao hơn so với làm việc vào ban ngày.

2.1.3 Làm thêm giờ

Làm thêm giờ là khoản thời gian làm việc ngoài thời gian làm việc bình thường

được quy định trong pháp luật, thoả ước lao động tập thể hoặc trong nội quy lao động Theo quy định tại điểm b Điều 106 BLLĐ 2012 thì thời giờ làm thêm không đượcvượt quá 50% số giờ làm việc được quy định trong mỗi ngày, đối với từng loại côngviệc.Trong trường hợp quy định thời giờ làm việc theo tuần thì tổng cộng thời giờ làmviệc và thời giờ làm thêm trong một ngày không được vượt quá 12 giờ Tổng số giờlàm thêm trong một tháng không quá 30 giờ và không quá 200 giờ trong một năm.Trong một số trường hợp đặc biệt, thời giờ làm thêm không quá 300 giờ trong mộtnăm

Pháp luật đã ban hành quy định về thời giờ làm thêm trên nhằm ngăn chặn nhữngtrường hợp các doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận, nhiêu doanh nghiệp sử dụng laođộng làm thêm giờ để tránh việc tuyển thêm lao động,cố tình vi phạm các quy định vềlàm thêm giờ

Theo Điều 107 BLLĐ 2012 làm thêm giờ trong những trường hợp đặc biệt trongnhững trường hợp như: Thực hiện lệnh động viên, huy động đảm bảo nhiệm vụ quốcphòng,an ninh trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, an ninh Thực hiện các côngviệc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan tổ chức, cá nhân trongphòng ngừa và khắc phục hậu quả của thiên tai, hảo hoạn, dịch bệnh và thảm hoạ theoquy định của pháp luật Khi đó, người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người laođộng làm thêm giờ vào bất kì ngày nào và người lao động không được từ chối Mặc dùtrong các trường hợp làm thêm giờ này không cần có sự đồng ý của người lao động, vìđây là bắt buộc người lao dộng làm thêm giờ, song người sử dụng lao động vẫn phảiđảm bảo số thời giờ làm thêm và các quyền lợi cho người lao động

Người sử dụng lao động khi sử dụng người lao động làm thêm giờ trong những trườnghợp trên cũng cần lưu ý không được sử dụng quá số giờ làm thêm được quy định đểđảm bảo an toàn lao động và sức khoẻ và phải sắp xếp thời gian nghỉ bù lại cho ngườilao động (điểm c Khoản 2 Điều 106 BLLĐ 2012)

2.1.4 Thời giờ làm việc của một số đối tượng đặc biệt

2.1.4.1 Đối với lao động làm công việc có tính chất độc hại, nguy hiểm

Theo quy định tại khoản 3 Điều 104 BLLĐ 2012 thì người lao động có thời giờ làmviệc không quá 6 giờ trong một ngày đối với các công việc có tính chất độc hại, nguyhiểm như bức xạ , hạt nhân là đối tượng lao động đặc biệt Tuỳ vào nhóm nghành nghề

họ đảm nhiệm ,cũng như mức độ độc hại, tính chất nguy hiểm của công việc ,mức độảnh hưởng bởi bức xạ ion hoá gây ra đối với người lao động làm công việc bức xạ, hạt

Trang 11

nhân mà pháp luật có những quy định riêng nhằm đảm bảo sức khoẻ, tính mạng cũngnhư hiệu quả công việc cho người lao động

2.1.4.2 Đối với lao động là nữ

Theo quy định tại Điều 155 BLLĐ 2012

- Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ có thai từ thángthứ bảy hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ, làm việc ban đêm và đi côngtác xa

- Lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi mang thai từ tháng thứ 7 được chuyểnlàm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt 1 giờ làm việc hằng ngày mà vẫn hưởng đủlương

- Người lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút ;trongthời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làmviệc mà vẫn được hưởng đủ lương

Lao động nữ là một loại lao động đặc thù ,chiếm gần nửa số lao động trong cảnước.Ngoài công việc xã hội, lao động nữ còn đảm trách vai trò làm vợ, làm mẹ vớirất nhiều công việc không tên trong gia đình.Do vậy, xây dựng một chế độ làm việchợp lý cho lao động nữ là hết sức cần thiết

2.1.4.3 Đối với lao động chưa thành niên.

Thời giờ làm việc của người dưới 15 tuổi không được quá 4 giờ trong 1 ngày và 20giờ trong 1 tuần Lao động chưa thành niên là lao động dễ tổn thương nhất trên thịtrường lao động, do sự non nớt về thể chất, trí tuệ và tinh thần nên việc nghiên cứu cácquy định về thời giờ làm việc hợp lí cho các em cũng rất quan trọng Người sử dụnglao động có hành vi sử dụng lao động chưa thành niên làm việc quá thời giờ làm việctheo quy định pháp luật, cụ thể là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.(Theo quy định tại khoản 2 Điều 163 BLLĐ 2012 và điểm b khoản 2 Điều 19 Nghịđịnh số 95/2013/NĐ-CP)

2.1.4.3 Đối với lao động là người cao tuổi

Người lao động cao tuổi được rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc được ápdụng chế độ làm việc không trọn thời gian Năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu,ngườilao động được rút ngắn thời giờ làm việc bình thường hoặc được áp dụng chế độ làmviệc không trọn thời gian ( Điều 166 BLLĐ 2012) Người lao động cao tuổi là ngườilao động nam trên 60 tuổi, nữ trên 55 tuổi Đây là đối tượng lao động đặc biệt cầnđược Nhà nước quan tâm vì thể lực, sức khoẻ cũng như trí tuệ đã bị giảm sút

Trang 12

2.2.Pháp luật về thời giờ nghỉ ngơi có hưởng lương

2.2.1.Quy định về nghỉ ngơi trong giờ làm việc

Theo điều 108 BLLĐ 2012 thì người lao động làm việc liên tục trong 08 giờ hoặc

06 giờ theo quy định tại điều 104 BLLĐ 2012 về thời giờ làm việc tiêu chuẩn, ngườilao động đã được nghỉ giữa giờ ít nhất 30 phút, tính vào thời giờ làm việc tiêuchuẩn.Trong trường hợp làm việc ban đêm, người lao động được nghỉ giữa giờ ít nhất

45 phút, tính vào giờ làm việc, nhằm bảo vệ về mặt sinh học của người lao động, saukhoảng thời gian làm việc liên tục 08 giờ hoặc 06 giờ lúc này người lao động tập trungcao độ để làm việc nên sức khoẻ của người lao động giảm sút vì thế mà luật định đưa

ra một khoảng thời gian thư giãn thần kinh, cơ bắp, thực hiện công việc có hiệu quả.Theo khoản 2 của điều này và điều 5 Nghị định 45/2013/NĐ-CP hướng dẫn bộ luật laođộng về thời giờ làm việc ,thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động,vệ sinh lao động thìthời gian nghỉ ngơi trong giờ làm việc của người lao động tuỳ thuộc vào người laođộng làm việc ban ngày hay ban đêm.Việc quy định này là một quy định mở cho ngườilao động và người sử dụng lao động,họ có thể thương lượng kéo dài thời điểm nghỉngơi.Thời điểm nghỉ ngơi do người sử dụng lao động quyết định,có thể quy định ngườilao động nghỉ cùng lúc hoặc nghỉ luân phiên, tuỳ vào loại lao động hoặc yêu cầu côngviệc

2.2.2 Nghỉ chuyển ca

“Người lao động làm việc theo ca được nghỉ ít nhất 12 giờ trước khi chuyển ca sanglàm việc khác” ( Điều 109 BLLĐ 2012 ) Điều này là cần thiết đối với người laođộng vì mục đích của nghỉ chuyển ca có thời gian dài như vậy là để tái sản xuất sứckhoẻ cho người lao động và sau khi nghỉ chuyển ca thì người lao động có thể đạt đượcmột trạng thái tinh thần làm tốt, ổn định củng như hiệu suất làm việc được tăng cao

2.2.3 Nghỉ hằng năm

Theo điều 111 BLLĐ 2012 quy định, nghỉ hằng năm là khoảng thời gian mà ngườilao động được quyền nghỉ ngơi,ngoài các loại thơi gian nghỉ hằng tuần, nghỉ việcriêng hoặc nghỉ không hưởng lương, khi làm việc cho đơn vị sủ dụng lao động, đượctính theo năm Khi người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng laođộng thì được nghỉ hằng năm với mức 12 ngày, 14 ngày hoặc 16 ngày tuỳ thuộc vàođiều kiện lao động,tính chất công việc và điều kiện sinh sống của người lao động Tạikhoản 2 điều này quy định người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằngnăm của người lao động sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thôngbáo trước cho người lao động biết Đồng thời để đáp ứng nhu cầu về thời điểm cầnnghỉ ngơi của người lao động và giúp họ chủ động trong kế hoặc nghỉ, đảm bảo đượcmục đích, ý nghĩa của các ngày nghỉ hằng năm.Tại khoản 3 điều này quy định ngườilao động có thể thảo thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm làm nhiềulần hoặc nghỉ gộp nhiều năm.Nếu nghỉ gộp nhiều năm thì tối đa 03 năm một lần Đặcbiệt để phù hợp với điều kiện thực tế trong việc sử dụng ngày nghỉ hằng năm Tạikhoản 4 điều này còn quy định trường hợp người lao động đi nghỉ hằng năm bằng các

Trang 13

phương tiện (trừ máy bay) mà có số ngày đi đường cả đi cả về trên 02 ngày thì từ ngàythứ 03 trở đi được tính thêm ngày đi đường ngoài thời gian nghỉ hằng năm, đồng thờiphòng tránh trường hợp người lao động lạm dụng thời gian này, pháp luật quy địnhrằng sô ngày đi đường chỉ được tính cho một lần nghỉ trong năm.

Có thể nói, pháp luật về nghỉ hằng năm khá hoàn chỉnh Các quy định về nghỉ hằngnăm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động được nghỉ ngơi, giúp họ giảm bớtnhững mệt nhọc, căng thẳng trong công việc, đồng thời giúp người sử dụng lao độngchủ động hơn trong việc bố trí, sắp xếp tổ chức kinh doanh

2.2.4 Nghỉ Lễ,Tết

Theo điều 115 BLLĐ 2012 nghỉ Lễ,Tết bao gồm những ngày như sau: Tết dươnglịch, Tết âm lịch, ngày Giải phóng miền Nam 30-4, Ngày quốc tế lao động, Ngày quốckhánh, Ngày Giỗ tổ Hùng Vương Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyênlương trong những ngày nêu trên Nếu những ngày nghỉ trên trùng với ngày nghỉ hằngtuần, thì người lao động sẽ được bù ngày nghỉ vào những ngày kê tiếp đã bị trùng, vìngày nghỉ hằng tuần và ngày nghỉ Lễ, Tết là hai ngày nghỉ khác nhau Ngày nghỉ lễ tết,được coi là thời gian nghỉ ngơi quan trọng trong năm Điều 115 quy định tổng thờigian nghỉ lễ tết trong năm hiện nay là 10 ngày,được hưởng nguyên lương.So với trước,BLLĐ 2012 tăng 01 ngày, cụ thể là tăng số ngày nghỉ tết cổ truyền từ 04 ngày lên 05ngày Quy định này không chỉ thể hiện sự phù hợp với thông lệ các nước trên thế giới

mà còn phù hợp với những sự kiện trọng đại và phong tục cổ truyền,văn hoá tínngưỡng của dân tộc Việt Nam Điều đáng kể là, do thời gian nghỉ tết âm lịch tương đốidài, nên để phù hợp với kế hoạch, tiến độ công việc trong đơn vị, người sử dụng laođộng được quyền lựa chọn 1 ngày cuối năm và 04 ngày đầu năm âm lịch hoặc 2 ngàycuối năm và 3 ngày đầu năm âm lịch Kết quả lựa chọn này phải được người sử dụnglao động thông báo cho người lao động trước khi thực hiện ít nhất 30 ngày

Riêng đối với lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt nam,ngoài nhữngngày lễ theo quy định tại khoản 1 điều này còn nghỉ được nghỉ thêm 1 ngày tết cổtruyền và 1 ngày quốc khánh của nước họ Điều đó thể hiện pháp luật Việt Nam luônluôn tôn trọng phong tục, tạp quán và ngày lễ trọng đại của nước ngoài, đồng thời tôntrọng quyền được nghỉ và hưởng thụ những giá trị tinh thần trong những dịp Lễ, Tếttrọng đại nhất của người lao động nước ngoài khi làm việc ở Việt Nam ( Khoản 2Điều 115 BLLĐ )

2.2.5 Nghỉ việc riêng

Người lao động được nghỉ việc riêng từ 01 đến 03 ngày mà vẫn được hưởngnguyên lương trong những ngày sau: kết hôn, con kết hôn, bố mẹ đẻ hoặc bố mẹ chồng( vợ) mất, chồng ( vợ ) mất, con mất ( Khoản 1 Điều 116 BLLĐ 2012 ) Việc quyđịnh nghỉ trong các trường hợp trên có liên quan đến bản thân và nhân thân của ngườilao động tạo điều kiện cho họ yên tâm giải quyết công việc gia đình mà vẫn đảm bảothu nhập của họ

Ngày đăng: 16/06/2019, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w