1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Pháp luật về đầu tư ra nước ngoài thep pháp luật Vệt Nam

74 72 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 182,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu tư ra nước ngoài mang lại cho ta không ít những khókhăn, bên cạnh đó ta không thể phủ nhận các lợi ích từ việc đầu tư ra nước ngoài manglại, đó là sự tiếp cận các khoa học công nghệ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trước bối cảnh thế giới đang toàn cầu hoá, nhiều biến chuyển với sự phát triểnnhanh chóng của nhiều công trình khoa học – công nghệ, vấn đề hội nhập hiện đang làvấn đề của mỗi Quốc gia Việt Nam cũng không loại trừ trong quá trình toàn cầu hoá

đó, để hội nhập với nền kinh tế thế giới, chúng ta cũng cần phải có những bước chuyểnmình Theo xu hướng mở cửa để hội nhập và hợp tác kinh tế với các nước khác thìhoạt động đầu tư ra nước ngoài là một xu hướng được xem là tất yếu trong chiến lược

mở cửa hội nhập của Việt Nam

Tuy nhiên, dưới cái mác “Quốc gia đang phát triển” thì hẳn là ai cũng sẽ chỉnghĩ đến một chiều hướng Việt Nam là nước tiếp nhận đầu tư của các Quốc gia khácnhưng con số sau đây sẽ chứng minh Việt Nam không chỉ tiếp nhận đầu tư vốn từ nướcngoài mà còn là một Quốc gia có những bước nhảy vọt về việc đầu tư ra nước ngoài:

Bảng số liệu thống kê số dự án và tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài của các doanh

nghiệp Việt nam giai đoạn 2005-2006 1

Không chỉ đầu tư sang các nước đang và kém phát triển, Việt Nam còn đầu tưsang các nước đang phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật…điển hình không thểkhông nhắc đến tập đoàn Viễn thông quân đội – Viettel, tính đến đầu năm 2016 tậpđoàn này đã có mặt ở 10 quốc gia tại châu Á, châu Mỹ, châu Phi và cung cấp dịch vụ

1 Mục 18, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép thời kì 1989-2016:

http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=716

Trang 2

cho hơn 75 triệu khách hàng Đầu tư ra nước ngoài mang lại cho ta không ít những khókhăn, bên cạnh đó ta không thể phủ nhận các lợi ích từ việc đầu tư ra nước ngoài manglại, đó là sự tiếp cận các khoa học công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến,tiếp cận những nguồn tài chính dồi dào, khai thác được những lợi thế cạnh tranh để mởrộng thị trường sản xuất…

Nhận thức được lợi ích to lớn từ hoạt động đầu tư ra nước ngoài, bên cạnh đócông tác quản lý cũng như hệ thống pháp luật về lĩnh vực này đã được tăng cường trênnhiều phương diện, từ việc xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ đến công tác,chính sách xúc tiến đầu tư,…qua đó thể hiện rõ sự thay đổi trong tư duy, quan điểmcủa Nhà nước đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài, khuyến khích doanh nghiệp ViệtNam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị sản xuất, kinh doanh toàn cầu, nâng cao vị thếcủa Việt Nam trên thị trường quốc tế

Tuy nhiên ngoài các tác động tích cực của hoạt động đầu tư ra nước ngoài thìcòn rất nhiều những mặt hạn chế trong hệ thống pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp ViệtNam đầu tư ra nước ngoài đang trong quá trình hoàn thiện, còn thiếu sự thống nhất,chưa phù hợp với thực tiễn trong nước và thông lệ quốc tế nhất là trong bối cảnh hộinhập kinh tế như hiện nay, cần có những giải pháp và kiến nghị cụ thể để hoàn thiện hệthống pháp luật về hoạt động đầu tư ra nước ngoài, từ đó thúc đẩy hoạt động đầu tư ranước ngoài, phát triển toàn diện kinh tế - xã hội, đưa kinh tế nước ta lên một tầm caomới

Trong bối cảnh tình hình trên, đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khoahọc tại Việt Nam về pháp luật đầu tư ra nước ngoài theo pháp luật Việt Nam Tuynhiên, để làm rõ thêm nhiều khía cạnh và phân tích pháp luật hiện hành nên tiểu luận

“Pháp luật về đầu tư ra nước ngoài thep pháp luật Việt Nam” là cần thiết để đóng

góp những kiến nghị, cũng như tìm ra những mặt hạn chế của pháp luật về đầu tư ranước ngoài theo pháp luật Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu và làm rõ một cách cơ bản về các vấn đề lý luận và pháp lý về phápluật đầu tư ra nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

Phân tích những vấn đề rào cản pháp lý của pháp luật Việt Nam về lĩnh vực đầu

tư ra nước ngoài

Phân tích, đánh giá thực trạng về tình hình đầu tư nước ngoài của nước ta.Đưa ra kiến nghị nhằm khắc phục và hoàn thiện cơ sở pháp lý về đầu tư ra nướcngoài

3 Phương pháp nghiên cứu

Tiểu luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu đặc thù như: phương pháp

so sánh luật học; phương pháp thu thập số liệu, thống kê; phương pháp phân tích, tổng

Trang 3

hợp; phương pháp đánh giá kết quả, để thực hiện mục đích nghiên cứu và làm rõ cácvấn đề lý luận, pháp lý về đầu tư ra nước ngoài.

CHƯƠNG 1.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

1.1 Tổng quan về đầu tư ra nước ngoài

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm về đầu tư ra nước ngoài

Trang 4

1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư ra nước ngoài

Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinhdoanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phầnvốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu

án đầu tư nhằm đưa lại lợi ích cho các bên tham gia4

Luật đầu tư 2014 đã không còn hai khái niệm “Đầu tư trực tiếp” và “Đầu tưgián tiếp” mà thay vào đó là khái niệm “Đầu tư kinh doanh” Tuy nhiên trên thực tếviệc đầu tư ra nước ngoài được thực hiện dựa trên hai hình thức là đầu tư trực tiếp vàđầu tư gián tiếp:

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản vào nước tiếpnhận đầu tư và thiết lập các dự án đầu tư tại đó, đồng thời trực tiếp tham gia vào việcđiều hành, quản lý dự án đầu tư5

Bên cạnh đó còn có một số định nghĩa về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài như:Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khimột nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác(nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.”; Theo Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF): “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằmđạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của mộtnền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyềnquản lý thực sự của doanh nghiệp.”6

2 Khoản 5 Điều 3 Luật đầu tư 2014

3 Khoản 1 Điều 3 Nghị Định 83/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 09 năm 2015 của Chính Phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài.

4 Thạc sĩ Nguyễn Hồng Chi và Thạc sĩ Võ Hồng Lĩnh, Những vấn đề cần biết về Luật đầu tư năm

2014, Nhà xuất bản Phương Đông, trang 229.

5 Thạc sĩ Nguyễn Hồng Chi và Thạc sĩ Võ Hồng Lĩnh, Những vấn đề cần biết về Luật đầu tư năm

2014, Nhà xuất bản Phương Đông, trang 230.

6 http://www.dankinhte.vn/tong-quan-ve-fdi-la-gi/

Trang 5

Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài là hoạt động đầu tư ra nước ngoài dưới hình thứcmua, bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tưchứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác nước ngoài7.

Theo tác giả, hiểu cách đơn giản hơn là hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là hoạt động đầu tư kinh doanh có sự tham gia trực tiếp của nhà đầu tư vào việc điều hành, quản lý dự án đầu tư; hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài là hoạt động đầu tư kinh doanh trong đó nhà đầu tư không trực tiếp tham gia vào việc quản lý

và điều hành dự án đầu tư.

1.1.1.2 Đặc điểm về đầu tư ra nước ngoài

Đầu tư ra nước ngoài mang đặc điểm của hoạt động đầu tư nói chung như:

Thứ nhất, về nguồn vốn: Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như

máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền xã hội côngnghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công khai, dịch vụ kĩ thuật, giá trị quyền sử dụngđất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác Vốn có thể là nguồn vốn nhà

nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn dài hạn, trung hạn hoặc ngắn hạn

Thứ hai, lợi ích do dự án mang lại: Lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận)

và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế xã hội) Lợi ích kinh tế xãhội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đếnquyền lợi của chủ đầu tư, còn lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của cộng đồng

Thứ ba, tính rủi ro: Bất kì hoạt động nào cũng có tính rủi ro, hoạt động đầu tư

cũng không thể tránh khỏi Rủi ro kinh doanh hiểu đơn giản là một công ty có kết quả

kinh doanh thực tế trái với dự kiến Rủi ro trong kinh doanh có thể làm cho công ty

không đạt được mức lợi nhuận như các nhà đầu tư yêu cầu Có nhiều loại rủi ro trong

kinh doanh do nhiều yếu tố gây ra như doanh thu, chi phí, mức độ cạnh tranh, Rủi ro chính trị như tình hình chính trị một quốc gia sẽ ảnh hưởng đến thị trường và các nhân

tố như hệ thống luật, quy định, thuế, tính ổn định, đều góp phần vào rủi ro chính trị,mối quan hệ chính trị của các quốc gia ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đầu tư ra nướcngoài (chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư, mua bán hàng hoá, ) Bên cạnh đó còn

rất nhiều những rủi ro như: Rủi ro lạm phát, rủi ro về thị trường, rủi ro về lãi suất, rủi

ro tái đầu tư, rủi ro tín dụng,…

Ngoài mang những đặc điểm chung của hoạt động đầu tư, đầu tư ra nước ngoài

còn mang những đặc điểm như: Chủ sở hữu đầu tư là người/tổ chức nước ngoài hoặc công ty đa quốc gia; Các yếu tố đầu tư có sự di chuyển ra khỏi biên giới.

7 Khoản 1 Điều 3 Nghị Định 135/2015/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Chính Phủ quy định

về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.

Trang 6

Bên cạnh những đặc điểm chung nêu trên, dựa vào hai hình thức đầu tư ra nướcngoài là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, cụ thể còn có những đặc điểm sau:

Đặc điểm về hình thức đầu tư có sự tham gia trực tiếp quản lý, điều hành dự

án (Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, gọi tắt là FDI)

Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanhnghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợitức

Nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn 100% vốn đầu tư hoặc cùng sởhữu vốn đầu tư với số tỷ lệ phần trăm nhất định đủ mức tham gia hoạt động quản lýtrực tiếp của doanh nghiệp (tuỳ theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư) Đối vớipháp luật nước ta để trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý, điều hành dự án đầu tưthì chủ đầu tư phải chiếm trên 51% trên tổng số vốn điều lệ

Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịutrách nhiệm về lỗ lãi Nhà đầu tư được quyền chọn lựa lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu

tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư Tuy nhiên không được đầu tư vào các lĩnh vựctrái với quy định pháp luật của nước ta và cả nước tiếp nhận đầu tư

FDI là hình thức mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không để lại gánhnặng nợ nần cho nước tiếp nhận đầu tư

FDI gắn liền với chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư Thôngqua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật tiên tiến,học hỏi kinh nghiệm quản lí Đồng thời, qua sự tiếp nhận đó các nhà đầu tư cũng thấyđược những hạn chế và thiếu sót của mình

Đặc điểm về hình thức đầu tư không có sự tham gia trực tiếp quản lý, điều hành dự án (Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài, gọi tắt là FPI)

Nhà đầu tư không trực tiếp tham gia vào hoạt động điều hành, quản lý dự án

đầu tư Hình thức này chủ yếu được thực hiện bằng cách nhà đầu tư mua lại một sốlượng cổ phần nhất định hoặc chứng khoán của các công ty nước ngoài, qua đó hưởng

cổ tức

FPI mang tính chất bất ổn định Thông qua việc mua, bán chứng khoán diễn rađơn giản hơn nhiều so với việc huỷ một dự án đầu tư trong đầu tư trực tiếp ra nướcngoài Do đó, tốc dộ luân chuyển vốn của FPI cao hơn nhiều so với FDI

FPI không có sự chuyển giao công nghệ, không tiếp cận được những khoa học

kỹ thuật tiên tiến hay những kinh nghiệm quản lý của nước đầu tư, nhưng bù lại hình

Trang 7

thức FPI có nguồn vốn khá nhàn rỗi, và hơn nữa là doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư theohình thức FPI sẽ chia sẻ rủi ro kinh doanh với nhà đầu tư.

1.2 Vai trò của đầu tư ra nước ngoài

Thứ nhất, đối vối quốc gia:

Giúp cũng cố vai trò chính trị và vị thế kinh tế của Việt Nam trong khu vực vàtrên thế giới Giúp nền kinh tế Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới,thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam

Đầu tư ra nước ngoài mang về cho đất nước một lượng ngoại tệ đáng kể gópphần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Thông qua hoạt động đầu tư ranước ngoài, Việt Nam có thêm nguồn nguyên liệu, nhiên liệu… phục vụ cho sự pháttriển kinh tế trong nước Đầu tư ra nước ngoài góp phần tạo một đội ngũ thương nhânnăng động, có kinh nghiệm kinh doanh quốc tế, góp phần làm tăng năng lực quốc gia

Đầu tư ra nước ngoài tạo tiền đề cho hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam

đa dạng và phong phú, hoạt động ngoại giao đi vào chiều sâu Đầu tư ra nước ngoàithành công sẽ tác động ngược lại nền kinh tế trong nước theo hướng thúc đẩy côngcuộc cải tổ nền kinh tế: Về thể chế chính sách, về thuế, về thủ tục hành chính, về hệthống thông tin đối ngoại, về chính sách điều hành vĩ mô Đầu tư ra nước ngoài gópphần thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam theo hướng ổn định và cóhiệu quả hơn vì chính cơ sở sản xuất và dịch vụ ở nước ngoài là điểm đến của hànghóa, thiết bị, bí quyết công nghệ (Y khoa, chế biến thực phẩm…), nhân công của ViệtNam

Thứ hai, đối với doanh nghiệp Việt Nam:

Đầu tư ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp thâm nhập sâu vào thị trường thếgiới, tìm kiếm các cơ hội đầu tư tốt hơn, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.Bên cạnh đó, đầu tư ra nước ngoài giúp nhà đầu tư Việt Nam tận dụng được chi phísản xuất thấp của nước tiếp nhận đầu tư (giá nhân công, chi phí khai thác nguyên vậtliệu thấp…) từ đó sản phẩm tạo ra sẽ có giá thành thấp hơn so với giá trong nước củasản phẩm cùng loại, góp phần làm giảm bớt chi phí vận chuyển, tăng cường lợi nhuậnthu được, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Đồng thời, giúp các nhà đầu tư xâydựng được thị trường cung cấp nguyên liệu vật liệu ổn định với giá rẻ

Đầu tư ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp tăng nội lực kinh doanh: tích lũykinh nghiệm trên thị trường quốc tế; học hỏi tiếp thu công nghệ và bí quyết công nghệ;

sử dụng đội ngũ quản lý và khoa học kĩ thuật bản xứ… và áp dụng những thành công

ở nước ngoài vào hoạt động kinh doanh của công ty mẹ trong nước

Trang 8

Đầu tư ra nước ngoài tạo ra khả năng cho doanh nghiệp thực hiện “chuyển giá”

để giảm thiểu mức thuế đóng góp cho toàn bộ hệ thống công ty đóng ở các nước khácnhau Nhờ đó mà tối đa hóa lợi nhuận thu được Hiện nay nhiều công ty Việt Nam mởcông ty con của mình tại Singapore để thực hiện mục tiêu “chuyển giá”, vì Singapore

có môi trường kinh doanh tốt với hệ thống thuế thấp Mặt khác, đầu tư ra nước ngoàigiúp các nhà đầu tư tránh được hàng rào thuế quan và phi thế quan qua nước tiếp nhậnđầu tư

Đầu tư ra nước ngoài giúp các công ty phát triển vốn vô hình của mình (thươnghiệu, công nghệ, bí quyết công nghệ), giúp các nhà đầu tư Việt Nam mở rộng thịtrường tiêu thụ sản phẩm

Đầu tư ra nước ngoài giúp doanh nghiệp có điều kiện phân tán rủi ro kinhdoanh, điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thế giới đầy biến động về kinh tế

- chính trị như hiện nay8

1.3 Quá trình phát triển của pháp luật về đầu tư ra nước ngoài

Điều lệ đầu tư năm 1977

Năm 1975 đất nước ta hoàn toàn độc lập và thống nhất và bắt đầu bước vào giaiđoạn củng cố và xây dựng chủ nghĩa xã hội Do chịu ảnh hưởng bởi sự tàn phá củachiến tranh kéo dài nên nền kinh tế nước nhà vẫn ở trong tình trạng kém phát triển, sảnxuất nhỏ là phổ biến và mang nặng tính chất tự cấp tự túc Trình độ trang bị kỹ thuậttrong sản xuất cũng như kết cấu hạ tầng, văn hoá-xã hội lạc hậu; năng suất lao động xãhội rất thấp Cơ cấu kinh tế vẫn mang đặc trưng một nước nông nghiệp lạc hậu, mấtcân đối nặng nề trên nhiều mặt, chưa tạo được tích luỹ trong nước và lệ thuộc nhiềuvào bên ngoài, chủ yếu là các nước XHCN, đặc biệt là Liên xô

Trong bối cảnh đó, để thực hiện được nhiệm vụ và khôi phục và phát triển nền

kinh tế xã hội Đại hội Đảng lần thứ 4 năm 1976 khẳng định: “việc đẩy mạnh quan hệ phân chia và hợp tác song phương trong lĩnh vực kinh tế và phát triển các quan hệ kinh tế với các nước khác có một vai trò vô cùng quan trọng” (trích: Báo cáo chính trị

của Đại hội Đảng lần thứ 4 năm 1976)

Thực hiện đúng Chủ trương của Đảng ngày 18 tháng 4 năm 1977 Chính phủ đãban hành Nghị định 115/CP kèm theo Điều lệ đầu tư nước ngoài (sau đây gọi là Điều

lệ đầu tư năm 1977) nhằm khuyến khích và điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài ởViệt Nam, đã thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước Văn bản này đượccác nhà đầu tư thời đó đón nhận như một tín hiệu mở cửa hội nhập của Việt Nam

8 Thạc sĩ Nguyễn Hồng Chi và Thạc sĩ Võ Hồng Lĩnh, Những vấn đề cần biết về Luật đầu tư năm

2014, Nhà xuất bản Phương Đông, trang 236.

Trang 9

Điều lệ đầu tư năm 1977 gồm 7 chương và 27 điều Trong đó nêu lên các vấn

đề cơ bản của đầu tư như: hình thức đầu tư; quyền lợi và nghĩa vụ của bên nước ngoài;thủ tục đầu tư; giải thể và thanh lý các xí nghiệp, công ty có vốn đầu tư của nướcngoài; xử lý các vụ tranh chấp

Do đây là điều lệ đầu tiên của Việt Nam quy định về vấn đề đầu tư nước ngoàinên còn vô số những điều bất cập, điển hình như về vấn đề giải thể, xử lí tranh chấpĐiều lệ đầu tư 1977 chỉ đưa ra những nguyên lý chung mang tính khái quát, chưa quy

định cụ thể, ví dụ Điều 21 quy định: “Các xí nghiệp, công ty có vốn đầu tư của nước ngoài, khi giải thể do hết thời hạn hợp đồng đầu tư hoặc do bất cứ lý do nào khác, đều phải thanh lý theo luật pháp Việt Nam, hợp đồng đầu tư và điều lệ xí nghiệp.” tuy

nhiên trên thực tế lại không có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể về việc giảiquyết thanh lý Bên cạnh đó Điều lệ đầu tư 1977 còn thiếu các quy định cụ thể choviệc thi hành Nghị định như các quy định về quản lý ngoại hối, đất đai, lao động, tàinguyên chưa tạo được một cơ sở pháp lý đầy đủ, có hiệu lực pháp lý cao và làm hấpdẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài, chưa tạo nên một môi trường pháp lý đồng bộ chohoạt động đầu tư

Tuy Điều lệ đầu tư 1977 còn vô số những bất cập nhưng bên cạnh đó ta khôngthể phủ nhận rằng Điều lệ này đã tạo tiền đề cho những ý tưởng thu hút đầu tư là cơ sởcho việc phát triển từng bước pháp luật về đầu tư và cải cách luật pháp trong quan hệthu hút vốn đầu tư

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987

Bước qua những năm 80 nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế trầmtrọng do đã tiềm ẩn cuộc khủng hoảng thứ nhất từ những năm 70 Sự vận hành của cơchế tập trung, quan liêu, bao cấp đã cản trở sự phát triển của nền kinh tế nước ta, siêulạm phát xuất hiện và kéo dài, từ năm 1985 kéo dài đến 1988 với mức làm phát từ500% đến 800% Nguyên nhân chính dẫn đến siêu làm phát là do thâm hụt ngân sáchcủa các doanh nghiệp nhà nước Nhiều xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã tiểu thủ côngnghiệp sản xuất cầm chừng, thậm chí đóng cửa hoặc giải thể, hàng chục vạn công nhânrời bỏ dây chuyền sản xuất Bên cạnh đó một số ngành có ưu thế như công nghiệp chếbiến, công nghiệp tiêu dùng, gia công lắp ráp lại không được Nhà nước quan tâmđúng mức, cơ sở kỹ thuật lạc hậu và tất cả đều ở trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng

Trong bối cảnh đó, tại Đại hội Đảng lần thứ IV tháng 12 năm 1986 đã đề ra chủtrương và chính sách vô cùng đúng đắn, mở ra cuộc đổi mới toàn diện và đặc biệt làlĩnh vực kinh tế, cụ thể là thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi

Trang 10

là Luật đầu tư nước ngoài năm 1987) mục đích để mở rộng ngoại giao nhằm thu hútvốn đầu tư vào Việt Nam để phát triển nền kinh tế nước nhà Cụ thể phần mở đầu của

Luật này nêu rõ nguyên nhân ra đời như sau: “Để mở rộng kinh tế với nước ngoài, phát triển kinh tế quốc dân, đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở khai thác có hiệu quả tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nước”.

Dựa trên các vấn đề thực tiễn và nội dung cơ bản của Điều lệ đầu tư năm 1977,Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 mang cho mình những nội dung tương đối hấp dẫn,đầy đủ, cấu trúc đơn giản và phù hợp với tập quán pháp luật Quốc tế,

Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 gồm 6 chương với 42 điều Trong đó baogồm những điều luật từ cơ bản đến cụ thể, sửa đổi và bổ sung những thiếu sót trongĐiều lệ đầu tư năm 1977

Điều lệ đầu tư năm 1977 được xem là những chế định pháp lý đầu tiên về đầu

tư nước ngoài, còn Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 là đạo luật đầu tiên về đầu tưnước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 đã mở đườngcho sự thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đánh dấu mốc quan trọng trong sự chuyển mình

về kinh tế trong giai đoạn khó khăn

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1990

Tại kì họp thứ 7 Quốc hội khoá 8 ngày 30 tháng 6 năm 1990 đã thông qua Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi làLuật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990) theo đó đã sửa đổi 2 điều và bổ sung 15điều, một vài sửa đổi, bổ sung như sau:

Về vấn đề tư nhân tham gia hợp tác với nước ngoài: Luật đầu tư nước ngoài

1987 quy định: “Các tư nhân Việt Nam có thể chung vốn với tổ chức kinh tế Việt Nam

để hợp tác kinh doanh với bên nước ngoài”; Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi 1990 đãcho phép các tổ chức kinh tế Việt Nam có tư cách pháp nhân thuộc các thành phầnkinh tế được hợp tác đầu tư nước ngoài Đồng thời hạn chế các tổ chức kinh tế tư nhânViệt Nam chỉ được hợp tác kinh doanh với tổ chức, cá nhân nước ngoài trong nhữnglĩnh vực và điều kiện do Hội đồng Bộ trưởng quy định

Vấn đề về liên doanh nhiều bên: Đối với xí nghiệp liên doanh nhiều bên: Luậtđầu tư nước ngoài năm 1987 mới chỉ cho phép liên doanh hai bên, bao gồm bên nướcngoài và bên Việt Nam Ngoài hình thức liên doanh hai bên, Luật đầu tư nước ngoài

Trang 11

sửa đổi năm 1990 đã bổ sung hình thức liên doanh nhiều bên dẫn tới sửa đổi, bổ sungmột số khái niệm liên quan tại Khoản 4, Khoản 5 và Khoản 6 Điều 2, Khoản 10 Điều 2

và sửa đổi, bổ sung vấn đề liên quan đến Hội đồng quản trị tại ĐIều 12; đối với xínghiệp liên doanh mới: Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990 đã cho phép xínghiệp liên doanh được hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước ngoài để thành lập xínghiệp liên doanh mới tại Việt Nam (Điều 6), đồng thời bổ sung vào khái niệm “Xínghiệp liên doanh” ngoài liên doanh thông thường còn có them liên doanh mới do xínghiệp liên doanh cũ hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liêndoanh (Khoản 10 Điều 2)

Với những sửa đổi, bổ sung của Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990 đãlàm cho môi trường đầu tư nước ngoài của Việt Nam trong những năm 1990 càngthêm hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Đồng thời thể hiện chính sách mở cửa củaViệt Nam trên cơ sở tạo hành lang pháp lý ngày càng rõ ràng và hoàn thiện

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992

Sau hai năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990 số dự án đầu

tư vào Việt Nam đã lên đến 459 dự án với tổng số vốn đầu tư là 5.28 tỷ USD, con sốnày ngầm chứng tỏ Luật sửa đổi này đã tác động tích cực đến các nhà đầu tư, làm chocác nhà đầu tư yên tâm hơn khi đầu tư vào Việt Nam và thu hút nhiều nhà đầu tư khácđến với thị trường nước ta Nhận thấy những lợi ích mà Luật đầu tư nước ngoài sửađổi năm 1990 mang lại bên cạnh đó còn đòi hỏi phải hoàn thiện để trở thành một hànhlang pháp lý hoàn chỉnh hơn Theo đó ngày 23 tháng 12 năm 1992 Quốc hội đã thôngqua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài (sau đây gọi là Luậtđầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1992)

Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1992 gồm 2 Điều trong đó đã sửa đổi, bổsung 9 Điều, bổ sung thêm 3 Điều mới, tập trung chủ yếu vào 9 vấn đề sau: Doanhnghiệp tư nhân được tham gia hợp tác với nước ngoài; việc góp vốn của bên Việt Nam(bằng các nguồn tài nguyên; quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển; tiền nước ngoài);tăng dần tỷ trọng vốn góp bên Việt Nam; thời hạn hoạt động của xí nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài; mở tài khoản tại ngân hàng nước ngoài; về khu chế xuất; “Xây dựng –Kinh doanh – Chuyển giao” (BOT); bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư khi có thay đổipháp luật; cho xí nghiệp 100% vốn nước ngoài được hưởng các khuyến khích về thuếnhư xí nghiệp liên doanh

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996

Trang 12

Ngày 12 tháng 11 năm 1996 tại Quốc hội khoá 9 kỳ họp thứ 10 đã thông quaLuật đầu tư nước ngoài mới (sau đây gọi là Luật đầu tư nước ngoài 1996) được soạnthảo trên cơ sở gộp các Luật đầu tư nước ngoài năm 1987, Luật đầu tư nước ngoài sửađổi năm 1990, Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1992 Luật đầu tư nước ngoài 1996gồm 6 chương và 68 điều, trong đó có 28 điều được sửa đổi, bổ sung và bổ sung thêm

22 điều mới Luật đầu tư nước ngoài 1996 đã tạo dựng được một khung pháp lý về đầu

tư nước ngoài hoàn chỉnh hơn, giúp tăng cường sự quản lý Nhà nước, hạn chế những

Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 tập trung vào 3 nhóm vấn đề:

Thứ nhất, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc và giảm thiểu rủi rotrong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Thứ hai, mở rộng quyền tự chủ trong tổ chức quản lý, kinh doanh của doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; xoá bỏ sự can thiệp không cần thiết của cơ quan Nhànước vào hoạt động bình thường của doanh nghiệp

Thứ ba, bổ sung một số ưu đãi về thuế đối với dự án đầu tư nước ngoài nhằmtăng cường tính hấp dẫn và cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam

Với những sửa đổi, bổ sung tập trung vào ba vấn đề trên đã mang đến cho hoạtđộng đầu tư ra nước ngoài ngày một ổn định và thông thoáng hơn so với nhiều quyđịnh đã có trước đây Bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế xoay quanh vấn đề thủ tụchành chính còn rườm rà tuy đã cải cách nhiều

Luật đầu tư năm 2005

Năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật đầu tư và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7năm 2006 Luật đầu tư 2005 thay thế cho Luật đầu tư nước ngoài và Luật khuyếnkhích đầu tư trương nước Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư

Luật đầu tư 2005 gồm có 10 chương, trong đó có 89 điều Một số ưu điểm nổitrội của Luật đầu tư 2005 như: Mở rộng quyền tự chủ trong hoạt động đầu tư; cải cách

Trang 13

đáng kể về thủ tục hành chính đối với đầu tư; mở rộng loại hình doanh nghiệp cho cácnhà đầu tư nước ngoài; bổ sung, mở rộng các hình thức đầu tư trực tiếp và gián tiếpnhư sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (M&A), hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC),góp vốn, mua cổ phần; những khuyến khích, ưu đãi đầu tư được được áp dụng thốngnhất cho nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước.

Ở giai đoạn này có Nghị định 78/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 củaChính phủ quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài được quy định tại chương VIII của Luậtnày Có thể nói Luật đầu tư 2005 là một bước tiến quan trọng trong công cuộc đổi mới

và hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta Luật đầu tư 2005 là một hệ thống luật chung

áp dụng cho cả nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước

Luật đầu tư 2014

Sau hơn 8 năm thi hành Luật đầu tư 2005 bên cạnh những mặt tích cực mà Luậtnày đem lại còn có những hạn chế cần phải nghiên cứu sửa đổi Do đó, ngày 26 tháng

11 năm 2014, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật đầu tư 2014 thaythế cho Luật đầu tư 2005

Luật đầu tư 2014 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 cho đến nay, Luậtđầu tư 2014 gồm 7 chương, trong đó có 76 điều Trong đó đối với lĩnh vực đầu tư ranước ngoài được quy định cụ thể ở chương V gồm có từ điều 51 đến hết điều 66

Tính từ Luật đầu tư 2005 thì các quy định về đầu tư nói chung đều được điềuchỉnh dưới một hệ thống luật chung và có những văn bản hướng dẫn cụ thể kèm theokhác với các luật đầu tư nước ngoài điều chỉnh những lĩnh vực riêng lẻ như trước đây.Điều này cho thấy hệ thống pháp luật nước ta ngày càng thống nhất và dần tạo đượchành lang pháp lý vững chắc

Một điểm nổi bật ở lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài của Luật Đầu tư 2014 so vớiLuật Đầu tư 2005 là Luật Đầu tư 2014 đã không còn khái niệm đầu tư trực tiếp và đầu

tư gián tiếp ra nước ngoài Tuy nhiên, trên thực tế đầu tư ra nước ngoài vẫn thông quahai hình thức đó là trực tiếp và gián tiếp Do đó Chính phủ đã ban hành kèm theo haiNghị định là Nghị định 83/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 09 năm 2015 của Chính phủquy định về đầu tư ra nước ngoài; Nghị định 135/2015/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm

2015 của Chính phủ quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trên cơ sở phân tích Chương 1 Những lý luận chung về đầu tư ra nước ngoài,tác giả đã khái quát các khái niệm từ nhiều nguồn khác nhau về đầu tư ra nước ngoài,

Trang 14

thông qua đó tự nêu lên khái niệm của bản thân về lĩnh vực này Tác giả đã nêu vàphân tích từng đặc điểm chung và đặc điểm riêng lẻ của hoạt động đầu tư ra nướcngoài cũng như phân tích từng hình thức đầu tư của hoạt động này Tác giả đã kháiquát những vai trò của đầu tư ra nước ngoài đối với Việt Nam nói chung và doanhnghiệp Việt Nam nói riêng Bên cạnh đó, tác giả đã tổng hợp, phân tích quá trình hìnhthành của một số đạo luật về đầu tư ra nước ngoài từ những giai đoạn đầu sau khithống nhất đất nước cũng như nêu ra các nguồn của pháp luật về đầu tư ra nước ngoàitheo pháp luật Việt Nam.

Trang 15

CHƯƠNG 2.

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC

NGOÀI CỦA VIỆT NAM 2.1 Quy định của pháp luật về đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam

2.1.1 Về nguyên tắc thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thứ nhất, nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác,

phát triển, mở rộng thị trường; Tăng khả năng xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, thu ngoạitệ; tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực quản lý và bổ sung nguồn lực pháttriển kinh tế - xã hội đất nước

Thứ hai, nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư ở nước ngoài phải tuân thủ quy

định của Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan, pháp luật của quốc gia,vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư (sau đây gọi là nước tiếp nhận đầu tư) và điều ước quốc

tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tự chịu trách nhiệm về hiệuquả hoạt động đầu tư nước ngoài.”9 Nhà đầu tư được đầu tư ra nước ngoài theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam và của nước tiếp nhận đầu tư Trước tiên, đầu tư ra nướcngoài phải là lĩnh vực mà nước ta không cấm và pháp luật của nước tiếp nhận đầu tưcũng không cấm Cụ thể ở Phụ lục 4 Luật Đầu tư 2014 đã liệt kê 267 ngành nghề đầu

tư kinh doanh có điều kiện Theo đó, tuỳ thuộc vào pháp luật của nước tiếp nhận đầu

tư mà nhà đầu tư có thể chọn trong 267 ngành nghề đã được liệt kê

Thứ ba, nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài

và bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Việt Nam ở nước ngoài theo điều ước quốc

tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Trong đó có các Điều ước,Hiệp định lớn về kinh tế mà nước ta là thành viên như: Tổ chức Thương mại thế giới(WTO); Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); Hiệp định Thương mại tự do(VCUFTA); Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)… và rất nhiều các hiệpđịnh đa phương, song phương và các điều ước quốc tế khác Nhà nước còn có rấtnhiều những chủ trương cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư khi đầu tư

ra nước ngoài như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn tíndụng, hỗ trợ bão lãnh vay vốn… Bên cạnh đó, Nhà nước Việt Nam không cấp phépđầu tư ra nước ngoài đối với những dự án gây thương hại đến bí mật, an ninh quốc gia,quốc phòng, lịch sử, văn hoá, thuần phong mỹ tục của Việt Nam

2.1.2 Về hình thức đầu tư ra nước ngoài

9 Điều 51 Luật Đầu tư 2014

Trang 16

Nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài theo các hình thức sauđây: Thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư; thựchiện hợp đồng BCC ở nước ngoài; mua lại một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của tổchức kinh tế ở nước ngoài để tham gia quản lý và thực hiện hoạt động đầu tư kinhdoanh tại nước ngoài; mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thôngqua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài;các hình thức đầu tư khác theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư.”10

Theo đó, các hình thức thuộc Điểm a,b,c Khoản 1 của Điều 52 Luật Đầu tư

2014 là hình thức đầu tư trực tiếp; Điểm d Khoản 1 của điều này là hình thức đầu tưgián tiếp Và còn một số hình thức đầu tư ra nước ngoài khác, tuỳ thuộc vào pháp luậtcủa nước tiếp nhận đầu tư Cụ thể như sau:

Hình thức thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của nước tiếp nhận đầu tư

Tuỳ thuộc vào pháp luật nước tiếp nhận đầu tư mà nhà đầu tư có thể thành lập

tổ chức kinh tế phù hợp và đúng quy định Đối với pháp luật nước ta hình thức này sovới thực tế có hai dạng để áp dụng cho các nhà đầu tư nước ngoài đẩu tư sang, thứnhất là thành lập tổ chức kinh tế có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài, thứ hai làthành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nướcngoài

Đối với hình thức thành lập tổ chức kinh tế có 100% vốn của nhà đầu tư nướcngoài có những đặc điểm như: hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nướcngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kinhdoanh, chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại Các công ty xuyên quốc gia thườngđầu tư theo hình thức này và họ thường thành lập một công ty con của công ty mẹxuyên quốc gia Đối với hình thức thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu

tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Hình thức này thường được thành lập chủ yếudưới dạng công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, mỗi bên liên doanh chịutrách nhiệm tương ứng với phần vốn góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp Cụ thểđược quy định: Nhà đầu tư được thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật.Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thựchiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 37 của LuậtĐầu tư 2014 và phải đáp ứng các điều kiện: Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ; hình thức đầu tư,phạm vi hoạt động, đối tác Việt Nam tham gia thực hiện hoạt động đầu tư và điều kiện

10 Khoản 1 Điều 52 Luật Đầu tư 2014

Trang 17

khác theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làthành viên11.

Về phần tỉ lệ góp vốn Luật Đầu tư 2014 cũng quy định rõ là Nhà đầu tư nướcngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ các trườnghợp: Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại chúng,

tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định củapháp luật về chứng khoán; tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanhnghiệp nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiệntheo quy định của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước; tỷ

lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoảnnày thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế màCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.12

Hình Thức thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Co-operation Contract viết tắt là BCC)

Khoản 9 Điều 3 Luật đầu tư 2014 quy định hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)

là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợinhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế

Chủ thể của hợp đồng BCC là các nhà đầu tư bao gồm nhà đầu tư trong nước vànhà đầu tư nước ngoài

Điểm nổi bật của Hợp đồng BCC này là có thể các nhà đầu tư tiết kiệm đượcnhiều thời gian, công sức và tiền bạc do không phải thành lập tổ chức kinh tế Dướihình thức đầu tư này, các bên có thể hỗ trợ lẫn nhau những thiếu sót, yếu điểm củanhau trong quá trình sản xuất kinh doanh Một điểm nổi bật nữa là trong quá trình thựchiện hợp đồng, nhà đầu tư nhân danh tư cách pháp lý độc lập của mình để chủ độngthực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ Tư cách pháp lý độc lập giúp các bên khôngphụ thuộc vào nhau, tạo sự linh hoạt chủ động trong hoạt động kinh doanh trên cơ sởbình đẳng, không ràng buộc

Tuy nhiên dưới hình thức của hợp đồng này còn có những nhược điểm như:Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC thì nhà đầu tư không phải thành lập một cuộc tổchức kinh tế mới do không thành lập tổ chức kinh tế chung còn đồng nghĩa với việccác bên không có một con dấu chung, trong thực tế ở Việt Nam thì việc sử dụng condấu trong nhiều trường hợp là bắt buộc Do đó, hai bên phải tiến hành thỏa thuận sửdụng con dấu của một bên để phục vụ hoạt động đầu tư kinh doanh, qua đó làm tăng

11 Khoản 1 Điều 22 Luật Đầu tư 2014

12 Khoản 3 Điều 22 Luật Đầu tư 2014

Trang 18

trách nhiệm của một bên so với bên còn lại; nhược điểm nữa là hình thức đầu tư theohợp đồng BCC dễ tiến hành, thủ tục đầu tư không quá phức tạp, do vậy chỉ phù hợpvới những dự án cần triển khai nhanh và có thời gian ngắn.

Hình Thức mua lại một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của tổ chức kinh tế ở nước ngoài.

Hình thức này là hình thức truyền thống và khá phổ biến của FDI Với hìnhthức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểmđầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệmquản lý trong hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tư nướcngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước nhận đầu tư) Làmột pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải được đầu tư, thành lập vàchịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài làdoanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhàđầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh

Hình thức mua lại 100% vốn điều lệ của công ty nước ngoài có ưu điểm là nướcchủ nhà không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay đượctiền thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho người lao động Mặt khác, do độc lập vềquyền sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ động đầu tư và để cạnh tranh, họthường đầu tư công nghệ mới, phương tiện kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt hiệu quả kinhdoanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay nghề người lao động Tuy nhiên, nó cónhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý và công nghệ,khó kiểm soát được đối tác đầu tư nước ngoài và không có lợi nhuận

Hình thức trực tiếp mua, bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác ở nước ngoài; đầu tư thông qua việc mua, bán chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán ở nước ngoài, ủy thác đầu tư cho các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài.

Chủ thể được phép đầu tư theo hình thức này gồm: Tổ chức kinh tế là tổ chứcđược thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam (gồm doanhnghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức thực hiện hoạt động đầu tư kinhdoanh13) đáp ứng điều kiện kinh doanh có lãi trong 05 năm liên tục; cá nhân có quốctịch Việt Nam thuộc đối tượng được tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành

ở nước ngoài; tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không được thực hiện đầu tưgián tiếp ra nước ngoài (nếu thuộc các trường hợp: có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ

từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài

13 Khoản 16 Điều 3 Luật Đầu tư 2014.

Trang 19

đối với tổ chức kinh tế là công ty hợp danh; có tổ chức kinh tế quy định tại điểm akhoản này nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên; có nhà đầu tư nước ngoài và tổ chứckinh tế quy định tại điểm a khoản này nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên14)15.

Về phương thức và hình thức đầu tư của hoạt động đầu tư gián tiếp ra nướcngoài đối với cá nhân là công dân Việt Nam chỉ được thực hiện đầu tư gián tiếp ranước ngoài dưới hình thức tham gia chương trình thưởng cổ phiếu phát hành ở nướcngoài; đối với tổ chức kinh tế có hai phương thức lựa chọn là tự doanh đầu tư gián tiếp

ra nước ngoài hoặc uỷ thác đầu tư gián tiếp ra nước ngoài; đối với tổ chức tự doanh và

tổ chức nhận uỷ thác được đầu tư gián tiếp ra nước ngoài dưới hai hình thức là trựctiếp mua, bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác ở nước ngoài và hình thức đầu tưthông qua việc mua, bán chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán ở nước ngoài, uỷ thác chocác định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài16 Theo đó các tổ chức được phép

tự doanh đầu tư gián tiếp ra nước ngoài bao gồm: công ty chứng khoán, công ty quản

lý quỹ; quỹ đầu tư chứng khoán thông qua công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứngkhoán; doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm; ngân hàng thương mại; công ty tài chínhtổng hợp; tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước17

Để thực hiện đầu tư theo hình thức này phải tuân thủ theo quy định pháp luậtcủa nước ta, tuy nhiên ở bất kì hình thức đầu tư nào có liên quan đến hoạt động đầu tư

ra nước ngoài cũng đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật của nướctiếp nhận đầu tư

2.1.3 Về nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài

Vốn đầu tư ra nước ngoài thể hiện dưới các hình thức sau: Ngoại tệ trên tàikhoản tại tổ chức tín dụng được phép hoặc mua tại tổ chức tín dụng được phép hoặcngoại hối từ nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật; Đồng Việt Namphù hợp với pháp luật về quản lý ngoại hối của Việt Nam; Máy móc, thiết bị; vật tư,nguyên liệu, nhiên liệu, hàng hóa thành phẩm, hàng hóa bán thành phẩm; Giá trị quyền

sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, quyền sởhữu trí tuệ, thương hiệu; Các tài sản hợp pháp khác18

Theo đó về nguồn vốn bằng ngoại tệ khi đầu tư gián tiếp ra nước ngoài được

14 Khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư 2014.

15 Khoản 1 và Khoản 4 Điều 2 Nghị Định 135/2015/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Chính Phủ quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.

16 Điều 7 Nghị Định 135/2015/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Chính Phủ quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.

17 Điều 13 Nghị Định 135/2015/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Chính Phủ quy định về đầu

tư gián tiếp ra nước ngoài.

18 Điều 4 Nghị Định 83/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 09 năm 2015 của Chính Phủ quy định về đầu tư

ra nước ngoài.

Trang 20

quy định cụ thể như sau:

Đối với tổ chức tự doanh (trừ ngân hàng thương mại và công ty tài chính tổnghợp) được sử dụng ngoại tệ tự có trên tài khoản và ngoại tệ mua từ tổ chức tín dụng,chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép cung ứng dịch vụ ngoại hối tại Việt Namtheo hạn mức tự doanh được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác nhận đăng ký để thựchiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài Đối với tổ chức ủy thác (trừ ngân hàng thương mại

và công ty tài chính tổng hợp) chỉ được sử dụng ngoại tệ tự có trên tài khoản để thựchiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài thông qua hình thức ủy thác cho tổ chức nhận ủythác.19

Riêng đối với ngân hàng thương mại, công ty tài chính tổng hợp tự cân đốinguồn ngoại tệ để thực hiện đầu tư gián tiếp ra nước ngoài trên cơ sở đảm bảo tuân thủquy định về trạng thái ngoại tệ, các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt độngngân hàng.20

Tuy nhiên theo Khoản 4 và Khoản 5 Điều 10 Nghi Định 135/2015/NĐ-CP ngày

31 tháng 12 năm 2015 của Chính Phủ quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài quyđịnh khi đầu tư gián tiếp ra nước ngoài nhà đầu tư không được sử dụng nguồn vốn vaybằng đồng Việt Nam từ tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để muangoại tệ; Nhà đầu tư không được sử dụng nguồn vốn vay ngoại tệ trong nước và nướcngoài để đầu tư gián tiếp ra nước ngoài Điều này cho thấy khi đầu tư dưới dạng đầu tưgián tiếp nguồn vốn nhất thiết phải là ngoại tệ và có sẵn trong tài khoản của nhà đầutư

2.1.4 Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư khi đầu tư ra nước ngoài

Luật Đầu tư 2014 chưa quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư khiđầu tư ra nước ngoài Tuy nhiên đối với Nghị định 83/2015/NĐ-CP quy định về đầu tư

ra nước ngoài có quy định những quyền và nghĩa vụ đặc thù sau:

Quyền của nhà đầu tư khi đầu tư ra nước ngoài:

Thứ nhất, nhà đầu tư có quyền chuyển vốn đầu tư bằng tiền và các tài sản hợp

pháp khác ra nước ngoài để thực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lýngoại hối sau khi dự án đầu tư được cơ quan có thẩm quyền của nước, vùng lãnh thổđầu tư chấp thuận Cụ thể là “Nhà đầu tư được chuyển ngoại tệ hoặc hàng hóa, máymóc, thiết bị ra nước ngoài để phục vụ cho hoạt động khảo sát, nghiên cứu, thăm dò

19 Khoản 1, Khoản 2 Điều 10 Nghi Định 135/2015/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Chính Phủ quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.

20 Khoản 3 Điều 10 Nghi Định 135/2015/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Chính Phủ quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài.

Trang 21

thị trường và thực hiện hoạt động chuẩn bị đầu tư khác theo quy định của Chính phủ”21

Kèm theo quyền được chuyển vốn ra nước ngoài của nhà đầu tư còn kèm theo một sốđiều kiện, cụ thể được quy định như sau: Nhà đầu tư được chuyển vốn đầu tư ra nướcngoài để thực hiện hoạt động đầu tư khi đáp ứng các điều kiện sau: Đã được cấp Giấychứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, trừ trường hợp nhà đầu tư được chuyểnngoại tệ hoặc hàng hóa, máy móc, thiết bị ra nước ngoài để phục vụ cho hoạt độngkhảo sát, nghiên cứu, thăm dò thị trường và thực hiện hoạt động chuẩn bị đầu tư kháctheo quy định của Chính phủ; Hoạt động đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền củanước tiếp nhận đầu tư chấp thuận hoặc cấp phép Trường hợp pháp luật của nước tiếpnhận đầu tư không quy định về việc cấp phép đầu tư hoặc chấp thuận đầu tư, nhà đầu

tư phải có tài liệu chứng minh quyền hoạt động đầu tư tại nước tiếp nhận đầu tư; Có tàikhoản vốn theo quy định tại Điều 63 của Luật này22

Thứ hai, nhà đầu tư được hưởng các ưu đãi về đầu tư theo quy định của pháp

luật Đối với từng lĩnh vực mà pháp luật nước ta có những ưu đãi, khuyến khích đầu tưriêng, trong đó nổi bật là ưu đãi tối đa về thuế trong lĩnh vực dầu khí được quy định cụthể ở Quyết định số 116/2001/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2001 của Thủ tướngChính phủ về một số ưu đãi, khuyến khích đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực hoạtđộng dầu khí

Thứ ba, nhà đầu tư được tuyển dụng lao động Việt Nam sang làm việc tại cơ sở

sản xuất, kinh doanh do nhà đầu tư thành lập ở nước ngoài Cụ thể ở Khoản 1 Điều 22Nghị định 83/2015/NĐ-CP quy định về đầu tư ra nước ngoài quy định: Nhà đầu tưđược tuyển dụng lao động Việt Nam đi làm việc cho dự án đầu tư của mình ở nướcngoài theo quy định của pháp luật lao động của Việt Nam và của quốc gia, vùng lãnhthổ tiếp nhận đầu tư

Thứ tư, nhà đầu tư có quyền sử dụng lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư ở

nước ngoài để tái đầu tư dự án khác ở nước ngoài, đây là quy định hoàn toàn mới vềquyền của nhà đầu tư ra nước ngoài cụ thể là: Nhà đầu tư sử dụng lợi nhuận thu được

từ hoạt động đầu tư ở nước ngoài để tăng vốn, mở rộng hoạt động đầu tư ở nước ngoàiphải thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài vàbáo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Trường hợp dùng lợi nhuận thu được từ dự ánđầu tư ở nước ngoài để thực hiện dự án đầu tư khác ở nước ngoài thì nhà đầu tư phảithực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài cho dự án đầu tư

đó và phải đăng ký tài khoản vốn, tiến độ chuyển vốn đầu tư bằng tiền với Ngân hàngNhà nước Việt Nam23

21 Khoản 3 Điều 64 Luật Đầu tư 2014

22 Khoản 1 Điều 64 Luật Đầu tư 2014

23 Điều 66 Luật Đầu tư 2014

Trang 22

Nghĩa vụ của nhà đầu tư khi đầu tư ra nước ngoài

Thứ nhất, nhà đầu tư phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và cả pháp luật của nước

tiếp nhận đầu tư

Thứ hai, nhà đầu tư phải chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhập từ việc đầu tư

ra nước ngoài về nước trừ trường hợp sử dụng lợi nhuận từ việc đầu tư ra nước ngoàitheo quy định tại Điều 66 Luật đầu tư 2014 Cụ thể “Trừ trường hợp sử dụng lợi nhuận

để đầu tư ở nước ngoài theo quy định tại Điều 66 của Luật này, trong thời hạn 06 tháng

kể từ ngày có báo cáo quyết toán thuế hoặc văn bản có giá trị pháp lý tương đươngtheo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư, nhà đầu tư phải chuyển toàn bộ lợinhuận thu được và các khoản thu nhập khác từ đầu tư ở nước ngoài về Việt Nam;Trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà chưa chuyển lợi nhuận và các khoảnthu nhập khác về Việt Nam, nhà đầu tư phải có văn bản báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu

tư và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Thời hạn chuyển lợi nhuận về nước được giahạn không quá hai lần, mỗi lần không quá 06 tháng và phải được Bộ Kế hoạch và Đầu

tư chấp thuận bằng văn bản”24 Cũng cùng với mục đích chuyển lợi nhuận về nước,Điều 24 Nghị Định 83/2015/NĐ-CP quy định về đầu tư ra nước ngoài cũng quy định

cụ thể về việc thanh lý dự án đầu tư cụ thể là: Ngay sau khi kết thúc dự án đầu tư, nhàđầu tư phải thanh lý dự án đầu tư theo quy định của pháp luật quốc gia, vùng lãnh thổtiếp nhận đầu tư Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày có báo cáo quyết toán thuế hoặcvăn bản có giá trị pháp lý tương đương theo quy định của pháp luật quốc gia, vùnglãnh thổ tiếp nhận đầu tư liên quan đến kết thúc việc thanh lý dự án đầu tư, nhà đầu tưphải chuyển về nước toàn bộ các khoản thu còn lại từ việc thanh lý dự án đầu tư.Trường hợp có nhu cầu kéo dài thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều này, chậm nhấttrước ngày hết hạn nhà đầu tư phải có văn bản đề nghị và nêu rõ lý do gửi Bộ Kếhoạch và Đầu tư xem xét, quyết định Việc gia hạn được thực hiện không quá một lần

và không quá 06 tháng Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghịcủa nhà đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản trả lời nhà đầu tư về việc gia hạnthời hạn chuyển về nước toàn bộ các khoản thu còn lại từ việc thanh lý dự án đầu tư.Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hoàn tất việc thanh lý dự án đầu tư tại nước ngoài

và chuyển về nước toàn bộ các khoản thu còn lại từ việc thanh lý dự án đầu tư (nếucó), nhà đầu tư làm thủ tục chấm dứt dự án đầu tư ra nước ngoài theo quy định tạiĐiều 25 của Nghị định này.”25

Thứ ba, nhà đầu tư phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về tài chính và hoạt

động đầu tư ở nước ngoài Nghĩa vụ này được quy định cụ thể tại Điều 20 Nghị định

24 Điều 65 Luật Đầu tư 2014

25 Điều 24 Nghị Định 83/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 09 năm 2015 của Chính Phủ quy định về đầu tư

ra nước ngoài.

Trang 23

83/2015/NĐ-CP quy định về đầu tư ra nước ngoài, theo đó, hàng năm, trong thời hạn 6tháng, kể từ ngày có báo cáo quyết toán thuế hoặc văn bản có giá trị pháp lý tươngđương theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư, nhà đầu tư có văn bản báocáo tình hình hoạt động của dự án đầu tư kèm theo quy định của pháp luật nước tiếpnhận đầu tư gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước ViệtNam, cơ quan đại diện Việt Nam tại nước tiếp nhận đầu tư và cơ quan quản lý Nhànước có thẩm quyền theo quy định của luật này và quy định khác của pháp luật có liênquan26.

Thứ tư, nhà đầu tư phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà

nước Việt Nam Cụ thể “Nhà đầu tư có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tàichính phát sinh liên quan đến dự án đầu tư ra nước ngoài đối với nhà nước Việt Namtheo quy định của pháp luật về thuế; Việc miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối vớiphần vốn bằng hàng hóa, máy móc, thiết bị chuyển ra nước ngoài để thực hiện hoạtđộng đầu tư và chuyển từ nước ngoài về Việt Nam thực hiện theo quy định của phápluật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu”27

2.1.5 Về điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài

Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài được quy định cụthể tại Điều 58 Luật Đầu tư 2014 như sau: “Hoạt động đầu tư ra nước ngoài phù hợpvới nguyên tắc quy định tại Điều 51 của Luật này; Hoạt động đầu tư ra nước ngoàikhông thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh quy định tại Điều 6 của Luật này;Nhà đầu tư có cam kết tự thu xếp ngoại tệ hoặc được tổ chức tín dụng được phép camkết thu xếp ngoại tệ để thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài; trường hợp khoảnvốn bằng ngoại tệ chuyển ra nước ngoài tương đương 20 tỷ đồng trở lên và khôngthuộc dự án quy định tại Điều 54 của Luật này thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiếnbằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Có quyết định đầu tư ra nước ngoàitheo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 57 của Luật này; Có văn bản của cơ quanthuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của nhà đầu tư tính đến thời điểm nộp

hồ sơ dự án đầu tư.” Đối với quy định mới này đã phần nào xoá bỏ những điều kiệnkhắc khe, gò bó và kém khả thi của luật cũ về hoạt động đầu tư ra nước ngoài

2.1.6 Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài

Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án có vốnđầu tư ra nước ngoài từ 20.000 tỷ đồng trở lên; và các dự án yêu cầu áp dụng cơ chế,

26 Thạc sĩ Nguyễn Hồng Chi và Thạc sĩ Võ Hồng Lĩnh, Những vấn đề cần biết về Luật đầu tư năm

2014, Nhà xuất bản Phương Đông, trang 270

27 Điều 21 Nghị định 83/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 09 năm 2015 của Chính Phủ quy định về đầu tư

ra nước ngoài.

Trang 24

chính sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định28.

Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài đối với các

dự án thuộc lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, báo chí, phát thanh, truyềnhình, viễn thông có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 400 tỷ đồng trở lên; và các dự án kháckhông thuộc các lĩnh vực kể trên có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 800 tỷ đồng trở lên29.Trường hợp nhà đầu tư đề nghị đầu tư ra nước ngoài dưới những hình thức đầu tư theopháp luật của nước tiếp nhận thì Thủ tướng Chính phủ xem xét trên cơ sở đề nghị của

Bộ Kế hoạch và Đầu tư30 Tuy nhiên vẫn phải nguyên tắc không vi phạm quy địnhpháp luật Việt Nam về ngành nghề đầu tư

2.1.8 Về thủ tục đầu tư ra nước ngoài

Theo quy định trước đây, các dự án có có quy mô vốn đầu tư từ 15 tỷ đồng ViệtNam trở lên phải thực hiện quy trình thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nướcngoài Theo quy định hiện nay tại Luật Đầu tư 2014, Nghị định 83/2015/NĐ-CP, chỉthẩm tra lấy ý kiến các Bộ, ngành liên quan và báo cáo Quốc hội/ Thủ tướng Chínhphủ đối với các dự án thuộc diện Quốc hội/ Thủ tướng Chính phủ quyết định chủtrương đầu tư ra nước ngoài Đối với các dự án có vốn đầu tư dưới 800 tỷ đồng vàkhông thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện không phải áp dụng quy trình thẩm tra lấy ýkiến các Bộ, ngành, địa phương liên quan trước khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu

tư ra nước ngoài

Cụ thể tại Điều 59 Luật Đầu tư 2014 quy định đối với các dự án đầu tư thuộcdiện phải quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấpGiấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài cho nhà đầu tư trong thời hạn 05 ngàylàm việc kể từ ngày nhận được văn bản quyết định chủ trương đầu tư Đối với dự ánkhông thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, nhà đầu tư nộp hồ sơ đề nghịcấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư Hồ sơ gồm: Văn bảnđăng ký đầu tư ra nước ngoài; bản sao chứng minh nhân dân, thẻ căn cước hoặc hộchiếu đối với nhà đầu tư là cá nhân; bản sao Giấy chứng nhận thành lập hoặc tài liệutương đương khác xác nhận tư cách pháp lý đối với nhà đầu tư là tổ chức; quyết địnhđầu tư ra nước ngoài theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 57 của Luật này; vănbản cam kết tự cân đối nguồn ngoại tệ hoặc văn bản của tổ chức tín dụng được phépcam kết thu xếp ngoại tệ cho nhà đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 58 của Luậtnày; đối với dự án đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo

28 Khoản 1 Điều 54 Luật Đầu tư 2014.

29 Điều 54 Luật Đầu tư 2014

30 Khoản 3 Điều 1 Nghị định 83/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 09 năm 2015 của Chính Phủ quy định

về đầu tư ra nước ngoài.

Trang 25

hiểm, khoa học và công nghệ, nhà đầu tư nộp văn bản chấp thuận của cơ quan nhànước có thẩm quyền về việc đáp ứng điều kiện đầu tư ra nước ngoài theo quy định củaLuật các tổ chức tín dụng, Luật chứng khoán, Luật khoa học và công nghệ, Luật kinhdoanh bảo hiểm Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ theo quy định tạikhoản 1 Điều này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ranước ngoài Trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài thìphải thông báo cho nhà đầu tư bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trên cơ sở Nghị định số 83/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2015 của Chínhphủ quy định về đầu tư ra nước ngoài Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Thông tư số

09/2015/TT-BKHĐT ngày 23 tháng 10 năm 2015 về Ban hành mẫu văn bản thực hiện

thủ tục đầu tư ra nước ngoài Áp dụng cho các đối tượng là các tổ chức, cá nhân liênquan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài như quy định tại Điều 2 Nghị định số

83/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nướcngoài Bao gồm:

+ Mẫu số 1: Bản đề nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài (ápdụng cho tất cả các dự án đầu tư ra nước ngoài);

+ Mẫu số 2: Đề xuất dự án đầu tư ra nước ngoài (áp dụng cho các dự án phải cóquyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài);

+ Mẫu số 3: Bản đề nghị điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nướcngoài (áp dụng cho tất cả các dự án đầu tư ra nước ngoài);

+ Mẫu số 4: Giải trình về điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nướcngoài (áp dụng cho các dự án phải có quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài);

+ Mẫu số 5: Văn bản cam kết tự thu xếp ngoại tệ;

+ Mẫu số 6: Văn bản cam kết thu xếp ngoại tệ của tổ chức tín dụng;

+ Mẫu số 7: Văn bản xác nhận việc nhà đầu tư thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vớinhà nước;

+ Mẫu số 8: Mẫu Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài;

+ Mẫu số 9: Thông báo hoạt động đầu tư ở nước ngoài;

+ Mẫu số 10: Báo cáo định kỳ hàng quý tình hình thực hiện dự án tại nướcngoài;

+ Mẫu số 11: Báo cáo định kỳ hàng năm tình hình thực hiện dự án tại nướcngoài;

Trang 26

+ Mẫu số 12: Mẫu văn bản gia hạn việc chuyển lợi nhuận về nước;

+ Mẫu số 13: Mẫu văn bản chấp thuận việc gia hạn chuyển lợi nhuận về nước;+ Mẫu số 14: Mẫu thông báo của nhà đầu tư gửi Ngân hàng Nhà nước ViệtNam áp dụng đối với trường hợp nhà đầu tư chuyển toàn bộ vốn đầu tư ở nước ngoàicho nhà đầu tư nước ngoài;

+ Mẫu số 15: Mẫu văn bản đề nghị chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng kýđầu tư ra nước ngoài;

+ Mẫu số 16: Mẫu văn bản thông báo hết hạn hiệu lực Giấy chứng nhận đăng

ký đầu tư ra nước ngoài;31

* Phụ lục 1: Hướng dẫn cách ghi các Mẫu văn bản quy định cho nhà đầu tư;

* Phụ lục 2: Hướng dẫn cách ghi Mẫu Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nướcngoài quy định cho cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư

Như vậy, Chính phủ đã có những quy định cụ thể lĩnh vực khuyến khích, cấm,hạn chế đầu tư ra nước ngoài; điều kiện đầu tư, chính sách ưu đãi đối với dự án đầu tư

ra nước ngoài; trình tự, thủ tục và quản lý hoạt động đầu tư ra nước ngoài Những kiếnthức và quy định pháp luật cơ bản về vấn đề đầu tư ra nước ngoài này là điều kiện mànhà đầu tư nên tìm hiểu tham khảo trước khi lựa chọn hình thức đầu tư

2.2 Thực trạng về đầu tư ra nước ngoài của nước ta giai đoạn 2005 đến 2016.

2.2.1 Tình hình đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam

Trong những năm qua, đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam có xu hướng giatăng Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp, cá nhân đa dạng, tăng cườngtìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, chiến lược đầu tư tập trung vào các lĩnh vực đòihỏi vốn đầu tư thấp, khả năng quay vòng vốn ngắn, nhanh chóng đem lại hiệu quả chodoanh nghiệp Điều này cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ tập trung đầu tư ởtrong nước mà còn mở rộng đầu tư ra nước ngoài để khẳng định thương hiệu, vị thếcủa mình trên trường quốc tế, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiệnnay

31 Trình bày ở Phụ lục của Tiểu luận.

Trang 27

Một số nhà đầu tư đáng chú ý như: Viettel, Vinamilk, các công ty của Tập đoànFPT, Tập đoàn cao su Việt Nam, Công ty cao su Đắk Lắk, Tập đoàn Hóa chất ViệtNam, Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, Tổng công ty Sông Đà, Công ty Cổ phần ĐiệnViệt Lào, Tập đoàn TH và Matxcơva và các ngân hàng có vốn nhà nước Cùng với sựđầu tư của khối tư nhân, đặc biệt đầu tư của cá nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ranước ngoài ngày càng tăng.

Tính đến cuối năm 2016, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Doanh nghiệpViệt Nam đã được phát triển ở cả 3 lĩnh vực: Công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ.Trong đó, vốn đăng ký chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp là cao nhất, chiếm gần 41%;lĩnh vực nông nghiệp chiếm khoảng 15%; lĩnh vực dịch vụ và các lĩnh vực khác chiếmkhoảng 44% Cụ thể:

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi

nước và điều hoà không khí

Trang 28

Hoạt động dịch vụ khác 48 127.1

Bảng 01: Số liệu thống kê số dự án của các ngành nghề, lĩnh vực và tổng số vốn đăng ký theo từng lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài phân theo ngành kinh tế (Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến ngày

31 tháng 12 năm 2016) 32 Trong lĩnh vực công nghiệp: Nổi bật nhất là ngành Khai khoáng chiếm tỷ trọng

lớn nhất với hơn 56 dự án và vốn đăng ký lên đến 8061.7 triệu USD Trong đó, Tậpđoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) là doanh nghiệp đi đầu trong hoạt động đầu tư vốn trựctiếp ra nước ngoài, với 30 dự án ký kết, hợp đồng nước ngoài Trong đó có 14 hợpđồng, dự án đang triển khai thực hiện gồm có 7 dự án phát triển khai thác và 7 dự ántìm kiếm thăm dò dầu khí tại hơn 10 quốc gia trên khắp thế giới

Hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp được mở rộng về sốlượng và quy mô dự dự án Đến cuối năm 2016, các doanh nghiệp đã có 104 dự án đầu

tư ra nước ngoài với tổng số vốn đăng ký lên đến 3034.8 triệu USD Trong đó có 2doanh nghiệp nổi bật nhất là Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam với 23 dự ántrồng cao su lại Lào và Campuchia với tổng diện tích đăng ký là 140.000 ha và HoàngAnh Gia Lai có 4 dự án đẩu tư trồng cao su tại Lào Và Campuchia với diện tích cao suđăng ký khoảng 39.000 ha

Hoạt động đầu tư ra nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ và các lĩnh vực kháctương đối đa dạng, phong phú với nhiều ngành nghề như: Thông tin truyền thông, y tế,giáo dục đào tạo, xây dựng, vận tải, kho bãi, giải trí, nghệ thuật… Đáng chú ý nhất làngành Thông tin truyền thông, trong đó chỉ riêng Tập đoàn Viễn thông Quân độiViettel đã đầu tư và kinh doanh tại 10 quốc gia ở 3 châu lục Theo Bộ Kế hoạch vàĐầu tư cho biết, chỉ riêng dự án ở Campuchia, Viettel đã đầu tư 44 triệu USD và manglợi nhuận về nước 150 triệu USD

Đồng thời với chủ trương khuyến khích và ưu tiên các dự án phát huy tiềmnăng từ bên ngoài phục vụ cho mục tiêu phát triển của đất nước; tiếp tục khai thác vàphát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế Việt Nam trong đầu tư ra nước ngoài.Đến nay, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đãphát triển rộng khắp trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các thị trườn g truyềnthống luôn được chú trọng

Các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt chú trọng đầu tư sang các nước lân cận,như Lào, Campuchia và Myanmar, các nước trong khu vực Liên bang Nga ; Từngbước mở rộng đầu tư sang các nước và thị trường mới như Mỹ La tinh, Đông Âu, châuPhi dựa trên cơ sở lợi thế so sánh và thực lực của các thành phần kinh tế Việt Nam,

32 Tổng cục thống kê , mục 19 đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phân theo ngành kinh tế:

http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=716

Trang 29

nhằm thúc đẩy kết nối kinh tế Việt Nam với các nền kinh tế trong khu vực và trên thếgiới Cụ thể:

Bảng 02: Số liệu thống kê số dự án và tổng số vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài phân theo

từng quốc gia tính đến năm 2016 33

Trong đó, Lào đứng thứ nhất trong tổng số các quốc gia mà doanh nghiệp ViệtNam triển khai đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký là gần 5.000 triệu USD chủyếu tập trung vào lĩnh vực khoáng sản, năng lượng, nông nghiệp… Nhiều dự án củaViệt Nam đầu tư tại Lào đang được triển khai có hiệu quả như: dự án trồng cây cao su,

dự án sản xuất mía đường của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, Tập đoàn Công nghiệpCao su Việt Nam, Công ty cao su Đắk Lắk; dự án đầu tư của Viettel; dự án của Ngânhàng Liên doanh Lào - Việt và một số chi nhánh ngân hàng Việt Nam tại Lào Chínhphủ hai nước cũng đang tiếp tục triển khai một số dự án lớn, như dự án xây dựngđường ống dẫn dầu từ cảng Hòn La, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam đến tỉnh Khămmuộncủa Lào, dự án xây dựng đường điện từ Xekaman 1 của Lào đến Plâycu của Việt Nam,

dự án khai thác và chế biến muối mỏ Kali do Tập đoàn Hóa chất Việt Nam làm chủđầu tư tại tỉnh Khămmuộn, Lào

33 Tổng cục thống kê , mục 20 đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép phân theo đối tác đầu tư chủ yếu: http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=716

Trang 30

Liên bang Nga là nước đứng thứ 2 sau Lào về con số vốn đăng ký đầu tư củadoanh nghiệp Việt Nam Các doanh nghiệp nước ta đã đầu tư sang Liên bang Nga 13

dự án với số vốn lên đến gần 3000 triệu USD, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dầu khí,thương mại

Tại Campuchia, các dự án đầu tư của Việt Nam chủ yếu thuộc lĩnh vực nôngnghiệp, năng lượng, Tính đến năm 2016, các doanh nghiệp Việt Nam đã có 163 dự ángiá trị và 2.730 triệu USD vốn đăng ký đầu tư tại Campuchia Các dự án này đã gópphần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội hai nước, nhất là các tỉnh biên giới; tạo việclàm ổn định cho hàng vạn lao động

Với Myanmar, các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư 60 dự án tính đến năm

2016 với tổng số vốn đăng ký là 1.424 triệu USD Các dự án đầu tư của Việt Nam vàoMyanmar tập trung vào lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông Điểnhình, VNPT và Viettel đã tham gia đấu thầu vào thị trường viễn thông Myanmar, Tậpđoàn FPT cũng thành lập Công ty FPT Myanmar từ năm 2013

Bên cạnh việc đẩy mạnh và duy trì hoạt động kinh doanh tại các địa bàn truyềnthống, các Doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu triển khai và thành công khi đầu tư sangmột số thị trường mới có mức độ cạnh tranh và yêu cầu cao về công nghệ như Hoa Kỳ,Nhật Bản, Hồng Kong, Hàn Quốc, hay một số nước ở Mỹ Latinh như Venezuela,Cuba, Peru và một số nước ở Châu Phi Trong đó số vốn đầu tư ở Venezuala lên đếngần 2000 triệu USD và Peru là 1249 triệu USD

20 40 60 80 100 120 140 160

Column1 Số vốn đầu tư

Từ khi Chính phủ ban hành Nghị định 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 9/8/2006quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam đã vượt quacác giai đoạn thăng trầm, khó khăn, để vươn xa tại 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trênthế giới Số dự án và địa bàn đầu tư đã có sự tăng trưởng nhanh Từ 18 dự án đầu tiên

Trang 31

của những năm 1989 (trước khi ban hành Nghị định này), sau đó tăng trưởng mạnh về

số dự án và vốn đăng ký, tính đến cuối năm 2016 sau khi ban hành Luật Đầu tư 2014

và các Nghị định có liên quan đến đầu tư ra nước ngoài đã có 943 dự án đầu tư ra nướcngoài của các doanh nghiệp Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký là gần 20 tỷ USD

Sơ đồ 01: Thống kê số dự án và tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài

Có thể nói trong những năm qua, tình hình đầu tư vốn trực tiếp ra nước ngoàicủa các doanh nghiệp Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận

Các doanh nghiệp Việt Nam đã hoạt động kinh doanh có hiệu quả và dần khẳngđịnh được tên tuổi trên thị trường nước ngoài Hiện đã có 6 tập đoàn, tổng công ty củaViệt Nam có vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài vượt ngưỡng 1 tỷ USD gồm: PVN,Viettel, Tập đoàn Công nghiệp Cao Su Việt Nam; Tổng công ty Sông Đà; Tập đoànHoàng Anh Gia Lai

2.2.2 Những cơ hội và hạn chế của doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài

2.2.2.1 Cơ hội của doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài

Thứ nhất, Doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội lựa chọn địa chỉ đầu tư thích hợp,

từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Trong bối cảnh xu hướng tự do hóa đầu tư đangdiễn ra mạnh mẽ như hiện nay, các quốc gia trên thế giới hầu hết đều thực thi nhữngbiện pháp khuyến khích nhằm kêu gọi vốn đầu tư từ nước ngoài Điều đó mở ra chocác doanh nghiệp Việt Nam cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, bằng việc đầu tưvào những nơi có khả năng đem lại tỷ suất lợi nhuận cao Địa chỉ đầu tư không còn bị

bó hẹp trong khuôn khổ địa lý quốc gia, mà được mở rộng ra các nước trong khu vực

34 Mục 18, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép thời kì 1989-2016:

http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=716

Số dự án Triệu USD

Trang 32

cũng như toàn thế giới Vấn đề đặt ra chỉ là năng lực khai thác cơ hội của các doanhnghiệp mà thôi

Thứ hai, Các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ.

Hoạt động thương mại là một trong những bước cơ bản đầu tiên trong lộ trình xâmnhập thị trường nước ngoài, nhưng để thực sự cắm rễ sâu bền tại thị trường các nướctrên thế giới, doanh nghiệp nhất thiết phải thành lập các chi nhánh ở nước ngoài thôngqua các hình thức như doanh nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn Đâychính là kinh nghiệm thành công và lớn mạnh của các công ty xuyên quốc gia trên thếgiới

Thứ ba, Doanh nghiệp Viêt Nam có điều kiện khai thác các nguồn lực sản xuất

của nước ngoài từ đó phát huy được lợi thế so sánh của mình Lý thuyết và thực tiễncho thấy, mỗi quốc gia đều có những nguồn lực sản xuất nhất định và tổng nguồn lực

là hữu hạn Đây chính là một nguyên nhân cơ bản khiến doanh nghiệp của quốc gianày tìm kiếm cơ hội đầu tư ở quốc gia khác nhằm khai thác những nguồn lực của đấtnước đó để phát triển Đồng thời, cùng với quá trình khai thác là việc phát huy thếmạnh của mỗi doanh nghiệp Những lợi thế sẽ không đem lại lợi nhuận một khi chúngkhông có điều kiện được triển khai trong thực tiễn

Thứ tư, Doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với thị trường

quốc tế về vốn, máy móc thiết bị khoa học – công nghệ, từ đó có điều kiện tiếp thucông nghệ mới hiện đại, có điều kiện đổi mới cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp

Thứ năm, Các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện tiếp thu kinh nghiệm quản

lý tiên tiến, nâng cao trình độ tổ chức, quản lý sản xuất, nâng cao hiểu biết về luậtpháp và ý thức chấp hành luật pháp, nâng cao khả năng cạnh tranh công bằng trêntrường quốc tế và cả ở trong nước

2.2.2.2 Một số mặt hạn chế của doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài

Một là, Tiềm lực tài chính của đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu Hai là, Các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm đầu tư ra nước

ngoài

Ba là, Năng lực cạnh tranh tổng hợp của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp,

khiến khả năng và hiệu quả đầu tư ra nước ngoài chưa cao

Việc khắc phục, vượt qua ba thách thức về: Tiềm lực tài chính, Kinh nghiệmđầu tư và Năng lực cạnh tranh vẫn còn là những trở ngại lớn đối với Nhà đầu tư

Một số dự án đầu tư vốn tư nhân không triển khai được hoặc chấm dứt trướchạn, một số dự án sử dụng vốn nhà nước chậm tiến độ do những biến động của môitrường đầu tư, thời điểm đầu tư, do kinh doanh thua lỗ, không hiệu quả; một số dự án

Trang 33

phát sinh các khó khăn nội tại trong việc huy động vốn đầu tư, thu xếp các nguồn lực

để thực hiện dự án đầu tư; tình trạng không tuân thủ các quy định về báo cáo tình hìnhtriển khai dự án đầu tư mặc dù đã được cải thiện tuy nhiên vẫn còn tồn tại ở nhiều dự

án Nhiều chủ đầu tư chưa nghiêm túc tuân thủ nghĩa vụ này, báo cáo qua loa, không

đủ thông tin, số liệu, tài liệu đính kèm theo quy định hoặc không đúng định kỳ Bêncạnh đó, nhiều nhà đầu tư sau khi được cấp phép xong thay đổi địa chỉ, điện thoại liên

hệ khiến cơ quản quản lý không thể liên hệ được Điều này dẫn đến việc cơ quản quản

lý không thể nắm bắt và theo dõi tình hình hoạt động thực chất của dự án

Số dự án vẫn còn ít, vốn đầu tư thực hiện thấp và các dự án triển khai kháchậm; Vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam không đều đặn quacác năm; Chất lượng hoạt động của các vốn đầu tư hạn chế Các doanh nghiệp ViệtNam đầu tư ra nước ngoài thiếu liên kết với nhau

Bên cạnh các mặt hạn chế nêu trên khi đầu tư ra nước ngoài doanh nghiệp ViệtNam còn vướng phải rất nhiều những rào cản pháp lý Hiện nay ở Việt Nam, vẫn cònquan điểm coi trọng việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, mà ítquan tâm về đầu tư ra nước ngoài; chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của dạng đầu tưnày; có những lo ngại rằng nếu khai thông đầu tư ra nước ngoài sẽ làm nguồn vốnchảy ra ngoài, “thất thoát” ngoại hối trong khi thị trường ngoại hối trong nước nhiềukhi căng thẳng vì thiếu hụt nguồn cung; cũng có không ít ý kiến cho rằng, thúc đẩyđầu tư ra nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là quá sớm, các doanh nghiệp Việt Nam

sẽ làm ăn thua lỗ do năng lực yếu kém; các dự án đầu tư, nhất là các dự án dầu khí đãđầu tư khá nhiều song lợi nhuận gửi về nước vẫn còn ít; do vậy, không nên khuyếnkhích đầu tư ra nước ngoài, thậm chí hạn chế đầu tư ra nước ngoài, nhất là trong bốicảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay

Ý kiến này có phần phiến diện so với thực tế khi mức tổng đầu tư ra nước ngoàihiện nay của Việt Nam so với tổng đầu tư trong nước đã tương đối lớn so với một sốnước trong khu vực Đông Nam Á

Một số rào cản mà các doanh nghiệp Việt Nam hầu hết đều vướng phải đó là vềvấn đề pháp lí tại nước sở tại, vì nhiều lí do khác nhau như: không tìm được đội ngũ tưvấn pháp lí chuyên nghiệp, không có nguồn cung cấp thông tin về pháp luật chuẩn xác,không biết về các ngành nghề ưu đãi đầu tư và các ngành nghề bị hạn chế, không amhiểu về chính sách thuế tại nước sở tại… bên cạnh đó pháp lý là một yếu tố mà bất kìquốc gia nào cũng muốn hoàn thiện tốt hơn, do đó việc tiếp cận thông tin mới nhất,chính xác nhất là rào cản khá lớn cho việc đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệpnước ta

Một số thị trường đặc thù mà doanh nghiệp nước ta thường đầu tư vào nhưCampuchia, Lào,… đã ban hành nhiều quy định về ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp

Trang 34

nước ta sang đầu tư tại đó Nhưng tiếp theo đó là các gút mắc liên quan đến việc cấpgiấy chứng nhận đầu tư Việc cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài hiện nay chưađược phân cấp mà còn tập trung ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư, điều này gây khó khăn chocác doanh nghiệp địa phương khi muốn đầu tư ra nước ngoài phải tốn nhiều thời gian

để đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để xin giấy phép

Một vấn đề rào cản nữa là việc chuyển tiền ra nước ngoài Để thực hiện bướcnày nhà đầu tư phải đăng kí hai lần mở tài khoản ngân hàng, một là đăng kí với Ngânhàng Nhà nước tại địa phương, hai là với ngân hàng thương mại khác hoạt động tạiViệt Nam, doanh nghiệp Việt phải thông qua tài khoản này mới được quyền chuyểnngoại tệ ra nước ngoài khi có giấy phép chứng nhận đầu tư ở nước sở tại Điều nàyđồng nghĩa với việc trong quá trình thăm dò thị trường, đánh giá tác động môi trường,hoàn thiện các thủ tục hành chính tại nước sở tại,…nhà đầu tư phải tốn một khoản tiềnkhông hề nhỏ nhưng lại không được thông qua tài khoản này để chuyển ngoại tệ sangnước tiếp nhận đầu tư

Nguyên nhân của những hạn chế:

Ngoài những nguyên nhân về: Tiềm lực tài chính, Kinh nghiệm đầu tư và Nănglực cạnh tranh tại thị trường khu vực và quốc tế và trên tất cả các mặt tài chính, khoahọc công nghệ, trình độ quản lý vẫn còn là những trở ngại lớn đối với nhà đầu tư; thìcòn có những nguyên nhân như:

Do sự khác biệt về thị trường, rào cản ngôn ngữ, văn hóa, thủ tục pháp lý, biếnđộng kinh tế, chính trị tại địa bàn đầu tư và việc không lường hết các rủi ro tiềm ẩn…tiếp tục là các rào cản khiến nhiều doanh nghiệp khó khăn trong việc triển khai dự ántại nước ngoài

Cơ chế chính sách của Việt Nam trong lĩnh vực này còn thiếu, chưa tạo độnglực để phát triển các họat động đầu tư: Các chính sách, văn bản pháp luật của ViệtNam chưa đồng bộ thậm chí còn chồng chéo nên gây nhiều bất cập

Sự hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài của nhà nước đối với các doanh nghiệp cònthiếu hiệu quả, thiếu đồng bộ từ chủ trương chính sách đến những việc triển khai cụthể

Nền kinh tế Việt Nam đang ở trình độ phát triển thấp, các ngành kinh tế cònđang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện nên không tránh khỏi những khiếmkhuyết

Nước nhận đầu tư hầu hết là các nước đang phát triển, trình độ lao động cònhạn chế, nên khi đầu tư vào những nước này phải tiến hành đào tạo lại lao động Điềunày đòi hỏi kinh phí khá lớn, làm tăng chi phí của doanh nghiệp trong khi quy mô vốnđầu tư còn nhỏ gây ra sự e ngại khi đầu tư vào các nước này Mặt khác, khi đầu tư vào

Trang 35

các nước phát triển, các doanh nghiệp Việt Nam chưa tuyển chọn đủ lao động từ trongnước sang nên phải tuyển dụng lao động tại nước sở tại, chi phí lao động cao hơnnhiều.

2.3 Biện pháp khuyến khích đầu tư ra nước ngoài và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về đầu tư ra nước ngoài

Để thúc đẩy vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam, trongthời gian tới, cần chú trọng tập trung triển khai những nội dung sau:

Một là, nhằm tạo điều kiện thuận lợi và định hướng cho các cá nhân và doanh

nghiệp đầu tư ra nước ngoài an toàn và hiệu quả, đồng thời đáp ứng được nhu cầuquản lý của nhà nước đối với đầu tư ra nước ngoài trong thời gian tới, Nhà nước cầntiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định dưới luật về đầu tư ra nước ngoài, môhình quản lý đầu tư ra nước ngoài Cải tiến thủ tục hành chính đối với đầu tư ra nướcngoài theo hướng đơn giản thuận tiện, mở rộng hơn nữa các dự án thuộc diện đăng ký,giảm bớt sự can thiệp bằng các biện pháp hành chính ngay cả đối với các dự án sửdụng vốn nhà nước, tăng quyền chủ động, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp Khẩntrương xây dựng đề án về cơ chế hỗ trợ, khuyến khích để thúc đẩy hoạt động đầu tư ranước ngoài theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có những giải pháp độtphá để khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài Đơn giản hóathủ tục đăng kí và cấp giấy phép đầu tư ra nước ngoài, tiến tới bỏ hình thức cấp phép,chuyển sang hình thức đăng kí đầu tư Việc này rất thuận tiện mà không giảm tínhquản lý của nhà nước Cần xây dựng các công cụ chính sách, các biện pháp khuyến

khích để xúc tiến đầu tư ra nước ngoài: Các công cụ chính sách bổ trợ để xúc tiến đầu

tư ra ngoài rất đa dạng, được kết hợp lồng ghép với các chính sách đầu tư khác nhằmnâng cao hiệu quả hoạt động; các biện pháp khuyến khích, bao gồm: Cho vay ưu đãi,vốn cổ phần, xuất khẩu tín dụng và các biện pháp kích thích thuế, tham gia bảo hiểmđầu tư và các cơ quan tín dụng xuất khẩu, cung cấp thông tin, các dịch vụ liên quan vàliên kết, nhằm làm giảm chi phí đầu tư khi thực hiện các dự án đầu tư ra nước ngoài.Bên cạnh đó cần xây dựng danh mục các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư ra nướcngoài với những hình thức ưu đãi phù hợp về tín dụng ngoại tệ, thuế…, các cơ quanxúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư và các cơ quan tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm;ngân hàng xuất - nhập khẩu; và các cơ quan nhà nước có liên quan cần phải quan tâmhơn, xác định mức độ tối ưu và các dịch vụ hỗ trợ tốt cho đầu tư trực tiếp ra nướcngoài

Hai là, Nhà nước cần tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế và tích cực tham gia

vào các tổ chức quốc tế thông qua đàm phán, ký kết các hiệp định đầu tư song phương,

đa phương nhằm bảo vệ các doanh nghiệp, gỡ bỏ các rào cản khi đầu tư trực tiếp ranước ngoài; Tạo cơ chế pháp lý ổn định để giải quyết các tranh chấp có thể phát sinh

Trang 36

Bên cạnh đó cần tăng cường gặp gỡ các đối tác, các Hội nghị xúc tiến đầu tư, nhằm tạođiều kiện hỗ trợ, tư vấn và cung cấp thông tin hữu ích, để nhà đầu tư trong nước tăngcường hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; chú trọng các địa bàn truyền thống vàcác địa bàn tiềm năng.

Ba là, Tăng cường quản lý dòng vốn đầu tư ra nước ngoài, nhất là dòng vốn nhà

nước, bảo đảm công khai, minh bạch và hiệu quả Nhà nước cần ban hành mới hoặchoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; Quy định đồng bộ các biệnpháp khuyến khích và hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài một cách cụ thể, trong đó đặc biệtchú trọng các biện pháp hỗ trợ về cung cấp thông tin như có thể tiến hành biên soạnsách, báo, trang điện tử, thường xuyên cập nhật về môi trường, cơ hội đầu tư tại nước

sở tại, chính sách pháp luật về đầu tư ra nước ngoài của nước sở tại, các dự án kêu gọiđầu tư, tiềm năng và từng lĩnh vực ưu đãi đầu tư tại nước sở tại, bảo hộ quyền lợi củadoanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài trong quá trình đầu tư, kinh doanh ở nước ngoài,bảo đảm có đủ công cụ và phương tiện để quản lý, giám sát việc đầu tư có hiệu quảcác dự án đầu tư ra nước ngoài có sử dụng vốn đầu tư của nhà nước

Bốn là, Phát huy sự vươn lên mạnh mẽ của Công ty, doanh nghiệp Việt Nam.

Chú trọng xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược sản phẩm, thương hiệu, nângcao năng lực quản trị, năng lực cạnh tranh, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, đổimới công nghệ, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến để đảm bảo đủ tầm, đủ

lực, đủ kinh nghiệm, khi thực hiện đầu tư ra nước ngoài Nhà nước cần tạo cơ chế,

chính sách nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và tăng khả năng tích tụ vốn,tạo ra một môi trường kinh doanh - đầu tư bình đẳng, thân thiện đối với sự phát triểncủa các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, bảo vệ lợi ích của các cổ đông thiểu số, ápdụng các thông lệ quản trị doanh nghiệp tiên tiến khác, nhằm khơi thông dòng chảyvốn để đầu tư ra nước ngoài

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Qua quá trình nghiên cứu và phân tích tại Chương 2 Quy định của pháp luật vàthực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam, tác giả đã nêu lên được các văn bảnpháp luật hiện hành của nước ta về hoạt động đầu tư ra nước ngoài và một số điều luật

cơ bản về hoạt động này Tác giả đã thống kê số liệu, phân tích và nêu lên thực trạngđầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn năm 2005 đến năm

2016, qua đó nhận thấy các cơ hội và hạn chế của doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư

ra nước ngoài

Tác giả đã tìm ra những rào cản pháp lý về lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài, từ đóđưa ra những kiến nghị, giải pháp và đồng thời cũng là một số biện pháp khuyến khíchđầu tư ra nước ngoài nhằm thúc đẩy các hoạt động kinh tế, và hoàn thiện quy địnhpháp luật về hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Ngày đăng: 16/06/2019, 15:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w