1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát những thành phẩm trên thị trường có dược liệu chứa saponin

89 420 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 6,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số 12.000loài thực vật Việt Nam thì có hơn 4.000 loài có công dụng làm thuốc, phân bố rộngkhắp cả nước, có nhiều loài dược liệu được xếp vào loài quý hiếm trên thế giới như: Sâm ng

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC HÌNH vi

DANH MỤC BẢNG vi

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

1 TỔNG QUAN SAPONIN 2

1.1 Định nghĩa 2

1.2 Cấu trúc hóa học và phân loại 2

1.3 Tính chất lý hóa của saponin 13

1.4 Các phản ứng định tính saponin 14

1.5 Ðịnh lượng 17

1.6 Chiết xuất 17

1.7 Tác dụng và công dụng của saponin 18

1.8 Sự phân bố trong thực vật 19

2 TỔNG QUAN VỀ DƯỢC LIỆU CHỨA SAPONIN 20

2.1 Cam thảo 20

2.2 Cát cánh 23

2.3 Ngưu tất 25

2.4 Rau má 27

2.5 Táo nhân 29

2.6 Mạch môn 31

2.7 Thiên môn 33

2.8 Nhân sâm 35

2.9 Tam thất 38

2.10 Đinh lăng 40

CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 42

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

Trang 2

1.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

1.1 Một số thành phẩm trên thị trường có dược liệu chứa Saponin 43

1.2 Bảng khảo sát một số Nhà thuốc thuộc địa bàn thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp 69

2 BÀN LUẬN 76

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 3

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình2.1a.Cam thảo (Glycyrrhiza uralensis Fisher) 20

Hình 2.1b.Rễ Cam thảo (Radix Glycyrrhizae) 21

Hình 2.2 Cát cánh (Platycodon grandiflorum (Jacq) A DC) 23

Hình 2.3 Ngưu tất (Achyranthes hidentata Blume) 25

Hình 2.4 Rau má ( Ziziphus mauritiana Lamk) 27

Hình 2.5 Táo ta (Ziziphus mauritiana Lamk) 29

Hình 2.6 Mạch môn (Ophiopogon japonicus(Thumb) Ker Gawl) 31

Hình 2.7 Thiên môn (Asparagus cochinchinensis (lour.) Merr 33

Hình 2.8a.Nhân sâm (Panax ginseng C.A Mey) 35

Hình 2.8b Rễ Nhân sâm (Radix Panasis ginseng) 36

Hình 2.9 Tam thất (Panax notoginseng (Burk F.H Chen)) 38

Hình 2.10a Đinh lăng(Polyscias fruticosa (L.) Harms Vig) 40

Hình 2.10b Rễ Đinh lăng (Radix Polyciatis) 40

Hình Ảnh một số Nhà thuốc thuộc địa bàn TP.Cao Lãnh, Đồng Tháp 71

DANH MỤC BẢNG

Trang 4

TrangBảng 4.1.Kết quả khảo sát một số nhà thuốc thuộc thành phố Cao lãnh, tỉnh ĐồngTháp………69

Trang 5

CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nên được thừa hưởng nguồn tàinguyên thiên nhiên vô cùng phong phú và đa dạng sinh học, một tiềm năng lớn về tàinguyên cây dược liệu nói riêng và tài nguyên dược liệu nói chung Trong số 12.000loài thực vật Việt Nam thì có hơn 4.000 loài có công dụng làm thuốc, phân bố rộngkhắp cả nước, có nhiều loài dược liệu được xếp vào loài quý hiếm trên thế giới như:

Sâm ngọc linh, Sâm vũ điệp, Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ,.…(ihph.org.vn).

Từ thời xa xưa, ông cha ta đã biết sử dụng nguồn dược liệu tự nhiên này để chế biến vàtạo ra nhiều loại thuốc chữa bệnh Đại y tôn Thiền sư Tuệ Tĩnh đã dùng “Nam dược trịNam nhân” rất công hiệu Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về công tácphòng và chữa bệnh càng cao, đặc biệt những chế phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiênrất được quan tâm và ưa chuộng vì chúng ít tác dụng phụ hơn tân dược, trong đó đángchú ý nhất là nhóm dược liệu chứa hoạt chất saponin

Saponin là một trong những nhóm hợp chất đa dạng và phong phú trong thiênnhiên, có từ thực vật bậc thấp đến thực vật bậc cao như Rau má, Cam thảo, Thiên môn,Mạch môn, Đại táo,Bồ kết; các saponin cũng có trong một số động vật như Hải sâm,Sao biển,… Phần lớn các chế phẩm thực phẩm chức năng dùngđể phòng và hỗ trợđiều trị bệnhcó nguồn gốc thực vật đều có cấu trúc saponin Cho đến nay, khoa học đãtìm ra được 29 bộ, trên 100 họ thực vật có chứa hoạt chất saponin Có 1.050 saponinđược biết đến trong thực vật Trong đó, 3/4 là saponin triterpenoid, chủ yếu thuộc

nhóm Oleanan (Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011) Saponin không chỉ có giá trị về

dinh dưỡng, phòng và hỗ trợ điều trị bệnh mà còn dùng trong lĩnh vực chăm sóc sắcđẹp như saponin có trong Bồ kết, saponin có trong Rau má

Saponin có ứng dụng trong y học để diều trị một số bệnh như: chữa ho, long đàm(Thiên môn, Mạch môn), thông tiểu (Rau má, Tỳ giải), kháng viêm (Cam thảo), bồi bổ,tăng lực (Nhân sâm, Tam thất) Asiaticosid có trong Rau má có tác dụng chóng lên sẹosau mổ, làm lành các vết thương, chữa loét Acid oleanolic và acid ursolic có tác dụng

hạ đường huyết Ngoài ra, các saponin steroid còn dùng làm nguyên liệu để bán tổnghợp các thuốc steroid, chủ yếu là các hormon steroid

Để có tài liệu hệ thống về những thành phẩm chứa Saponin và cách sử dụng,

nghiên cứu được tiến hành với đề tài: “Khảo sát những thành phẩm trên thị trường

có dược liệu chứa Saponin” Đề tài này phần nào cung cấp thêm một sốkiến thức

vềcông thức bào chế, công dụng và cách dùng những thành phẩm có chứa saponinđang lưu hành trên thị trường

Trang 6

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 TỔNG QUAN SAPONIN

1.1 Định nghĩa

Saponin hay saponosid (có gốc từ chữ Latin sapo = xà phòng), là một nhóm cácglycosid lớn, gặp rộng rãi trong thực vật Saponin cũng có trong một số động thânmềm ở biển như Hải sâm, Sao biển

Theo truyền thống, saponin thường được định nghĩa dựa trên một số tính chất đặctrưng của nhóm hợp chất này là:

- Làm giảm sức căng bề mặt,tạo bọt nhiều khi lắc với nước, có tác dụng nhũ hóa

và tẩy sạch

- Làm vỡ hồng cầu ngay ở những nồng độ rất loãng

- Độc với cá, diệt các loài thân mềm như giun, sán, ốc sên,

- Kích ứng niêm mạc, gây hắc hơi, đỏ mắt, có tác dụng long đờm, lợi tiểu

- Có thể tạo phức với cholesterol hoặc với các chất 3β-hydroxysteroid khác.

- Đa số saponin có vị nhẫn đắng, trừ một số saponin có vị ngọt như glycyrrhizin

có trong Cam thảo bắc, abrusosid A trong Cam thảo dây, oslandintrong Polypodium vulgare L.

- Saponin tan trong nước, alcol, rất ít tan trong aceton, ether, hexan do đó người

ta dùng 3 dung môi này để tủa saponin Saponin có thể bị tủa bởi chì acetate, barihydroxyd, amoni sulfat Tính tan của sapogenin thì ngược lại

Tuy nhiên, không phải tất cả cá saponin đều thể hiện đầy đủ các tính chất trên.Ngày nay, saponin được định nghĩa trên cơ sở cấu trúc hóa học, đó là các triterpenglycosid hay 27-C steroid glycosid

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011)

1.2 Cấu trúc hóa học và phân loại

Cũng như các glycosid khác, saponin cũng gồm có 2 phần là phần đường và phầnaglycon (hay genin) Phần aglycon thường được gọi là sapogenin Sapogenin có cấutrúc triterpen với khung cơ bản 30 carbon hoặc steroid với 27 carbon dẫn xuất từkhung cholestan

Đa số các sapogenin có từ 1-2 mạch đường (được gọi là monodesmosid haybidesmosid-desmo =mạch đường) Ở các monodesmosid, phần đường gắn vàosapogenin hầu hết là vị trí C-3 bằng dây nối glycosid Saponin có thể có thêm mạch

Trang 7

đường thứ hai Những saponin có 2 mạch đường (bidesmosid) như sarsaparillosid vàavenacosid A.

Đường trong các saponin là các đường thông thường như glucose, xylcose, α-L-rhamnose, α-L-arabinose, …Đôi khi cũng gặp các acid ursonic, chủ yếu

β-D-là acid glucoronic như trường hợp của glycyrrhizin trong Cam thảo

Dựa trên cấu trúc hóa học của phần genin, người ta chia saponin ra thành 2 nhómlớn là saponin triterpenoid và saponin steroid

1.2.1 Nhóm Saponin triterpenoid

Cấu trúc phần genin của loại này có 30 carbon, cấu tạo bởi 6 đơn vị hemiterpen

và được chia ra làm 2 loại: Saponin triterpenoid pentacyclic (5 vòng) và saponintriterpenoid tetracyclic (4 vòng)

1.2.1.1 Saponin triterpenoidpentacyclic (5 vòng)

Saponin triterpenoid pentacyclic (5 vòng) được chia thành 5 phân nhóm: oleanan,ursan, taraxasteran, lupan và hopan

+ Nhóm oleanan

Nhóm này có khung cơ bản là oleanan Phần lớn saponin triterpenoid trong tự

nhiên đều thuộc nhóm này Phần aglycon có 5 vòng và thường gặp nhất là dẫn chất 3β hydroxy-olean-12-en hay β-amyrin C-28 thường là nhóm carboxyl Các nhóm methyl

khác có thể bị oxy hóa là C-23 và C-30

Một vài aglycon làm ví dụ (công thức A):

- Acid oleanolic: R1 = R2 = R4 = R5 = -CH3, R3 = -COOH

- Hederagenin: R2 = R4 = R5 = -CH3 , R1 = -CH2OH , R3 = -COOH

- Gypsogenin: R2 = R4 = R5 = -CH3 , R1 = -CHO , R3 = -COOH

Trong các sapogenin có cấu trúc β-amyrinthì acid oleanolic là genin phổ biến nhất Khitạo glycosid, mạch đường có thể nối vào C-3 theo dây nối acetal, có khi mạch đường nối vàoC-28 theo dây nối ester Gần đây người ta phân lập được các saponin có đến 11 đơn vị đườngnếu kể cả 2 mạch, riêng một mạch có thể đến 8 đơn vị đường

Oleananlan

β-amyrin

Trang 8

+ Nhóm ursan

Cấu trúc tương tự như nhóm oleanan, chỉ khác nhóm methyl C-30 không đínhvào vị trí C-20 của khung, mà đính vào vị trí C-19 Các sapogenin nhóm ursan thường

là những dẫn chất của 3βhydroxy-ursan-12-en hay α-amyrin Những saponin nhóm

ursan ít gặp hơn so với nhón oleanan Cinchona glycosid A, Cinchona glycosid B cótrong cây Canh-ki-na; asiaticosid, madecassosid có trong Rau má là những saponinthuộc nhóm này

+ Nhóm Taraxasteran

Các saponin eclabasaponin VII, VIII, IX và X có trong Cỏ mực (Eclipta alba L.)

thuộc nhóm này

Trang 9

+ Nhóm Lupan

Nhóm lupan có vòng A, B, C, D giống 3 nhóm trên, chỉ khác ở vòng E là vòng 5

cạnh, với C-20 ở ngoài vòng và hướng α Các saponin nhóm này thường có nối đôi ở C-20(29) Một số saponin có trong rễ cây Ô rô (Acanthus iliciformis L.)[αα-L- arabinofurano-(1-4)-β-D-glucorano-pyranosid-(1-3)]-3-β-hydroxy-lup-20(29)-en(IIIa), hay saponin có trong lá cây Ngũ gia bì chân chim (Scheflera heptaphylla L.) cũng

thuộc nhóm này

+ Nhóm Hopan

Cấu trúc nhóm hopan có các vòng A, B, C, D tương tự nhóm lupan, chỉ khác

vòng E 5 cạnh, C-22 ở ngoài vòng hướngα, nhóm methyl góc đính ở C-18 hướngα, thay vì đính C-17 hướng β Saponin đầu tiên được biết là chất mullogocin A có trong

Cỏ thảm (Mullogo hirta L.)

Taraxasteran

Lupan

Trang 10

+ Các nhóm khác

Ngoài các nhóm kể trên, saponin triterpenoid năm vòng có các nhóm nhỏ khác ítgặp hơn như taraxeran, glutinan,… mà sự khác biệt chủ yếu là ở cấu hình của khung và

sự di chuyển của các nhóm methyl

1.2.1.2 Nhóm saponin triterpenoid tetracyclic (4 vòng)

Saponin triterpenoid tetracyclic (4 vòng)được chia thành 4 phân nhóm:dammaran, lanostan, tirucallan, curcubitan

+ Nhóm dammaran

Đại diện cho nhóm này là saponin của Nhâm sâm Phần aglycon gồm 4 vòng A,

B, C (6 cạnh), D (5 cạnh) và một mạch nhánh 8 carbon Do có nhóm -OH đính vào

C-20 nên khi tác dụng bởi acid, mạch nhánh dễ bị đóng vòng tạo thành vòngtetrahydropyran Hai genin chính của nhân sâm là protopanaxadiol và protopanaxatriol.Saponin triterpenoid 4 vòng nhóm damaran còn gặp ở một số dược liệu khác như hạtTáo, Rau đắng biển hay Cổ yếm

Hopan

Trang 11

+ Nhóm lanostan

Cấu trúc nhóm lanostan gần giống dammaran, chỉ khác ở nhóm methyl góc đínhvào vị trí C-13 thay vì C-8 Nhóm được chia thành 2 nhóm phụ:

- Nhóm phụ holostan: do có sự đóng vòng lacton giữa 18 và -OH ở

C-20.Holothurin A có trong các loài Hải sâm (Holothuria spp.) là một ví dụ của nhóm

này

- Nhóm phụ cycloartan: có cấu trúc 9,19-cyclo-(9β)-lanostan Các saponin abrusosid A, B, C, D có trong Cam thảo dây (Abrus precatorius L.) hay saponin trong Astragalus sieberi DC là những ví dụ.

Trang 12

+ Nhóm cucurbitan

Phần lớn nhóm cucurbitan gặp trong họ Bầu bí- Cucurbitaceae Ở cucurbitan có

nhóm methyl góc thay vì đính ở C-10 lại ở C-9 hướng β, còn H ở C-10 lại hướng α.

Hiện nay có trên 70 chất đã được biết cấu trúc

Cucurbitan cũng có thể gặp ở những họ thực vật khác, như bacobitacin A-D trong

Rau đắng biển (Bacopa monieri L).

1.2.2 Nhóm saponin steroid

Nhóm này có cấu trúc cơ bản là khung cholestan với 27 carbon, trong đó mạchnhánh của khung steroid đóng vòng với dị tố oxy hay nitơ tạo thành một hay hai dịvòng là E (5 cạnh) và F (6 cạnh)

1.2.2.1 Nhóm spirostan

Mạch nhánh từ C-20 đến C-27 tạo thành 2 vòng oxy, một vòng hydrofuran (E),một vòng hydropyran (F) Hai vòng này nối với nhau bởi carbon chung ở C-22 kiểuspiran Thêm vào đó, hai cầu epoxy ở 16,22 và 22,26 là kiểu acetal do đó mạch nhánh

Tirucallanllan

Cucurbitan

Trang 13

này được gọi là mạch nhánh spiroacetal Đại diện cho nhóm này là 3 chấtsarsasapogenin, smilagenin, tigogenin.

Nhóm spirostan hiện nay được chú y nhiều nhất vì là nguồn nguyên liệu quantrọng để bán tổng hợp các steroid Hai sapogenin quan trọng nhất là diosgenin (có chủyếu trong các loài Dioscorea) và hecogenin (có chủ yếu trong các loài Agave)

1.2.2.2 Nhóm furostan

Trang 14

Nhóm này có cấu trúc tương tự như nhóm spirostan chỉ khác là vòng F bị biếnđổi

- Trường hợp thứ nhất: Vòng F mở và nhóm alcol bậc một ở C-26 được nối vớiđường glucose Nếu glucose ở C-26 bị cắt bởi enzym hoặc bởi acid thì xảy ra sự đóngvòng F thành vòng hydropyran và chuyển thành dẫn chất nhóm spirostan Ví dụsarsaparillosid dưới tác dụng của enzym thủy phân cắt mạch glucose ở C-26 sẽ chuyểnthành parillin

- Trường hợp thứ hai: Vòng F là vòng 5 cạnh do sự đóng vòng 22-25 epoxy Ví

dụ avenacosid A,B có trong Yến mạch (Avena spp Poaceae) Avenacosid A cũng có

2 mạch đường Khi thủy phân cắt đường glucose ở C-26 thì cũng chuyển thành dẫnchất nhóm spirostan

Sarsaparillosid và avenacosid A đều có 2 mạch đường Người ta gọi đây là cácbidesmosid

Trang 15

1.2.3 Nhóm saponin steroid alkaloid

Saponin trong nhóm này có chứa N trong phân tử nên có tính kiềm giống nhưalkaloid Tuy nhiên, N trong phân tử không phải từ acid amin nên chúng được xem làcác pseudo-alkaloid (còn gọi là glycoalkaloid)

1.2.3.1 Nhóm aminofurostan

Nhóm aminofurostan vòng F mở như trường hợp sarsaparillosid, nhưng ở vị tríC-3 đính nhóm NH2 Ví dụ jurubin, là saponin có trong Solanum paniculatum

1.2.3.2 Nhóm spirosolan

Nhóm này chỉ khác nhóm spirostan ở nguyên tử oxy của vòng F được thay bằng

NH Một điểm cần chú ý là ở đây có isomer ở C-22 có thể hướng αhoặc β(khác với nhóm spirostan luôn luôn hướng α) Ví dụ solasonin có trong cây cà Úc (Solanum laciniatum) có cấu trúc (25R) 22α, còn tomatin là các saponin có trong cây Cà chua thì

có cấu trúc (25S) 22β.

1.2.3.3 Nhóm solanidan

Trang 16

Solanin có trong mầm khoai tây thuộc nhóm này Ở đây 2 vòng E và F cùngchung 1C và 1N.

Trang 17

1.3 Tính chất lý hóa của saponin

- Saponin thường là những chất vô định hình, không màu tới màu trắng ngà Một

số saponin có mạch đường ngắn có thể kết tinh Sapogenin thường là những chất kếttinh không màu

- Đa số saponin có vị nhẫn đắng, trừ một số saponin có vị ngọt như glycyrrhizin

có trong Cam thảo bắc, abrusosid A trong Cam thảo dây, oslandintrong Polypodium vulgare L.

- Saponin là những chất phân cực nên có thể tan trong các dung môi phân cựcnhư các alcol, hỗn hợp cồn-nước, nước và các dung môi phân cực khác như dimethylsulfoxid, dioxan, acid acetic, pyridin Các saponin có mạch đường ngắn và trung bình

dễ tan trong butanol Các saponin có mạch đường dài tan tốt trong nước Saponin rất íttan trong aceton, ether, hexan do đó người ta dùng 3 dung môi này để tủa saponin.Saponin có thể bị tủa bởi chì acetate, bari hydroxyd, amoni sulfat

- Tính tan của sapogenin thì ngược lại Chúng tan tốt trong các dung môi kémphân cực như benzen, chloroform, tan một phần trong methanol và ethanol Sapogenin

và dẫn chất acetyl sapogenin dễ kết tính hơn saponin

- Saponin có tính chất hoạt động bề mặt, làm giảm sức căng bề mặt của nước do

đó sẽ tạo bọt nhiều khi lắc với nước, có tác dụng nhũ hóa và tẩy sạch.Tuy nhiên, khôngphải tất cả các saponin đều tạo bọt khi lắc với nước

- Saponin làm vỡ hồng cầu ngay ở những nồng độ rất loãng

- Saponin độc với cá, diệt các loài thân mềm như giun, sán, ốc sên,

- Saponin kích ứng niêm mạc, gây hắc hơi, đỏ mắt, có tác dụng long đờm, lợitiểu

- Saponin có thể tạo phức với cholesterol hoặc với các chất 3β-hydroxysteroid

Trang 18

- Thử nghiệm tạo bọt:Ðây là tính chất đặc trưng nhất của saponin Do phân tử

saponin lớn và có cùng một lúc một đầu ưa nước và một đầu kỵ nước nên saponin cóđặc tính làm giảm sức căng bề mặt của nước và tạo bọt

Cách tiến hành: Dược liệu được chiết bằng cồn 70%, dịch chiết được bốc hơidung môi và hòa tan lại trong một ít nước Lấy dung dịch này cho vào ống nghiệm1,6cm x 16cm Thêm nước cất, dùng ngón tay cái bịt miệng ống nghiệm và lắc mạnhtheo chiều dọc ống nghiệm trong 1 phút Nếu ống nghiệm còn bọt trên bề mặt dungdịch chứng tỏ có saponin

- Xác định chỉ số bọt:Dựa vào chỉ số tạo bọt để đánh giá một nguyên liệu có chứa

saponin Chỉ số bọt là sốml nước để hoà tan saponin trong 1 g nguyên liệu cho một cột

bọt cao 1cm sau khi lắc và đọc,được tiến hành trong điều kiện qui định

1.4.2 Dựa trên tính chất phá huyết

Ðây cũng là tính chất đặc trưng của saponin Ðể đánh giá một nguyên liệu chứasaponin, người ta dựa trên chỉ số phá huyết

Chỉ số phá huyết là số ml dung dịch đệm cần thiết để hoà tan saponin có trong 1g

nguyên liệu gây ra sự phá huyết đầu tiên và hoàn toàn đối với một thứ máu đã chọn,được tiến hành trong điều kiện qui định

1.4.3 Dựa trên độ độc đối với cá

Cá là động vật rất nhạy cảm với saponin nên người ta dùng các cây có saponin

để thuốc cá Ðể đánh giá nguyên liệu chứa saponin, người ta có thể dựa vào chỉ số cá

Chỉ số cá là độ pha loãng của nguyên liệu làm cho đa số cá trong một lô thử mất

thăng bằng Chỉ số cá cũng phải tiến hành trong những điều kiện quy định như môitrường, loại cá,

1.4.4 Khả năng tạo phức với cholesterol

Saponin triterpenoid tạo phức kém hơn loại steroid Trong loại steroid thìdigitonin kết hợp với cholesterol gần như hoàn toàn, do đó digitonin được dùng làmthuốc thử để định lượng cholesterol trong hoá sinh

1.4.5 Các phản ứng màu

- Phản ứng Salkowski:Acid sulfuric đậm đặc hòa tan các saponin và cho màu thay

đổi từ vàng, đỏ, lơ-xanh lá hay lơ-tím

- Phản ứng Rosenthaler:Saponin triterpenoid cho tác dụng với vanillin 1% trong

HCl và hơ nóng sẽ có màu hoa cà

- Saponin tác dụng với antimoin trichlorid trong dung dịch chloroform rồi soidưới đèn phân tích tử ngoại UV 365nm thì saponin triterpenoid có huỳnh quang xanh,còn saponin steroid thì vàng

Trang 19

- Phản ứng Liebermann-Burchardt cũng hay dùng để phân biệt 2 loại sapogenin:

Lấy vài miligram sapogenin hoà nóng vào 1ml anhydrid acetic, cho thêm 1 giọtH2SO4 đậm đặc, nếu là dẫn chất steroid thì có màu lơ-xanh lá, còn dẫn chất triterpenoidthì có màu hồng đến tía

1.4.6 Sắc ký lớp mỏng

Chiết xuất và tinh chế sơ bộ saponin:

+ Đối với saponin trung tính và acid có thể tiến hành như sau: Bột dược liệu đượcchiết với ether dầu hỏa để loại chất béo rồi chiết saponin bằng methanol-nước (4:1).Loại methanol dưới áp suất giảm Hoà cắn trong nước để có dung dịch 10% rồi lắc vớin-butanol Tách lớp n-butanol, bốc hơi butanol dưới áp suất giảm rồi hoà cắn vớimethanol để có dung dịch chấm sắc ký

+ Saponin kiềm thuộc nhóm spirosolan và solanidan có thể chiết như sau: Bộtdược liệu thêm methanol đun nóng đến sôi trên nồi cách thủy Dịch lọc đem bốc hơiđến khô trên nồi cách thủy Cắn được hoà tan trong acid acetic 5%, đun nóng đến 80oCrồi kiềm hoá bằng ammoniac Tủa được ly tâm rồi hoà tan vào ethanol 96% để chấmsắc ký

Sau đây là một vài hệ dung môi dùng để khai triển trên các bản mỏng silicagel-G

Trang 20

Thuốc thử phát hiện cho các loại saponin và sapogenin: Thuốc thử Carr-Price,thuốc thử Liebermann-Burchardt, dung dịch vanillin-sulfuric, Các vết saponin sẽ chomàu khác nhau, tùy loại saponin và loại thuốc thử.

+ Các saponin nhóm spirosolan và solanidan có thể phát hiện bằng thuốc thửDragendorff

Để phân biệt sapogenin thuộc 25R hoặc 25S thì căn cứ vào cường độ hấp thu pic

2, pic 3: Các chất 25R thì có cường độ hấp thu mạnh hơn pic 3 Đối với 25S thì ngượclại

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011)

1.5 Ðịnh lượng

1.5.1 Phương pháp cân

Chiết saponin rồi cân Có khi người ta thủy phân saponin, phần sapogenin rất íttan trong nước được lọc hoặc được hoà tan trong dung môi hữu cơ rồi đem bốc hơidung môi hữu cơ, sấy, cân Từ lượng dược liệu và lượng sapogenin cân được, tính rahàm lượng saponin có trong dược liệu

1.5.2 Phương pháp đo quang

Ðối với nhóm triterpenoid có thể dùng thuốc thử vanillin-sulfuric Ví dụ địnhlượng acid glycyrrhetic trong Cam thảo, phản ứng cho màu tím

Ðối với nhóm spirostan, Akahori dùng aldehyd có nhân thơm và acid phosphoric

để định lượng

1.5.3 Sắc ký lỏng cao áp

Trang 21

Sắc ký lỏng cao áp là phương pháp hiện nay được dùng nhiều trong định tính vàđịnh lượng các chất nói chung và saponin nói riêng.

Pha tĩnh cho sắc ký lỏng cao áp với các saponin thường là pha đảo RP-18 Phatĩnh theo cơ chế rây phân tử cũng có thể được dùng

Hệ dung môi được sử dụng trong sắc ký là hỗn hợp methanol, acetonitril với các tỉ lệ khác nhau, có hay không có dung dịch đệm Chương trình dungmôi có thể là isocratic hay gradient

nước-(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011)

1.6 Chiết xuất

Có nhiều quy trình chiết xuất saponin khác nhau Ta có thể tiến hành chiếtsaponin theo quy trình như đã trình bày trong phần sắc ký lớp mỏng Để tinh chếsapogenin, có thể thực hiện với các phương pháp sau:

- Thẩm tích

- Dùng bột Mg oxyd hoặc bột polyamid để tách saponin ra khỏi tanin: Saponinđược hoà vào nước rồi trộn với bột polyamid hoặc bột Mg oxyd trên nồi cách thủy 10phút để có một khối nhão Sau đó chiết saponin từ khối nhão này bằng ethanol 80%nóng Lọc rồi bốc hơi

- Dùng Sephadex G-25,G-50,G-75: Lượng Sephadex dùng gấp 50 lần saponinđem ngâm nước cất cho trương lên, gạn bỏ lượng nước thừa, cho gel vào cột sắcký.Dung dịch đậm đặc saponin trong nước cho lên phần trên cột rồi khai triển bằngnước cất Saponin có phân tử lớn sẽ ra khỏi cột trước saponin có phân tử nhỏ

Ðể tinh chế saponin steroid có thể dùng phương pháp kết hợp với cholesterol: 1gsaponin hoà trong 200ml ethanol đun nóng đến 50-60oC rồi cho tác dụng với một dungdịch chứa 2g cholesterol trong 200ml ethanol đã đun nóng, tủa phức sẽ tạo thành Saukhi nguội đem lọc tủa và sấy khô Phá phức bằng cách hoà tan trong pyridin Saponintinh khiết sẽ được tủa trong ether Ðể loại hết cholesterol, tủa được hoà tan trongmethanol rồi lại tủa với ether

Ðể tinh chế các dẫn chất nhóm glycoalkaloid, ta hoà tan chúng vào một ít butanol rồi cho lên cột chứa nhôm oxyd, đẩy ra bằng nước bão hoà n-butanol

n-(Ngô Văn Thu và Trần Hùng,2011)

1.7 Tác dụng và công dụng của saponin

- Saponin có tác dụng long đờm, chữa ho Saponin là hoạt chất chính trong các

Trang 22

- Một số dược liệu chứa saponin có tác dụng thông tiểu như Rau má, Tỳ giải,Thiên môn, Mạch môn,

- Saponin có mặt trong một số vị thuốc bổ như Nhân sâm, Tam thất và một số câythuộc họ Nhân sâm khác

- Saponin làm tăng sự thấm của tế bào; sự có mặt của saponin sẽ làm cho các hoạt

chất khác dễ hoà tan và hấp thu (digitonin trong lá Digitalis).

- Một số saponin có tác dụng chống viêm như glycyrrhizin trong Cam thảo, cácsaponin trong Ngưu tất,

- Một số saponin có tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm, ức chế virus

- Nhiều saponin triterpenoid có tác dụng hạ đường huyết đã được chứng minhtrên thực nghiệm như acid oleanolic và acid ursolic,…

- Một số có tác dụng chống ung thư trên thực nghiệm như a.betulinic, a.ursolic

- Nhiều saponin có tác dụng diệt các loài thân mềm (nhuyễn thể)

- Asiaticosid trong Rau má có tác dụng làm thuốc chóng lên sẹo các vết mổ, vếtthương, chữa loét, bỏng, eczema

- Một số saponin có tác dụng điều hòa miễn dịch như acid glycyrrhizin, acidoleanolic, acid ursolic, nomilin,…

- Sapogenin steroid dùng làm nguyên liệu để bán tổng hợp các thuốc steroid, chủyếu các hormon steroid

- Acid oleanolic, acid ursolic có tác dụng bảo vệ gan chống lại các tác nhân gâytổn thương gan

- Digitonin dùng để định lượng cholesterol

- Một số nguyên liệu chứa saponin dùng để pha nước gội đầu, giặt len dạ, tơ lụa

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011)

1.8 Sự phân bố trong thực vật

- Saponin triterpenoid phân bố rộng, thường gặp trong những cây 2 lá mầm thuộccác họ như: Acanthaceae, Amaranthaceae, Araliaceae, Campanulaceae, Polygalaceae,Fabaceae, Caryophyllaceae, Rubiaceae, Sapindaceae, Sapotaceae Saponin nhómlonastan thường gặp trong động vật thân mềm (Hải sâm, Sao biển )

- Saponin steroid có phân bố hẹp, thường gặp trong những cây một lá mầm Các

họ hay gặp là: Agavaceae, Dioscoreaceae, Liliaceae, Smilacaceae Ðáng chú ý nhất làmột số loài thuộc chi Dioscorea L.; Agave L.; Yucca L Một số thường gặp trong 2 lámầm như: Scrophulariaceae, Fabaceae, Solanaceae

Trang 23

- Saponin steroid alkaloid thường gặp trong chi Solanum thuộc họ Solanaceae.

Cà-Trong cây, saponin thường tích lũy ở những bộ phận khác nhau:

Trang 24

2 TỔNG QUAN VỀ DƯỢC LIỆU CHỨA SAPONIN

2.1 Cam thảo

Tên khoa học: - Glycyrrhiza uralensis Fisher.

- Glycyrrhiza inflata Bat.

- Glycyrrhiza glabra L.

Thuộc họ Đậu-Fabaceae

Bộ phận dùng: Rễcòn võ hoặc đã cạp lớp bần, được phơi hay sấy khô của cây

Cam thảo -Radix Glycyrrhizae.

2.1.1 Đặc điểm thực vật

Cây thảo sống nhiều năm,có một hệ

thống rễ và thân ngầm rất phát triển, thân

ngầm dưới đất có thể đâm ngang đến 2m Từ

thân ngầm này lại mọc lên các thân cây trên

mặt đất Thân cây đứng cao 0,5-1,5m Thân

yếu, lá kép lông chim lẻ, có 9-17 lá chét

hình trứng Hoa hình bướm màu tím nhạt;

loài G Glabra có cụm hoa dày hơn loài

G.uralensis Quả họ đậu, loài G Glabra

nhẵn và thẳng, loàiG.uralensis quả cong và

có lông cứng

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng,2011)

2.1.2 Phân bố, thu hái và chế biến

- Cam thảo ưa khí hậu ôn hoà hoặc mát lạnh Cây sống thích hợp ở nhiệt độ

18-20oC Phân bố chủ yếu ở Mông Cổ, Tây Ban Nha, Ý, Trung Quốc, vùng Nga Nước ta nhập giống từ Trung Quốc và Nga, đem về trồng thử nghiệm ở VĩnhPhúc, Hà Nội, Hải Hưng nhưng chưa phát triển được rộng rãi

Siberia Cam thảo được trồng bằng hạt hay dâm hom vào mùa xuân

- Cam thảo sau trồng 3-4 năm thì thu hoạch được Thu hoạch vào mùa Thu khicây tàn lụi Lúc này rễ chắc, nặng, nhiều bột, có chất lượng tốt Rửa sạch đất cát, bỏ rễcon Ủ đống làm cho màu trở nên vàng Rễ và thân ngầm thường được cắt thành từng

Hình 2.1a Cam thảo(Glycyrrhiza uralensis Fisher)

Trang 25

đoạn 15-30cm, đường kính 5-20mm, được bó thành từng bó.Dược liệu mặt ngoài cólớp vỏ màu nâu, vết bẻ có xơ, màu vàng dễ xé theo chiều dọc Vị ngọt, hơi khé cổ

.

Cam thảo được chế biến thành 3 dạng Sinh thảo, Chích thảo, bột Cam thảo:

- Sinh thảo: Rửa sạch nhanh, đồ mềm, thái thành phiến mỏng 2mm khi cònnóng; nếu không kịp thái thì nhúng ngay vào nước lã, ủ mềm để khi thái được dễ dàng.Sau đó sấy hoặc phơi khô

- Chích thảo: Sau khi sấy khô, đem tẩm mật (cứ 1kg cam thảo phiến, dùng 200gmật, pha thêm 200ml nước đun sôi) tẩm rồi sao vàng thơm Nếu dùng ít, có thể cắtkhúc 5-10cm, cuộn vài lần giấy bản, nhúng qua nước cho đủ ướt, vùi vào tro nóng, khithấy giấy khô hơi sém thì bỏ giấy, thái lát mỏng

- Bột Cam thảo: Cạo sạch vỏ ngoài, thái miếng tròn, sấy khô, tán thành bột mịnvừa Bảo quản trong thùng kín, để nơi khô ráo

(Đỗ Huy Bích và cs, 2006; Ngô Văn Thu và Trần Hùng,2011; cayduoclieu.com)

Hình 2.1b Rễ Cam thảo

(Radix Glycyrrhizae)

Trang 26

- Flavonoid là nhóm hợp chất quan trọng thứ 2 trong rễ Cam thảo với hàmlượng 3-4%.Liquiritin, isoliquiritin là 2 chất quan trọng nhất.

- Ngoài ra còn có khoảng 30 flavonoid thuộc các nhóm khác nhau: Isoflavan,isoflaven, isoflavon,

- Các dẫn chất coumarin: Umbelliferon, herniarin, liqcoumarin

Ngoài ra trong rễ Cam thảo còn có 20-50% tinh bột, 3-10% glucose casaccharose

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng,2011; Võ Văn Chi, 2012)

2.1.4 Tác dụng dược lý

- Dịch chiết Cam thảo có tác dụng chống co thắt và chống loét dạ dày, do kháng

được Helicobacter pylori nhờ các flavonoid.

- Tác dụng long đờm do các saponin

- Glycyrrhizin tác dụng tương tự cortison: Giữ nước trong cơ thể kèm theo tích

tụ các ion Na+ và Cl- và tăng thải ion K+, giảm lượng nước tiểu, tăng huyết áp Nếudùng Cam thảo trong thời gian dài thì dễ gây phù

- Các flavonoid trong Cam thảo có tác dụng chống oxy hóa, ngăn ngừa xơ vữađộng mạch, giảm tích tụ mỡ bụng, kháng khuẩn và hạ đường huyết

- Cam thảo có tác dụng nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; Võ Văn Chi, 2012)

2.1.5 Công dụng và liều dùng

- Thuốc chữa ho

Trang 27

- Thuốc chữa loét dạ dày và ruột, uống 10-14 ngày, nghỉ vài ngày để tránh hiệntượng phù, thường hay phối hợp với bismuth nitrat kiềm, magnesium carbonat, calcicarbonat, bột vỏ Rhamnus (hoặc đại hoàng).

- Acid glycyrrhetic được dùng làm thuốc chống viêm tại chỗ

- Trong bào chế khoa, cam thảo dùng làm tá dược điều vị để làm mất các vị khóuống trong các chế phẩm

- Vì có tác dụng chống co thắt, cam thảo được phối hợp làm trà nhuận tràng

- Cam thảo còn được dùng làm mứt, nước uống, làm thơm thuốc lá

- Dùng 2-9g mỗi ngày Dạng thuốc sắc, cao thuốc, bột, thường dùng phối hợpvới các vị thuốc khác

(Đỗ Tất Lợi, 2013; Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011;cayduoclieu.com)

2.2 Cát cánh

Tên khoa học:Platycodon grandiflorum (Jacq) A DC.

Thuộc họ Hoa chuông-Campanulaceae.

Bộ pận dùng: Rễđể nguyên hoặc đã cạo vỏ ngoài, phơi hoặc sấy khô của cây

Cát cánh-RadixPlatycodi grandiflori.

2.2.1 Đặc điểm thực vật

Cây thảo sống lâu năm cao 50-80cm

Lá gần như không có cuống, các lá phía dưới

mọc đối hoặc mọc vòng 3-4 lá, phiến lá hình

trứng, dài 3-6cm, rộng 1-2,5cm, mép có răng

cưa to các lá phía trên nhỏ, có khi mọc so le

Hoa mọc riêng lẻ hoặc tạo thành chùm thưa ở

nách lá hay gần ngọn; đài hình chuông rộng;

tràng hình chuông màu lơ nhạt Quả hình

trứng ngược

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng,2011)

2.2.2 Phân bố, thu hái và chế biến

- Cát cánh mọc hoang và được trồng nhiều nơi ở Trung Quốc Hiện nay được dithực vào trồng ở vùng cao như ở Lào Cai (Sapa, Bắc Hà) và Vĩnh Phú (Tam Đảo)

Hình 2.2 Cát cánh

(Platycodon grandiflorum)

Trang 28

- Thu hoạch những cây đã được 3-4 năm tuổi, vào mùa đông khi cây tàn lụi haysau khi thu quả để làm giống thì chọn ngày nắng ráo, đào lấy rễ củ.

- Sau khi đã cắt bỏ thân lá, rễ con, rửa sạch đất cát, ngâm vào nước rồi lấy radùng dao tre nứa cạo bỏ lớp vỏ ngoài, mang phơi hay sấy khô Có thể xông lưu huỳnh.Thông thường người ta hay dùng sống nhưng có thể tẩm mật sao qua Nếu dùng làmhoàn tán thì thái lát sao qua rồi tán bột mịn Cần bảo quản nơi khô ráo, tránh mốc mọt

(Đỗ Huy Bích và cs, 2006; Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011;duoclieu.edu.vn)

2.2.3 Thành phần hóa học

Hoạt chất chính là saponin triterpenoid nhóm oleanan, có phần sapogenin làacid platycogenic A, B,C, platycodigenin và acid polygalacic Ngoài ra, trong rễ Cátcánh còn có các flavonoid, các acid thơm và inulin

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; Võ Văn Chi, 2012)

2.2.4 Tác dụng dược lý

- Saponin cát cánh có tác dụng hạ nhiệt, giảm đau, kháng viêm, long đờm, trị

ho, kháng histamin, hạ lipid và cholesterol máu

- Dược liệu còn có tác dụng kháng khuẩn, hạ đường huyết, làm dịu thần kinh,giản mạch, hạ huyết áp,

- Saponin Cát cánh có tác dụng phá huyết mạnh vì các saponin có nhóm -OH ở

Trang 29

Cây thảo, cao khoảng 1m Thân mảnh, lá

mọc đối, hình trứng, đầu nhọn, mép nguyên dài

5-15cm, rộng 2-5cm Cụm hoa là bông ở đầu

cành hay kẻ lá Hoa mọc hướng lên nhưng khi

biến thành quả sẽ mọc quặp xuống Quả nang, lá

bắc còn lại và nhọn thành gai cho nên vướng

phải có thể mắc vào quần áo

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011)

2.3.2 Phân bố, thu hái và chế biến

- Hiện ta đang trồng giống Ngưu tất di thực của Trung Quốc có rễ to hơn cây cỏxước mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta

- Trồng bằng hạt Ở đồng bằng thì trồng vào tháng 9-10, thu hoạch vào tháng

2-3 Vùng miền núi trồng vào tháng 2-3 thu hoạch vào tháng 9-10

- Thu hoạch rễ khi cây bắt đầu úa vàng, rửa sạch, xông sinh rồi phơi hoặc sấy

Rễ to, dài, dẻo là loại tốt.Loại có thân và rễ màu hồng gọi là hồng thảo căn

(Đỗ Huy Bích và cs, 2006; Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011;duoclieu.edu.vn)

Hình 2.3 Ngưu tất

(Achyranthes hidentata Blume)

Trang 30

2.3.3 Thành phẩn hoá học

- Thành phần quan trọng trong rễ Ngưu tất có các saponin có phần sapogenin làacid oleanolic Trong rễ Ngưu tất còn có các chất khác như ecdysteron, inokosteron,các polysaccharid

- Trong thân và lá Ngưu tất cũng có saponin nhưng có hàm lượng thấp hơn

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; Võ Văn Chi, 2012)

2.3.4 Tác dụng dược lý

- Ngưu tất có tác dụng làm giảm cholesterol, trợ lực tử cung, điều hòa miễndịch

- Ngưu tất còn có tác dụng lợi tiểu, hạ huyết áp

- Ngưu tất có tác dụng làm giảm tỉ lệ lipoprotein máu

- Ngưu tất có tác dụng giảm đau trong các bệnh thấp khớp, đau lưng

- Ecdysteron, inokosteron có tác dụng kìm hãm sự phát triển của một số sâu bọ

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; Võ Văn Chi, 2012)

Trang 31

(Đỗ Tất Lợi,2013)

2.4 Rau má

Tên khoa học: Centella asiatica Urb.

Thuộc họ Hoa tán-Apiaceae

Bộ phận dùng: Toàn cây tươi hoặc phơi sấy khô của cây

Rau má-Herba Centellae asiaticae

2.4.1 Đặc điểm thực vật

Rau má là loại cỏ sống dai, mọc bò, rễ

mọc ở các mấu của thân Lá có cuống dài

10-12 cm, phiến lá khía tai bèo tròn, gốc lá

hình tim, rộng 2-4 cm Gân lá hình chân vịt

Cụm hoa tán đơn gồm các hoa rất nhỏ Quả

dẹt Cây mọc hoang ở ruộng vườn, bãi cỏ

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011)

2.4.2 Phân bố, thu hái và chế biến

Chi Centella L có khoảng 40 loài, phân bố ở Nam và Đông Nam châu Á ỞViệt Nam, Rau má mọc tự nhiên ở khắp nơi, ưa ẩm, nơi râm mát Thu hái cây quanhnăm, thường dùng tươi hay phơi sấy khô

(Đỗ Huy Bích và cs, 2006; Đỗ Tất Lợi, 2013; ydvn.net)

2.4.3 Thành phần hóa học

Hình 2.4 Rau Má

(Centella asiatica Urb)

Trang 32

Các hoạt chất chính là các saponin triterpenoid 5 vòng nhóm ursan, 2 chất quantrọng là asiaticosid và madecassosid Một số ít thuộc nhóm oleanan và lupan Ngoài

ra, Rau má còn có một số flavonoid (kaempferol, quercetin) và các chất khác với hàmlượng thấp

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; Võ Văn Chi, 2012)

2.4.4 Tác dụng dược lý

Saponin toàn phần của rau má đã được nghiên cứu thấy có tác dụng tăng tổnghợp collagen I và fibronectin Tác dụng này có thể giải thích được tác dụng chóng làmlành vết thương của Rau má Các tác dụng này được cho là do hợp chất triterpen trongRau má Dịch chiết Rau má còn có tác dụng làm hạ huyết áp và chậm nhịp tim

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; Võ Văn Chi, 2012; ydvn.net)

- Ngoài ra, Rau má còn được sử dụng trong điều trị các vết loét do bệnh phong,eczema, các rối loạn tuần hoàn tĩnh mạch Rau má cũng có tác dụng giảm viêm ứ ởbệnh nhân xơ gan

Trang 33

- Nhân dân ta dùng Rau má làm rau sống để ăn Nước Rau má là loại nước giảikhát phổ biến ở các tỉnh phía Nam Kinh nghiệm nhân dân cho rằng Rau má có tácdụng giải nhiệt, giải độc, thông tiểu, dùng để chữa sốt, rôm sảy, mẩn ngứa, các bệnh vềgan, thổ huyết, đi lỏng, lỵ, viêm họng, viêm phế quản, viêm đường tiểu tiện.

- Dược liệu được dùng tươi bằng cách xay với nước sôi để nguội, lọc lấy dịchthêm đường để uống Ngày dùng từ 30-40g

(Đỗ Tất Lợi, 2013; Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; ydvn.net)

2.5 Táo nhân

Tên khoa học: Ziziphus mauritiana Lamk (=Z.jujuba Lamk.)

Họ Táo ta-Rhamnaceae

Bộ phận dùng là hạt già đã phơi hay sấy

khô của cây Táo ta hay còn gọi là cây

Táo chua - Semen Ziziphi mauritianae.

2.5.1 Đặc điểm thực vật

Cây nhỡ cao 2-4 m có gai, cành nhiều

Lá hình trứng, mặt trên màu xanh lục, mặt

dưới có lông trắng, có 3 gân dọc lồi lên rõ

Hoa màu vàng xanh, mọc thành xim ở kẽ lá

Quả hạch Vỏ ngoài nhẵn bóng, lúc non màu

xanh khi chín màu hơi vàng Thịt quả ăn được,

vị chua chát hơi ngọt

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011)

2.5.2 Phân bố, thu hái, chế biến

- Các nhà khoa học Việt Nam đã tạo nhiều chủng loại Táo sai quả, quả to, vịngon, ngọt trồng khắp nơi trong nước ta

- Thu hoạch từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau Để dễ lấy hạt người ta đem xaycho vỡ hạch và sàng lấy hạt rồi phơi hoặc sấy 50-60oC thật khô

Hình 2.5 Táo ta

(Ziziphus mauritiana Lamk)

Trang 34

(Đỗ Tất Lợi, 2013; Võ Văn Chi, 2012)

2.5.3 Thành phần hoá học

- Táo chứa các saponin: Jujubosid A và jujubosid B, ziziphus saponin I, II, III,jujuba saponin I, II, III đều có aglycon là jujubogenin, một saponin thuộc nhómdammaran Ngoài ra, Táo còn chứa acid betulinic, betulin là các triterpenoid thuộcnhóm lupan

- Hạt còn chứa peptid alkaloid có tên là sanjonin và một số thành phần khác làchất béo, vitamin C

- Vỏ thân có các peptid alkaloid: Amphibin B, D, E, F Mauritin A, B, C, D, E,

tế bào lành Đặc biệt, acid betulinic không có độc tính

(Đỗ Tất Lợi, 2013; Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; duoclieu.edu.vn)

2.5.5 Công dụng và liều dùng

Trang 35

- Trong y học cổ truyền, Táo nhân được dùng làm thuốc an thần dùng trong cáctrường hợp mất ngủ, hồi hộp, suy nhược thần kinh Liều 0,8-1,8g Nếu sao đen có thểdùng đến 6g.

- Theo kinh nghiệm nhân dân, lá Táo sắc uống dùng để chữa dị ứng, hen; liều20-40g Có thể chế thành sirô

(Đỗ Tất Lợi, 2013; duoclieu.edu.vn)

2.6 Mạch môn

Tên khoa học: Ophiopogon japonicus(Thumb) Ker Gawl.

Thuộc họ Mạch môn-Convallariaceae

Bộ phận dùng:Rễ củ phơi hay sấy khô của

cây Mạch môn - Radix

Ophiopogonisjaponici.

2.6.1 Đặc điểm thực vật

Cây thảo cao 10-40cm Lá mọc từ gốc,

hẹp, dài, gân lá song song, mặt trên màu xanh

thẳm, mặt dưới trắng nhạt Hoa màu lơ nhạt mọc

thành chùm, quả mọng màu tím Rễ chùm có

nhiều rễ phình thành củ nhỏ hình thoi

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011)

2.6.2 Phân bố, thu hái và chế biến

- Cây được trồng ở một số tỉnh miền Bắc.Đôi khi gặp mọc hoang Mạch môn đã

được ghi vào Dược điển Việt Nam

- Bộ phận chính của mạch môn được sử dụng là củ.Mỗi gốc Mạch môn thuđược nhiều củ nhỏ

- Rễ thu hoạch vào tháng 9-12 ở những cây được 2 năm, cắt bỏ rễ con, rửa sạch,

củ nhỏ để nguyên, củ to bổ đôi, phơi hay sấy nhẹ cho khô

Hình 2.6 Mạch môn

(Ophiopogon japonicus)

Trang 36

- Củ Mạch môn hình thoi, màu vàng nhạt, hơi trong, dài 10-15mm Mùi đặcbiệt, vị ngọt hơi đắng.

(Đỗ Tất Lợi, 2013; Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; duoclieu.edu.vn)

2.6.3 Thành phần hoá học

Trong rễ củ Mạch môn chứa các thành phần hóa học sau:

- Saponin steroid: Ophiopogonin A, B, C, D và B’, C’, D’ Các ophiopogonin

A, B và D khi bị thủy phân cho phần aglycon là ruscogenin Cấu trúc mạch đường củaophiopogonin B và D đã được xác định và nối vào -OH ở vị trí C-1 của ruscogenin.Ophiopogonin B’, C’ và D’ có phần aglycon là diosgenin

- Các hợp chất sterol: β-sitosterol, stigmasterol và β-sitosterol-β-D-glycosid.

- Carbohydrat: gồm các glucofructosan và đường glucose, fructose, saccharose

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; Võ Văn Chi, 2012)

2.6.4 Tác dụng dược lý

Ophiopogonin DOphiopogonin B

Trang 37

Theo y học cổ truyền củ Mạch môn có vị ngọt, hơi đắng tính hơi hàn, vào 3kinh tâm, phế và vị Có tác dụng thanh tâm, nhuận phế, dưỡng vị sinh tân, hoá đờm,chỉ ho, dùng điều trị hư lao, ho, thổ huyết, ho ra máu, miệng khô khát, bệnh nhiệt tândịch khô

Tác dụng hạ đường huyết của Mạch môn được chứng minh trên súc vật thử

nghiệm (Biol Pharm Bull 1995; 18 (5): 785-7).

(Đỗ Tất Lợi, 2013; Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; duoclieu.edu.vn)

Tên khoa học: Asparagus cochinchinensis (lour.) Merr.

Thuộc họ Thiên môn-Asparagaceae

Bộ phận dùng: Rễ củ đã đồ chín, rút

lõi, phơi hay sấy khô của cây Thiên

môn-Radix Asparagi cochinchinensis.

2.7.1 Đặc điểm thực vật

Thiên môn là một loại dây leo, sống

lâu năm Thân mang nhiều cành 3 cạnh, đầu

nhọn, biến dạng trông như lá, còn lá thì rất

nhỏ trông như vẩy Hoa nhỏ màu trắng mọc

vào mùa hạ Quả mọng màu đỏ khi chín

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011)

2.7.2 Phân bố, thu hái và chế biến

Hình 2.7 Thiên môn

(Asparagus cochinchinensis)

Trang 38

- Được trổng ở Việt Nam để lấy rễcủ dùng làm thuốc, nhiều nhất ở Thanh Hóa,Quảng Ninh, Bắc Thái, Cao Bằng, Lạng Sơn, các nước khác như Trung Quốc, TriềuTiên, Nhật Bản cũng có.

- Rễ củ được thu hái vào mùa thu đông ở những cây 2 năm trở lên Sau khi rửasạch, cắt bỏ đầu và rễ con, đem đồ qua hơi nước.Lúc còn nóng bóc bỏ vỏ, rồi phơi haysấy khô Dược liệu có vị hơi đắng

(Đỗ Tất Lợi, 2013; Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; duoclieu.edu.vn)

2.7.3 Thành phần hóa học

Thiên môn chứa saponin thuộc nhóm furostan (hoạt chất là asparagin) Cácsaponin đại diện là ASP IV’- ASP VII’ Các saponin này không có mạch đường gắnvào nhóm -OH ở C3, mà gắn vào nhóm -OH ở C26, cuối mạch nhánh

Ngoài ra, rễ Thiên môn còn có các amino acid tự do, 7 oligosaccharid đã đượcphân lập và xác định

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; Võ Văn Chi, 2012)

Trang 39

2.7.4 Tác dụng dược lý

Thiên môn có tác dụng long đờm, chữa ho, lợi tiểu Thiên môn còn được dùngchữa chứng bồn chồn, mất ngủ , táo bón

Chất asparagin có tác dụng lợi tiểu

(Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; Võ Văn Chi, 2012)

Tên khoa học: Panax ginseng C.A Mey.

Thuộc họ Nhân sâm-Araliaceae

Bộ phận dùng: Rễ đã phơi hay sấy khô của cây Nhân sâm - Radix Ginseng.

Trang 40

năm thứ 3 vào mùa hạ; từ điểm giữa của vòng lá nhô lên một trục cao chừng 10 cmmang hoa màu trắng nhạt nhóm họp thành tán đơn.

Hoa đều 5 cánh, lá đài 5 răng, 5 nhị Bầu dưới, 2 ô Quả hạch, màu đỏ gần hìnhcầu Rễ củ thường to bằng ngón tay phân thành nhiều nhánh trông như hình người nên

có tên là nhân sâm Đôi khi có những củ sâm có kích thước rất lớn nặng đến 300-400g

(Đỗ Tất Lợi, 2013; Ngô Văn Thu và Trần Hùng, 2011; ydvn.net)

2.8.2 Phân bố, thu hái và chế biến

- Mọc hoang và được trồng ở đông bắc Trung quốc, Triều tiên, Liên xô cũ Việctrồng trọt Nhân sâm rất công phu, sau 5-6 năm mới thu hoạch Đất phải tốt Cây ưabóng râm Thu hoạch vào mùa xuân và mùa thu Người ta cho rằng loại mọc hoang cógiá trị hơn loại trồng Hiện nay ta còn phải nhập Nhân sâm Trung Quốc và Hàn Quốc

- Trong y học dân tộc cổ truyền người ta phân biệt hai loại chính: Hồng sâm và

+ Bạch sâm: Những củ sâm không đủ tiêu

chuẩn chế hồng sâm thì chế bạch sâm Sau khi

rửa sạch đất cát thì nhúng vào nước sôi vài phút,

sau đó tẩm đường vài ngày rồi phơi hoặc sấy ở

nhiệt độ không quá 60oC Dược liệu sau khi chế

biến thì mặt ngoài màu trắng ngà, mềm, thường

có tinh thể đường bám bên ngoài, mặt bẻ màu

trắng ngà và xốp, mùi thơm, vị ngọt

Ngoài 2 loại trên ra còn có:

- Sinh sái sâm là loại sâm để nguyên vỏ,

sau khi loại sạch đất cát chỉ phơi khô

Hình 2.8a Nhân sâm

(Panax ginseng C.A Mey)

Ngày đăng: 16/06/2019, 15:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Huy Bích và cs (2006). Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập I.Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. Trang 326-345-793 Khác
2. Đỗ Huy Bích và cs (2006). Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập II. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. Trang 216-430-446-582-775-787-863 Khác
3. Đỗ Tất Lợi (2013). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản Hồng Đức. Trang 48-289-713-715-716-804-828-863-908 Khác
4. Ngô Văn Thu và Trần Hùng (2011). Dược liệu học, tập 1. Nhà xuất bản Y Học. Trang 191-215-227-233-237-243-251-261-273-275 Khác
5. Võ Văn Chi (2012). Từ điển cây thuốc Việt Nam, tập 1. Nhà xuất bản Y Học. Trang 329-349-937 Khác
6. Võ Văn Chi (2012). Từ điển cây thuốc Việt Nam, tập 2. Nhà xuất bản Y Học. Trang 30-332-517-777-768-871.Tài liệu từ website Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w