Điều 46 Luật doanh nghiệp năm 1999 định nghĩa: “ Công ty trách nhiệm hữuhạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu sau đây gọi là chủ sở hữu công ty; chủ sở hữu chị
Trang 1DANH MỤC VIẾT TẮT
1 DN: Doanh Nghiệp
2 TNHH: Trách Nhiệm Hữu Hạn
3 DNTN: Doanh Nghiệp Tư Nhân
4 GCNĐKDN: Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Doanh Nghiệp
5 TNHH MTV: Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên
6 DNNN: Doanh Nghiệp Nhà Nước
7 ĐKKD: Đăng Ký Kinh Doanh
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THÀNH LẬP CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN 6
1.1 Lịch sử hình thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 6
1.2 Khái niệm về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 7
1.3 Đặc điểm pháp lý về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 8
1.3.1 Về chủ sở hữu 10
1.3.2 Công ty có tư cách pháp nhân 10
1.3.3 Công ty không được quyền phát hành cổ phần 11
1.4 Vai trò kinh tế của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 11
1.5 Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 12
1.5.1 Trường hợp quyền chủ sở hữu công ty là tổ chức 12
1.5.2 Trường hợp quyền chủ sở hữu công ty là cá nhân 12
1.5.3 Nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty 12
1.5.4 Thực hiện quyền của chủ sở hữu công ty trong một số trường hợp đặc biệt 13
1.5.5 Hạn chế đối với quyền chủ sở hữu công ty 13
1.6 Ưu điểm và Nhược điểm của công ty TNHH một thành viên 14
1.7 Quy chế pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 14
1.7.1 Điều kiện đăng ký thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 14
1.7.2 Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp 15
1.7.3 Trình tự, thủ tục đăng ký thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên .16
1.8 Vốn chế độ tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 18
1.8.1 Vấn đề tài chính để thành lập công ty 18
1.8.2 Vốn điều lệ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 19
1.8.3 Thủ tục góp vốn thành lập công ty 19
1.9 Cơ cấu và tổ chức bộ máy công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 20
1.9.1 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu 20
Trang 3Sơ đồ cơ cấu và tổ chức bộ máy công ty TNHH MTV 20
1.9.2 Cơ cấu tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân làm chủ sở hữu 24
CHƯƠNG 2: THỰC TIỂN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN 25
2.1 Thực tiển và giải pháp tổ chức doanh nghiệp theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 25
2.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự hiện diện của loại hình công ty TNHH một thành viên 25
2.3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế định công ty TNHH một thành viên 29
KẾT LUẬN 32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
DANH MỤC SÁCH, BÁO, TẠP CHÍ 33
Trang 4ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn TNHH, doanh nghiệp tư nhân phát triển,góp phần to lớn trong việc giải phóng lực lượng sản xuất, phát huy nội lực phục vụ
sự nghiệp phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy nhanh thời kỳ quá độchuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường Tuy vậy, theo thờigian nhiều nội dung của hai đạo luật đó đã tỏ ra bất cập, không còn đáp ứng nhu cầuđiều chỉnh hoạt động của các loại hình doanh nghiệp giai đoạn mới Để đảm bảo pháthuy nội lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đẩy mạnhcông cuộc đổi mới kinh tế đảm bảo quyền tự do, bình đẳng trước pháp luật trong kinhdoanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế bảo hộ quyền và lợi íchhợp pháp của các nhà đầu tư tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạtđộng kinh doanh, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện hệ thống phápluật Luật Doanh nghiệp 1999 thay thế Luật Công ty 1990, Luật Doanh nghiệp 2005thay thế Luật Doanh nghiệp 1999
Công ty TNHH mặc dù ra đời muộn nhưng là loại hình doanh nghiệp được cácnhà đầu tư ưa chuộng, bởi sự kết hợp hoàn hảo những ưu điểm của công ty hợp danh
và công ty cổ phần, phù hợp với các nhà đầu tư có quy mô nhỏ và vừa Ở Việt Namcông ty TNHH một thành viên lần đầu tiên được thừa nhận trong Luật Doanh nghiệp
1999 trong khi đó, đối với pháp luật các nước trên thế giới, mô hình công ty này đãđược thừa nhận cách đây nhiều năm và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư lựa chọn mộtloại hình kinh doanh phù hợp, phân tán được rủi ro, chuyển dịch vốn, hợp vốn dễdàng với các chủ thể kinh doanh khác mà không làm mất đi bản chất pháp lý củadoanh nghiệp Mặc dù hệ thống pháp luật Việt Nam đang không ngừng được hoànthiện để tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho các công ty TNHH một thành viên hoạt động.Luật Doanh nghiệp 2005 được ban hành với những quy định mới hơn so với LuậtDoanh nghiệp 1999 tuy nhiên trong quá trình áp dụng đã bộc lộ nhiều bất cập nhưquy định chưa rõ ràng dẫn đến việc áp dụng luật trên thực tế còn nhiều vướng mắc cónhững vấn đề phát sinh trong thực tiễn chưa được luật điều chỉnh gây khó khăn chocác chủ thể khi điều hành quản lý hoạt động của công ty TNHH một thành viên
Trang 5Luật doanh nghiệp năm 2014 ra đời đánh dấu một sự thay đổi lớn trong phápluật về doanh nghiệp ở Việt nam, đồng thời phản ánh được tư tưởng và mục tiêu nổibật của Luật Doanh nghiệp năm 2014 là hình thành một khung pháp lý chung, bìnhđẳng áp dụng thống nhất cho mọi loại hình doanh nghiệp Đây là lần đầu tiên nước taban hành một văn bản pháp luật chung điều chỉnh thống nhất tất cả các loại hìnhdoanh nghiệp Với việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2014 các doanh nghiệp đã
có điều kiện để hoạt động bình đẳng trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việtnam hiện nay Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng đáp ứng được yêucầu đối xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.Doanh nghiệp nói chung và công ty TNHH một thành viên nói riêng đóng vai tròquan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Việc học tập kinh nghiệmcủa các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới và trong khu vực có giá trị to lớnđối với Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về loại hình công tyTNHH một thành viên, tạo điều kiện thúc đẩy nó phát triển hiệu quả bên cạnh cácloại hình công ty truyền thống khác, đồng thời tạo ra sự hài hòa giữa pháp luật quốcgia với pháp luật các nước Luật doanh nghiệp 2014 cũng có những điểm nổi bật quyđịnh đối với loại hình công ty trách nhiện hữu hạn một thành viên tạo nhiều hành lanpháp lý thuận lợi cho loại hình này Chính vì vậy những điều quang trọng đó tôi đã
chọn đề tài: ‘‘Pháp luật về thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên”
làm vấn đề nghiên cứu cho bài tiểu luận của tôi với mục đích vận dụng những kiếnthức đã học, tham khảo từ tài liệu và những trường hợp thực tập thực tế để phần nàogóp phần trong vấn đề xây dựng sự phát triển của doanh nghiệp ở Việt nam
1.2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, đây là lần đầu tiên đánh dấu một sự thay đổi lớn trong pháp luật vềdoanh nghiệp ban hành một văn bản pháp luật chung điều chỉnh thống nhất tất cả cácloại hình doanh nghiệp, đặc biệt đối với những vấn đề doanh nghiệp nói chung vàcông ty TNHH một thành viên nói riêng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triểncủa nền kinh tế Việt Nam đã được các học giả để tâm nghiên cứu Có thể kể đến một
số công trình nghiên cứu sau:
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Huế “Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước DNNN thành công ty TNHH một thành viên” Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Văn Khải, năm 1997 “Công ty TNHH theo pháp luật Việt Nam và hướng hoàn thiện địa vị pháp lý của loại hình doanh nghiệp này”
Về các giáo trình như ThS Nguyễn Thị Bích Phượng (2016), Giáo trình Những vấn đề cơ bản về Luật thương mại, NXB Lao Động
Trang 6Và các bài viết đăng trên tạp chí Luật học như: Tiến sỹ Bùi Ngọc Cường “Bàn
về tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” Thạc sĩ Đồng Ngọc Ba “Quan niệm về Luật Doanh nghiệp – Một số vấn đề phương pháp luận”
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu mộtcách chuyên sâu, toàn diện và hệ thống về loại hình doanh nghiệp mới này ở ViệtNam trên cơ sở so sánh và học tập kinh nghiệm của nước ngoài, từ đó đưa ra nhữngkhuyến nghị hoàn thiện pháp luật, tăng cường kiểm tra, giám sát và tạo điều kiện tốtcho hoạt động thực tiễn, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty TNHH một thànhviên ở Việt Nam
2 Mục đích , đối tượng , phạm vi và phương pháp nghiên cứu.
2.1 Mục đích nghiên cứu.
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm các mục đích sau, đề tài này là tìm hiểu nhữngvấn đề lý luận về công ty TNHH một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014 vàthực tiễn áp dụng các quy định pháp luật, từ đó kiến nghị nhằm các quy định phápluật về công ty TNHH một thành viên, để đạt được mục đích trên Tiểu luận phải giảiquyết được một số nhiệm vụ sau
Giải quyết một số vấn đề lý luận về công ty TNHH một thành viên Nghiên cứu
hệ thống pháp luật hiện hành về doanh nghiệp, đặc biệt là nghiên cứu nội dung cácquy định của Luật Doanh nghiệp 2014 về công ty TNHH một thành viên Đưa ra giảipháp để hoàn thiện và kiến nghị cụ thể nhằm thực thi pháp luật về công ty TNHHmột thành viên
2.2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận đó chính là tập trung nghiên cứu những quyđịnh của pháp luật về thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lý luậnthực tiển Đồng thời xem xét sự điều chỉnh những quy định trong pháp luật doanhnghiệp của Việt Nam, và những quy định của pháp luật có liên quan, cũng như chínhsách quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước hiện hành
Trong bài tiểu luận tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý liênquan, trong đó trọng tâm là nghiên cứu các quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 vàcác văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp vàNghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệpvới Thông tư 20/2015/TT-BKHĐT Hướng dẫn đăng ký doanh nghiệp Tiểu luận còn
Trang 7nghiên cứu pháp luật về công ty TNHH một thành viên của một số nước trên thế giới
để rút ra bài học kinh nghiêm cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật
2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
Để có thể thực hiện và hoàn thành tiểu luận này tác giả đã sử dụng một sốphương pháp luận cụ thể như sau; Phương pháp triết học Mác - Lênin mà chủ yếu làphép duy vật lịch sử cũng như các quy luật phạm trù cơ bản, nhất là quy luật cơ sở hạtầng quyết định kiến trúc thượng tầng, quy luật các quan hệ kinh tế quyết định cácquan hệ pháp luật Trên nền tảng các phương pháp luận đó, tác giả sử dụng cácphương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội như; phương pháp phân tíchtổng hợp phân chia các vấn đề lớn, phức tạp thành những vấn đề nhỏ chi tiết cụ thểhơn, sau khi phân tích thì tổng hợp lại và khái quát để đưa tới sự nhận thức tổng thể
về pháp luật công ty TNHH một thành viên ở Việt Nam hiện nay và giải pháp hoànthiện Phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch đề tài đi từ những vấn đềchung đến những vấn đề riêng, từ những hiện tượng riêng lẻ đến những cái chung.Phương pháp duy vật biện chứng xem xét giải pháp, pháp lý nhằm hoàn thiện phápluật về công ty TNHH một thành viên ở Việt Nam hiện nay một cách toàn diện trongmối tương quan với một số nước phát triển thế giới và thực tiễn tại Việt Nam.Phương pháp phân tích luật viết, trong quá trình giải quyết những vấn đề mà đề tàiđặt ra Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn bám sát các chủ trương,đường lối của Đảng và Nhà nước ta về quy định Luật doanh nghiệp và pháp luậtthành lập doanh nghiệp được thể hiện trong các văn kiện của Đảng và hệ thống phápluật của Nhà nước
3 Những vấn đề lý luận và thực tiễn.
Ngay từ đầu quá trình đổi mới , mở cửa nền kinh tế, việc cải cách nền hànhchính nói chung, các thủ tục hành chính nói riêng đã được đặc ra và thực hiện vớinhiệm vụ cụ thể là phát hiện loại bỏ hoặc chỉnh sửa thủ tục hành chính không phùhợp, phúc tạp phiền hà tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh.Môi trường đầu tư kinh doanh là toàn bộ các nhân tố tác động đến hoạt độngsản suất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, múc độ thuận lợi của môi trường đầu
tư kinh doanh phụ thuộc trước hết vào chất lượng của chủ thể , trong đó hành chínhnhà nước trước hết vào chất lượng của thể chế , trong nhân tố tác động trực tiếp nhấtảnh hưởng lớn đến chết lượng môi trường đầu tư kinh doanh của nền kinh tế Thủ tụchành chính phải đáp ứng nhu cầu thực tế đơn giản dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệmthời gian chi phí công sức của đối tượng và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính
Sự cần thiết của việc cần phải đổi mới của luật doanh nghiệp Kể từ khi ra đờiLuật doanh nghiệp 2005 đã góp phần không nhỏ trong việc điều tiết các hoạt động
Trang 8kinh doanh đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế nước nhà, tuy nhiên thực tế hiện naymột số quy định của văn bản này đã trở nên lạc hậu gây khó khăn cho việc áp dụngpháp luật vào đời sống Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới Luật doanhnghiệp ngày càng bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập không phù hợp với tình hìnhthực tiển của đời sống đồng thời gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của các chủthể trong xã hội Chính vì vậy nhu cầu cấp thiết được đặc ra là phải sửa đổi Luậtdoanh nghiệp sao phù hợp với xu hướng phát truyển của xã hội, tạo ra môi trườngkinh doanh lành mạnh, thuận lợi cho các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh.Quá trình thực hiện đổi mới là nhìn khái quát toàn bộ quá trình đổi mới thể chếcải thiện môi trường kinh doanh và tầm quan trọng của việc thực hiện cải cách thủtục hành chính luôn được khẳng định Đặc biệt vài năm trở lại đây công tác cải cáchthủ tục hành chính được tập trung đẩy mạnh như một cao trào mạnh mẽ và quyết liệthơn, nhờ vậy mà môi trường kinh doanh đã có những cải thiện đáng kể, được cộngđồng doanh nghiệp và các nhà tài trợ quốc tế ghi nhận Liên tục trong hai năn 2014
và 2015, Chính phủ đã ban hành hai Nghị Quyết số 19/NQ-CP đều cùng và năm2014-2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh,nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia với những chỉ tiêu và biện pháp rất cụ thể.Đơn giản thủ tục và rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp xuống còn tối đa là 06ngày cải thiện các khâu liên quan khác nhằm rút ngắn thời gian từ đăng kí đến bắtđầu kinh doanh của doanh nghiệp và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục phá sảndoanh nghiệp xuống còn tối đa 30 tháng Luật sửa đổi đã cải cách mạnh quy trình thủtục đầu tư theo đó bãi bỏ, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhàđầu tu7trong nước, đối với những dự án lớn quan trọng thuộc thẩm quyền chấp thuậnchủ trương của quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc dự án có nguồn lực của nhànước tài sản thuộc sở hữu nhà nước thì nhà đầu tư thực hiện thủ tục chấp thuận chủtrương trước khi triển khai Đối với nhà đầu tư nước ngoài , quy trình cấp giấy chứngnhận đăng ký đầu tư được cải tiến theo hướng rút ngắn thời gian thực hiện vối quytrình, thủ tục minh bạch đơn giản Đồng thời dự thảo luật cũng quy phạm hóa chủtrương về liên thông thủ tục hành chính đối với dự án đầu tư có sử dụng đất theoNghị Quyết số 43/NQ-CP ngày 06/6/2014 của Chính phủ về cải cách thủ tục hànhchính trong hình thành và thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất để cải thiện môitrường kinh doanh
Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được thông qua ngày 26 tháng 11 năm
2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2015 với 10 chương, 213 điềuLuật doanh nghiệp năm 2014 vừa tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp của
Trang 9Luật doanh nghiệp năm 2005 đồng thời sửa đổi và bổ sung nhiều quy định mới nhằmtháo gõ những hạn chế bất cập đang tồn tại, và một số kết quả đạt được
Thứ nhất về vấn đề người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, theo quyđịnh của Luật doanh nghiệp năm 2014, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Như vậy
so với Luật doanh nghiệp năm 2005 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định công ty
có thể tự quyết định chỉ định người đại diện theo pháp luật Ngoài ra trong một sốtrường hợp đặc biệt , tòa án có thẩm quyền có quyền chỉ định người đại diện theopháp luật trong quá trình tố tụng tại tòa án
Thứ hai về giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, theo quy định tại điều 29Luật doanh nghiệp năm 2014 thì giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ còn bốnnội dung chính; tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính củadoanh nghiệp, thông tin chi tiết nhân thân của cá nhân là người đại diện theo phápluật Như vậy theo quy định mới GCNĐKDN sẽ không bao gồm thông tin về ngànhnghề kinh doanh của doanh nghiệp mà chỉ bao gồm thông tin cơ bản về doanh nghiệpnhư mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính và thông tin về người đại diện theopháp luật Đây được đánh giá là một trong những tiến bộ của Luật doanh nghiệp, tạođiều kiện cho thương nhân phát huy quyền tự do kinh doanh một cách có hiệu quả.Trên cơ sở các kết quả đạt được, nhiệm vụ tiếp theo cần thực hiện là; giảm thờigian giải quyết thủ tục phá sản xuống còn tối đa 30 tháng xuống còn 24 tháng và tiếptục cải tiến quy trình, hồ sơ, thủ tục nộp thuế, rút ngắn thời gian hoàn thành thủ tụckhai thuế, nộp thuế bao gồm cả thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệpxuống còn dưới 119 giờ Xây dựng cơ sở dữ liệu về hoàn thuế, bảo đảm ít nhất 90%hoàn thuế theo đúng thời gian quy định và giải quyết các khiếu nại của người nộpthuế, bảo đảm yêu cầu ít nhất 90% hồ sơ khiếu nại của người nộp thuế được giảiquyết đúng theo quy định của pháp luật Xây dựng hệ thống cấp mã số thuế tự độngcho doanh nghiệp, rút ngắn thời gian thành lập mới doanh nghiệp xuống còn 03 ngàytheo quy định của pháp luật
4 Bố cục của luận văn
Phần mở đầu
Đề tài gồm hai chương:
Chương 1 Lý luận chung về Pháp luật thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên
Chương 2 Thực tiển và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thành lập công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Trang 10CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THÀNH LẬP CÔNG TY
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN.
1.1 Lịch sử hình thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Khác với loại hình công ty, công ty trách nhiệm hữu hạn là một sản phẩm hoạtđộng lập pháp theo sáng kiến của nhà lập pháp Đức 1892 các nhà luật học Đức đã đưa
ra mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn với những lập luận sau:
Thứ nhất mô hình công ty cổ phần đang tồn tại không thích hợp với mô hình
kinh tế nhỏ, các quy định quá phức tạp đối với công ty cổ phần thật không cần thiết vàkhông phù hợp với loại hình công ty vừa và nhỏ, có rất ít thành viên
Thứ hai chế độ trách nhiệm vô hạn của công ty đối nhân không phù hợp với tất
cả các nhà đầu tư, nhiều nhà tư nhân muốn được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn đểtránh được rủi ro biết hạn chế rủi ro là một yếu tố quan trọng để thành đạt trong kinhdoanh, do đó các nhà làm luật Đức đã sáng tạo ra loại hình công ty trách nhiệm hữuhạn, vừa kết hợp được ưu điểm về chế độ trách nhiệm hữu hạn của công ty và ưu điểmcủa chế độ thành viên quen biết nhau của công ty đối nhân, nhà đầu tư có thể kinhdoanh vừa và nhỏ, nó khắc phục được nhược điểm về sự phức tạp khi thành lập vàđiều hành công ty cổ phần, nhược điểm không phân chia được rủi ro của công ty đốinhân nhưng nó vẫn mang bản chất của công ty đối vốn đó là công ty có tư cách phápnhân độc lập, chịu trách nhiệm về các khoảng nợ bằng tài sản của công ty, thành viêncủa công ty chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp của mình vào công ty Vớinhững ưu điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn, nên sao khi có luật công ty tráchnhiệm hữu hạn năm 1982 của Đức được ban hành thì công ty trách nhiện hữu hạn đãđược các nhà đầu tư lựa chọn, và từ đó số lượng công ty trách nhiệm hữu hạn khôngngừng tăng lên Ở Việt nam từ năm 1986 Đảng ta đả đề ra đường lối xây dựng nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước,cùng với chính sách kinh tế đó đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các loại hình công ty.Ngày 21 tháng 12 năm 1990 Quốc hội đã thông qua Luật công ty Tuy nhiên sao mộtthời gian đi vào thực tế áp dụng thì Luật công ty đã bọc lộ những thiếu sót nhất định,chưa theo kịp sự phát truyển của nền kinh tế Ngày 12 tháng 6 năm 1999 Quốc hội đãthông qua Luật doanh nghiệp thay thế cho Luật doanh nghiệp Nhà nước và Luật công
ty Đây được xem là văn bản ghi nhận chi tiết và khá đầy đủ về các loại hình doanhnghiệp trong đó có loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cũng đãđược đề cập khá chi tiết được quy định tại mục 2 chương 3 Luật doanh nghiệp năm
1999 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một loại hình doanh nghiệp mới
Trang 11được quy định trong quá trình phát truyển của pháp luật thương mại Việt nam Tuynhiên Luật doanh nghiệp năm 1999 cho phép một tổ chức được quyển thành lập công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Ngày 12 tháng 12 năm 2005 Quốc hội đã thông qua Luật doanh nghiệp năm
2005 thay thuế cho Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp nhà nước và Luậtđầu tư nước ngoài tại Việt nam Luật doanh nghiệp 2005 quy định việc thành lập, tổchức, quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế Luật doanh nghiệp có một điểm mới nổi bật so với Luật doanh nghiệp 1999 Đốivới loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Luật doanh nghiệp 2005 ghinhận cá nhân có thể trở thành chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
đã và đang đóng vai trò quan trọng nhằm đa dạng hóa cơ cấu chủ sở hữu của công ty,trước đây chỉ chủ sở hữu là tổ chức có tư cách pháp nhân của loại hình doanh nghiệpnày
Luật doanh nghiệp năm 2014 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kì hợp thứ
8 ngày 26 tháng 11 năm 2014 có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 được coi làmột bước đột phá mới về thể chế có ý nghĩa hết sức quan trọng, tiếp tục kế thừa, luậthóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của Luật doanh nghiệpnăm 2005 nhưng đồng thời đã sữa đổi và bổ sung nhiều quy định mới nhằm tháo gỡnhững hạn chế bất cập của luật cũ, tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanhthuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thông thoán cho các doanhnghiệp, nhà đầu tư được tự do kinh doanh, đầu tư kinh doanh các lĩnh vực mà phápluật không cấm theo đúng tinh thần Hiến pháp năm 2013
Tóm lại hiện nay hình thức của công ty trách nhiệm hữu hạn là rất phổ biến ở tất cả các
nước trên thế giới Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là mô hình lý tưởng
để kinh doanh ở quy mô vừa và nhỏ, chúng có ưu điểm là tạo điều kiện cho các nhàkinh doanh mạnh dạn đầu tư vào các nghành và lĩnh vực có khả năng rủi ro nhiều, thuhồi vốn chậm Ngoài ra loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã tạođiều kiện cho những người có số vốn vừa và nhỏ có cơ hội làm chủ doanh nghiệp tạo
ra được lợi nhuận từ đồng vốn của mình, hiện nay mô hình công ty này được nhà kinhdoanh ưu chuộn Thực tế mô hình công ty trách nhiện hữu hạn một thành viên đang rấtphổ biến tại Việt nam
1.2 Khái niệm về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một trong những loại hìnhdoanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát truyển của nền kinh tế góp phầnlàm sinh động thêm môi trường kinh doanh, đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp,huy động thêm nhiều nguồn vốn cho sự phát truyển kinh tế, tăng thêm sự lựa chọn cho
Trang 12các nhà đầu tư nhằm nâng cao tính cạnh tranh, năng động của các thành phần kinh tế
về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được ghi nhận qua các năm như Luậtdoanh nghiệp 1999, 2005, 2014 cụ thể như sau
Điều 46 Luật doanh nghiệp năm 1999 định nghĩa: “ Công ty trách nhiệm hữuhạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ
sở hữu công ty); chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sảnkhác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp Chủ sở hữucông ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho
tổ chức, cá nhân khác Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyềnphát hành cổ phiếu Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân
kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”
Điều 63 Luật doanh nghiệp năm 2005 định nghĩa: “ Công ty trách nhiệm hữuhạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu(sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày đượccấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên không được quyền phát hành cổ phần”
Điều 73 Luật doanh nghiệp năm 2014 định nghĩa: “ Công ty trách nhiệm hữuhạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu(sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày đượccấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên không được quyền phát hành cổ phần” Như vậy, về mặt khái niệm thì cơ bản,quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong Luật doanh nghiệp năm
2014, cũng như các Luật cũ, giản lược hơn nhiều so với quy định về công ty tráchnhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do tính chất sở hữu và cơ cấu tổ chức gọn nhẹcủa loại hình doanh nghiệp này
1.3 Đặc điểm pháp lý về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Thứ nhất đặc điểm về thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
thuộc sở hữu của một cá nhân hoặc một tổ chức và chỉ có một thành viên duy nhất,thành viên này có thể là tổ chức hoặc cá nhân Lần đầu tiên quy định vế quyền thànhlập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên của cá nhân là Luật doanh nghiệp năm
2005 đây được xem là một tiến bộ đáng kể so với các quy định trước kia, thay đổi nóitrên xuất phát từ một số lý do sao
Trang 13Việc thừa nhận công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân sẽ mỡrộng thêm quyền tự chủ kinh doanh, tạo cơ hội phân tán và hạn chế rủi ro cho dự án,tăng mức độ an toàn cho nhà đầu tư Tâm lý thích kinh doanh một mình của ngườidân, tức là một mình làm chủ và trực tiếp tổ chức quản lý kinh doanh, phần lớn ngườidân mong muốn cá nhân thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đểgiảm rủi ro và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho họ trong đầu tư kinh doanh Trên thực tếtrước đây, khi chưa có Luật doanh nghiệp năm 2005 đa số công ty trách nhiệm hữuhạn hai thành viên trở lên về thực chất là chủ sở hữu một cá nhân một hay một vàithành viên khác tham gia chỉ là hình thức để phù hợp với quy định của pháp luật Nhưvậy, theo Luật doanh nghiệp năm 2014 một cá nhân có thể thành lập công ty tráchnhiệm hữu hạn một thành viên hoặc doanh nghiệp tư nhân, hoặc cả hai cùng một lúc.Mặc dù cùng là doanh nghiệp một chủ, nhưng chế độ trách nhiệm đối với các khoản
nợ của chủ doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn khác so với chủ sở hữu của công ty tráchnhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chứchoặc một cá nhân làm chủ sở hữu Trừ trường hợp tổ chức hoặc cá nhân không đượcquyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo Khoản 2 Điều 18 của Luậtdoanh nghiệp năm 2014 Đây là một đặc điểm nổi bậc của loại hình công ty tráchnhiệm hữu hạn một thành viên Điểm nổi bật nhất được thể hiện ở loại hình doanhnghiệp này chính là ‘‘Cá nhân có quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn mộtthành viên lần đầu tiên được thừa nhận trong Luật doanh nghiệp năm 2005 mà trước
đó Luật doanh nghiệp năm 1999 vẫn còn bỏ ngõ Luật doanh nghiệp năm 2014 đã mỡrộng đối tượng trở thành chủ sở hữu công ty bao gồm Tổ chức, cá nhân tạo điều kiệnthận lợi cho các nhà đầu tư tự do kinh doanh, tự chọn mô hình doanh nghiệp đầu tưkinh doanh
Thứ hai đặc điểm về tư cách pháp lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên là pháp nhân, bởi vì nó đáp ứng đủ bốn yếu tố của Điều 83 Bộ luật dân sự 2015.Đặc điểm này cho phép ta có thể phân biệt công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên với doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân Chúng ta có thể hiểu rằnggiữa tư cách pháp nhân và chế độ trách nhiệm có mối liên hệ vô cùng chặt chẽ, chúngđiều liên quan đến một lý thuyết mà chúng ta gọi là sự phân định tài sản giữa doanhnghiệp với thành viên chủ sở hữu doanh nghiệp, sự phân định tài sản đó gồm có haichiều
Phân định tài sản giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu doanh nghiệp đó, gọi là
sự phân định tài sản khẳng định Tài sản của doanh nghiệp độc lập và được bảo vềtrước những khoản nợ của các chủ sở hữu
Trang 14Phân định tài sản giữa các chủ sở hữu doanh nghiệp với bản thân doanh nghiệp,gọi là sự phân định tài sản phòng vệ Tài sản chủ sỡ hữu độc lập và được bảo vệ trướccác khoản nợ của doanh nghiệp Trong đó, khi doanh nghiệp có được tư cách phápnhân, sự phân định tài sản khẳng định sẽ đạt múc trung bình hoặc cao, và tương tự, chế
độ trách nhiệm hữu hạn là trường hợp rõ ràng và thường gặp nhất khi sự phân định vềtài sản phòng vệ được thực hiện một cách hiệu quả
Chủ thể có quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cánhân hay pháp nhân độc lập thì họ phải thỏa mãn các điều kiện về năng lực chủ thể, họhoàn toàn có quyền nhân danh mình khi tham gia các quan hệ kinh tế Ở đặc điểm này
đã cho chúng ta thấy được sự khác nhau trong công ty trách nhiệm hữu hạn có nhiềungười làm chủ (tức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên)
Thứ ba đặc điểm về chế độ trách nhiệm, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công
ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty Đặc điềm chịu trách nhiệm hữu hạn củacông ty thực chất là chế độ trách nhiệm hữu hạn của chủ sỡ hữu của công ty Chủ sởhữu công ty chỉ chịu trách nhiệm có hạn về số nợ của công ty trong phạm vi giá trị vốngóp vào công ty Nếu công ty bị thua lỗ, thất bại trong hoạt động kinh doanh dẫn đếntình trạng phá sản thì chủ sở hữu cũng chỉ mất số vốn đã đầu tư vào công ty, mà khôngphải dùng tài sản riêng không đưa vào hoạt động kinh doanh để trả nợ thay cho công
ty Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được giảm vốn điều lệ trong trường hợp: “Hoàn trả một phần vốn góp trong vốn điều lệ của công ty nếu đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hai năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp và bảo đảm thanh toán
đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho chủ sở hữu” Đây là
một điểm mới đáng ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 so với Luật Doanhnghiệp năm 2005, giải quyết được vấn đề trong quy định của Luật Doanh nghiệp năm
2005 là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được giảm vốn điều lệ với
lý do đây là loại hình doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu,chủ sở hữu của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản kháccủa công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty, nếu pháp luật cho phép công tytrách nhiệm hữu hạn một thành viên được giảm vốn điều lệ, chủ sở hữu có thể lợi dụngquy định này để giảm vốn điều lệ một cách dễ dàng nhằm trốn tránh các nghĩa vụ vềtài sản, dẫn tới quyền lợi của các chủ nợ không được đảm bảo Tuy nhiên, quy địnhtrước đây không cho công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên vô hình chung lạihạn chế không công bằng và bất hợp lý về quyền được giảm vốn điều lệ so với công tytrách nhiệm hữu hạn hai thành viên được giảm vốn điều lệ khi đáp ứng được điều kiện
đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn hai năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp
Trang 15và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trảcho chủ sở hữu Đây là điều luật thể chế hóa nguyên tắc để xác định, đăng ký vốn thựcgóp của công ty, giải quyết tình trạng vốn không có thực ảo nhưng không thể xử lýđược như hiện nay Theo đó, Công ty TNHH một thành viên nếu không góp đủ vốnđiều lệ trong thời hạn quy định như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp thìđược quyền đăng ký điều chỉnh giảm vốn bằng giá trị số vốn góp Trong trường hợpnày, chủ sở hữu, thành viên, cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ vốnđiều lệ đã đăng ký góp, số cổ phần đã đăng ký mua phải chịu trách nhiệm tương ứngvới tổng giá trị phần vốn góp, mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụtài chính của công ty phát sinh trong thời hạn cam kết góp Trong quá trình hoạt độngcủa doanh nghiệp cũng có thể điều chỉnh giảm vốn bằng cách hoàn trả một phần vốngóp trong vốn điều lệ của Công ty theo các điều kiện quy định tại Luật doanh nghiệpnăm 2014.
Thứ tư đặc điểm về khả năng huy động vốn là công ty trách nhiệm hữu hạn,
cũng giống như công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty tráchnhiệm hữu hạn một thành viên không được phát hành cổ phiếu để huy động vốn Công
ty có thể huy động vốn bằng cách phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn,trái phiếu, hoặc vay nợ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên với số vốn làmột khối thống nhất hoàn toàn độc lập với khối tài sản riêng của từng thành viên trongcông ty, độc lập với tài sản của công ty là phải tuân thủ theo những quy định của phápluật nói chung và đối với các công ty khác nói riêng
1.3.1 Về chủ sở hữu.
Chủ sở hữu công ty có thể là cá nhân hoặc tổ chức, trích từ tài sản của mìnhnguồn vốn để thành lập công ty TNHH một thành viên Trong quá trình hoạt động củacông ty TNHH một thành viên chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm trên phần tài sản củachủ sở hữu đã trích để hình thành vốn điều lệ của công ty TNHH một thành viên Công
ty TNHH một thành viên có hai loại; đó là công ty TNHH một thành viên do cá nhânlàm chủ sở hữu và công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu Do đó đểbiết ai làm chủ sở hữu của công ty TNHH một thành viên thì căn cứ vào giấy đăng kýdoanh nghiệp điều lệ, cơ cấu quản lý công ty
Đối với công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu cơ cấu tổchức thì bao gồm Chủ tịch công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc, chủ sở hữu công tyđồng thời là chủ tịch công ty Chủ sở hữu công ty có thể kiêm nhiệm hoặc thuê ngườikhác làm giám đốc hoặc tổng giám đốc
Trang 16Đối với công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu, chủ sở hữucông ty có thể bổ nhiệm một hoặc một số người đại diện theo ủy quyền để quản lýcông ty.
1.3.2 Công ty có tư cách pháp nhân.
Công ty TNHH một thành viên được xem là có tư cách pháp nhân từ ngàyđược cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và công ty chỉ chịu trách nhiệmhữu hạn trên vốn của công ty vốn điều lệ là phần vốn trích từ tài sản của chủ sở hữu.Một tổ chức có tư cách pháp nhân thì tổ chức đó có đầy đủ quyền và nghĩa vụ củapháp nhân mà luật dành cho pháp nhân, cụ thể theo điều 74, 83 Bộ luật dân sự năm
2015 thì một tổ chức có tư cách pháp nhân phải có đầy đủ những yếu tố sau:
Được thành lập hợp pháp;
Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tàisản của mình;
Nhân danh mình tham gia vào quan hệ pháp luật một cách độc lập.1
1.3.3 Công ty không được quyền phát hành cổ phần
Như công ty TNHH hai thành viên trở lên trong quá trình kinh doanh, công tytrách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành các cổ phần để huyđộng vốn nhưng được quyền phát hành các loại chứng khoán khác theo quy định củapháp luật
1.4 Vai trò kinh tế của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, công ty trách nhiệm hữu hạn mộtthành viên là yếu tố quan trọng của nền kinh tế quốc dân Trong nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần doanh nghiệp có vị trí và vai trò rất lớn tác động đến sự phát truyểnkinh tế xã hội Cùng với vai trò đó đã và đang góp phần tăng trưởng cho nền kinh tếnói chung và góp phần vào tăng thu nhập quốc dân, doanh nghiệp vừa thực hiện nghĩa
vụ xã hội đồng thời tổ chức các hoạt động kinh tế tìm kím lợi nhuận và thực hiện cácchính sách của Nhà Nước xã hội được giao Dù biết rằng loại hình công ty trách nhiệmhữu hạn chỉ mới xuất hiện trong một khoảng thời gian gần đây, được ghi nhận từ Luậtdoanh nghiệp năm 1999 và tiếp tục được ghi nhận trong Luật doanh nghiệp năm 2014.Trong mỗi giai đoạn khác nhau, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho thấy
vai trò khác nhau đối với nền kinh tế cũng như xã hội Luật doanh nghiệp năm 2014
tiếp tục ghi nhận cá nhân có quyền thành lập công ty và trở thành chủ sở hữu công ty
có vai trò quan trọng nhằm đa dạng hóa cơ cấu chủ sở hữu (trước đây chỉ có chủ sở
1 Khoản 1 Điều 74 Bộ luật dân sự năm 2015
Trang 17hữu là tổ chức) của loại hình doanh nghiệp này Bên cạnh đó việc quy định công tytrách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân sẽ tạo nên bức tranh minh bạch về chủ
sở hữu trong công ty hiện nay tránh tình trạng đứng hộ tên, số phần góp mà chủ sở hữucông ty ghi cho người khác đứng tên trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thànhviên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có vai trò quan trọng trong sự tăngtrưởng nền kinh tế, trong giai đoạn hiện nay thì mô hình công ty trách nhiệm hữu hạnmột thành viên rất phù hợp để cá nhân, tổ chức lựa chọn để phát truyển kinh tế đónggóp vào tăng trưỡng kinh tế của Đất Nước Nếu xét từ năm 1986 nền kinh tế nước ta
có đặc điểm là nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, với hai thành phần kinh tế chủyếu là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể và hầu như thành phần kinh tế tư nhân khôngphát truyển trong giai đoạn này Thời kỳ ấy, kinh tế tư nhân không những không đượcthừa nhận mà còn xem xét là đối tượng cần được tập thể hóa Do đó ở thời kỳ này cácdoanh nghiệp nói chung và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nói riêngkhông được phổ biến ở Nước ta Từ khi Đảng và Nhà nước ta đổi mới, cộng thêm với
sự ra đời của Luật doanh nghiệp đã tạo điều kiện rất to lớn cho sự phát truyển củadoanh nghiệp nói chung, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nói riêng Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã góp phần sản xuất cho xã hội của cải vậtchất không ngừng được tăng cao đáp ứng ngày càng tốt hơn về nhu cầu của đời sốngnhân dân Tác động lớn của công ty trách nhiệm hữu hạn là giải quyết một số lượnglớn việc làm cho tầng lớp dân cư, góp phần vào việc làm tăng thu nhập cho người laođộng Xét về luận điểm này thì loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
đã góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Công ty tráchnhiệm hữu hạn một thành viên đã và đang đóng góp vai trò to lớn, góp phần vào việcgiải quyết các vấn đề xã hội và những vấn đề cấp bách về việc giải quyết công ăn việclàm cho người lao động trong giai đoạn hiện nay
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã đóng góp vai trò to lớn đối vớiquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần làm cho công nghiệp phát truyển mạnh,đồng thời thúc đẩy các nghành thương mại dịch vụ cùng phát truyển, thúc đẩy nềnkinh tế Đất Nước ngày càng phát truyển có thể cạnh với các nước trong khu vực và thếgiới Loại hình này hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau nhưng đa số hoạt độngtrong lĩnh vực công nghệ, thương mại, dịch vụ… những lĩnh vực hoạt động trên củacông ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã góp phần chuyển cơ cấu nền kinh tếđất nước Nếu như trước đây kinh tế nước ta phụ thuộc lớn vào nông nghiệp thì ngàynay với tốc độ phát truyển kinh tế Đất nước thì các lĩnh vực công nghiệp, thương mại,dịch vụ đã và đang phát truyển mạnh
Trang 181.5 Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
1.5.1 Trường hợp quyền chủ sở hữu công ty là tổ chức.
Quyết định nội dung điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty, và chiếnlược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty Cơ cấu tổ chức quản lýcông ty bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm người quản lý và quyết định dự án đầu tưphát triển các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ Thông qua hợpđồng vay, cho vay và các hợp đồng khác do điều lệ công ty quy định có giá trị bằnghoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất củacông ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty, bán tàisản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tàichính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại điều
lệ công ty và tăng vốn điều lệ của công ty chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốnđiều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác Quyết định thành lập công ty con, gópvốn vào công ty khác, tổ chức giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của công tyviệc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chínhkhác của công ty Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản, thu hồi toàn bộgiá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành giải thể hoặc phá sản, theo quyđịnh của Luật này và Điều lệ công ty.2
1.5.2 Trường hợp quyền chủ sở hữu công ty là cá nhân
Quyết định nội dung điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty đầu tư,kinh doanh và quản trị nội bộ công ty trừ trường hợp điều lệ công ty có quy định khác.Quyết định tăng vốn điều lệ, chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ củacông ty cho tổ chức, cá nhân khác về việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thànhnghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty Quyết định tổ chức lại, giảithể và yêu cầu phá sản, thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoànthành giải thể hoặc phá sản, theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.3
1.5.3 Nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty
Góp đầy đủ và đúng hạn vốn phải tuân thủ điều lệ công ty Xác định và táchbiệt tài sản của chủ sở hữu và tài sản của công ty Chủ sở hữu công ty là cá nhân phảitách biệt các chi tiêu của cá nhân và gia đình mình với các chi tiêu trên cương vị là
2 Khoản 1 Điều 75 Luật doanh nghiệp năm 2014
3 Khoản 2 Điều 75 Luật doanh nghiệp năm 2014
Trang 19Chủ tịch công ty và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Phải tuân thủ quy định của phápluật về hợp đồng và pháp luật có liên quan trong việc mua, bán, vay, cho vay, thuê,cho thuê và các giao dịch khác giữa công ty và chủ sở hữu công ty Chủ sở hữu công
ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều
lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác trường hợp rút một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ đãgóp ra khỏi công ty dưới hình thức khác thì chủ sở hữu cá nhân, tổ chức có liên quanphải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty.Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận khi công ty không thanh toán đủ cáckhoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn, thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định củaLuật này và Điều lệ công ty.4
1.5.4 Thực hiện quyền của chủ sở hữu công ty trong một số trường hợp đặc biệt.
Trường hợp chủ sở hữu công ty chuyển nhượng, tặng cho một phần vốn điều lệcho tổ chức hoặc cá nhân khác hoặc công ty kết nạp thêm thành viên mới, công ty phải
tổ chức hoạt động theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lênhoặc công ty cổ phần và đồng thời thực hiện đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanhnghiệp với Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thànhviệc chuyển nhượng, tặng cho hoặc kết nạp thành viên mới Trường hợp chủ sở hữucông ty là cá nhân bị tạm giam, bị kết án tù hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề theoquy định của pháp luật, thành viên đó ủy quyền cho người khác thực hiện quyền vànghĩa vụ của chủ sở hữu công ty Trường hợp chủ sở hữu công ty là cá nhân chết thìngười thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật là chủ sở hữu hoặc thành viên của công
ty Công ty phải tổ chức hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tương ứng và đăng kýthay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúcviệc giải quyết thừa kế
Trường hợp chủ sở hữu công ty là cá nhân chết mà không có người thừa kế,người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì phần vốn góp củachủ sở hữu được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự Trường hợp chủ sởhữu công ty là cá nhân bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự thì quyền vànghĩa vụ của chủ sở hữu công ty được thực hiện thông qua người giám hộ Trường hợpchủ sở hữu công ty là tổ chức bị giải thể hoặc phá sản thì người nhận chuyển nhượngphần vốn góp của chủ sở hữu sẽ trở thành chủ sở hữu hoặc thành viên công ty Công typhải tổ chức hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tương ứng và đăng ký thay đổi nội
4 Điều 76 Luật doanh nghiệp năm 2014
Trang 20dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc chuyểnnhượng.
1.5.5 Hạn chế đối với quyền chủ sở hữu công ty
Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng mộtphần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác trường hợp rút mộtphần hoặc toàn bộ số vốn đã góp cho công ty dưới hình thức khác thì phải liên đới chịutrách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty Trường hợp chuyểnnhượng một phần vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác, công ty phải đăng kýchuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên trở lên trong thời hạn 15 ngày, kể từngày chuyển nhượng Chủ sở hữu công ty không rút lợi nhuận khi công ty chưa thanhtoán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn
1.6 Ưu điểm và Nhược điểm của công ty TNHH một thành viên
Ưu điểm do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ trách nhiệm về
các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro chongười góp vốn, chủ sở hữu công ty có toàn quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạtđộng của công ty nên các quyết định được đưa ra nhanh chống và kịp thời Chế độchuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặc chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát đượcviệc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty
Nhược điểm do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng vì công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều
chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp doanh vềviệc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không có quyềnphát hành cổ phiếu do vậy Công ty TNHH một thành viên chỉ do một cá nhân hoặc tổchức làm chủ sở hữu, nên khi huy động thêm vốn góp cá nhân, tổ chức khác sẻ phảithực hiện thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sang công ty TNHH hai thànhviên hoặc công ty cổ phần
1.7 Quy chế pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
1.7.1 Điều kiện đăng ký thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Ở các nước phát truyển việc thành lập công ty hoàn toàn là quyền của công dân,còn đối với pháp luật của Việt Nam đã và đang bắt đầu tiếp thu từ tư tưởng tiến bộnày, qua đó xóa bỏ chế độ xin phép thành lập công ty đã tồn tại trong nhiều năm, chỉthực hiện đăng ký kinh doanh công ty, coi việc thành lập và đăng ký là quyền của côngdân và tổ chức Do công chức được nhà nước bảo hộ bằng pháp luật Công ty tráchnhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sởhữu công ty, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ và tài sản
Trang 21khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn mộtthành viên cũng là một doanh nghiệp và chịu sự điều chỉnh của luật doanh nghiệp, một
số văn bản có liên quan khác đến luật doanh nghiệp cũng như các công ty khác, công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sẽ được đăng ký theo những trình tự nhất định
Như vậy Luật doanh nghiệp năm 2014 phân chia 2 đối tượng về chủ thể Đối tượng
được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, đối tượng được quyền góp vốn vào
doanh nghiệp, đối với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chủ sở
hữu công ty chính là người góp vốn để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn mộtthành viên với điều kiện chủ sỡ hữu phải không thuộc đối tượng bị cấm thành lập
doanh nghiệp Theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật doanh nghiệp năm 2014 thì tổ
chức cá nhân Việt nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài đều có quyền thành lập doanhnghiệp và quản lý doanh nghiệp tại Việt nam Trừ các trường hợp quy định tại khoản 2Điều 18 Luật doanh nghiệp năm 2014 được quy định như sau Tổ chức, cá nhân sauđây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thànhlập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình Cán bộ, côngchức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức Sĩ quan,
hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơquan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơquan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diệntheo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp Cán bộ lãnhđạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đạidiện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác.Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lựchành vi dân sự, tổ chức không có tư cách pháp nhân Người đang bị truy cứu tráchnhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cainghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh,đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theoquyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản,phòng, chống tham nhũng Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu,người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quanđăng ký kinh doanh.5
1.7.2 Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp
Theo quy định tại điều 22 Luật doanh nghiệp năm 2014 thì hồ sơ đăng ký
doanh nghiệp của công ty trách nhiệm hữu hạn gồm có giấy đề nghị đăng ký doanh
5 Khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp năm 2014
Trang 22nghiệp điều lệ công ty, danh sách thành viên và bản sao các giấy tờ sau đây; thẻ căn
cước công dân, giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợppháp khác của các thành viên là cá nhân Quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp hoặc tài liệu tương đương khác của tổ chức và văn bản ủy quyền; Thẻcăn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhânhợp pháp khác của người đại diện theo ủy quyền của thành viên là tổ chức Đối vớithành viên là tổ chức nước ngoài thì bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệphoặc tài liệu tương đương phải được hợp pháp hóa lãnh sự Giấy chứng nhận đăng kýđầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật đầu tư.6 Trong đó Nghịđịnh 78/2015/NĐ-CP về đăng kí doanh nghiệp quy định tại điều 23 hồ sơ đăng kýdoanh nghiệp đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm giấy đềnghị đăng ký doanh nghiệp điều lệ công ty, và bản sao hợp lệ một trong các giấy tờchứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định này của người đại diện theo ủyquyền đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được tổ chức quản lý theoquy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 78 Luật Doanh nghiệp
Danh sách người đại diện theo ủy quyền và bản sao hợp lệ một trong các giấy
tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định này của từng đại diện theo ủyquyền đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được tổ chức quản lý theoquy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 78 Luật Doanh nghiệp Bản sao hợp lệ các giấy tờsau đây; một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định nàycủa chủ sở hữu công ty đối với trường hợp chủ sở hữu công ty là cá nhân quyết địnhthành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tương đươngkhác, điều lệ hoặc tài liệu tương đương khác của chủ sở hữu công ty đối với trườnghợp chủ sở hữu công ty là tổ chức trừ trường hợp chủ sở hữu công ty là Nhà nước,giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với trường hợp doanh nghiệp được thành lập bởinhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tạiLuật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành Văn bản ủy quyền của chủ sở hữu chongười được ủy quyền đối với trường hợp chủ sở hữu công ty là tổ chức.7 Nội dunggiấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp bao gồm tên doanh nghiệp địa chỉ trụ sở chính củadoanh nghiệp; số điện thoại, số fax, thư điện tử nếu có ngành, nghề kinh doanh, vốnđiều lệ; vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp và các loại cổ phần, mệnh giá mỗi loại cổphần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại cổ phần đối với công ty cổphần Thông tin đăng ký thuế, số lượng lao động Họ, tên, chữ ký, địa chỉ thường trú,quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc
6 Điều 22 Luật doanh nghiệp năm 2014
7 Điều 23 Nghị Định 78/2015 NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp