1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát kiến thức, thực hành và mối liên quan về phòng lây nhiễm lao phổi trong cộng đồng của bệnh nhân lao tại quận cái răng, thành phố cần thơ

67 347 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 160,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những thực tế trên, chúng tôi tiến hành “Khảo sát kiến thức, thực hành và mối liên quan về phòng lây nhiễm lao phổi trong cộng đồng của bệnh nhân lao tại quận Cái Răng, thàn

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khái quát về bệnh lao 3

1.2 Phòng ngừa lây nhiễm lao cho cộng đồng 9

1.3 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành phòng lây nhiễm và điều trị bệnh nhân lao 14

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17

2.3 Thiết kế nghiên cứu 17

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 17

2.5 Phương pháp thu thập thông tin 18

2.6 Biến số 18

2.7 Thu thập dữ kiện 20

2.8 Kiểm soát sai lệch thông tin: 21

2.9 Nghiên cứu thử: 21

2.10 Xử lý và phân tích dữ kiện: 21

2.11 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 21

2.12 Khả năng khái quát và tính ứng dụng 21

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu: 23

3.2 Nguồn thông tin 25

3.3 Kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan 26

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 37

4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu và tỷ lệ mắc lao 37

4.2 Kiến thức về bệnh lao 39

4.3 Kiến thức chung đúng của bệnh nhân lao phổi về phòng lây nhiễm lao cho cộng đồng 42

4.4 Thực hành của bệnh nhân lao phổi 43

Trang 2

cộng đồng 44

4.4 Yếu tố liên quan giữa kiến thức phòng ngừa lây nhiễm với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 44

4.5 Liên quan giữa thực hành về phòng ngừa lây nhiễm với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 45

4.6 Liên quan giữa kiến thức với thực hành về phòng ngừa lây nhiễm 46

4.7 Liên quan giữa truyền thông với kiến thức 46

KẾT LUẬN 47

1 Thông tin chung về đối tượng 47

2 Kiến thức chung đúng của bệnh nhân lao phổi về phòng lây nhiễm lao cho cộng đồng 47

3 Thực hành đúng của bệnh nhân lao phổi về phòng ngừa lây nhiễm lao phổi cho cộng đồng 47

4 Yếu tố liên quan giữa kiến thức phòng ngừa lây nhiễm với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 48

5 Liên quan giữa thực hành về phòng ngừa lây nhiễm với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 48

6 Liên quan giữa kiến thức với thực hành về phòng ngừa lây nhiễm 48

7 Liên quan giữa truyền thông với kiến thức 49

KHUYẾN NGHỊ 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 3

HIV : Virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngườiAIDS : Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

AFB : Soi đàm tìm trực khuẩn kháng acid do vi khuẩn lao không

bắt màu thuốc nhuộm thong thường như những con vi khuẩn DOTS : “Chiến lược điều trị có kiểm sóat trực tiếp” được khuyến

cáo trên tòan thế giới (Directly Observed Treatment ShortCuose)

BK : Vi trùng lao có hình gậy (Baccilliees de Koch)

Trang 4

Bảng 1.1 Tình hình bệnh lao tại quận Cái Răng trong 3 năm [45], [46], [47] 8

Bảng 1: Phân bố theo nhóm tuổi của các đối tượng nghiên cứu 23

Bảng 2: Phân bố theo giới của các đối tượng nghiên cứu 23

Bảng 3: Phân bố theo dân tộc của các đối tượng nghiên cứu 23

Bảng 4: Phân bố theo nghề nghiệp của các đối tượng nghiên cứu 24

Bảng 5: Phân bố theo trình độ học vấn của các đối tượng nghiên cứu 24

Bảng 6: Phân bố theo kinh tế gia đình của các đối tượng nghiên cứu 25

Bảng 7: Nguồn tiếp nhận thông tin về bệnh lao của các đối tượng nghiên cứu 25

Bảng 8: Mức độ tiếp cận các nguồn truyền thông 25

Bảng 10: Thực hành đúng của bệnh nhân lao phổi về phòng ngừa lây nhiễm lao phổi cho cộng đồng 28

Bảng 11: Liên quan giữa kiến thức phòng ngừa lây nhiễm với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 29

Bảng 12: Liên quan giữa thực hành về phòng ngừa lây nhiễm với các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 32

Bảng 13: Liên quan giữa kiến thức với thực hành về phòng ngừa lây nhiễm 35

Bảng 14: Mối liên quan giữa truyền thông với kiến thức 35

Bảng 15: Mối liên quan giữa truyền thông với thực hành 35

Trang 5

Biểu đồ 1.1 Đánh giá chung về kiến thức của bệnh nhân với phòng ngừa lây nhiễm lao phổi cho cộng đồng 27 Biểu đồ 1.2 Đánh giá chung về thực hành với phòng ngừa lây nhiễm 29

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lao gắn liền với sự phát triển xã hội loài người từ hàng ngàn nămnay, trên thế giới chưa bao giờ và không có một quốc gia nào, một khu vực nào,một dân tộc nào không có người mắc bệnh lao và chết do lao Do sự phát minhcác thuốc chống lao giúp cho việc chữa bệnh lao ngày đơn giản và hiệu qủa hơn,đồng thời đã phát sinh tâm trạng lạc quan của y giới, đã làm lãng quên căn bệnhnguy hiểm này Ngày nay, bệnh lao đang xuất hiện trở lại và cùng với đại dịchHIV/AIDS trở thành một trong những căn nguyên gây mắc bệnh và tử vong chủyếu, đặc biệt tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam; bệnh lao khôngnhững gây tổn hại cho sức khỏe, thu nhập cá nhân người bệnh mà còn gây tổnthất đến kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi gia đình, cộng đồng và cả quốc gia [5] Theo Tổ chức Y tế thế giới, ước tính hàng năm có khoảng 1,7 triệu ngườitrên thế giới tử vong do lao, tức là khoảng 4.700 người tử vong mỗi ngày vì lao,

về số người mới mắc hàng năm ước tính khoảng 9,4 triệu và có khoảng 0,5 triệubệnh nhân mắc lao đa kháng thuốc với tỷ lệ 3,3% trong số bệnh nhân lao mớimắc Số lượng bệnh nhân lao đa kháng thuốc chủ yếu tại 27 quốc gia (Châu Âu

có 15 nước) chiếm tới 86% số bệnh nhân lao đa kháng thuốc

Tại Việt Nam, bệnh lao còn phổ biến và ở mức độ trung bình cao, xếp thứ

12 trong 22 nước có số lượng bệnh nhân lao cao nhất thế giới và thứ 14 trong 27nước có tình hình lao đa kháng và siêu kháng cao trong khu vực Tây - Thái BìnhDương, đồng thời đứng thứ ba sau Trung quốc và Philipinnes về số lượng bệnhnhân lao lưu hành cũng như bệnh nhân lao mới xuất hiện hàng năm Hàng nămước tính có thêm 180.000 bệnh nhân lao, trong đó có khoảng 6000 bệnh nhânlao đa kháng và khoảng 7400 bệnh nhân lao/HIV, tuy nhiên chúng ta mới chỉphát hiện được khoảng 60% số bệnh nhân ước tính tức là trên dưới 100.000bệnh nhân mỗi năm [27], [36], [37]

Trong những năm qua, công tác phòng, chống bệnh lao tại thành phố CầnThơ luôn được quan tâm triển khai thực hiện tốt toàn thành phố hiện có 1.141bệnh nhân mắc bệnh lao các thể đang quản lý và điều trị trong đó 65 bệnh nhânmắc bệnh lao kháng thuốc Riêng quận Cái Răng công tác phòng, chống lao luônđược đẩy mạnh tại các tuyến, nhiều bệnh nhân lao được phát hiện sớm và điềutrị kịp thời Tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh lao phổi hàng năm vẫn còn xảy ra khá phổbiến và tìm ẩn trong cộng đồng mà ngành y tế chưa tầm soát phát hiện được,

Trang 7

hiện tòan quận đang quản lý và điều trị 110 bệnh nhân mắc bệnh lao các thểtrong đó 10 bệnh nhân mắc bệnh lao kháng thuốc, mặt khác Cái Răng là quậnvùng ven thành phố Cần Thơ, người dân sống chủ yếu bằng nông nghiệp, trình

độ dân trí một bộ phận người dân vẫn còn thấp, ý thức phòng bệnh chưa cao, đặcbiệt là ý thức phòng chống bệnh lao phổi trong cộng đồng đối với những bệnhnhân mắc bệnh lao hiện nay Tuy đã có nhiều đề tài nghiên cứu về bệnh laonhưng tìm hiểu về kiến thức và thực hành về phòng nhiễm bệnh lao phổi chongười khác của bệnh nhân lao phổi vẫn rất cần thiết đặc biệt là ở địa bàn quậnCái Răng, thành phố Cần Thơ

Xuất phát từ những thực tế trên, chúng tôi tiến hành “Khảo sát kiến thức, thực hành và mối liên quan về phòng lây nhiễm lao phổi trong cộng đồng của bệnh nhân lao tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ” với đề tài này chúng

tôi mong muốn góp phần làm giảm tỷ lệ bệnh lao phổi trong quận Cái Răng nóiriêng và thành phố Cần Thơ nói chung, đề tài được thực hiện với các mục tiêunhư sau:

1 Xác định tỷ lệ bệnh nhân lao phổi có kiến thức và thực hành đúng về phòng lây nhiễm lao phổi trong cộng đồng tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ năm 2017

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành đúng về phòng ngừa lây nhiễm lao phổi trong cộng đồng của bệnh nhân lao tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ năm 2017.

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát về bệnh lao

1.1.1 Lịch sử bệnh lao

Theo y văn cổ nhất tìm thấy ở Ấn Độ, bệnh lao xuất hiện khoảng 700 nămtrước Công Nguyên Thời kỳ này, bệnh lao được hiểu lầm với một số bệnh khác,người ta xem bệnh lao là một bệnh không thể chữa được, bệnh do di truyền Vàokhoảng năm 380 trước Công Nguyên, Hipocrates mô tả rất tỉ mỉ về bệnh mà ônggọi là “phtisis” có nghĩa là tan ra hay huỷ hoại, Aristotle ghi nhận rằng nhữngngười gần gũi với bệnh nhân bị “phtisis”có chiều hướng phát bệnh này do hítphải một vài “chất gây bệnh” mà người bệnh thở ra [10], [32], [33]

Đến thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên, Galen người Hilạp, bác sĩ thực hành

và viết sách ở La Mã đã phác họa ra nguyên tắc điều trị mà nó vẫn giữ nguyên

cả nghìn năm sau đó là nghỉ ngơi, giảm ho, băng ngực, thuốc cầm máu (xúcmiệng bằng axitbannic pha với mật ong), thuốc phiện cho cơn ho nặng và đặcbiệt là chú trọng đến dinh dưỡng [10], [19]

Đến thế kỷ thứ IX, Laennec (1819) và Sokolski (1838) đã mô tả khá chínhxác các tổn thương chủ yếu của bệnh lao, năm 1865 Villemin làm thực nghiệmbằng cách tiêm truyền bệnh lao lấy từ bệnh nhân lao cho súc vật và có nhận xétbệnh lao do một căn nguyên gây bệnh nằm trong các bệnh phẩm đó; năm 1982Robert Koch tìm ra nguyên nhân gây bệnh là vi trùng lao hay gọi là Bacillus deKoch (viết tắt là BK), việc tìm thấy vi trùng lao đã mở ra giai đoạn vi trùng họccủa bệnh lao [48]

Vào đầu thế kỷ XX, nhiều công trình nghiên cứu về miễn dịch, dị ứng,phòng bệnh, phát hiện và điều trị bệnh lao đã được tiến hành, năm 1907 VonPirQuet áp dụng phản ứng da để xác định tình trạng nhiễm lao; năm 1908 Mantouxdùng phương pháp tiêm trong da để phát hiện dị ứng lao (nay gọi là phản ứngMantoux), trong thời gian này Robert Koch (Đức) đã điều chế sử dụng OLDTuberculine (OT) như là một thuốc điều trị lao dù cách này là không đúng Cũngtrong năm 1908, Calmette và Guerin bắt đầu nghiên cứu tìm vaccine phòng lao

và 13 năm sau (1921) các tác giả đã thành công, từ đó vaccine BCG được sửdụng phòng bệnh lao trên người Trong khoảng 2 thập niên 1920 và 1930 khoa

Trang 9

Vi sinh học ra đời cho phép phát minh ra loại thuốc chống lao cho con người,năm 1944 Waksman đã tìm ra streptomycin, thuốc kháng sinh đầu tiên điều trịbệnh lao; năm 1952, rimifon (isoniazid) được đưa vào điều trị bệnh lao; năm

1965, rifampixin thuốc chống lao mạnh nhất ra đời; năm 1978 cơ chế tác dụng

và vị trí tác dụng của thuốc pyrazina được đánh giá là một thuốc đặc hiệu có tácdụng diệt khuẩn, tác dụng với cả vi trùng lao trong tế bào và ngoài tế bào [48]

1.1.2 Tình hình bệnh lao phổi trên thế giới

Theo WHO tình hình dịch tễ bệnh lao trên toàn cầu đã có dấu hiệu suygiảm, tuy nhiên bệnh lao vẫn là vấn đề y tế cộng đồng của toàn cầu, bệnh laocòn rất phổ biến ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh, năm 1993WHO đã báo động tới chính phủ các nước trên toàn cầu về nguy cơ quay trở lạicủa bệnh lao và sự gia tăng của nó [12], [15], khoảng 1/3 dân số thế giới (gần2,2 tỷ người) đã nhiễm lao, theo báo cáo năm 2007 của WHO, ước tính năm

2006 có khoảng 9,2 triệu bệnh nhân lao mới xuất hiện trong năm tương đương tỷ

lệ 139/100.000 dân, 14,4 triệu bệnh nhân lao cũ và mới hiện hành, 4,1 triệungười bệnh lao phổi AFB(+) (tương đương 62/100.000 dân) bao gồm 0,7 triệutrường hợp HIV (+), 1,7 triệu người chết do lao, trong đó 0,2 triệu người nhiễmHIV, 98% số người chết ở các nước đang phát triển, 0,5 triệu trường hợp mắclao kháng đa thuốc [9], [14], [15], [20], [51]

Hiện nay trên thế giới có khoảng 1/3 dân số (2,2 tỉ người) đã nhiễm lao vàcon số đó sẽ tăng 1% hàng năm (tương đương khoảng 65 triệu người), theo báocáo của Tổ chức Y tế thế giới, mặc dù đã đạt được một số thành tựu đáng kểtrong công tác chống lao nhưng bệnh lao vẫn đang tiếp tục là một trong các vấn

đề sức khỏe cộng đồng chính trên toàn cầu Ước tính năm 2013, trên toàn thếgiới có khoảng 9 triệu người mắc lao; 13% trong số mắc lao có đồng nhiễmHIV; khoảng 95% số bệnh nhân lao và 98% số người chết do lao ở các nước cóthu nhập vừa và thấp, 75% số bệnh nhân lao cả nam và nữ ở tuổi lao động, trong

đó có khoảng 80% số bệnh nhân lao toàn cầu thuộc 22 nước có gánh nặng bệnhlao cao; hơn 33% số bệnh nhân lao toàn cầu tập trung tại khu vực Đông - Nam Á[9], [13], [16], [17], [21], [22], [35], [50]

Mức độ nghiêm trọng của bệnh lao đã ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân vàchỉ số phát triển con người của các quốc gia Các nghiên cứu về kinh tế y tế cho

Trang 10

thấy, mỗi bệnh nhân lao trung bb́nh sẽ mất 3-4 tháng lao động, làm giảm 20-30%thu nhập bình quân của gia đình Những gia đình có người chết sớm vì bệnh lao

có thể sẽ mất tới 15 năm thu nhập Bệnh lao đã tác động mạnh tới 70% đốitượng lao động chính của xã hội, làm lực lượng sản xuất bị giảm sút, năng suấtlao động giảm; Diễn đàn các đối tác chống lao lần thứ nhất diễn ra năm 2001 tạitrụ sở của Ngân hàng thế giới ở Washington D.C với sự có mặt của đại diện cấp

bộ trưởng từ các quốc gia có tình hình bệnh lao nặng nề đã nhận định, bệnh lao

là nguyên nhân chủ yếu làm nghèo đói dai dẳng và là trở ngại đối với sự pháttriển kinh tế xã hội [2], [7], [8], [9]

1.1.3 Tình hình bệnh lao phổi tại Việt Nam

Theo báo cáo của WHO năm 2014, Việt Nam đứng thứ 12 trong số 22nước chịu gánh nặng của bệnh lao, xếp thứ 14 trên 27 nước bị ảnh hưởng nặng

nề của tình trạng lao kháng thuốc Số mắc lao mới được phát hiện hàng năm ởmức cao với 130.000 ca [9], [10], Hiện nay Việt Nam đứng thứ 12 trong số 22nước có tỷ lệ lao cao trên toàn cầu Trong khu vực Tây - Thái Bình Dương ViệtNam là nước đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Philippines về số lượng bệnh nhânđang lưu hành và số bệnh nhân mới xuất hiện hàng năm Nguy cơ nhiễm laohàng năm ở nước ta hiện nay là 1,7%, trong đó ở phía Bắc 1,2%, phía Nam2,2%, khoảng 44% dân số đã bị nhiễm lao Bệnh lao ở nước ta xếp vào mứctrung bình cao so với toàn cầu Hiện nay, Việt Nam vẫn là nước có gánh nặngbệnh tật đối với bệnh lao cao và đứng thứ 12 trong 22 nước có số người mắcbệnh lao cao nhất trên toàn cầu, đồng thời đứng thứ 14 trong số 27 nước có gánhnặng bệnh lao đa kháng thuốc cao nhất thế giới Mặc dù, được Tổ chức Y tế Thếgiới (WHO) đánh giá là đạt nhiều thành tựu trong công tác phòng chống laotrong thời gian qua, Việt Nam vẫn còn ba chỉ số chuyên môn chưa đạt chỉ tiêu,bao gồm: số bệnh nhân lao mọi thể được phát hiện (96,3%), tỷ lệ phát hiện cácthể (96%), tỷ lệ phát hiện AFB(+) mới trên 100.000 dân (92,3%)

Mặc dù nhận được đầu tư của Chính phủ, Bộ Y tế, sự hỗ trợ của các tổchức quốc tế và nỗ lực của đội ngũ cán bộ y tế chống lao nhưng bệnh lao vẫn làgánh nặng sức khỏe của cộng đồng Mỗi năm, Việt Nam có tới hơn 180.000người mắc mới lao và 20.000 người chết do bệnh lao, cao gấp 2 lần tai nạn giaothông Số người được phát hiện lao và chữa khỏi chỉ chiếm gần 60% số người

Trang 11

mới mắc bệnh Đặc biệt, bệnh lao đang có chiều trẻ hóa khi số người mắc lao ở

độ tuổi thanh thiếu niên chiếm gần 2% trong tổng số người mắc lao [36], [40]

Hiện nay bệnh lao không còn được coi là một trong tứ chứng nan y nữa

mà hoàn toàn có thể chữa trị được Hàng năm, Việt Nam đã điều trị, chữa khỏicho khoảng 90.000 bệnh nhân lao Mặc dù vậy, bệnh lao khi đã được chữa khỏivẫn có thể mắc trở lại; người chữa khỏi bệnh lao có thể tái mắc bệnh thông quaviệc lây nhiễm bệnh lại từ người khác vì không có miễn dịch chống lao vĩnhviễn hoặc vi khuẩn lao còn sót lại trong người bệnh [36], [40] Trong khi đó,bệnh lao lây lan rất nhanh trong cộng đồng, hơn tất cả các bệnh khác vì đây làbệnh lây qua đường hô hấp; một người bị lao sẽ lây cho 10-15 người khác trongmột năm Ngoài ra, hiện nay ở nước ta tình trạng bệnh lao đa kháng thuốc vàbệnh lao ở người nhiễm HIV cũng diễn biến phức tạp, ở mức cao; số bệnh nhânchưa được phát hiện còn khá lớn, là nguồn lây nhiễm theo cấp số nhân ra cộngđồng Trong khi đó, sự kỳ thị, định kiến vì bệnh lao của người dân vẫn còn,khiến cho người mắc lao giấu bệnh, tự chạy chữa khiến bệnh càng nặng và nguy

cơ lây lan ra cộng đồng rất cao [36], [40]

Việt Nam đã 09 năm liên tục đạt mục tiêu của WHO về phát hiện và điềutrị, tuy nhiên tình hình dịch tễ bệnh lao ở nước ta vẫn ở mức cao và đặc biệt là

sự gia tăng bệnh lao ở lứa tuổi trẻ, nam thanh thiếu niên 15 – 24 tuổi [7] Cùngvới đại dịch HIV lan truyền rất nhanh tại Việt Nam, đây là một nguy cơ rất lớn

đe dọa chương trình chống lao trong giai đoạn tới Đồng nhiễm HIV và laokhông chỉ làm tăng số bệnh nhân lao (ước tính toàn cầu tăng gần 30% lao do cóHIV) mà còn làm giảm hiệu quả điều trị và làm tăng rất nhanh tỷ lệ tử vong dolao Có thể số lượng lao phổi AFB(+) mới được phát hiện còn rất cao và đâychính là nguồn lây lan trong cộng đồng, bệnh lao tại Việt Nam vẫn còn là mộtvấn đề sức khỏe trầm trọng Vì vậy, chúng ta cần phát hiện nhiều và phát hiệnsớm các trường hợp mắc lao, đặc biệt là lao phổi AFB(+) [12], [14], [20], [28],[30]

Nam Bên cạnh đó, còn nhiều thách thức chủ quan như: thiếu hụt về nhânlực; thiếu sự phối hợp y tế công - tư và cơ chế điều phối, Luật khai báo các cabệnh theo Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm chưa được thực hiện nghiêmtúc Để hoạt động phòng chống lao hiệu quả hơn, thời gian tới, chương trìnhChống lao quốc gia tiếp tục tăng cường phát hiện sớm và nhiều nhất tất cả các

Trang 12

thể lao; duy trì tỷ lệ điều trị khỏi cao; phấn đấu đến năm 2015, Việt Nam giảm50% số bệnh nhân hiện mắc so với ước tính năm 2000, khống chế tỷ lệ bệnhnhân lao kháng đa thuốc bằng mức năm 2010 và thanh toán bệnh lao ở Việt Namvào năm 2030 [27], [40].

1.1.4 Tình hình bệnh lao của thành phố Cần Thơ và quận Cái Răng

Thời gian qua, công tác phòng, chống bệnh lao tại thành phố Cần Thơ nóichung và ở quận Cái Răng nói riêng luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyềnđịa phương quan tâm Hoạt động truyền thông, giáo dục sức khỏe được duy trìthường xuyên và triển khai với nhiều hình thức khác nhau nên hiểu biết củangười dân về bệnh lao đã có nhiều chuyển biến Số người nghi ngờ mắc lao đãchủ động đến các cơ sở để khám và làm xét nghiệm ngày càng tăng; hoạt độngchương trình chống lao quốc gia ở thành phố Cần Thơ tiếp tục được duy trì, pháthuy những thành tựu đã đạt được của giai đoạn trước Đồng thời, nỗ lực phấnđấu để hoàn thành tốt mục tiêu của chương trình đề ra, khống chế tình hình dịch

tễ bệnh lao, duy trì mở rộng chương trình hoá trị liệu ngắn ngày với quản lý điềutrị có kiểm soát trực tiếp (DOTS), đối phó với vấn đề lao - HIV và vấn đề khángthuốc lao ngày một gia tăng [44]

Chương trình mục tiêu phòng, chống lao được triển khai với 100% dân sốđược bảo vệ bởi DOTS và việc điều trị có kiểm soát bệnh nhân lao được thựchiện tại tuyến y tế cơ sở [44]

Tuy nhiên, những năm qua công tác phát hiện nguồn lây vẫn còn gặpnhiều khó khăn bởi nhiều lý do khác nhau như: sự hiểu biết của người dân vềbệnh lao và cách phòng tránh còn hạn chế, xã hội còn kỳ thị với bệnh nhân lao,dẫn đến người bị bệnh thường giấu bệnh Mặt khác, đa số bệnh nhân lao đều làngười nghèo, điều kiện kinh tế khó khăn, ít được tiếp cận các phương tiện truyềnthông nên chưa có ý thức chống lây lan cho cộng đồng Bên cạnh đó, tổ chốnglao của các tuyến trình độ chuyên môn không đồng đều nên công tác phòng,chống lao còn hạn chế, nhất đối với Trạm Y tế các phường Nguồn nhân lực củatuyến quận, phường còn thiếu, thường xuyên thay đổi và kiêm nhiệm nhiều côngviệc, công tác xét nghiệm chưa đảm bảo đạt yêu cầu; kinh phí cho hoạt động củachương trình phòng chống lao còn hạn chế; áp lực công việc nặng nề, thời gianđiều trị dài

Trang 13

Việc triển khai các hoạt động chống lao đặc biệt tại tuyến thành phố vàquận gặp nhiều khó khăn do thiếu cán bộ, hầu hết cán bộ tại tuyến y tế cơ sở(quận, phường) phải làm việc kiêm nhiệm Tình trạng thiếu hụt cán bộ cả về sốlượng và chất lượng vẫn còn xảy ra; việc luân chuyển, thay đổi cán bộ, đưa điđào tạo cũng đang là vấn đề cấp bách tại các địa phương, hiện tượng cán bộ xinchuyển vị trí công tác sau khi được đào tạo vẫn còn xảy ra tương đối phổ biếnnên nhiều cán bộ mới, chưa có kinh nghiệm, thậm chí chưa được đào tạo chuyênkhoa phải nhận trách nhiệm thực hiện Mặt khác, ý thức phòng bệnh của ngườidân, cũng như những bệnh nhân đang điều trị lao trong cộng đồng còn chưa cao.

Một số điểm khó khăn trong công tác phòng, chống lao nữa là công tácnày chưa được xã hội hóa cao, sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể còn hạnchế, người mắc lao còn chịu nhiều định kiến và mặc cảm của xã hội, thời gianđiều trị dài nên gây trở ngại cho bệnh nhân

Để hoạt động phòng, chống lao ở cơ sở phát huy hiệu quả, điều quantrọng nhất là cần thay đổi nhận thức, nâng cao hiểu biết của người dân về bệnhlao để bản thân họ chủ động hơn trong việc phát hiện, phòng, chống bệnh chochính mình và mọi người trong cộng đồng Đây không chỉ là trách nhiệm củacán bộ trực tiếp làm công tác phòng, chống lao mà cần phải có sự phối hợp đồng

bộ của các cấp, các ngành và bản thân mỗi người dân, người bệnh Làm đượcnhư vậy mới mong khống chế, đẩy lùi, tiến tới thanh toán bệnh lao theo mục tiêu

đề ra, góp phần nâng cao chất lượng bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, xóađói giảm nghèo, góp phần tăng trưởng kinh tế địa phương

Bảng 1.1 Tình hình bệnh lao tại quận Cái Răng trong 3 năm [45],

[46], [47]

Năm

Thudungchung

AFB(+) mới

AFB(+) táiphát M-

Laongoàiphổi

Lao nhi Ghi chú

Đang quản

lý và điều trịtại TTYT là

127 ca

Trang 14

1.2 Phòng ngừa lây nhiễm lao cho cộng đồng

Mục tiêu cơ bản của CTCLQG là giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết và tỷ lệ nhiễm lao, giảm tối đa nguy cơ phát sinh tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn lao; Chương trình chống lao Việt Nam phấn đấu đạt mục tiêu toàn cầu do WHO đề

ra là phát hiện >70% số bệnh nhân lao phổi AFB(+) mới hàng năm và điều trị khỏi >85% số bệnh nhân lao phổi AFB (+) đã phát hiện đuợc bằng hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát [1] Để làm được việc này, bên cạnh áp dụng chiến lược DOTS có hiệu quả, những người mắc lao cần phải được phát hiện sớm và thu dung điều trị kịp thời, đồng thời tăng cường công tác giáo dục kiến thức bệnh lao trong toàn dân, từng bước xã hội hóa công tác chống lao, những bệnh nhân mắc lao sẽ là một mắt xích quan trọng trong công tác phòng ngừa lao cho cộng đồng nếu họ có hiểu biết, thái độ và thực hành lao đúng

1.2.1 Kiến thức về phòng ngừa lây nhiễm lao

Tăng cường công tác giáo dục tuyên truyền trong toàn dân, từng bước xãhội hoá công tác chống lao; hiểu biết bệnh lao trong cộng đồng là một trongnhững yếu tố quan trọng để thực hiện tốt chương trình phòng chống lao, Crofton

J và CS (1992) cho rằng sự hiểu biết của người dân về bệnh lao là rất khác nhau,tuỳ theo từng khu vực, tuỳ theo nền văn hoá

Quan niệm bệnh lao là bệnh di truyền, bệnh nan y không chữa khỏi cũngkhá phổ biến Do vậy, công tác giáo dục sức khoẻ về bệnh lao là hết sức cầnthiết, cần phải phổ biến rộng rải trong cộng đồng cho toàn dân hiểu để họ thựchành đúng, Chương trình chống lao Quốc gia đã ưu tiên triển khai các hoạt độngtruyền thông về bệnh lao trên nhiều kênh thông tin khác nhau, tuy vậy ở nhữngvùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc nhận thức về bệnh lao vẫn chưa tốt,

từ đó kết quả thực hiện chương trình chống lao vẫn còn thấp

Để có thể phòng ngừa lây nhiễm lao cần có hiểu biết về nguyên nhân,nguồn lây, đường xâm nhập, các triệu chứng của bệnh lao, qui trình phát hiện vàchẩn đoán và cả việc tuân thủ điều trị lao phổi

* Nguyên nhân, nguồn lây và đường xâm nhập

Nguyên nhân gây bệnh lao là do vi trùng lao người (MycobacteriumTuberculosis hominis) gây nên Vi khuẩn lao được chia làm 2 nhóm: Nhóm điểnhình (Typical Mycobacteria) và nhóm không điển hình (Atypical Mycobacteria),

Trang 15

người ta còn phân lập được một số vi trùng lao khác như: vi trùng lao bò, các vitrùng không điển hình cũng là nguyên nhân gây bệnh nhưng ít gặp [48], [49].

Vi trùng lao có tên khoa học là Mycobacterium Tuberculosis do RobertKoch tìm ra và công bố vào ngày 24/3/1882 Để nhớ đến ông, người ta còn gọi

vi trùng lao là vi trùng Koch (Bacillies de Koch, viết tắc là BK); vi trùng lao cóhình gậy, thân mảnh, dài khoảng 3-5µ, rộng 0,3-0,5µ [26], [48], [49]

Trong điều kiện tự nhiên, vi trùng có thể tồn tại vài ngày, thậm chí 3-4tháng nếu gặp điều kiện thuận lợi, trong phòng thí nghiệm, có thể bảo quản vikhuẩn lao trong nhiều năm, đờm của bệnh nhân lao ở trong phòng tối ẩm, sau 3tháng vi trùng vẫn tồn tại và giữ được độc lực Tuy nhiên, chúng chịu nhiệt độkém ở 42oC vi trùng đã ngừng phát triển và chết ở 80oC sau 10 phút, đối với cồn

90oC vi trùng tồn tại được 3 phút và bị tiêu diệt sau 1 phút với axit phenic 5%.Trong phương pháp nhuộm Ziehl-Neelsen, trực khuẩn lao bắt màu hồng đỏ trênnền xanh (nếu dùng dung dịch nền là Xanh Methylen) [6],[4], đứng đơn độc hayhợp thành từng đám nhỏ, các trực khuẩn lao non không có tính kháng cồn axit[3]

Vi khuẩn lao là loại vi khuẩn hiếu khí, trong môi trường phát triển của nócần có đủ oxy Do đó BK thường khu trú ở phổi và số lượng vi khuẩn phát triểnnhiều nhất trong các hang lao có thông nối với phế quản

Trong điều kiện bình thường, vi khuẩn sinh sản chậm (20-24 giờ/lần), khigặp điều kiện không thuận lợi chúng có thể sinh sản chậm hơn, thậm chí “nằmvùng”, tồn tại lâu trong tổn thương Khi có điều kiện, thì tái sinh sản trở lại Để

vi trùng phát triển thuận lợi cần đòi hỏi môi trường có nhiều chất dinh dưỡng vàoxy Vi trùng lao có cấu trúc rất phức tạp, có nhiều đại phân tử protides,glucoses và lipides Axit mycolic là một thành phần cấu tạo nên thành vi trùng[26], [38], [48], [49]

Đường lây bệnh chủ yếu là đường hô hấp, người bị lây do hít phải các hạtnước bọt nhỏ li ti có chứa vi trùng lao của người bị lao phổi ho, khạc ra; người

ta còn tìm thấy đường lây qua da, niêm mạc, đường tiêu hóa nhưng ít gặp [48],[49]

* Triệu chứng của bệnh lao

- Các dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ lao

Trang 16

+ Ho khạc đờm kéo dài trên 2 tuần, đây là dấu hiệu nghi lao quan trọngnhất, có thể ho ra máu;

+ Gầy sút, kém ăn, mệt mỏi;

+ Sốt nhẹ về chiều;

+ Đau ngực, đôi khi khó thở

- Cận lâm sàng: khi có dấu hiệu nghi lao, đặc biệt là ho khạc đờm trên 2tuần, cần đến các cơ sở y tế để khám, phát hiện bệnh

+ Soi tươi hoặc nuôi cấy tìm vi khuẩn trong đờm;

+ X quang: dùng để hỗ trợ chẩn đoán;

+ Một số xét nghiệm chẩn đoán khác như: phản ứng tuberculine (IDR),TB-DNA, PCR (phản ứng chuỗi polymesaze), MB/BacT (nuôi cấy trên môitrường hệ thống MB/BacT)

* Điều trị lao phổi

- Thuốc kháng lao: Chương trình chống lao Việt Nam quy định 5 loại thuốckháng lao thiết yếu là: Streptomycine (S), Isoniazide (H), Rifamycine (R),Pyrazinamide (Z) và Ethambutol (E)

- Phác đồ điều trị lao [9], [32]

+ Phác đồ 1: 2SHRZ/6HE, dùng cho lao phổi AFB(+) mới, AFB(-) và LNP.+ Phác đồ 2: 2SHRZE/5H3R3E3, dùng trong trường hợp tái trị, lao thể nặng.+ Phác đồ lao trẻ em: 2HRZ/4HR

* Đánh giá kết quả điều trị

- Đối với lao phổi AFB (+):

+ Khỏi: người bệnh điều trị đủ thời gian và có kết quả xét nghiệm đờm âm

tính ít nhất 02 lần kể từ tháng điều trị thứ 5 trở đi

+ Hoàn thành điều trị: người bệnh điều trị đủ thời gian, nhưng không xét

nghiệm đờm hoặc chỉ có xét nghiệm đờm 01 lần từ tháng 5, kết quả âm tính

+ Thất bại: người bệnh xét nghiệm đờm còn AFB(+) hoặc AFB(+) trở lại từ

tháng 5 trở đi

Trang 17

+ Chuyển: người bệnh được chuyển đi nơi khác điều trị nhưng có phiếu

phản hồi, nếu không có phiếu phản hồi coi như người bệnh bỏ trị

+ Chết: người bệnh chết vì bất cứ căn nguyên gì trong quá trình điều trị lao + Không đánh giá: những người bệnh đã đăng ký điều trị lao, nhưng vì lí

do nào đó không tiếp tục điều trị cho đến khi kết thúc phác đồ điều trị

- Đối với lao phổi AFB(-): Chỉ đánh giá là hoàn thành điều trị khi điều trị

- Chẩn đoán lao phổi bằng xét nghiệm đờm trực tiếp tìm vi trùng lao(phương pháp nhuộm Ziehl-Neelseen) Đây là phương pháp đơn giản rẻ tiền, cóhiệu quả nhất trong chương trình chống lao và thích hợp với các nước nghèo vàcác nước có thu nhập thấp

Khi bệnh nhân có các triệu chứng nghi lao đến khám, cần phải lấy 3 mẫuđờm để xét nghiệm tìm vi khuẩn lao:

+ Mẫu đờm tại chỗ lần 1: khi bệnh nhân đến khám, cán bộ y tế hướng dẫnbệnh nhân khạc đờm vào cốc đựng đờm [3], [4]

+ Mẫu đờm lần thứ 2: sau khi kiểm tra chất lượng và số lượng của mẫuđờm tại chỗ lần 1, cán bộ y tế giao cho bệnh nhân cốc đờm khác và hướng dẫncho bệnh cách khạc và lấy đờm vào buổi sáng hôm sau, ngay sau khi đánh răng,súc miệng và trước khi đến phòng khám lần 2 [3], [4]

+ Mẫu đờm lần thứ 3: sau khi bệnh nhân mang mẫu đờm buổi sáng đếnphòng khám, bệnh nhân tiếp tục khạc đờm vào cốc thứ 3 dưới sự giám sát củacán bộ y tế [3], [4]

+ Các cốc đều được ghi họ tên của bệnh nhân ở thành bên

Sử dụng X quang để chẩn đoán lao phổi: Phương pháp này, dễ dẫn tớinhầm và lãng phí Hiện nay chương trình chủ yếu sử dụng X quang trong các

Trang 18

trường hợp có triệu chứng nghi lao, xét nghiệm đờm nhiều lần mà AFB vẫn âmtính, các trường hợp chẩn đoán bệnh lao AFB (-) dựa trên cơ sở lâm sàng và Xquang phải được hội chẩn Ngoài ra, có thể sử dụng X quang vừa hỗ trợ chochẩn đoán, vừa để theo dõi diễn tiến bệnh.

Một số xét nghiệm chẩn đoán khác: TB-DNA, PCR, MB/BacT …

1.2.2 Thực hành về phòng ngừa lây nhiễm lao

Loại bỏ nguồn lây, cách ly và điều trị sớm, tích cực những người lao phổi

có AFB(+)

Phòng lao phổi trong cộng đồng: muốn phòng lao cho cộng đồng phảigiảm được nguồn lây lao là người lao phổi có trực khuẩn lao, phát hiện đượctrong đờm bằng phương pháp soi trực tiếp Do vậy muốn phòng lao cho cộngđồng có hiệu quả phải phát hiện được tối đa người lao phổi AFB(+) và chữakhỏi bệnh lao cho những người đang mắc bệnh

Phòng lao cho cá nhân: những người thường xuyên có quan hệ tiếp xúc,sống gần gũi, làm việc chung đụng với người lao phổi có tỷ lệ nhiễm lao và mắclao cao hơn những người khác Muốn phòng lao cho cá nhân cần tránh tiếp xúcvới nguồn lây nhiễm (người lao phổi) không tiếp xúc nếu không cần thiết, ngoài

ra phải có chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý phù hợp với sức khỏe, có điều kiệnnuôi dưỡng tốt, ăn uống đầy đủ về chất và số lượng, môi trường sống trong lành,sạch sẽ, nhà cửa thoáng mát, đầy đủ ánh sáng, không tối tăm, ẩm thấp, chật chội;Giáo dục cho người lao phổi khạc nhổ đúng chỗ như vào bô, lọ có chất sát trùng

có nắp đậy, biết cách phòng bệnh cả cho người khác, không ho gặng hướng vềphía người đối diện; Quản lý và xử lý tốt đờm và các chất khạc nhổ, chất tiết,chất thải của người bệnh lao, đồ dùng chăn màn người bệnh lao được thườngxuyên phơi dưới ánh sáng mặt trời đối với trẻ em phải tiêm ngừa BCG phònglao cho mọi trẻ sơ sinh

DOST là hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp, bệnh nhân lao pháthiện sẽ đăng ký điều trị tại tổ lao huyện và chuyển về trạm y tế phường điều trị

có kiểm soát DOTS để đảm bảo cho việc điều trị lao lành với tỷ lệ cao, tránhkhông để xảy ra lao kháng thuốc, cũng như theo dõi sát các biến chứng thuốc lao

có thể xảy ra để xử lý kịp thời; Giai đoạn tấn công phải điều trị có kiểm soáttừng liều thuốc và giai đoạn củng cố nhân viên y tế đi vãng gia từng bệnh nhân;

Trang 19

Nhân viên y tế xã được huấn luyện để đảm trách việc giám sát trực tiếp suốt quátrình điều trị cho bệnh nhân; Thuốc lao được cấp phát miễn phí đầy đủ và liêntục; Điều trị đúng, đều, đủ và theo dõi các biến chứng thuốc lao có thể xảy ra để

xử lý kịp thời; Theo dõi kết quả điều trị bằng xét nghiệm đờm kiểm soát làchính; Thời gian thử đờm kiểm soát sau giai đoạn tấn công 2-3 tháng, sau 4-5tháng và 6-8 tháng điều trị tùy theo phác đồ; Nếu đờm không còn vi khuẩn laosau 4-5 tháng và sau 6-8 tháng thì bệnh nhân đã âm hóa đờm, lành bệnh; Điều trịlao phổi mới có vi khuẩn lao trong đờm phải đạt tỷ lệ âm hóa ít nhất 85% [16],[17], [29]

* Để đảm bảo kết quả điều trị lao phổi có hiệu quả, bệnh nhân cần tuân theo các nguyên tắc

- Điều trị sớm ngay sau khi được chẩn đoán để cắt đứt nguồn lây cho cộngđồng và điều trị khỏi cho bệnh nhân

- Phối hợp ít nhất 3 loại thuốc kháng lao

- Dùng thuốc đúng liều, đều đặn và dùng một lần vào lúc đói

- Điều trị đủ thời gian theo 2 giai đoạn: tấn công (02-03 tháng) và duy trì(05-06 tháng)

- Điều trị có kiểm soát trực tiếp (DOTS) [13], [16], [17], [22], [29]

1.3.

Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành phòng lây nhiễm và điều trị bệnh nhân lao

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về bệnh lao được tiến hành trên thế

giới và trong nước, các nghiên cứu gần đây tập trung vào việc đánh giá tình hìnhbệnh lao phổi đặc biệt là số người nhiễm lao phổi, số người mắc lao AFB(+) và

số người đồng nhiễm lao HIV, nhiều nhà điều tra tại cộng đồng đã cung cấp các

số liệu khoa học cho việc mô tả tổng quan tình hình nhiễm lao trên thế giới cũngnhư từng khu vực và từng nước, bên cạnh việc mô tả số người nhiễm lao, cácnghiên cứu còn quan tâm đến vấn đề điều trị lao mà đặc biệt là lao kháng thuốc[36], [40],

Một số các công trình nghiên cứu về bệnh lao trên thế giới gần đây như:nghiên cứu của Nacheg về kiến thức, thái độ về bệnh lao ở người nhiễm HIV tạiNam Phi nghiên cứu của Mangasho và cộng sự về kiến thức, thái độ và thựchành về bệnh lao và điều trị bệnh lao ở Tanzania [27], [40]

Trang 20

Trong nước cũng có các công trình nghiên cứu được đề cập gần đây vềbệnh lao như:

- Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh binhlao phổi mới, AFP (+) tại Bệnh viện quân Y 120 từ thàng 01/2011 – 12/2015 củaNguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Thị Thảo Nguyên Kết quả phác đồ 2SHRZ/6HEdùng trong điều trị lao phổi mới AFB(+) có tỷ lệ khỏi bệnh cao 96,4% [41]

- Nghiên cứu tình hình bệnh nhân mắc bệnh lao được quản lý và điều trị tạithừa thiên huế từ năm 2008 đến năm 2012 của Huỳnh Bá Hiếu và CS Kết quảcho thấy Đối với bệnh nhân AFB (+) trong các năm tỷ lệ điều trị khỏi trên 93%,

tỷ lệ hoàn thành đìêu trị từ 1% - 2,2%, cho thấy tỷ lệ điều trị thành công là 94%

- 95%; tỷ lệ tử vong 0,8% - 1,2%; tỷ lệ bỏ điều trị thấp từ 0,4% - 2%; tỷ lệ thấtbại điều trị từ 0,14% - 0,43% [31]

- Tìm hiểu kiến thức, thái độ thực hành của bệnh nhân lao phổi AFP (+)được điều trị tại bệnh viện 71 Trung uơng năm 2014 của Đoàn Thị Yến Có52,5% khi mới điều trị cho rằng vi khuẩn là nguyên nhân gây nên bệnh lao, mặc

dù bệnh nhân có kiến thức chưa tốt về phòng ngừa nhưng thái độ của họ bềphòng bệnh cho cộng đồng là khá tốt có 95% bệnh nhân biết có quy định cụ thểcho bệnh nhân lao khạc đàm và nơi xử lý đàm [52]

- Đánh giá thực trạng tình hình mắc lao và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang điều trị lao tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, năm 2012-2013 của Phạm Hồng Thanh Kết quả cho thấy Lao phổi AFB (+): chiếm tỷ lệ cao nhất là AFB (+) mới (55,8%), AFB (+) tái phát là (7,5%) và thấp nhất là AFB (+) thất bại là (0,5%) Các nguồn thông tin về PC bệnh lao ở người bệnh mắc lao được tiếp cận: Qua ti vi chiếm tỷ lệ cao nhất (73,3%); Trạm y tế (73,0%); Loa phát thanh địa phương (57,3%); Người thân, hàng xóm (43,0%); Pano, áp phích, tờ rơi (36,5%); Tổ y tế, thầy thuốc tư là (29,0%); Sách báo là (28,3%) [42]

- Tỷ lệ nhiễm lao tiềm ẩn và nguy cơ mắc bệnh lao của người nhà tiếp xúc với bệnh nhân lao phổi AFP (+) của Đỗ Phúc Thanh, Nguyễn Phúc Như Hà, Trần Thị Minh Diễm, Hoàng Viết Thắng, Trương Quang Đạt Tạp chí Y học 2015 ( TLTK) Kết quả Tỷ lệ người nhà bệnh nhân lao phổi có IGRAs (+) chiếm tỷ lệ 36,5% 5% người nhà bệnh nhân lao phổi phát sinh bệnh lao sau 12 tháng tiếp xúc; 7% phát sinh sau 18 tháng tiếp xúc Nhóm người nhà tiếp xúc có IGRA (+)

có nguy cơ mắc lao cao gấp 5 lần và 6 lần so với nhóm người nhà tiếp xúc có IGRA (-) sau 12 tháng và 18 tháng [43]

Qua các nghiên cứu cho ta thấy tình hình nhiễm lao mới trên thế giới nóichung và ở Việt Nam nói riêng vẫn còn cao Đây là lời cảnh báo cho công tác y

Trang 21

tế cộng đồng, bên cạnh đó nguy cơ lao kháng thuốc vẫn đang hiện hữu làm chotình hình bệnh lao trở nên phức tạp hơn, rõ ràng chúng ta vẫn còn rất nhiều cáccông trình nghiên cứu về việc phòng ngừa lây nhiễm trong cộng đồng và sự tuânthủ điều trị để cải thiện tình hình bệnh lao hiện nay

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 22

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán và đang điều trị lao phổi tại quận CáiRăng, thành phố Cần Thơ năm 2017

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Tại phòng khám lao Trung tâm Y tế quận Cái Răng

và - Thời gian nghiên cứu: Trạm Y tế các phường - Thời gian nghiên cứu

dự kiến được tiến hành từ ngày 01/03/2017 đến ngày 31/10/2017;

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

* Tiêu chuẩn chọn vào

- Tất cả bệnh nhân đang điều trị lao phổi các thể tại quận Cái Răng (baogồm bệnh nhân của các phường) (nếu đối tượng còn nhỏ không trả lời được cáccâu hỏi của đề tài đặt ra, thì sẽ phỏng vấn cha/mẹ hoặc người trực tiếp nuôidưỡng trong gia đình)

- Bệnh nhân đồng ý tham gia vào nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân rối loạn tâm thần, người già không còn minh mẫn, bệnh nhân

bị điếc;

- Bệnh nhân đang mắc các bệnh cấp cứu;

- Bệnh nhân không đồng ý trả lời câu hỏi;

- Bệnh nhân không có hộ khẩu thường trú tại quận Cái Răng

* Phương pháp chọn mẫu

- Chọn tất cả bệnh nhân mắc bệnh lao (lao phổi, lao ngoài phổi, lao nhi, lao

đa kháng thuốc) đang điều trị tại quận Cái Răng

- Qua khảo sát tất cả bệnh nhân đang điều trị lao phổi tại quận Cái Răng,đồng ý tham gia nghiên cứu chúng tôi chọn được 109 người

* Cỡ mẫu nghiên cứu: 109 người

Trang 23

2.5 Phương pháp thu thập thông tin

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Bước 1: Lập danh sách bệnh nhân đang điều trị lao phổi tại Trung tâm Y

tế quận Cáo Răng năm 2017

- Bước 2: Xây dựng kế hoạch, chọn thời gian thích hợp đi điều tra

- Bước 3: Các điều tra viên được tập huấn trước khi triển khai thu thập sốliệu

- Bước 4: Tiến hành điều tra, phỏng vấn bằng bộ câu hỏi được soạn sẵn

2.5.2 Công cụ thu thập số liệu

Công cụ thu thập dữ kiện là bộ câu hỏi (phụ lục 1) Cấu trúc bộ câu hỏigồm 4 phần:

- Phần 1: Bao gồm 9 câu hỏi để đánh giá một số thông tin về đối tượngnghiên cứu như: Tuổi, giới, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế giađình

- Phần 2: Bao gồm 10 câu hỏi để thu thập một số thông tin về kiến thức củađối tượng nghiên cứu như: Nguyên nhân gây bệnh lao phổi, đường lây, cáchgiao tiếp để phòng bệnh cho người khác

- Phần 3: Gồm 11 câu hỏi để khảo sát thông tin về thực hành của đối tượngnghiên cứu như: Cách xử lý đàm để phòng bệnh cho người khác, chấp nhận điềutrị kéo dài, cách uống thuốc như thế nào

- Phần 4: Gồm 02 câu hỏi để thu thập một số thông tin về truyền thông củađối tượng nghiên cứu như: Nghe nói về bệnh lao phổi, nghe từ đâu

2.6 Biến số

2.6.1 Các đặc điểm chung của đối tượng

- Tuổi: Được chia thành 4 nhóm: Nhóm tuổi từ 18 – 29 tuổi, nhóm từ 30 –

49 tuổi, nhóm từ 50 – 59 tuổi và nhóm ≥ 60 tuổi

- Giới tính: Được chia thành 2 nhóm nam và nữ

- Dân tộc: Kinh, Khmer, Hoa, khác

- Nghề nghiệp: Viên chức, công nhân, nông dân, buôn bán, nội trợ

Trang 24

- Trình độ học vấn: Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, trêntrung học phổ thông

- Tiếp nhận thông tin về bệnh lao: bệnh nhân có thể không được tiếp cậncác thông tin về bệnh lao hoặc được tiếp cận từ tivi, đài, sách, báo, tờ bướm,nhân viên y tế, hàng xóm, bạn bè, người thân (phân chia việc tiếp nhận thông tinthành 2 nhóm có tiếp nhận và không tiếp nhận)

2.6.2 Kiến thức và thực hành

* Về kiến thức

- Là biến nhị giá đúng và không đúng về phòng ngừa lây nhiễm cho cộngđồng được xác định qua sự hiểu biết của bệnh nhân lao phổi bao gồm các biếnnhư sau: nguyên nhân gây bệnh; đường lây truyền; nơi ho khạc đờm; cách xử lýđờm; cách tiếp xúc người khác; tiêm ngừa lao cho trẻ em; các triệu chứngthường gặp của bệnh lao và việc tuân thủ điều trị lao (khả năng điều trị, thờigian điều trị, cách uống thuốc, nơi cung cấp thuốc, các dấu hiệu liên quan đếnđiều trị)

- Kiến thức đúng là khi người bệnh biết được bệnh lao là một bệnh do vitrùng gây ra; lây truyền qua đường hô hấp khi ho, khạc hoặc hắt hơi; biết cần ho,khạc đờm vào lon, cốc lọ đem chôn hoặc đốt; biết hạn chế tiếp xúc với ngườikhác bằng cách che miệng khi ho, ăn uống riêng; biết cần khuyên tiêm ngừa lao(BCG) cho trẻ; biết các triệu chứng thường gặp của bệnh lao là ho khạc kéo dàitrên 2 tuần lễ, sốt nhẹ về chiều, sụt cân, kém ăn, đau ngực, khó thở, ho ra máu đểhướng dẫn người xung quanh; biết cần hướng dẫn những người có dấu hiệu nghingờ đến cơ sở y tế xét nghiệm đàm; phải tuân thủ điều lao đúng phác đồ (khảnăng điều trị, thời gian điều trị, cách uống thuốc, nơi cung cấp thuốc, các dấuhiệu liên quan đến điều trị)

- Thang điểm: Gồm 11 câu hỏi kiến thức về bệnh lao mỗi kiến thức đúngbệnh nhân trả lời đúng sẽ được 1 điểm, kiến thức chưa đúng được 0 điểm:

+ Kiến thức tốt: Khi bệnh nhân trả lời đạt ≥ 90% tổng điểm

+ Kiến thức chưa tốt: Khi bệnh nhân trả lời đạt < 90% tổng số điểm

* Về thực hành

Trang 25

- Là biến nhị giá đúng và không đúng về phòng ngừa lây nhiễm cho cộngđồng được xác định qua các hành động cụ thể của bệnh nhân lao phổi như: hokhạc đờm vào lon, cốc, lọ; chôn hoặc đốt đờm; hạn chế tiếp xúc với người khác;hướng dẫn người khác tự phát hiện bệnh lao, hướng dẫn người khác đi khámbệnh lao, tiêm ngừa lao cho trẻ em; các triệu chứng thường gặp của bệnh lao vàviệc tuân thủ điều trị lao (khả năng điều trị, thời gian điều trị, cách uống thuốc,nơi cung cấp thuốc, các dấu hiệu liên quan đến điều trị)

- Một bệnh nhân lao phổi có thực hành đúng về phòng ngừa lây nhiễm chocộng đồng là khi người bệnh ho khạc đàm đúng nơi quy định vào lon, cốc, lọ, …

xử lý đàm đúng là đem chôn hoặc đốt, hạn chế tiếp xúc với người xung quanh,

có hướng dẫn cho người khác về cách tự phát hiện bệnh và có hướng dẫn chongười khác đi khám tại các cơ sở y tế khi có dấu hiệu nghi ngờ

- Thang điểm: Gồm 06 câu hỏi dành riêng cho phần thực hành mỗi câu hỏithực hành đúng bệnh nhân sẽ được 1 điểm, thực hành chưa đúng 0 điểm

+ Thực hành đúng: khi bệnh nhân đạt ≥ 90% tổng điểm

+ Thực hành chưa đúng: khi bệnh nhân đạt < 90% tổng số điểm

2.6.3 Nhóm biến số truyền thông:

Là biến nhị giá có và không có tiếp cận các nguồn truyền thông về phòngngừa lây nhiễm cho cộng đồng được xác định qua sự tiếp cận các nguồn thôngtin về bệnh lao phổi của bệnh nhân như: tiếp cận thông tin từ nhân viên y tế; bạn

bè, người thân; sách báo, tờ rơi; ti vi, đài phát thanh…

2.6.4 Các yếu tố liên quan

* Liên quan các đặc điểm chung của đối tượng

* Liên quan đến kiến thức, thực hành và các yếu tố truyền thông

2.7 Thu thập dữ kiện

2.7.1 Phương pháp thu thập dữ kiện

Cán bộ thu thập dữ liệu đi đến từng hộ gia đình, phỏng vấn trực tiếp bệnhnhân lao phổi đang điều trị tại quận Cái Răng năm 2017

Trang 26

2.7.2 Công cụ thu thập dữ kiện: Bảng phỏng vấn đã được soạn sẵn

2.8 Kiểm soát sai lệch thông tin:

Tập huấn điều tra viên được tiến hành trước khi điều tra, trong quá trìnhthu thập thông tin kỹ năng tiếp cận đối tượng, kỹ năng khai thác thông tin theođúng yêu cầu của bộ câu hỏi, kỹ năng ghi chép chi tiết để tránh sai lệch thôngtin

2.9 Nghiên cứu thử:

Mỗi điều tra viên phỏng vấn thử 05 đối tượng để xem xét những vấn đềcần điều chỉnh cho phù hợp thực tế Việc phỏng vấn thử sẽ giải quyết được cácyêu cầu về thực hành kỹ năng phỏng vấn của các điều tra viên, thử nghiệm bộcâu hỏi tại thực địa và đưa ra được những vấn đề cần phải điều chỉnh cho phùhợp

2.10 Xử lý và phân tích dữ kiện:

Sau khi điều tra trực tiếp đối tượng trên, dữ liệu sẽ được làm sạch Cácphiếu điều tra không hợp lệ sẽ bị loại ra, sau đó nhập và phân tích dữ liệu bằng

chương trình phần mềm SPSS 18.0

2.11 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối tham gia nghiên cứu

- Thông tin thu được từ nghiên cứu này sẽ hoàn toàn giữ bí mật

- Đối tượng nghiên cứu có quyền không trả lời những câu hỏi mà họ cho làkhông thích hợp

- Đối tượng sẽ được tư vấn về phòng lây nhiễn lao phổi cho cộng đồngmiễn phí

- Kết quả của nghiên cứu này sẽ cung cấp những thông tin hữu ích cho việc

đề xuất các hoạt động can thiệp phù hợp cho nhóm bệnh nhân lao phổi tại quậnCái Răng trong thời gian tới

2.12 Khả năng khái quát và tính ứng dụng

Mặc dù nghiên cứu chỉ tiến hành đối tượng là bệnh nhân mắc bệnh lao phổitại quận Cái Răng, nhưng cũng có cơ sở để nhận định tính hiệu quả thực tế trongviệc xây dựng giả thuyết về mối quan hệ nhân quả gữa các yếu tố: kiến thức,thực hành và các yếu tố liên quan đến việc phòng ngừa lây nhiễm lao phổi cho cộngđồng

Trang 27

Kết quả thu được từ nghiên cứu này có thể sẽ giúp cho quận Cái Răng nóiriêng, thành phố Cần Thơ nói chung định hướng đề ra các chương trình canthiệp hữu hiệu trong việc ngăn chặn lây lan bệnh lao phổi trong cộng đồng.

Trang 28

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu:

Bảng 1: Phân bố theo nhóm tuổi của các đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Trong nhóm đối tượng nghiên cứu nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất từ

30 – 49 chiếm tỷ lệ 45.2%; thấp hơn là nhóm tuổi ≥ 60 chiếm 20.2%; nhóm tuổi

từ 18 – 29 chiếm 19.3%; thấp nhất là nhóm tuổi 50 – 59 chiếm 15.6%

Bảng 2: Phân bố theo giới của các đối tượng nghiên cứu

Trang 29

Nhận xét: Đối tượng tham gia nghiên cứu dân tộc kinh chiếm tỷ lệ cao nhất

98.2%; tiếp theo là dân tộc Khmer và dân tộc Hoa chiếm 0.9%

Bảng 4: Phân bố theo nghề nghiệp của các đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Nhóm đối tượng tham gia nghiên cứu nghề nghiệp nông dân chiếm tỷ

lệ cao nhất 36.7%; công nhân chiếm tỷ lệ 28.4%; buôn bán chiếm tỷ lệ 19.3%; nội trợ chiếm tỷ lệ 13.8%; thấp nhất là viên chức chiếm tỷ lệ 1.8%

Bảng 5: Phân bố theo trình độ học vấn của các đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Nhóm đối tượng tham gia nghiên cứu trình độ học vấn nhóm Tiểu

học chiếm tỷ lệ cao nhất 57.8%; Trung học cơ sở chiếm tỷ lệ 19.3%; Trung học phổ thong chiếm tỷ lệ 14.7%; thấp nhất là nhóm Đại học, trung học, cao đẳng chiếm tỷ lệ 8.3%

Bảng 6: Phân bố theo kinh tế gia đình của các đối tượng nghiên cứu

Trang 30

- Nghèo 34 31.2

Nhận xét: Nhóm tham gia nghiên cứu phân bổ theo hoàn cảnh kinh tế gia

đình nhóm không nghèo chiếm tỷ lệ 68.8%; nghèo chiếm tỷ lệ 31.2%

3.2 Nguồn thông tin

Bảng 7: Nguồn tiếp nhận thông tin về bệnh lao của các đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Nguồn tiếp nhận thông tin của nhóm đối tượng nghiên cứu cao

nhất từ nhân viên Y tế chiếm tỷ lệ 66.1%; từ Bạn bè, người than chiếm tỷ lệ22.9%; thấp nhất là nguồn từ Tivi, đài phát thanh, Sách báo, tờ bướm chiếm tỷ lệ11.0%

Bảng 8: Mức độ tiếp cận các nguồn truyền thông

3.3 Kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan

3.3.1 Kiến thức của bệnh nhân lao phổi

Trang 31

Bảng 9: Kiến thức chung đúng của bệnh nhân lao phổi về phòng lây nhiễm lao cho cộng đồng

01 Nhận biết được nguyên nhân gây bệnh lao phổi 84 77.1

02 Nhận biết được đường lây truyền bệnh lao phổi 95 87.2

03 Nhận biết được những dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh lao 59 54.1

04 Nhận biết được khi có dấu hiệu nghi ngờ bệnh lao 106 97.2

05 Nhận biết được bệnh lao hiện nay điều trị khỏi không 103 94.5

06 Nhận biết được điều trị bệnh lao kéo dài trong thời gian bao

07 Nhận biết được cách uống thuốc điều trị lao như thế nào 102 93.6

08 Nhận biết được khi bệnh nhân ho khạc đàm cần nhổ vào

09 Nhận biết được đàm của bệnh nhân lao cần xử lý như thế

10 Nhận biết khi giao tiếp của bệnh lao với những người xung

11 Nhận biết được khi có dấu hiệu bất thường hoặc bệnh

Nhận xét: Kiến thức chung đúng của nhóm đối tượng nghiên cứu nhận biết

được khi có dấu hiệu bất thường báo ngay cho cán bộ Y tế chiếm tỷ lệ cao nhất 98.2%; biết được khi có dấu hiệu nghi ngờ bệnh lao chiếm tỷ lệ 97.2%; để

phòng ngừa cho người khác khi giao tiếp với những người xung quanh cần phải đeo khẩu trang, giữ khoản cách chiếm tỷ lệ 96.3%; biết được bệnh lao hiện nay điều trị khỏi chiếm tỷ lệ 94.5%; biết được thời gian điều trị bệnh lao và cáchuống thuốc điều trị lao chiếm tỷ lệ 93.6%; biết được ho khạc đàm cần nhổ vào đúng chổ quy định và cách xử lý đàm của bệnh nhân lao đồng chiếm tỷ lệ

90.8%; tiếp theo là biết được đường lây truyền bệnh lao phổi chiếm tỷ lệ 87.2%;nguyên nhân gây bệnh chiếm tỷ lệ 77.1%; thấp nhất là nhận biết dấu hiệu nghi ngờ bệnh lao là 54.1%

Trang 32

Biểu đồ 1.1 Đánh giá chung về kiến thức của bệnh nhân với phòng ngừa

lây nhiễm lao phổi cho cộng đồng

Nhận xét: Kiến thức chung đúng của bệnh nhân lao phổi về phòng lây nhiễm

lao cho cộng đồng đạt tỷ lệ 51%

Trang 33

3.3.2 Thực hành của bệnh nhân lao phổi

Bảng 10: Thực hành đúng của bệnh nhân lao phổi về phòng ngừa lây nhiễm lao phổi cho cộng đồng

03 Thực hành đúng để phòng ngừa bệnh lao qua

đường hô hấp với những người xung quanh 105 96.3

04 Thực hành đúng về việc thời gian điều trị bệnh

lao

05 Thực hành đúng về uống thuốc điều trị bệnh lao 109 100.0

06 Thực hành đúng khi có dấu hiệu bất thường hoặc

Nhận xét: Trong nhóm đối tượng nghiên cứu về uống thuốc điều trị bệnh lao

chiếm tỷ lệ 100%; thực hành đúng khi có dấu hiệu bất thường hoặc bệnh không giảm/nặng them chiếm tỷ lệ 98.2%; thực hành đúng để phòng ngừa bệnh lao quađường hô hấp với những người xung quanh chiếm tỷ lệ 96.3%; thực hành đúng

về ho khạc đàm và xử lý đàm đồng chiếm tỷ lệ 90.8%; thực hành đúng về thời gian điều trị bệnh lao chiếm tỷ lệ 86.2% thấp nhất về t hực hành đúng của bệnh nhân lao phổi về phòng ngừa lây nhiễm lao phổi cho cộng đồng

Ngày đăng: 16/06/2019, 15:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Bùi Đức Dương, Nguyễn Thiên Hương, Nguyễn Phương Hoa, “Tình hình bệnh lao tại Lâm Đồng”, Nội san, tập 39, Trang 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìnhhình bệnh lao tại Lâm Đồng”
17. Bùi Đức Dương, Nguyễn Phương Hoa, “Hiệu quả của hoá trị liệu ngắn ngày (2SRHZ/6HE) Trong điều trị bệnh nhân lao phổi AFB(+) mới tại huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây”, Nội san, tập 39, Trang 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hiệu quả của hoá trị liệu ngắnngày (2SRHZ/6HE) Trong điều trị bệnh nhân lao phổi AFB(+) mới tại huyệnChương Mỹ, tỉnh Hà Tây”
18. Dương Bá Dũng, Hứa Đình Trọng, Nguyễn Quốc Hoàn, Nguyễn Thị Thảo, “Tìm hiểu kiến thức về bệnh lao của các đối tượng đến khám tại phòng khám lao bệnh viện lao Thái Nguyên”, Nội san, tập 33, Trang 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu kiến thức về bệnh lao của các đối tượng đến khám tại phòngkhám lao bệnh viện lao Thái Nguyên”
19. Đại học Y dược Tp. Hồ Chí Minh (1999), “Bệnh học lao phổi, tập II”, Nhà xuất bản Đà Nẳng, Trang 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bệnh học lao phổi, tập II”
Tác giả: Đại học Y dược Tp. Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẳng
Năm: 1999
20. Đinh Quang Đông, CS, “Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến lao phổi AFB(+) tái phát của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1995-1997”, Nội san, tập 33, Trang 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến lao phổiAFB(+) tái phát của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1995-1997”
21. Đỗ Châu Giang, Hoàng Thị Quí, “Tình hình phát hiện lao phổi AFB(+) mới và kết quả điều trị của phác đồ hoá ngắn ngày tại 6 quận nội thành Tp. Hồ Chí Minh đã thực hiện DOTS trong 10 năm”, Nội san, tập 34, Trang 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tình hình phát hiện lao phổi AFB(+)mới và kết quả điều trị của phác đồ hoá ngắn ngày tại 6 quận nội thành Tp. HồChí Minh đã thực hiện DOTS trong 10 năm”
22. Nguyễn Trường Giang, Trần Văn Sáng, Bùi Đức Dương, “Vai trò của y tế thôn bản trong điều trị lao 04 huyện miền núi tỉnh Thái Nguyên”, Nội san, tập 34, Trang 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vai trò của ytế thôn bản trong điều trị lao 04 huyện miền núi tỉnh Thái Nguyên”
23. Hoàng Hà, Đoàn Khải Hoàn, “Điều tra mức độ hiểu biết về bệnh lao của người dân ở 2 xã, phường thuộc tỉnh Thái Nguyên”, Nội san, tập 34, Trang68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Điều tra mức độ hiểu biết về bệnh laocủa người dân ở 2 xã, phường thuộc tỉnh Thái Nguyên”
24. Lâm Thuận Hiệp (2009), “Khảo sát kiến thức, thái độ thực hành phòng chống lao của người dân trên 40 tuổi, tại Thị trấn Thới Bình và xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình”, Luận văn chuyên khoa cấp I, Đại học Y dược Tp. Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khảo sát kiến thức, thái độ thực hành phòngchống lao của người dân trên 40 tuổi, tại Thị trấn Thới Bình và xã Hồ Thị Kỷ,huyện Thới Bình”
Tác giả: Lâm Thuận Hiệp
Năm: 2009
25. Huỳnh Bá Hiếu, CS, “Kiến thức thái độ và cơ sở của bệnh nhân lao mới trong việc thực hiện DOTS tại Thừa Thiên Huế”, Nội san, tập 34, Trang 87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kiến thức thái độ và cơ sở của bệnh nhân laomới trong việc thực hiện DOTS tại Thừa Thiên Huế”
27. Hồ Văn Hiền, bệnh lao và những yếu tố liên quan, www.who.int/bulletin/volumes, ngày 10/4/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: bệnh lao và những yếu tố liên quan,www.who.int/bulletin/volumes
28. Phạm Văn Hoàng, Tô Kiều Dung, Bùi Đức Dương, “So sánh kết quả điều trị giai đoạn tấn công bằng RSHZ cho bệnh nhân lao phổi mới AFB(+)ở hai nhóm nội trú và ngoại trú”, Nội san, tập 33, Trang 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “So sánh kết quảđiều trị giai đoạn tấn công bằng RSHZ cho bệnh nhân lao phổi mới AFB(+)ởhai nhóm nội trú và ngoại trú”
29. Hoàng Văn Hồng, “Kết quả quản lý và điều trị lao tại cộng đồng theo chiến lượng DOTS. Thuộc 3 xã vùng cao, vùng xa huyện Đồng Huỷ, tỉnh Thái Nguyên”, Nội san, tập 34, Trang 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả quản lý và điều trị lao tại cộng đồng theochiến lượng DOTS. Thuộc 3 xã vùng cao, vùng xa huyện Đồng Huỷ, tỉnh TháiNguyên”
30. Hoàng Văn Hồng, Mai Thị Diệu, “Nhận xét kết quả điều trị công thức N1 2RHEZ/6HE tại bệnh viện lao Thái Nguyên năm 1996-1999”, Nội san, tập 33, Trang 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhận xét kết quả điều trị công thứcN1 2RHEZ/6HE tại bệnh viện lao Thái Nguyên năm 1996-1999”
31. Huỳnh Bá Hiếu và CS “Nghiên cứu tình hình bệnh nhân mắc bệnh lao được quản lý và điều trị tại thừa thiên huế từ năm 2008 đến năm 2012” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu tình hình bệnh nhân mắc bệnh laođược quản lý và điều trị tại thừa thiên huế từ năm 2008 đến năm 2012
33. Ông Minh Luân (2009), “Nghiên cứu, kiến thức, thái độ thực hành của bệnh nhân lao phổi về phòng ngừa lây nhiễm và điều trị tại huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng năm 2009”, Luận văn chuyên khoa cấp I, Đại học Y dược Tp. Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu, kiến thức, thái độ thực hành củabệnh nhân lao phổi về phòng ngừa lây nhiễm và điều trị tại huyện Cù LaoDung, tỉnh Sóc Trăng năm 2009”
Tác giả: Ông Minh Luân
Năm: 2009
34. Lê Thị Luyến, “Nghiên cứu một số yếu tố liên quan tới nguy cơ AFB(+) sau hai tháng điều trị ở bệnh nhân lao phổi”, Tạp chí thông tin Y dược, số chuyên đề lao và bệnh phổi, Trang 195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu một số yếu tố liên quan tới nguy cơAFB(+) sau hai tháng điều trị ở bệnh nhân lao phổi”
36. Nguyễn Minh Mẫn, Bệnh lao và những điều cần biết,www.ykhoa.net.com, ngày 05/10/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lao và những điều cầnbiết,www.ykhoa.net.com
37. Đậm Minh Quang, Đổi mới phương thức hành động để tiến tới thanh toán lao ở Việt Nam, www.ykhoa.net.com, ngày 20/11/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương thức hành động để tiến tới thanhtoán lao ở Việt Nam, www.ykhoa.net.com
38. Đinh Ngọc Sỹ (2005), “Tình hình bệnh lao/HIV”, Tài liệu tập huấn cán bộ chương trình lao tuyến huyện Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tình hình bệnh lao/HIV”
Tác giả: Đinh Ngọc Sỹ
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w