1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh viêm xoang tại khoa tai mũi họng bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ

41 434 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 215,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, với tình trạng lạm dụng kháng sinh, sửdụng kháng sinh lan tràn phổ biến trong nhân dân như hiện nay, tình trạng kháng thuốccủa vi khuẩn ngày càng gia tăng nhiều, làm giảm độ n

Trang 1

TÓM TẮT

1 Đặt vấn đề

Viêm xoang là bệnh rất thường gặp, ngày càng phổ biến trong cộng đồng, bệnhthường xuất hiện vào mùa đông hoặc những khi thời tiết thay đổi Viêm xoang khôngnhững gây ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân, gây tốn kém kinh tế dongười bệnh phải điều trị nội khoa kéo dài, đôi khi phải phẫu thuật

Có một thực tế là nhiều bệnh nhân mắc bệnh viêm xoang rất lo lắng vì bệnh haytái phát Viêm xoang không chỉ gặp ở người lớn mà trẻ em cũng có thể mắc bệnh Nếukhông được điều trị đúng bệnh dễ trở thành mạn tính hoặc gây ra những biến chứngảnh hưởng tới sức khỏe người bệnh Tuy nhiên, với tình trạng lạm dụng kháng sinh, sửdụng kháng sinh lan tràn phổ biến trong nhân dân như hiện nay, tình trạng kháng thuốccủa vi khuẩn ngày càng gia tăng nhiều, làm giảm độ nhạy cảm hoặc mất hiệu lực củacác kháng sinh trong điều trị viêm xoang tạo nên một thách thức lớn đối với thầy thuốctrong việc lựa chọn thuốc thích hợp Thêm vào đó, việc phân biệt viêm xoang donhiễm khuẩn hay không do nhiễm khuẩn thường không đơn giản Nên việc điều trịbệnh viêm xoang hợp lý, có hiệu quả cũng không phải là đơn giản Chính vì những lý

do trên làm cho bệnh viêm xoang tưởng chừng như nhẹ không những không thuyêngiảm mà ngày càng có xu hướng gia tăng

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “ Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh viêm xoang tại Khoa Tai-Mũi-Họng bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ” sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về tình trạng sử

dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh viêm xoang

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

- Khảo sát trên tất cả các bệnh án được chẩn đoán mắc bệnh viêm xoang có sử dụng

kháng sinh của bệnh nhân đến khám tại phòng Khoa Tai-Mũi-Họng bệnh viện Đa khoaTrung Ương Cần Thơ

- Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, mô tả cắt ngang.

- Thời gian khảo sát: Từ tháng 05/2017 đến tháng 02/2018.

- Thu thập các số liệu về đặc điểm của bệnh nhân như: Tuổi, giới tính, nghề nghiệp

- Khảo sát tình hình sử dụng thuốc kháng sinh, các kháng sinh dùng chung.

3 Kết quả

Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tuổi trung bình của bệnh nhân là từ 40 đến 59 (34,74%)

và thấp nhất ở nhóm tuổi từ 25 (7,37%) trở xuống Tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm nhiềuhơn nam (61,05% đối với nữ, 38,95% đối với nam) Đa số bệnh nhân là làm nghề nông(28%) Bệnh nhân được chẩn đoán viêm xoang mạn (52,63%) chiếm tỷ lệ cao hơnviêm xoang cấp (47,37%) Nghiên cứu cũng cho thấy nhóm Penicillin & kháng β-lactam (58,9%) được chỉ định phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ cao hơn các nhóm thuốckhác, tiếp đến là nhóm Penicillin (31,6%), Cephalosporin (31,6%), Quinolone(21,1%), Macrolid (13,7%), thấp nhất là 5-nitro-imidazol (8,4%), trong nhómPenicillin & kháng β-lactam có thuốc Augmentin được chỉ định nhiều nhất (100%)trong nhóm, nhóm Penicillin có thuốc Amoxicillin (83,3%) Trong số 95 bệnh nhân

Trang 2

viêm xoang điều trị nội trú có 17 (100%) trường hợp phối hợp 2 kháng sinh, trong đócặp phối hợp giữa Augumentin với Levofloxacine có 5 trường hợp chiếm 29,4%, phốihợp giữa Metronidazole và Amoxicillin có 4 trường hợp (23,5%), Levofloxacine vàAmoxicillin có 3 trường hợp (17,6%), Metronidazole và Ceftriaxone có 2 trường hợp(11,8%) Qua khảo sát 95 bệnh án của bệnh nhân điều trị nội trú, thấy có 9 trường hợpthay đổi kháng sinh trong quá trình điều trị, chiếm 16,1% Các kháng sinh được lựachọn ban đầu thuộc nhóm Penicillin có 7 bệnh nhân (77,8% số bệnh nhân có đổithuốc), còn lại là nhóm Cephalosporin (22,2%) Có 81,7% trường hợp chỉ định dùng từ

4 đến 10 ngày, thường nhất là dùng 5 ngày Từ 1 đến 3 ngày là 12,9%, trên 10 ngày là5,4%

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1

2.1 Bệnh viêm xoang 2

2.1.1 Khái niệm 2

2.1.2 Phân loại 2

2.1.3 Nguyên nhân gây viêm xoang 2

2.1.4 Triệu chứng 3

2.2 Các nhóm kháng sinh thường dùng trong điều trị bệnh viêm xoang 4

2.2.1 Nhóm beta-lactam 4

2.2.1.1 Nhóm penicilin 4

2.2.1.2 Nhóm cephalosporin 5

2.2.5 Nhóm macrolid 7

2.2.8 Nhóm 5-nitro-imidazol 8

2.4 Phác đồ điều trị viêm xoang 8

2.4.1 Phác đồ điều trị viêm xoang mạn 8

2.4.2 Phác đồ điều trị viêm xoang cấp 8

2.4.2.1 Viêm xoang nguyên nhân từ mũi 8

2.4.2.2 Viêm xoang hàm do răng 8

CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

3.1 Đối tượng nghiên cứu 9

3.1.1 Tiêu chuẩn chọn lựa 9

3.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 9

3.2 Phương pháp nghiên cứu 9

3.3 Nội dung và biến số nghiên cứu 9

3.4 Các bước tiến hành 10

3.5 Sơ đồ nghiên cứu 10

3.6 Phương pháp thu thập số liệu 11

3.7 Phương pháp và công cụ xử lý số liệu 11

Trang 4

3.8 Trình bày số liệu 11

3.9 Vấn đề y đức trong nghiên cứu 12

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ 13

4.1 Tỷ lệ bệnh nhân viêm xoang theo tuổi 13

4.3 Tỷ lệ bệnh nhân viêm xoang theo nghề nghiệp 14

4.4 Phân loại viêm xoang 15

4.5 Các nhóm kháng sinh được điều trị trong viêm xoang 15

4.7 Phối hợp kháng sinh 17

4.8 Số lần dùng kháng sinh mỗi ngày 17

5.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 20

5.2 Các chẩn đoán thường gặp 20

5.3 Các hoạt chất kháng sinh được sử dụng 20

5.4 Các nhóm kháng sinh được sư dụng 20

5.5 Liều dùng trong ngày 20

5.6 Số lần dùng thuốc trong ngày và số ngày dùng 20

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 21

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Tỷ lệ bệnh nhân theo nhóm tuổi 23

Bảng 4.2 Tỷ lệ bệnh nhân theo giới tính 24

Bảng 4.3 Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp 25

Bảng 4 4 Tỷ lệ phân loại viêm xoang 26

Bảng 4 5 Tỷ lệ sử dụng các nhóm kháng sinh 27

Bảng 4 6 Tỷ lệ các thuốc kháng sinh được chỉ định 28

Bảng 4.7 Phối hợp kháng sinh 29

Bảng 4 8 Các kháng sinh được thay thế 30

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Biểu đồ thể hiên tỷ lệ bệnh nhân theo nhóm tuổi 13

Hình 4.2 Biểu đồ phân bố bệnh nhân theo giới tính 14

Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ phân loại viêm xoang 15

Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ kháng sinh theo số ngày dùng 18

Trang 7

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

Hiện nay, với sự phát triển vượt trội của xã hội, không khí bị ô nhiễm, thời tiếtthay đổi là nguyên nhân gia tăng bệnh viêm xoang trong cộng đồng Viêm xoang làbệnh lý hay gặp ở Việt Nam, chiếm khoảng 25-30% tổng số các bệnh nhân đến khámTai- Mũi- Họng và đang có xu hướng ngày càng gia tăng Tuy bệnh không gây nguyhiểm đến tính mạng ngay khi mới mắc nhưng gây rất nhiều phiền toái cho người bệnh.Nếu kéo dài, bệnh sẽ để lại nhiều biến chứng nguy hiểm như: viêm tai giữa, nghẹt mũi,viêm thanh quản… Trong đó, nhiễm trùng ở mắt chiếm tỉ lệ cao nhất (85%) và cónguy cơ bị mù vĩnh viễn Bệnh viêm xoang thường là bệnh dễ bị viêm, nhiễm trùngnên việc sử dụng kháng sinh trong quá trình điều trị là một điều không thể thiếu Khoa Tai-Mũi-Họng bệnh viện Đa khoa Trung Ương thành phố Cần Thơ với 13giường kế hoạch, 02 phòng khám, có đầy đủ trang thiết bị, đội ngũ y bác sĩ giỏi, nhiềukinh nghiệm, thường tiếp nhận bệnh nhân bị viêm xoang trong và ngoài tỉnh, một sốbệnh nhân được điều trị theo kinh nghiệm tại nhà đã làm tính chất bệnh có phần thayđổi nên gây khó khăn trong quá trình điều trị Chính vì vậy, việc đánh giá tình hình sửdụng kháng sinh tại bệnh viện là việc cần thiết, từ đó có sự lựa chọn và sử dụng khángsinh hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả, giảm giá thành và hạn chế sự đề kháng khángsinh

Xuất phát từ thực tế trên, đề tài đã tiến hành thực hiện “ Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh viêm xoang tại Khoa Tai-Mũi-Họng bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ” với các mục tiêu sau:

1 Khảo sát đặc điểm bệnh nhân bị bệnh viêm xoang tại Khoa Tai-Mũi-Họng bệnhviện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ từ tháng 05/2017 đến tháng 02/2018

2 Khảo sát việc sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh viêm xoang tại Khoa Họng bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ từ tháng 05/2017 đến tháng 02/2018

Trang 8

Tai-Mũi-CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 Bệnh viêm xoang

2.1.1 Khái niệm

Viêm xoang là tình trạng viêm hoặc sung của lớp niêm mạc ở các xoang Thôngthường xoang chứa đầy không khí nhưng khi xoang bị tắt nghẽn và chứa đầy các chấtnhầy, vi khuẩn, virus và nấm có thể phát triển và gây bệnh Nguyên nhân phổ biến dẫnđến viêm xoang bao gồm cảm lạnh, viêm mũi dị ứng, polyp mũi hoặc lệch vách ngăn.Viêm xoang có thể gặp ở trẻ em và người lớn

2.1.2 Phân loại

- Dựa vào thời gian bị bệnh chia thành:

+ Viêm xoang cấp tính: Kéo dài dưới 3 tuần

 Viêm xoang cấp tính là viêm niêm mạc xoang lần đầu mà trước đó niêm mạc xoanghoàn toàn bình thường Viêm xoang thường đi sau nhiễm khuẩn hô hấp cấp và người tathường dùng thuật ngữ viêm xoang khi viêm mũi, chúng ta có thể thấy đôi khi thầythuốc cũng như bệnh nhân bị nhầm lẫn giữa hai bệnh này Ngoài các triệu chứng củaviêm mũi, chẩn đoán viêm xoang yêu cầu các dấu hiệu và triệu chứng cho thấy bệnh lý

ở một hay nhiều xoang như đau và căng nề mặt xoang tổn thương Viêm xoang xảy rakhi không dẫn lưu được mủ ứ đọng trong xoang Cách bệnh làm phù nề niêm mạc nhưviêm mũi do virus, viêm mũi dị ứng là những nguyên nhân thường gặp Phù nề niêmmạc gây tắc nghẽn các lỗ dẫn lưu của xoang, hậu quả là ứ đọng các chất tiết nhầytrong xoang tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn thứ phát Vi khuẩn gây bệnh trong xoanggiống như trong viêm tai giữa, đó là tụ cầu S pneumonia, liên cầu khuẩn H influenza

và ít gặp hơn là tụ cầu vàng (S aureus) và M catarrhlis (Chẩn đoán và điều trị y họchiện đại, 2001)

 Hay gặp hơn là nhóm xoang trước, nhất là xoang hàm vì nó tiếp xúc lần đầu tiên vớicác tác nhân gây bệnh Các xoang sau ít gặp hơn

 Có thể viêm một xoang đơn độc: Viêm xoang hàm cấp do răng Nhưng thường gặp

là viêm nhiều xoang vì các xoang đều thông với nhau qua hốc mũi

+ Viêm xoang mạn tính: Kéo dài trên 3 tuần và thỉnh thoảng có những đợt hồi viêm,những đợt viêm cấp

 Viêm xoang mạn tính là do viêm xoang cấp tính tái diễn nhiều lần, không được điềutrị hoặc điều trị không đúng

Trang 9

 Viêm xoang mạn tính thường gặp ở nhóm xoang sau hơn là xoang trước, ít khi gặpmột xoang đơn thuần mà thường là viêm nhiều xoang một lúc, người ta gọi là viêm đaxoang.

- Dựa vào vị trí chia thành viêm xoang trước, viêm xoang sau và viêm đa xoang

2.1.3 Nguyên nhân gây viêm xoang

Do nhiễm khuẩn hoặc do tắc lỗ thông mũi xoang là thường gặp Lỗ thông của cácxoang cạnh mũi thường rất nhỏ, khi bị viêm sẽ bị hẹp lại, gây ảnh hưởng tới sự lưuthông không khí trong long xoang Niêm mạc liên tục với niêm mạc mũi, khi có nhiễmtrùng ở hốc mũi thì xoang cũng bị lây Các lỗ thông xoang và các thành xoang củaxoang rất gần nhau nên nếu một xoang bị viêm nhiễm thì có thể ảnh hưởng tới cácxoang khác Thông thường, xoang hàm hay bị viêm hơn và có thể lan ra cả xoangsàng, xoang trán, xoang bướm tạo thành viêm đa xoang Các xoang trước thường hay

bị viêm hơn các xoang sau Có nhiều nguyên nhân gây viêm xoang, được chia thànhcác nhóm chính sau đây:

sp gram (-) khác (Đỗ Lê Thùy, 2005)

- Do dị ứng: Có thể là nguyên phát hoặc thứ phát, cơ địa dị ứng mũi xoang dễ đưa tớiviêm xoang mạn tính

- Do mũi họng: Là phổ biến nhất, thường là gián tiếp sau một hoặc nhiều đợt sổ mũikèm theo viêm mũi hoặc tiến triển từng đợt hồi viêm và có các giai đoạn ứ đọng cácchất nhầy, ít có mùi thối Sự viêm nhiễm kéo dài dẫn tới phù nề và bít tắc ít hoặc hoàntoàn các lỗ thông mũi xoang, các khe mũi hay thoái hóa các cuốn xoang Trong trườnghợp này khi chảy mũi thường chảy mũi hai bên và có mùi thối (Đỗ Lê Thùy, 2005)

- Do chấn thương: Các chấn thương cơ học hay tụ máu trong xoang đều có thể gâyviêm xoang Ngoài ra, các chấn thương về áp lực có thể xuất huyết, phù nề niêm mạc,

Trang 10

rồi gây ra viêm xoang Cũng có thể chấn thương làm bít lấp lỗ thông xoang dẫn tớiviêm xoang.

- Các nguyên nhân cơ học: Dị hình ở vách ngăn, khe giữa ở xoang Các khối u trongxoang và hốc mũi hoặc nhét bấc mũi lâu ngày… Tất cả đều làm cản trở sự dẫn lưu vàthông khí của xoang, cuối cùng là gây ra viêm xoang

- Hội chứng trào ngược dạ dày-thực quản (GERD: Gastro Esophageal RefluxDisease): Do dịch vị acid ở dạ dày trào ngược lên thực quản, họng, thanh quản, gây raviêm nhiễm vùng mũi họng trong đó có viêm xoang

- Do cơ địa: Ở những người bị suy nhược toàn thân, rối loạn nội tiết như: Tiểu đường,rối loạn về vận mạch, rối loạn về nước và điện giải thường dễ bị viêm xoang

2.1.4 Triệu chứng và chẩn đoán

- Viêm xoang cấp (Chẩn đoán và điều trị y học hiện đại, 2001)

Vì xoang hàm là xoang lớn nhất và lỗ dẫn lưu của nó vào mũi là chủ yếu do đó

dễ bị tác động nhất, đây là xoang hay bị tổn thương nhất Đau và cảm giác căng vùng

má là triệu chứng thường gặp, đau có thể lan tới răng cửa và răng nanh hàm trên quanhánh của dây tam thoa mà nhánh này đi qua sàng của xoang Không phải là hiếm gặpviêm xoang hàm do răng Do đó nên khám những dấu hiệu của áp xe răng hàm trên.Chảy mũi không màu và đáp ứng kém với thuốc co mạch có thể nghỉ tới viêm xoang.Những nguyên nhân khác có thể gây đau vùng mặt như đau dây thần kinh V, viêm dâythần kinh thị giác cũng nên nghĩ tới

Viêm xoang sàn cấp ở người lớn, thường bị kèm theo viêm xoang hàm, trongnhững trường hợp này triệu chứng của viêm xoang hàm thường lấn át Nhiễm khuẩnxoang sàng biểu hiện bằng đau và căng ở cao vùng thành bên của mũi và có thể lan ra

ổ mắt Viêm tấy quanh ổ mắt có thể gặp

Viêm xoang bướm cấp thường gặp trong viêm đa xoang Bệnh nhân có thể kêuđau đầu ở vùng giữa đầu và thường chỉ vào vùng đỉnh Liệt dây VI có thể xảy ra vì dâynày đi ngay ở thành bên của xoang

Viêm xoang trán cấp thường gây nên đau và cảm giác căng ở vùng trán, nhữngtriệu chứng này dễ gây ra khi sờ vào trần ổ mắt ngay dưới đầu trong của cung lôngmày; sờ nắn ở vùng này chính xác hơn là gõ vào vùng trên ổ mắt hoặc vùng trán.X-quang: mặc dù chẩn đoán viêm xoang có thể chỉ dựa vào lâm sàng, nhưng X-quang cho phép chẩn đoán rõ ràng hơn và đây là một phương tiện để thực hiện nguồngốc của nhiễm khuẩn Soi bóng mờ có thể giúp cho chẩn đoán, nhưng rất thay đổi vì tổ

Trang 11

chức phần mềm dầy và kỹ thuật làm cho sự thể hiện khó khăn Các tác giả không thấyphương tiện này có tác dụng đặc biệt nào trong thực tế.

Tư thế viêm xoang chuẩn và xoang có thể nhìn rõ nhất trong các phim làCaldwell (xoang trán), Waters (xoang hàm), phim nghiên (xoang bướm) và tư thế cằmđỉnh (xoang sàng) Mờ mà không có phá hủy xương là hình ảnh điển hình của viêmxoang, mức nước-hơi nước có thể nhìn thấy khi phim được chụp với bệnh nhân nằmnghiêng rõ hơn là nằm ngửa Xoang trán có thể nhìn thấy bình thường mặc dù trên lâmsàng có biểu hiện rõ của viêm xoang

Chụp CT scan tư thế vòng giới hạn có ở nhiều trung tâm y học đã thay thế phimxoang trong việc đánh giá viêm xoang Chúng đắc hơn nhiều so với phim thôngthường và nhạy cảm hơn nhiều với cả thay đổi của viêm và sự phá hủy xương (điềunày có thể cho phép nghi ngờ có khối u)

Trong viêm xoang tái phát, CT scan có thể cho thấy sự tắc nghẽn về mặt giảiphẩu của phức hợp lổ ngách và vì thế cho thấy vai trò của phẫu thuật nội soi Tuynhiên nếu nghi ngờ ác tính (chẳng hạn có bệnh lý dây thần kinh sọ một bên hoặc khối

u trong mũi) thì nên chụp MRI cùng với gadolinium, MRI sẽ phân biệt khối u vớiviêm và lớp nhầy đặc biệt rõ hơn nhiều so với CT scan

- Viêm xoang mạn: (dieutri.vn)

+ Cơ năng: viêm xoang mạn thường không đau, trừ những đợt hồi viêm Thường chỉ làcảm giác nặng đầu, vị trí tùy theo loại xoang viêm Viêm xoang trước thường nhứtquanh mắt, hố nanh Viêm xoang sau thường nhứt sâu trong mắt hoặc ở vùng đỉnhchẩm Ngạt tắc mũi thường xuyên Chảy mũi kéo dài ra cửa mũi trước, mủ xanh hoặc

mủ vàng, nếu là viêm xoang trước mạn tính Viêm xoang sau: mủ hoặc chất nhầy chảyxuống họng, bệnh nhân phải khịt, khạc, nhổ thường xuyên Hay có biến chứng mắtnhư viêm thần kinh thị giác sau nhãn cầu, viêm mống mắt thể mi…

+ Thực thể:

 Triệu chứng viêm nhóm xoang trước mạn tính Ngách mũi giữa nề và ướt hoặc mủchảy từ ngách mũi giữa xuống cuốn mũi dưới, hoặc có ít mủ đọng khô ở bờ dưới cuốnmũi giữa Cuốn mũi dưới nề to Niêm mạc ngách mũi giữa phù nề, có khi thoái hóathành polyp Xuất hiện gờ Kauffman (do phì đại niêm mạc ở ngách mũi giữa thànhmột đường gờ dài, trong như một cuốn mũi thứ hai nằm ngoài cuốn mũi giữa) Soi mũisau: mủ đọng ở sàn mũi hoặc ở đuôi cuốn mũi dưới

 Triệu chứng viêm nhóm xoang sau mạn tính: soi mũi trước nhiều khi không thấy

gì Soi mũi sau: thấy chất nhầy mủ xuất phát từ ngách trên chảy ra cửa mũi sau, tỏa

Trang 12

xuống vòm họng Khám họng: thành họng sau viêm mạn tính với nhiều tooer chứclympho đỏ và chất nhầy đặc bám.

+ X-quang: Blondeau và Hirtz có giá trị trong chẩn đoán xác định: hình xoang mờ đều,hình dày niêm mạc, hình polyp…

Lưu ý: Cần phân biệt với các triệu chứng của bệnh viêm mũi dị ứng Bệnh viêmmũi dị ứng thường gây ra các triệu chứng: ngứa mũi, hắt hơi liên tục thành tràng dàivào buổi sang hoặc khoảng 10 giờ tối, thường có chảy dịch mũi trong suốt, không màu

và nghẹt mũi

2.1.5 Điều trị (Chẩn đoán và điều trị y học hiện đại, 2001).

Những bệnh nhân viêm xoang không có biến chứng với những triệu chứng thôngthường thì việc điều trị ngoại trú thường có kết quả Uống thuốc chống xung huyết(như Pseudoephedrine 60-120mg uống 3-4 lần/ngày), thuốc co mạch dạng xịt(oxymetazolin 0,05%, 1 hoặc 2 lần xịt mỗi mũi, 6-8 giờ 1 lần trong 3 ngày,Xylometazolin 0,05%-0,1%, 1 hoặc 2 lần xịt mỗi mũi, 6-8 giờ 1 lần trong 3 ngày) vànên uống kháng sinh

Nếu thấy mủ chảy ra ở mũi thì nên nuôi cấy vi khuẩn Chọc xoang hàm và hút

mủ lấy bệnh phẩm để nuôi cấy, nội soi xoang để rửa xoang có thể cho hoàn chỉnh mụcđích Điều này đặc biệt quan trọng khi có lý do nghi ngờ tác nhân gây bệnh không phải

là điển hình như trong viêm xoang ở các khoa điều trị tích cực Mặc dù X-quang làthông dụng nhưng viêm xoang trong khoa điều trị tích cực (ICU) hiếm khi là nguyênnhân duy nhất gây nên sốt Điều thú vị là dòng vi khuẩn gặp trong viêm xoang ở bệnhnhân AIDS cũng như những bệnh nhân hay gặp khác, nhưng khi chọc hút làm tế bàohọc có thể đưa tới chẩn doán là u lympho, việc nhầm lẫn này không phải là hiếm gặp ởnhững viêm xoang trên bệnh AIDS

Amoxicillin (250mg uống 3 lần/ngày) thấm vào xoang tốt hơn so với Ampicillinvốn là thuốc được lựa chọn đầu tiên Phối hợp Trimethoprim và Sulfamethoxazol(4mg/kg TMP và 20mg/kg SMZ 2 lần/ngày, có dạng viên đóng sẵn 80 hoặc 160 TMP

và 160 hoặc 800 SMZ) Cephalexin (250-500mg uống hằng ngày), Cefuroxim (250mgống 2 lần/ngày) và Cefaclor (250mg uống 3 lần/ngày Cefixim (400mg uống hằngngày) đucợ dùng như là thuốc cơ bản mặc dù nó không có tác dụng với vi khuẩn tạonên kháng β-lactamase Kháng sinh điều trị viêm xoang nên dùng liên tục trong 2 tuần,đối khi phải điều trị kéo dài hơn để đề phòng tái phát

Sau khi điều trị đủ đợt kháng sinh bằng đường uống nhưng bị thất bại, nhữngbệnh nhân viêm xoang này cần phải nằm viện, điều trị kháng sinh đường tĩnh mạch, cókhi phải phẫu thuật dẫn lưu Bệnh nhân viêm xoang trán không đáp ứng với điều trị

Trang 13

ngoại trú cần được theo dõi tích cực, vì thành sau xoang trán là màng não và nhữngnhiễm trùng không được điều trị đầy đủ có thể lan vào sọ não Nếu kháng sinh truyềntĩnh mạch không làm giảm triệu chứng, việc chọc xoang trán là cần thiết để dẫn lưu vàrửa.

2.2 Phân nhóm kháng sinh

Trang 14

MacrolidQuinolone

5-nitro-imidazol

SulfamidCephalosporin

CefaclorCefmetazolCefoxitin

CeftriaxoneCefuroximeCefiximeCeftazidimeCefotaximeCefpodoximeCeftizoxim

Cefepime

AzithromycinRoxithromycinErythromycinRovamycinClarythomycin

Lincosamid

Lincomycin

Sulfamethoxazol

Trang 15

2.3 Liều dùng của các nhóm kháng sinh thường dùng trong điều trị bệnh viêm xoang

2.3.1 Nhóm penicilin

Penicillin: Người lớn 3 - 4,5 triệu IU/ngày

Amoxicillin: Người lớn: dùng thuốc trước khi ăn, 1,5g/ngày, chia 3 lần/ngày (Nhà xuất

bản y học, 2013)

Ampicillin: Trung bình, uống 2-4g/ngày, chia 4 lần/ngày Tiêm bắp, cứ 4-6 giờ tiêm

liều 0,5 đến 1g, hoặc tiêm truyền tĩnh mạch, cứ 6 giờ tiêm liều 0,5-1g (Nhà xuất bản yhọc, 2013)

Cloxacilline: Uống, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch cứ 6 giờ dùng liều 250-500mg (Nhàxuất bản y học, 2013)

Sultamicillin: 1-2 viên, uống 2 lần/ngày (Nhà xuất bản y học, 2013).

Piperacilline: Tiêm tĩnh mạch trực tiếp (từ 3-5 phút) hoặc truyền tĩnh mạch (30 phút).

Hòa tan 1g thuốc bột vào 2ml nước cất để tiêm, 200mg/kg/ngày (Nhà xuất bản y học,2013)

Lmipenem:

Tiêm truyền tĩnh mạch

- Nhiễm khuẩn từ nhẹ đến vừa: 250 - 500 mg, cứ 6 - 8 giờ một lần (1 - 4 g mỗi ngày)

- Nhiễm khuẩn nặng với những vi khuẩn chỉ nhạy cảm mức độ vừa: 1 g cứ 6 - 8 giờmột lần Liều tối đa hàng ngày 4 g hoặc 50 mg/kg thể trọng

- Tiêm truyền liều 250 - 500 mg trong 20 - 30 phút; tiêm truyền liều 1 g trong 40 - 60phút

Tiêm bắp

- Chỉ áp dụng với nhiễm khuẩn từ nhẹ đến vừa: 500 - 750 mg, cứ 12 giờ một lần (Ghichú: liều 750 mg được dùng cho những nhiễm khuẩn trong ổ bụng và những nhiễmkhuẩn nặng hơn ở đường hô hấp, da và phụ khoa)

- Không dùng tổng liều tiêm bắp lớn hơn 1.500 mg một ngày; cần tiêm sâu trong khối

cơ lớn

2.3.2 Nhóm cephalosporin

Thế hệ 1

Trang 16

Cefadroxil: Người lớn: 50-1g/lần, 2 lần/ngày (Nhà xuất bản y học, 2013).

Cefalexin: Ngày 1-4g (Nhà xuất bản y học, 2013)

Cefalotin: Tiêm bắp hay tiêm tĩnh mạch 2g/24 giờ, chia 4 lần (Nhà xuất bản y học,

2013)

Cephazolin: Cefazolin được tiêm bắp sâu, tiêm chậm vào tĩnh mạch từ 3-5 phút hoặc

tiêm truyền tĩnh mạch Liều thông thường dùng cho người lớn là 0,5-1 g, 6-12 giờ/lần.Liều tối đa thường dùng là 6 g/ngày, mặc dù vậy trong trường hợp nhiễm khuẩn nặng

đe dọa tính mạng đã được dùng đến 12 g/ngày (Nhà xuất bản y học, 2013)

Ceftriaxone: Liêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp, liều thường dùng mỗi ngày từ 1-2g, tiêm

1 lần (hoặc chia đều làm 2 lần)

Cefuroxime: Uống sau bữa ăn để đạt mức độ hấp thu cao, ngày 2 lần, mỗi lần 250mg

(Nhà xuất bản y học, 2013)

Cefixime: Dạng viên 50mg và 100mg: cho người lớn và trẻ em cân nặng ≥ 30kg, liều

thường dùng hằng ngày được khuyến cáo là uống 50-100mg, 2 lần/ngày Dạng thuốcbột (hạt mịn): Liều dùng thông thường hằng ngày ở trẻ là 1,5-3mg/kg, uống 2lần/ngày

Ceftazidime: Người lớn 0,5-2g/lần, ngày 2-3 lần tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp Người

già không vượt quá 3g

Cefotaxime: Tiêm bắp hoặc tĩnh mạch 3g, chia 1-2 lần Bệnh nặng dùng tới 6-12g/24

Trang 17

Đường tĩnh mạch: Cefepime có thể được pha trong nước cất pha tiêm hay trongcác dung môi pha tiêm tương hợp khác Thể tích cần phải pha trước khi sử dụng: lọ 1g

IM, thể tích dung môi cần thêm vào: 3ml; Thể tích xấp xỉ sau khi pha: 4,4ml; Nồng độxấp xỉ: 240mg/ml Lọ 1g IV, thể tích dung môi cần thêm vào: 10ml; thể tích xấp xỉ saukhi pha: 11,4ml; Nồng độ xấp xỉ: 90mg/ml Lọ 1g IV, thể tích dung môi cần thêm vào:50-100ml; Thể tích xấp xỉ sau khi pha: 50-100ml; Nồng độ xấp xỉ: 20-10mg/ml Cácdung dịch sau khi pha mục đích để tiêm tĩnh mạch có thể được dùng trực tiếp bằngcách tiêm tĩnh mạch chậm (3-5 phút) hoặc tiêm vào bộ ống của dịch truyền hoặc tiêmtrực tiếp vào dịch truyền

Đường tiêm bắp: Pha Cefepime 1g trong nước cất pha tiêm hoặc trong dung dịchlidocain hydrochloride 0,5% hoặc 1% Tương hợp: Cefepime có thể pha với các dungmôi và dung dịch sau: Natri chloride 0,9% (có hoặc không có phối hợp với glucose5%), sodium lactate M/6 Cefepime có thể được sử dụng đồng thời với các kháng sinhkhác với điều kiện là không pha chung trong cùng ống tiêm, trong cùng một dịchtruyền hay tiêm cùng mộ vị trí

2.3.3 Nhóm tetracyclin

Tetracycline: Liều uống thường dùng của người lớn là 250 mg hoặc 500 mg cứ 6 giờ

một lần, nên uống 1 giờ trước hoặc 2 giờ sau khi ăn

Doxycycline:

- Uống: Liều uống thích hợp thay đổi tùy theo tính chất và mức độ nặng của nhiễmkhuẩn Liều doxycyclin cho người lớn là 100 mg, cứ 12 giờ một lần, trong 24 giờ đầu;tiếp theo là 100 mg, ngày một lần hoặc ngày 2 lần khi nhiễm khuẩn nặng

- Liều thường dùng tiêm truyền tĩnh mạch doxycyclin là 200 mg, truyền làm một lầnhoặc chia làm 2 lần trong ngày thứ nhất, và 100 đến 200 mg trong những ngày sau

Minocyclin: Nên được uống ít nhất một giờ trước bữa ăn hoặc 2 giờ sau bữa ăn 100mg

mỗi 12 giờ, hoặc 50mg mỗi lần, 4 lần/ngày

2.3.4 Nhóm aminosid

Amikacin: Tiêm bắp người lớn và trẻ em trên 30 tháng, 15mg/kg/ngày, chia 2-3

lần/ngày (Nhà xuất bản y học, 2013)

Tobramycin: Liều dùng trung bình là 3mg/kg/24 giờ chia làm 3 lần Tiêm bắp (không

gây đau) hoặc tiêm truyền tĩnh mạch chậm từ 1-2 giờ, pha vào 100 hay 250ml dungdịch glucose hoăc NaCl đẳng trương (Nhà xuất bản y học, 2013)

Gentamycin: Tiêm IM hoặc IV: 2 -5 mg/kg/ngày, chia 2 lần.

Trang 18

Kanamycin: Uống 1-3g/24 giờ, chia 3 lần, đợt dùng 7-10 ngày Tiêm bắp 1-2 lần,

0,5-1g/24 giờ, đợt dùng 5-7 ngày (Nhà xuất bản y học, 2013)

2.3.5 Nhóm macrolid

Azithromycin: Uống 1 lần/ngày, uống 1 giờ trước bữa ăn hoặc 2 giờ sau bữa ăn Người

lớn: ngày đầu tiên uống 1 liều 500mg, 4 ngày tiếp theo dùng liều đơn 250mg/ngày

Roxithromycin: Liều dùng hàng ngày: 150 mg, uống 2 lần/ngày trước bữa ăn Không

nên dùng kéo dài quá 10 ngày

Erythromycin: Từ 1-2 g, chia làm 4 lần/ ngày, đợt dùng 5-10 Tiêm tĩnh mạch chậm cứ

6-8 giờ 300-900mg (pha vào dung dịch glucose hoặc NaCl đẳng trương) (Nhà xuất bản

Lincomycin: Uống, để đạt mức hấp thụ tối đa, trong vòng 1-2 giờ trước và sau khi

uống, không nên ăn gì, 1,5-2g/24 giờ, chia vài lần Tiêm bắp, 600-1500mg/24 giờ.Tiêm truyền tĩnh mạch (không tiêm tĩnh mạch trực tiếp), 600mg, 2-3 lần/24 giờ phavào dung dịch glucose hoặc dung dịch NaCl đẳng trương (Nhà xuất bản y học, 2013)

2.3.7 Nhóm quinolone

Ciprofloxacin: Tùy theo bệnh nặng, nhẹ người lớn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 750mg Đợt dùng 5-7 ngày (dùng thêm 3 ngày, khi triệu chứng bệnh đã hết) Hoặctiêm truyền tĩnh mạch, trong vài ngày đầu 200-400mg/24 giờ, chia 2 lần, rồi chuyểnsang thuốc viên (Nhà xuất bản y học, 2013)

250-Levofloxacin: Viêm xoang hàm trên cấp tính: 500mg, 1 lần/ngày trong 10 – 14 ngày

(Nhà xuất bản y học, 2013)

Gatifloxacin: 400mg đường uống hoặc tiêm 1 lần/ngày trong 5-14 ngày (Nhà xuất bản

y học, 2013)

Pefloxacin: Uống, chia 2 lần/ngày, vào bữa ăn để tránh rối loạn tiêu hóa Tiêm truyền

tĩnh mạch chậm (1 giờ), sau khi pha loãng 1 ống vào 250ml dung dịch glucose 5%,chia 2 lần/ngày (tránh dùng các dung dịch khác có chlor dễ gây kết tủa) Liều tiêm,8mh/kg (trong 1 giờ) ngày 2 lần nếu không có suy gan -1 lần/ngày (Nhà xuất bản yhọc, 2013)

Trang 19

Moxifloxacin: 1 chai/túi (400mg/250ml) dịch truyền hoặc 1 viên (400mg) trong 1

ngày, sử dụng trong 7 ngày

2.3.8 Nhóm 5-nitro-imidazol

Metronidazole: Có thể uống dưới dạng viên nén (cùng hoặc sau lúc ăn) hoặc dạng dịch

treo metronidazole benzoate (ít nhất uống 1 giờ trước khi ăn) Thuốc có thể đặt vàohậu môn, âm đạo hoặc tiêm truyền (dung dịch 5mg/ml), tốc độ truyền 5ml/phút

Tinidazole: Thường dùng 1 liều duy nhất trong hoặc sau khi ăn: 500mg/ lần.

2.3.9 Nhóm sulfamid

Sulfamethoxazol: 2 viên, 2 lần/ngày (Nhà xuất bản y học, 2013).

2.3.10 Nhóm ức chế β-lactam

Acid clavulanic: Uống 1 viên 125mg cách 8 giờ/lần Tiêm tĩnh mạch trực tiếp rất chậm

hoặc tiêm truyền nhanh 1g/lần, cứ 8 giờ tiêm 1 lần Trường hợp nhiễm khuẩn nặng hơn, có thể hoặc tăng liều tiêm (cứ 6 giờ tiêm 1 lần) hoặc tăng liều lên tới 6g/ngày Không bao giờ vượt quá 200mg Acid clavulanic cho mỗi lần tiêm

2.4 Phác đồ điều trị viêm xoang

Trang 20

Nghẹt mũi

Chảy mũi

Đau, nặng mặt

Giảm hoặc mất mùi

Chảy dịch từ khe mũiPhù nề, bích tắc lỗ thông xoang

Thoái hóa niêm mạc mũi

Rữa mũi bằng NaCl 0,9%

Khí sung mũi họngChọc rửa xoang hàm

Dùng thuốc 2 thángKháng sinh

Kháng dị ứngGiảm đau, hạ sốtThuốc tan nhầyThuốc co mạch

Không khỏi

Niêm mạc xoang thoái hóa nhưng còn khả năng hồi phục

Phẫu thuật nội soi chức năng xoang

Không khỏi

Niêm mạc xoang thoái hóa nặng nề không còn khả năng hồi phục

Phẩu thuật xoang kinh điển

Hình 2.4 Phác đồ điều trị bệnh viêm xoang

Ngày đăng: 16/06/2019, 15:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Hamilos, DL. "Chronic rhinosinusitis: epidemiology and medical management". The Journal of Allergy and Clinical Immunology.2011. 128 (4): 693-707; quiz 708-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chronic rhinosinusitis: epidemiology and medical management
1. BS. Lý Xuân Quang Bộ Môn TMH-ĐH Y Dược. Viêm xoang cấp & mạn Khác
2. BS Trần Thị Bích Liên bộ môn tai mũi họng. Viêm mũi xoang cấp (acute rhino- sinusitis) Khác
3. Bệnh viện Chợ Rẫy. Viêm xoang. Phác đồ điều trị. NXB Y học. 2013 Khác
5. DSCK II. Tào Duy Cần, DS. Hoàng Trọng Quang (2013), Thuốc và cách sử dụng, Nhà xuất bản y học, Hà Nội Khác
6. Lương Sỹ Cần (1991), viêm xoang cấp, bách khoa thư bệnh học, trung tâm quốc gia biên soạn tự điển bách khoa, tập 1, tr 370-372 Khác
8. Đỗ Lê Thùy (2005), khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị bệnh viêm xoang tại Khoa Tai-Mũi-Họng bệnh viện Việt Nam-Cuba Khác
9. Trịnh Thị Hồng Loan (2003), viêm mũi xoang mạn tính và hiện tượng kháng kháng sinh hiện nay, luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Đa khoa, trường Đại học Y Hà Nội Khác
10. Võ Văn Khoa (2000), nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học trong viêm xoang mạn tính, luận án tiến sỹ y học, Đại học Y Hà Nội Khác
11. Bộ Y Tế (2015). Hướng dẫn sử dụng kháng sinh (Ban hành kèm theo quyết định số 708//QĐ – BYT ngày 02/03/2015) Khác
12. Bộ Y tế-Ban tư vấn sử dụng kháng sinh (2001), Hướng dẫn điều trị bằng kháng sinh một số bệnh nhiễm khuẩn thường gặp, NXB Y học, tr 218-221 .Website Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w