1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị văn hóa của dân dộc khmer trong phát triển du lịch tỉnh sóc trăng

66 167 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 247,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Sóc Trăng là một tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi nối các tỉnh trong khu vực, đặc biệt Sóc Trăng với lợi thế nhiều chùachiền gắn liền với đời sống

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong những năm qua, du lịch đã dần khẳng định vị trí trong phát triển kinh tế

xã hội của đất nước Để làm được điều này, việc kết hợp giữa văn hóa và du lịchđóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra tính hấp dẫn riêng của du lịch.Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch đã nhận được nhiều sự quan tâm đánh giácủa các chuyên gia và nhìn chung đều thống nhất ở điểm chú trọng yếu tố vănhóa truyền thống dân tộc là cần thiết, vừa bảo tồn và khai thác hiệu quả các giátrị nhằm hướng tới việc phát triển du lịch bền vững

Ở Việt Nam, sự tác động của du lịch đến văn hóa cũng mang cả những yếu tốtích cực và tiêu cực Du lịch còn giúp bảo tồn, duy trì lâu bền những giá trị vănhóa đang ngày càng bị mai một hoặc bị phá hủy bởi thời gian hay bởi sự lãngquên của người dân bản địa Nền văn hóa và văn minh của người dân trong quátrình sống và hoạt động đã khẳng định sự tồn tại độc lập của người Việt Namtrên lãnh thổ quốc gia của mình, sát cánh cùng các dân tộc ít người Nền văn hóa

đó rất đa dạng và nhiều màu sắc, phản ánh cuộc sống lao động sáng tạo và tự

chủ của cư dân sống trên đất nước mình

Nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Sóc Trăng là một tỉnh có vị trí địa

lý thuận lợi nối các tỉnh trong khu vực, đặc biệt Sóc Trăng với lợi thế nhiều chùachiền gắn liền với đời sống văn hóa dân tộc Khmer, Đặc biệt, người Khmer ởđây đã tạo cho Sóc Trăng một nét đẹp riêng về phong tục, tập quán và văn hóa.Văn hóa của người Khmer đem lại cho Sóc Trăng một tiềm năng phát triển dulịch rất lớn Tuy nhiên, tiềm năng này vẫn chưa được quan tâm, khai thác đúngmức

Nhận thấy sự cấp thiết của việc tìm ra những giải pháp thích hợp để khaithác, tận dụng thế mạnh, tiềm năng to lớn này phục vụ cho phát triển du lịchcủa tỉnh, góp phần kích thích sự phát triển kinh tế của tỉnh, người viết đã chọn

đề tài

“Giá trị văn hóa của dân dộc Khmer trong phát triển du lịch tỉnh Sóc Trăng”

nhằm đóng góp một số giải pháp phát triển du lịch của tỉnh và cũng là tiểu luận tốt nghiệp của mình

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Nghiên cứu về văn hóa người Khmer đã và đang thu hút sự quan tâm của các

cơ quan nghiên cứu cũng như các nhà khoa hộc thuộc nhiều lĩnh vực như: vănhóa học, dân tộc học, lịch sử, văn học, kiến trúc, tôn giáo, kinh tế, xã hội, đã có

Trang 2

nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu tìm hiểu về văn hóa ở một số địa phương

Có thể nêu ra đây một vài nghiên cứu cụ thể:

- Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Sóc Trăng có 2 công trình “Tìm hiểu về nghệthuật sân khấu dù kê Khmer nam bộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng” được nghiêncứu vào những năm 1920 – 2000 và giai đoạn 2002 -2004 đã làm rõ thêm vềnguồn gốc hình thành và phát triển của loại hình sân khấu ca kịch dân tộcKhmer, đồng

thời khẳng định Dù kê là sản phẩm tinh thần được người Khmer ở Sóc Trăngsáng tạo nên Từ đó khơi dậy lòng tự trọng tự hào, làm cơ sở cổ vũ, động viênngười Khmer tiếp tục lao động sáng tạo nghệ thuật, góp phần làm phong phúthêm vườn hoa nghệ thuật và sản phẩm du lịch của tỉnh nhà

- Nhằm làm rõ một số vấn đề như: dân số và đời sống của người Khmercùng những vấn đề tôn giáo cộng đồng Khmer, văn hóa dân gian từ gốc nhìn dântộc học, hiện trạng và những giải pháp bảo tồn và phát triển văn hóa cộng đồng,Viện khoa học xã hội tại TPHCM, trung tâm nghiên cứu dân tộc học và tôn giáo

có đề tài “Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Sóc Trăng” được Nhà xuất bản Khoahọc

xã hội phát hành năm 2002

- “Bảo tồn và phát huy lẽ hội Óoc Om Boc – đua ghe ngo Sóc Trăng” đượcBan tổ chức hội thảo lễ hội Óoc Om Boc – đua ghe ngo Sóc Trăng viết và pháthành ngày 29/05/2009, đây là báo cáo về Buổi hội thảo khoa học, nêu rõ về cácđời sống sinh hoạt, văn hóa lễ hội Óoc om boc – Đua ghe ngo, vài nét về ngườiKhmer và văn hóa Khmer ở Sóc Trăng, các đặc điểm, nghi thức tổ chức lễ hội và

sự ảnh hưởng của lễ hội trong văn hóa và du lịch tỉnh Sóc trăng, đồng thời đề tàiđưa ra những định hướng bảo tồn, phát huy và phát triển bền vững lễ hội

- Thạc sĩ Sơn Ngọc Hoàng, Trường Trung học văn hóa nghệ thuật Tỉnh SócTrăng có đề tài “Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu Rô băm của dân tộc Khmer Nam

bộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng” nghiên cứu năm 2012 với nội dung nghiên cứu vềloại hình NTSK Rô băm Khmer năm bộ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng nhằm làm rõhơn diện mạo, đánh giá chính xác dự đóng góp của nghệ thuật sân khấu Rô bămcủa người Khmer nam bộ vào kho tàng nghệ thuật sân khấu chung của đất nước

và của khu vực Đông Nam Á, cũng như nói lên thực trạng của nó trong bối cảnh

xã hội hiện tại, đề tài cũng đưa ra những giải pháp để bảo tồn và phát huy cácgiá trị vốn có của nghệ thuật sân khấu Rô băm, đáp ứng nhu cầu phát triển dulịch văn hóa, như cầu thường thức nghệ thuật sân khấu cổ truyền của cộngđồng

dân tộc tại Sóc Trăng và vùng ĐBSCL

- Hồ Văn Hưng có đề tài về “Nghệ thuật tạo hình của người Khmer ở SócTrăng” do Công ty cổ phần in Sóc Trăng ấn hành năm 2014 đã giới thiệu khái quát

Trang 3

về người Khmer tỉnh Sóc Trăng, lịch sử hình thành, những thông tin cần thiết vềvăn hóa nghệ thuật tạo hình của người Khmer Sóc trăng nói riêng và của ngườu

Trang 4

ĐBSCL nói chung thông qua các công trình kiến trúc và tác phẩm mỹ thuật cùngnhững giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóatruyền thống dân tộc Khmer tỉnh sóc Trăng nhằm góp phần định hướng phát triểnngành du lịch tỉnh nhà.

Ngoài những nguồn tài liệu như trên đây, để hoàn thành tiểu luận,người viếtchủ yếu đã sử dụng nhiều tư liệu điền dã văn hóa học của mình trong chuyến đithực tế ở Sóc Trăng vào cuối năm 2017, đầu năm 2018

Tiểu luận này là kết quả của một quá trình nghiên cứu của người viết trênthực tiễn vùng Khmer Sóc Trăng cùng với sự tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những

ý kiến, quan điểm và những tài liệu điều tra của những người đi trước Tuynhiên, vấn đề văn hóa của người Khmer ở Sóc Trăng là một vấn đề rộng lớn vàphức tạp nên các tác giả trước khó có thể giải quyết trọn vẹn tất cả các vấn đềđược đặt ra

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề tài hướng đến việc khai thác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dântộc Khmer, từ đó có những đóng góp đưa các giá trị văn hóa này đến gần hơn vớikhách du lịch trong và ngoài nước, đồng thời giúp cộng đồng Khmer có cách nhìnđúng đắn về du lịch cũng như biết phát huy những tiềm năng của dân tộc mìnhtrong định hướng phát triển du lịch của toàn tỉnh Sóc Trăng, toàn vùng ĐBSCL

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những đặc điểm chung mang đặc trưng của văn hóa dân tộc Khmer như:nguồn gốc, phong tục tập quán, nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật biểu diễn, lễhội, tín ngưỡng và đời sống tinh thần của người Khmer ở Sóc Trăng Trong đó:+ Nghiên cứu những giá trị văn hóa của dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng đối vớihoạt động du lịch

+ Nghiên cứu hiện trạng khai thác những giá trị văn hóa của dân tộc Khmertrong hoạt động du lịch tỉnh Sóc Trăng

+ Nghiên cứu các giải pháp phát triển du lịch văn hóa dân tộc Khmer

Trang 5

5 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm tổng hợp

Văn hóa của người Khmer không chỉ là những yếu tố vật chất mà nó còntập hợp nhiều yếu tố khác như những yếu tố thuộc về tinh thần… Do vậy, khinghiên cứu về văn hóa của người Khmer của tỉnh Sóc Trăng cần phải dựa trênphân tích đánh giá tổng hợp của nhiều yếu tố liên quan Các yếu tố về điều kiện

cư trú, quá trình sản xuất, sinh hoạt cộng đồng của từng khu vực, từng huyện cónhững nét riêng Vì vậy, nghiên cứu về văn hóa của người Khmer Sóc Trăng phảitìm hiểu trên quan điểm tổng hợp, qua đó làm rõ nguyên nhân sự khác biệt đểphân tích và đánh giá khả năng phát triển du lịch, từ đó đề xuất những phươnghướng, giải pháp nhằm khai thác cho hoạt động du lịch một cách có hiệu quả

5.1.2 Quan điểm lãnh thổ

Quan điểm lãnh thổ còn gọi là quan điểm “vùng” là quan điểm đặc thù củađịa lý Trong thực tế các sự vật, hiện tượng địa lý luôn có sự phân hóa trongkhông gian làm cho chúng có sự khác biệt giữa nơi này với nơi khác Chính sựphân hóa đó đã hình thành nên những điều kiện kinh tế xã hội, những nguồn lực

về tự nhiên và nhân văn mang nét dặc thù riêng cho từng vùng Sự khác biệt đócòn gọi là sự “sự sai biệt lãnh thổ” Quán triệt quan điểm “lãnh thổ”, khi nghiêncứu đề tài: “Giá trị văn hóa của người khmer Sóc Trăng trong phát triển du lịch”cần chú đến sự sai biệt lãnh thỗ của các sự vật hiện tượng nhằm tìm ra nhữngnét độc đáo của lãnh thỗ nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thống kê, thu thập, xử lí tài liệu

Nguồn tài liệu cần thu thập và xử lí rất đa dạng và phong phú bao gồm cáctài liệu đã được xuất bản, tài liệu của các cơ quan lưu trữ, của ngành du lịch vàcác tài liệu khác có liên quan Trong quá trình thực hiện đã tiến hành thu thậpcác tài

Trang 6

liệu có liên quan đến đề tài đang nghiên cứu, trên cơ sở các tài liệu thu thậpđược tiến hành chọn lọc, xử lý, bổ sung và hệ thống hóa các tài liệu đó cùng vớinhững tài liệu thu thập được trong quá trình đi thực tế để phục vụ cho nội dungnghiên cứu.

5.2.2 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

Phân tích các tài nguyên du lịch của người Khmer có ảnh hưởng đến kinh tế

- môi trường và các vấn đề khác Phân tích các yếu tố có ảnh hưởng đến sự pháttriển du lịch về kết cấu hạ tầng như phương tiện giao thông, đường hàng không,đường thủy, đường bộ… Cơ sở vật chất bao gồm: Cơ quan điều hành, nhà hàng,khách sạn, dịch vụ ngân hàng… So sánh đối chiếu giữa tài liệu thu thập được vàtrên thực tế, giữa địa bàn nghiên cứu với phạm vi cả nước nhằm đánh giá, nhậnxét một cách đúng đắn, để làm cơ sở cho những định hướng và đề xuất pháttriển du lịch Xem xét khuynh hướng du lịch toàn cầu và khu vực để xây dựngcác loại hình du lịch khác nhau tạo nên tính đa dạng, phong phú và hấp dẫn chongành du lịch Sóc Trăng ở các tuyến, điểm du lịch sao cho phù hợp với tài nguyên

du lịch

5.2.3 Phương pháp điều tra thực địa

Là một phương pháp truyền thống của địa lí học, được sử dụng rộng rãitrong địa lí du lịch du lịch để tích lũy tài liệu thực tế, đồng thời giúp ngườinghiên cứu phát huy tính độc lập trong nghiên cứu và nhìn nhận vấn đề Trongquá trình nghiên cứu đề tài, người viết tiến hành tìm hiểu cụ thể thực tế địaphương nơi cư trú của người Khmer ở Sóc Trăng, tiến hành trao đổi với ngườidân, tiếp xúc với sư sãi của các chùa để hiểu thêm về phong tục tập quán, vànhững chính sách của địa phương đối với việc tận dụng lợi thế để phát triểnkinh tế

6 BỐ CỤC

Chương 1 – Cơ sở lý luận về du lịch và văn hóa.

Chương 2 – Giá trị văn hóa của người Khmer tỉnh sóc Trăng trong hoạt động

du lịch.

Chương 3 – Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng trong phát triển du lịch.

Trang 7

Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày14/6/2005: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngườingoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìmhiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.

Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trongnhững hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc.Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụphục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với cáchoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác

Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thànhphần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Nó vừa mang đặc điểmcủa ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội

1.1.2 Phân loại

Hoạt động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm khác nhau tuỳ thuộc tiêuchí đưa ra Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia các loạihình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây:

- Phân chia theo môi trường tài nguyên: du lịch thiên nhiên, du lịch văn hoá;

- Phân loại theo mục đích chuyến đi: du lịch tham quan, du lịch giải trí, du lịchnghỉ dưỡng, du lịch khám phá, du lịch thể thao, du lịch lễ hội, du lịch tôn giáo, dulịch nghiên cứu (học tập), du lịch hội nghị, du lịch thể thao kết hợp, du lịch chữabệnh, du lịch thăm than, du lịch kinh doanh.;

Trang 8

- Phân loại theo lãnh thổ hoạt động: du lịch quốc tế, du lịch nội địa, du lịch quốc gia;

- Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch: du lịch miền biển, du lịchnúi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê;

- Phân loại theo phương tiện giao thông: du lịch xe đạp, du lịch ô tô, du lịchbằng tàu hoả, du lịch bằng tàu thuỷ, du lịch máy bay;

- Phân loại theo loại hình lưu trú, khách sạn, nhà trọ

bungaloue, làng du lịch;

thanh niên, camping,

- Phân loại theo lứa tuổi du lịch: du lịch thiếu niên, du lịch thanh niên, du lịchtrung niên, du lịch người cao tuổi;

- Phân loại theo độ dài chuyến đi: du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày;

- Phân loại theo hình thức tổ chức: du lịch tập thể, du lịch cá thể, du lịch giađình;

- Phân loại theo phương thưc hợp đồng: du lịch trọn gói, du lịch từng phần

1.1.3 Khách du lịch

Theo tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), khách du lịch bao gồm:

- Khách du lịch quốc tế (International tourist)

+ Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist): là những người từ nước ngoàiđến du lịch một quốc gia;

+ Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist): là những ngườiđang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài

- Khách du lịch trong nước (Internal tourist): Gồm những người là công dân củamột quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ quốc gia đó đi

du lịch trong nước

+ Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): Bao gồm khách du lịch trong nước

và khách du lịch quốc tế đến Đây là thị trường cho các cơ sở lưu trú và cácnguồn thu hút khách trong một quốc gia;

+ Khách du lịch quốc gia (National tourist): Gồm khách du lịch trong nước vàkhách du lịch quốc tế ra nước ngoài

Theo Luật du lịch của Việt Nam: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập

ở nơi đến

- Khách du lịch quốc tế (International tourist): là người nước ngoài, ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch

- Khách du lịch nội địa (Domestic tourist):là công dân Việt nam và người nướcngoài cư trú tại Việt nam đi du lịch trong vi phạm lãnh thổ Việt Nam

Trang 9

1.1.4 Sản phẩm du lịch

Theo điều 4, chương I, Luật Du lịch Việt Nam 2005 định nghĩa: “Sản phẩm dulịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịchtrong chuyến đi du lịch”

Ngày nay, tuy chưa thật thống nhất chuẩn mực nhưng hiểu chung là: “Sảnphẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sởkhai thác các tài nguyên du lịch đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” hay “Sảnphẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa, tiện nghi cho du khách,

nó được tạo nên bởi các yếu tố tự nhiên, nhân văn và trên cơ sở vật chất kỹthuật và lao động du lịch tại một vùng, một cơ sở nào đó

Điểm chung nhất mà sản phẩm du lịch mang lại cho du khách chính là sự hàilòng Nhưng đó không phải là sự hài lòng như khi mua sắm một hàng hóa vậtchất, mà ở đây sự hài lòng do được trải qua một khoảng thời gian thú vị, tồn tạitrong kí ức của du khách khi kết thúc chuyến du lịch

Sản phẩm du lịch bao gồm hai bộ phận: Dịch vụ du lịch và tài nguyên du lịch.Dịch vụ du lịch gồm có:

+ Dịch vụ lữ hành;

+ Dịch vụ vận chuyển;

+ Dịch vụ lưu trữ, ăn uống;

+ Dịch vụ vui chơi giải trí;

+ Dịch vụ mua sắm;

+ Dịch vụ thông tin, hướng dẫn;

+ Dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung

- Tài nguyên du lịch gồm có:

+ Tài nguyên du lịch tự nhiên;

+ Tài nguyên du lịch nhân văn

- Phân loại sản phẩm du lịch:

+ Sản phẩm hữu hình (sản phẩm vật chất);

+ Sản phẩm vô hình (sản phẩm phi vật chất)

Trang 10

1.2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA

1.2.1 Khái niệm

Trên cơ sở phân tích các định nghĩa văn hóa, PGS, TSKH Trần Ngọc Thêm cókhái niệm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần docon người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tươngtác giữa con người và môi trường tự nhiên và xã hội của mình”

Theo sách Tổng quan du lịch của tác giả Trần Văn Thông, “Du lịch văn hóa làloại hình mà du khách muốn được thẫm định bề dày lịch sử, văn hóa, nhữngphong tục tập quán còn hiện diện”(69, tr.30) Vậy du lịch văn hóa chủ yếu dựatrên khai thác tài nguyên du lịch nhân văn vật thể như các di tích lịch sử văm hóa,

di tích kiến trúc nghệ thuật, đình, chùa, và tài nguyên nhân văn phi vật thể gồmcác lễ hội văn hóa nghệ thuật, phong tục tập quán và tôn giáo,… của các dân tộc Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Quốc Vượng (Chủ biên)nhận định: “văn hóa là sản phẩm có từ thưở bình minh của loài người”

Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: “Văn hóabao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia Có hai loại disản văn hóa: Một là những di sản văn hóa hữu thể (Tangible) như đình, chùa,miếu, lăng mộ, nhà sàn,v.v Hai là những di sản văn háo vô hình (Intangble) baogồm các biểu hiện tượng trưng “không sờ không thấy được” của văn hóa đượclưu truyền và biến đổi qua thời gian, với một số quá trình tái tạo, “trùng tu” củacộng đồng rộng rãi… bao gồm cả âm nhạc, múa, truyền thống, văn chươngtruyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, tư thế, nghi thức, phong tục, tập quán, ydược cổ truyền, các mốn ăn, lễ hội, bí quyết và quy trình công nghệ của cácnghề truyền thống…”

Như vậy, có thể thấy rằng: “Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do conngười sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên Văn hóa là chìa khóa của sựphát triển”

Trang 11

1.2.2.2 Văn hóa tinh thần

Văn hóa tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuấttinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng – tôn giáo, nghệ thuật, lễhội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương…

Trong thực tế, văn hóa vật chất và tinh thần luôn gắn bó mật thiết với nhau và

có thể chuyển hóa cho nhau, bởi vậy mà tùy theo những mục đích khác nhau,việc phân biệt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần sẽ phải dựa vào những tiêuchí khác nhau

1.3 VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

Văn hóa các dân tộc thiểu số là di sản quý giá, góp phần làm nên sự phongphú, đa dạng và thống nhất của nền văn hóa Việt Nam Việc giữ gìn bản sắc vănhóa của đồng bào các dân tộc nói chung và đồng bào các dân tộc nói chung vàđồng bào Khmer nói riêng là nhiệm vụ có ý nghĩa du lịch đặc biệt quan trọngtrong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước

54 dân tộc Việt Nam được xếp theo 3 ngữ hệ và 8 nhóm ngôn ngữ: Việt –Mường, Tày - Thái, Mông - Dao, Ka Đai, Tạng Miến, Nam Đảo, Hán:

+ Nhóm Việt - Mường có 4 dân tộc: Kinh, Mường, Thổ, Chứt Đồng bàosống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước và đánh cá Trong đời sống tâm linh cótục thờ cúng ông bà tổ tiên và các nghề thủ công truyền thống phát triển ở trình

độ cao, trong đó nổi bậc hình tượng bánh trưng bánh dầy, ngôn ngữ, kinh tế lúanước, kinh tế sông biển, nghề thủ công… phần nào nêu bật các giá trị văn hoáchung của các tộc người Bên cạnh đó, các tổ hợp trưng bày cổng làng, bàn thờ

tổ tiên, đình làng, nghệ thuật rối nước, tục hát quan họ… mang giá trị văn hoáđặc trưng, tiêu biểu của người Kinh; Nhà sàn mang bản sắc riêng của người M-ường; Tập tục đan võng đay của người Thổ và góc nhà của người Chứt là nhữnggiá trị văn hoá độc đáo của tộc người

+ Nhóm ngôn ngữ Tày - Thái có 8 dân tộc: Tày, Thái, Nùng, Giáy, Lào, Lự, SánChay, Bố Y Đồng bào cư trú tập trung ở các tỉnh vùng Đông Bắc và Tây BắcViệt Nam như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Sơn

La, Lai Châu, Yên Bái Các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày Thái nói ngôn ngữNam Á, ở nhà sàn, cấy lúa nước kết hợp với làm nương rẫy, biết lợi dụng địahình thung lũng, sáng tạo ra chiếc cối giã gạo, con quay cùng hệ thống mương,phai, lái, lín đưa nước về ruộng Các nghề thủ công khá phát triển như: rèn, dệtvới các sản phẩm đẹp và tinh tế Họ có quan niệm chung về vũ trụ, con người

và những vị thần Bên cạnh đó, mỗi tộc người lại có những bản sắc riêng, đượcbiểu hiện thông qua trang phục, nhà cửa, tập quán ăn uống, phong tục, lối sống

và nếp sống tộc người

Trang 12

+ Nhóm ngôn ngữ Mông - Dao có 3 dân tộc: Mông, Dao, Pà Thẻn; nhóm ngônngữ Ka Đai có 4 dân tộc: La Chí, La Ha, Cờ Lao, Pu Péo; nhóm ngôn ngữ TạngMiến có 6 dân tộc: Lô Lô, Phù Lá, Hà Nhì, La Hủ, Cống, Si La Các tộc ngườithuộc 3 nhóm này cư trú tập trung đông ở các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, TháiNguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu Làng bản của họđược xây dựng trên các triền núi cao hay lưng chừng núi Một số các tộc ngườinhư La Chí, Cống, Si La và một vài nhóm Dao dựng làng ven các con sông, consuối Tuỳ theo thế đất, đồng bào dựng nhà sàn, nhà đất, nhà nửa sàn nửa đất.Đồng bào giỏi canh tác ngô, lúa nếp, lúa tẻ và các loại rau, đậu trên nương rẫy vàruộng bậc thang, đồng thời phát triển các nghề thủ công như rèn, dệt vải, đanlát Đặc biệt phụ nữ vùng cao rất giỏi dệt vải, thêu thùa, làm ra những bộ trangphục độc đáo cho bản thân, gia đình và cộng đồng Chợ phiên là nơi thể hiện rõbản sắc văn hoá vùng cao, phô diễn toàn bộ đời sống kinh tế từ văn hoá ẩmthực, văn hoá mặc, nghệ thuật thêu thùa, in hoa, biểu diễn âm nhạc, múa khèn mang đậm dấu ấn văn hóa tộc người.

+ Nhóm ngôn ngữ Môn Khmer có 21 dân tộc: Ba Na, Brâu, Bru - Vân Kiều,Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cơ Tu, Giẻ Triêng, H’rê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mảng,Xinh Mun, Mnông, Ơ Đu, Mạ, Rơ Măm, Tà ôi, Xơ Đăng, Xtiêng Đồng bào cưtrú rải rác ở khu vực Tây Bắc, miền Trung - Tây Nguyên và Nam Bộ Đời sốngkinh tế chủ yếu canh tác nương rẫy theo phương pháp chọc lỗ tra hạt Kiến trúcnhà rông, nhà dài Tây Nguyên, chùa của dân tộc Khmer; nghề thủ công đan lát và

lễ hội văn hoá cộng đồng là những nét văn hoá độc đáo của cư dân Môn –Khmer

+ Nhóm ngôn ngữ Nam Đảo có 5 dân tộc: Chăm, Gia Rai, Ê Đê, Raglai, Chu

Ru Đồng bào cư trú tập trung trên các cao nguyên đất đỏ Tây Nguyên và dải đấtven biển miền Trung; Văn hoá Nam Đảo mang đậm nét mẫu hệ Bên cạnh đómỗi tộc người được phân biệt với nhau qua các điểm đặc trưng riêng như: làngbản nhà ở, nghi lễ chu kỳ vòng đời, nghề thủ công truyền thống, lễ cưới, ẩmthực, đời sống sinh hoạt

Có thể nói văn hóa Việt Nam là sự tổng hòa các giá trị văn hóa của 54 dân tộcanh em, trong đó có những tộc người bản địa sống trên lãnh thổ Việt Nam, cónhững dân tộc di cư từ nơi khác đến; có những dân tộc chỉ có số lượng vài trămngười, có những dân tộc có hàng triệu người, nhưng các dân tộc luôn coi nhaunhư anh em một nhà, thương yêu đùm bọc lẫn nhau chung sức xây dựng bảo vệ

Tổ quốc

1.4 KHAI THÁC VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở VIỆT NAM

Trang 13

Nhiều năm qua Đảng và nhà nước ta kết hợp với các sở ban ngành về văn hóa

du lịch đã thực hiện nhiều chủ trương để khai thác và bảo tồn các nét văn hóacủa đồng bào DTTS vào du lịch, triển khai nhiều tour tuyến đến các bản làng,phum sóc, tham quan, tìm hiểu và hòa mình với đời sống tinh thần vật chất của

họ, vừa gúp phát triển du lịch vừa mang lại nguồn lợi kinh tế, đồng thời có cơhội giao lưu văn hóa giữa các tộc người

Năm 2000, ngay từ khi bắt đầu thực hiện Chương trình hành động quốc gia về

du lịch, để phát triển sản phẩm du lịch mới gắn với các lễ hội truyền thống,ngành du lịch đã chọn 15 lễ hội tiêu biểu cho các vùng miền, các dân tộc, trong

đó có lễ hội Xuống đồng (Lồng tồng) của người Tày, lễ hội Katê của ngườiChăm, lễ hội Ooc Om bok của người Khmer để đầu tư, chuẩn hóa thông tin,kịch bản với mục đích vừa tôn trọng tính truyền thống đặc sắc của lễ hội, vừabảo đảm tính khoa học trong công tác tổ chức, đáp ứng yêu cầu của khách dulịch

Hầu hết lễ hội đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta vẫn giữ được nhữngnét truyền thống đặc sắc, tạo nên sức hút đối với khách du lịch Tham gia lễ hộicũng đã trở thành một điểm nhấn trong hành trình của du khách trong và ngoàinước

Bên cạnh các lễ hội hàng năm, đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) còn pháttriển du lịch cộng đồng, đây là loại hình khá hấp dẫn với du khách nước ngoàibởi sự trải nghiệm cùng làm, cùng ăn, cùng ngủ với người dân địa phương trongchính căn nhà của họ mà chi phí lại tương đối rẻ Điển hình như Khu bảo tồnthiên nhiên Pù Luông, với những thế mạnh vốn có của Khu bảo tồn thiên nhiên

Pù Luông, bà con nơi đây còn có sự hỗ trợ cách làm du lịch cộng đồng, phát triểnkinh tế gắn với bảo vệ rừng, bảo vệ sự đa dạng sinh học cho khu bảo tồn Để

bà con biết làm du lịch ngày một chuyên nghiệp, thu hút du khách, Ban quản lýKhu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn chonhững hộ dân tham gia làm du lịch, đồng thời hướng dẫn, hỗ trợ bà con đầu tưxây dựng các công trình vệ sinh phục vụ du khách; hỗ trợ người dân khung dệtcùng vật liệu để bà con tự sản xuất các mặt hàng lưu niệm như khăn, túi, áo bán cho du khách

Bộ văn hóa và du lịch đã triển khai nhiều chính sách ưu tiên phát triển du lịchvùng DTTS sẽ được ưu tiên hỗ trợ hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến

du lịch; nghiên cứu, khảo sát tiềm năng du lịch, lựa chọn xây dựng các sản phẩm

du lịch đặc trưng cho các vùng DTTS; phát triển mô hình du lịch miền núi có sựtham gia của cộng đồng các DTTS

Văn hóa dù là văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần cũng đều do con ngườisáng tạo ra mới có Quá trình sáng tạo có thể là trong thời gian rất dài, gắn với sựlịch sử hình thành mỗi dân tộc Văn hóa của các dân tộc thiểu số dù ở vùng núi

Trang 14

Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, đồng bằng Nam Bộ hoặc ở đâucũng vậy, phải có chính sách đúng đắn và phù hợp Trước đây bài trừ tận gốc cáchình thức cúng bái Tảo, Mo, Then… dẫn đến cấm hát then, cấm gảy đàn tính, đốthết sách cúng bái Các chính sách cực đoan như vậy bây giờ đã hết thời Hiệntại, văn hóa các dân tộc thiểu số đang rất cần sự định hướng để phát triển lànhmạnh và ngày càng phong phú.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chương 1 thông qua những lý luận chung về du lịch, bao gồm các khái niệm

về du lịch, khách du lịch, sản phẩm du lịch và phân loại du lịch, những lý luận

về du lịch văn hóa bao gồm các khái niệm về văn hóa, trong đó được phân chiavăn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, cùng những nét văn hóa của các dân tộcthiểu số ở Việt Nam, qua đó thấy được hiện trạng sự khai thác các giá trị nàyvào việc phát triển du lịch Việt Nam trong thời gian qua đã được nêu ra

Các nội khái niệm đã nêu trên sẽ là tiền đề để khai thác đúng các giá trị vănhóa của dân tộc Khmer trong chương 2, từ đó làm cơ sở để đưa ra những giảipháp trong chương 3 để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa này trong pháttriển du lịch tỉnh Sóc Trăng

Trang 15

Chương 2 – GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI KHMER

TỈNH SÓC TRĂNG TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH

Về vị trí tiếp giáp Sóc Trăng tiếp giáp với:

- Phía Bắc – Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang

- Phía Nam giáp Biển Đông

- Phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh

- Phía Tây giáp tỉnh Bạc Liêu

Sóc Trăng có diện tích tự nhiên 3.200 km2 chiếm 8,05% điện tích củaĐBSCL và 0,96% điện tích của cả nước Sóc Trăng có đường bờ biển dài 72 km,

có cửa sông lớn hướng ra biển Đông Có cảng cá Trần Đề, gần cửa biển rấtthuận lợi cho việc mở rộng đánh bắt thủy hải sản và giao thương đường biểnvới các nước trong khu vực

Sóc Trăng còn có nhiều vùng có vị trí thuận lợi trong phát triển du lịch vănhóa của tỉnh Với một dãy cù lao thuộc các huyện Kế Sách và Cù Lao Dung chạydài ra tận biển Đông Nơi đây có điều kiện tự nhiên thuận lợi, không khí tronglành, trái cây nhiệt đới phong phú, có truyền thống văn hóa đặc sắc với người dânrất hiếu khách Một khi đưa vào khai thác hợp lí vùng cù lao sẽ là địa điểm lýtưởng để phát triển loại hình du lịch văn hóa và du lịch nghỉ dưỡng

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên

- Địa hình:

Địa hình trong tỉnh Sóc Trăng thấp và tương đối bằng phẳng, có dạng lòngchảo, cao ở phía sông Hậu và biển Đông thấp dần vào trong, vùng thấp nhất làphía Tây và Tây Bắc, với Độ cao cốt đất tuyệt đối từ 0,4 - 1,5 m, độ dốc thayđổi khoảng 45 cm/km chiều dài Tiểu địa hình có dạng gợn sóng không đều, xen

kẽ là những giồng cát địa hình tương đối cao và những vùng thấp trũng nhiễmmặn, phèn Sóc Trăng có hệ thống kinh rạch chịu ảnh hưởng của chế độ thủytriều ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4 m đến 1 m.Thủy triều vùng biển gắn liền với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của cư dânđịa phương, đồng thời còn mang lại nhiều điều kỳ thú cho du khách khi đến thamquan, du lịch và tìm hiểu hệ sinh thái rừng tự nhiên

Trang 16

Với địa hình đó, Sóc Trăng chưa có nhiều lợi thế về du lịch so với các tỉnh

có vùng đồi núi Tuy nhiên, Sóc Trăng với địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ,với những vườn trái cây xum xuê trĩu quả, ruộng lúa thẳng cánh cò bay lại làđiều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch hấp dẫn như: homestay, dulịch văn hóa

- Khí hậu:

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu Sóc Trăng chia làm 2 mùa rõ rệt,mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.Nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 270C Độ ẩm trung bình khoảng 83%.Lượng mưa trung bình 1.840 mm, tổng số giờ nắng bình quân 2.372 giờ/năm.Với điều kiện khí hậu như vậy, Sóc Trăng là khu vực rất lý tưởng cho pháttriển du lịch, du khác có thể đến tham quan vào bất cứ mùa nào trong năm Tuynhiên, do độ ẩm tương đối cao là điều kiện thuận lợi cho các mầm bệnh pháttriển, do đó cần có biện pháp phòng chống nhằm đảm bảo an toàn cho du khách

- Tài nguyên thiên nhiên:

+ Tài nguyên đất

Tổng diện tích đất tự nhiên là 322.330,36 ha Đất đai Sóc Trăng có thể chiathành 6 nhóm chính: nhóm đất cát có 8.491 ha bao gồm các giồng cát tương đốicao từ 1,2 – 2 m thành phần cơ giới nhẹ, chủ yếu là cát mịn đến cát pha đất thịt,

có thể trồng một số loại rau màu; nhóm đất phù sa có 6.372 ha thích hợp cho việctrồng lúa tăng vụ và các cây ăn trái đặc sản, nhóm đất giây có 1.076 ha, ở vùngthấp, trũng, thường trồng lúa một vụ; nhóm đất mặn có 158.547 ha có thể chia ralàm nhiều loại: đất mặn nhiều, đất mặn trung bình, đất mặn ít, đất mặn sú, vẹt,đước (ngập triều) trong đó đất mặn nhiều chiếm diện tích lớn 75.016 ha thíchhợp với việc trồng lúa, rau màu, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn, dài ngày ;các loại đất mặn khác chủ yếu trồng lúa kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản; nhómđất phèn có 75.823 ha, trong đó chia ra làm 2 loại đất phèn hoạt động và đất phèntiềm tàng, sử dụng loại đất này theo phương thức đa canh, trồng lúa kết hợp vớinuôi trồng thuỷ sản; nhóm đất nhân tác có 46.146 ha.vùng cung cấp sản lượngthóc quan trọng của cả nước, nơi có sản phẩm xuất khẩu dồi dào và đa dạng,đặc biệt là gạo và hàng thủy sản, nông sản thực phẩm chế biến Đây là vùng cónhiều tiềm năng kinh tế để phát triển sản xuất, đồng thời cũng là nơi tiêu thụhàng hóa và cung cấp dịch vụ lớn cho cả nước

Mặc dù còn một số hạn chế về điều kiện tự nhiên như thiếu nước ngọt và

bị xâm nhập mặn trong mùa khô, một số khu vực bị nhiễm phèn, nhưng việc sửdụng đất ở Sóc Trăng lại có nhiều thuận lợi cơ bản để phát triển nông, ngưnghiệp đa dạng và trên cơ sở đó hình thành những khu du lịch văn hóa phong phú Đặc biệt, Sóc Trăng còn có dải cù lao thuộc huyện Kế Sách, Long Phú và CùLao Dung chạy dài ra tận cửa biển với nhiều cây trái nhiệt đới, không khí trong

Trang 17

lành như cồn Mỹ Phước, Khu du lịch Song Phụng, Cù Lao Dung là địa điểm lý tưởng để phát triển loại hình du lịch văn hóa.

+ Tài nguyên rừng

Sóc Trăng còn có nguồn tài nguyên rừng với diện tích 12.172 ha với các loạicây chính : tràm, bần, giá, vẹt, dừa nước phân bố ở 2 huyện Vĩnh Châu và LongPhú Rừng của Sóc Trăng thuộc hệ rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ở khuvực đất nhiễm phèn

Với chủ trương giao đất giao rừng cho nhân dân đầu tư theo hướng thâmcanh, thực hiện mô hình – nông – lâm – ngư kết hợp, Sóc Trăng sẽ tạo điều kiệntốt để phát triển sản xuất, cải thiện môi trường, môi sinh, nâng cao mức sốngdân cư, tạo cơ sở cho phát triển du lịch

+ Tài nguyên nước

Hệ thống kinh rạch của tỉnh chịu ảnh hường của chế độ thủy triều ngàylên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4 m đến 1 m cùng hệ thốngsông ngòi chằng chịt với các cù lao lớn, nhỏ nối tiếp nhau dài hơn 50 km dọctheo bờ sông Hậu Trên những cù lao ấy là những vườn cây trái sum suê, trĩuquả không

chỉ mang lại giá trị trong sản xuất nông nghiệp mà còn là lợi thế để tỉnh SócTrăng phát triển các loại hình du lịch: sinh thái, sông nước miệt vườn, trải

nghiệm - khám phá và du lịch cộng đồng

Sông rạch ở Sóc Trăng rất phát triển với chiều dài hơn 3000 km, là một nguồntài nguyên phong phú phục vụ cho việc đi lại của dân cư, đưa lượng phù sa lớn

về bồi đắp cho những cánh đồng, hình thành nên những cù lao màu mỡ thuận lợi

ho trồng cầy ăn trái, là nguồn tài nguyên quí giá phục vụ cho du lịch Mặc dù SócTrăng có rất nhiều con sông chảy qua, nhưng có thể nói: Sông Hậu, sông MỹThanh và kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp là ba con sông chính có vai trò quan trọngtrong việc hình thành nên hệ thống sông ngòi ở Sóc Trăng

+ Tài nguyên biển

Sóc Trăng là một tỉnh ven biển nằm ở phía nam sông Hậu, có bờ biển dài 72

km với ba cửa sông lớn đổ ra biển là: Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh Bên cạnh

đó việc cảng Trần Đề được đưa vào phục vụ du lịch với chuyến tàu cao tốc điCôn Đảo, lượng khách lượt đi - về khoảng 700 người/ngày, kèm theo đó là hànghóa vận chuyển lớn giữa người dân trên đảo và đất liền, giúp tiêu thụ lớn nhuyếu phẩm cho người dân trên địa bàn huyện Song song đó, khi khách đến lưu trú

sẽ tăng nguồn thu nhập cho người dân địa phương Để việc phục vụ khách dulịch chu đáo, huyện chuẩn bị sẵn các phương án, như: dịch vụ ăn uống, nghỉngơi và các loại mặt hàng gọi là “đặc sản” của huyện để giới thiệu đến dukhách, chẳng hạn như: cá làm khô các loại, tôm khô hay các loại thủy sản tươiđánh bắt trên biển

Trang 18

2.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội

- Dân cư và lao động:

Năm 2010, dân số của Sóc Trăng là 1.300.826 người, mật độ dân số đạt 393người/km2 Dân cư Sóc Trăng chủ yếu là ba dân tộc Kinh (835.629 người, chiếm64,23%), Khmer (399.463 người, chiếm 30,71%), Hoa (65.311 người, chiếm5,02%) đã cùng chung sức khai phá, xây dựng và bảo vệ vùng đất này Trải quabao thăng trầm biến cố và phát triển của lịch sử, các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng đã

có mối quan hệ gắn bó huyết thống, xây dựng nên tinh thần thân ái, đùm bọc lẫnnhau trong cơn hoạn nạn, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất, tôn trọng nhautrong sinh hoạt, phong tục tập quán, tự do tín ngưỡng.v.v tạo nên cuộc sống hàihòa về kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng các dân tộc Đặc biệt, trong quan

hệ giao tiếp, người dân lao động ở đây còn thể hiện đức tính quý trọng nhânnghĩa, thẳng thắn, bộc trực, sống hào phóng, giản dị, tình cảm mộc mạc chânthành, đó là bản tính truyền thống của người dân Nam bộ nói chung và người dânSóc Trăng nói riêng

Chất lượng lao động của tỉnh ngày càng được nâng cao nhờ những thành tựutrong phát triển văn hóa, giáo dục, y tế Tuy nhiên, so với yêu cầu hiện nay, lượclượng lao động có trình độ cao vẫn còn mỏng, đặc biệt đội ngũ cán bộ quản lý,công nhân kỹ thuật lành nghề còn thiếu nhiều

- Mạng lưới giao thông:

Mạng lưới giao thông của tỉnh dược hình thành từ lâu và phân bố tương đốiđều khắp cả đường thủy lẫn đường bộ Mạng lưới phát triển theo các tuyến nốiliền các trung tâm kinh tế - xã hội trong tỉnh, trung tâm tỉnh với các trung tâmhuyện và các khu vực dân cư với nhau, giữa nông thôn và thành thị

Tuyến quốc lộ 60, lộ Nam sông Hậu nối Sóc Trăng với Trà Vinh, Sóc Trăng,Tiền Giang Đây sẽ là điều kiện tốt, thuận lợi để phát triển khu vực ven biển, hạlưu sông Hậu, xây dựng vùng này trở thành một vùng kinh tế - công nghiệp -dịch

vụ

Trục giao thông chiến lược quốc lộ 1A chạy xuyên qua trung tâm địa phận SócTrăng là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cân bằng các khu vực kinh tếtrong tỉnh Cầu Cần Thơ đã đưa vào sử dụng là một thuận lợi rất lớn cho giaothông Sóc Trăng, giúp cho mối lien hệ giữa Sóc Trăng với các địa phương khácdễ

Trang 19

kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế và giao lưu văn hóa giữa thành thị vànông thôn.

ĐBSCL với đặc thù là giao thông vận tải đường thủy, thì Sóc Trăng cũngkhông ngoại lệ Đường thủy ở Sóc Trăng có thể đi đến tất cả các tỉnh ở khu vựcNam Bộ, ngược dòng Mekong có thể giao lưu với Campuchia, Lào và xuôi dòngMekong ra biển Đông và đi khắp nơi trên thế giới

Với tổng chiều dài đường thủy 1.462,35 km, Sóc Trăng có vị thế hết sức quan trọng đối với một tỉnh đồng bằng Đặc biệt trong tỉnh có 2 tuyến đường thủyquan trọng:

- Tuyến sông Hậu: chạy dọc Tây Bắc tỉnh, thông qua hai của biển Định An vàTrần Đề

- Tuyến kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp là đoạn ngắn nhất từ sông Hậu đi SócTrăng

- Hệ thống điện, nước và viễn thông:

Hiện toàn tỉnh có 100% xã có điện trung thế Tại các trung tâm dân cư, lướiđiện đủ cung cấp cho nhu cầu sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp.Việc phát triển mạng lưới điện đến các vùng sâu, vùng xa đã tạo ra những thayđổi và phát triển rõ nét ở nông thôn Bên cạnh đó việc hoàn thành và đưa vào sửdụng điện 22 KVA vượt sông Hậu sang các xã ở Cù Lao Dung, Phong Nẫm và

Mỹ Phước là điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội cho khu vựcnày

Vấn đề cung cấp nước sạch của tỉnh trong những năm qua đã được sự quantâm đúng mức của chính quyền Công suất của nhà máy nước đã được nâng cấplên khoảng 35.000 m3/ngày Tính đến nay tất cả các huyện và thành phố trongtỉnh điều có nước sinh hoạt tuy nhiên ở những vùng sâu nước máy không đếnđược, người dân tự khoang giếng nước để sử dụng

Nhìn chung, dịch vụ bưu chính viễn thông của tỉnh hiện nay đã đáp ứng nhucầu thông tin phục vụ, theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương và cảnước

- Giáo dục:

Giáo dục và đào tạo Sóc Trăng trong thời gian qua đã có bước phát triển mạnh.Toàn tỉnh hiện nay có: 3 trường cao đẳng (trường Cao đẳng nghề Sóc Trăng,trường Cao đẳng cộng đồng Sóc Trăng, trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng); 4trường trung cấp (trường Trung cấp nghề thanh niên dân tộc huyện Vĩnh Châu,trường Trung học Y tế, Phân hiệu I Trường kỹ thuật nghiệp vụ - Giao thông Vậntải, trường Trung học văn hoá nghệ thuật); Trung tâm dạy nghề các huyện, thànhphố và TTGDTX liêt kết với các trường đại học trong cả nước để liên kếtđào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học

Trang 21

2.2 GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI KHMER TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SÓC TRĂNG

2.2.1 Giá trị văn hóa vật chất của người Khmer Sóc Trăng trong phát triển

du lịch

2.2.1.1 Ẩm thực

Bên cạnh việc lưu giữ bản sắc văn hóa ẩm thực dân tộc, trong quá trình cộng

cư, người Khmer Sóc Trăng có sự điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu thị hiếu vàđiều kiện sinh tồn, dẫn đến tiếp biến văn hóa về văn hóa vật chất, trong đó cóyếu tố ẩm thực

Người Khmer trồng được hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau nên họthường ăn cơm tẻ và từ nếp, họ đã biết chế biến các loại cơm và xay thành bột

để làm các loại bánh như bánh tét, bánh ít, bánh tổ chim, đặc biệt là bánh gừng,cốm dẹp…

Cốm dẹp: Cốm dẹp là một đặc sản của người Khmer miền sông nước Cửu

Long nói chung và ở Ngã Năm - Sóc Trăng nói riêng Đây còn là món ngon để

bà con Khmer dâng cúng Mặt trăng vào ngày lễ Ok Om Bok (rằm tháng mười

âm lịch) hằng năm

Được làm từ nếp mới chín đỏ đuôi, vừa mới được cắt từ cánh đồng mang về Dụng cụ chính làm cốm là một nồi rất to có miệng rộng, một chiếc cối thonđứng, được khoét lồng từ một khúc gỗ, chiều cao khoảng 60 cm và chày giãđứng Nếp được rang chín đều đến khi có tiếng nổ lách tách và vỏ bung ra Sau

đó, nếp chín được đổ vào cối giã và thường là có hai người giã Trong quá trìnhgiã lúc đầu, do nếp còn tươi nên hạt nếp bẹp ra và dính từng mảng, vì vậy cầnphải có gạt để đảo trộn nếp dính Và cứ thế, hạt nếp được giã cho đến khi khô

và rời ra Kế đến, người ta đổ nếp ra nia sàng bỏ trấu trắng dục, lúc ấy sẽ thấyđiểm lác đác những hạt màu xanh Cốm dẹp trộn với đường, dừa ăn thơm ngonhoặc ăn với chuối chín muồi cũng rất tuyệt

Cũng vì hương vị thơm, ngon đặc trưng mà cốm dẹp từ lâu đã trở thành mộtđặc sản của người Khmer miền sông Cửu Long nói chung và ở Ngã Năm - SócTrăng nói riêng; là món ngon để bà con Khmer dâng cúng Mặt trăng vào ngày lễ

Ok Om Bok (rằm tháng mười âm lịch) hằng năm

- Bánh gừng: Num khnhây hay bánh gừng được làm bằng nếp vo sạch, để ráo

rồi xay hay giã thành bột thật nhuyễn giống như làm bánh ăn trộm, xong đemphơi khô Lòng trắng trứng vịt đánh thật nổi rồi cho bột vào quậy sền sệt, nắnthành hình củ gừng (hoặc hình cá, chim, cua, tôm…) Đem chiên bánh cho đến khi

Trang 22

nở lớn rồi ngào với nước đường thốt nốt Bí quyết để có bánh gừng ngon làlượng bột cho vào lòng trắng trứng sao cho vừa phải và khi chiên phải trở bánhqua lại thật đều tay Thêm nữa, bột nếp phơi không khô, giã không nhuyễn bánh

sẽ chai Bánh gừng thường không thể thiếu trong đám cưới của người Khmer, nó

là biểu tượng cho hạnh phúc lứa đôi

Ngoài lúa và nếp ra, người Khmer còn trồng được các loại hoa màu Thức ănhằng ngày của họ có cá, tôm, ếch, nhái, rau, củ, nhưng vào vụ đông ken, bữa ăncủa họ rất sơ sài: có thể chỉ là món Pro-hoc chưng dưa leo, cọng bông súng hayhoa lục bình hoặc Pro-hoc bầm xả ớt Tuy nhiên ở những buổi tiệc tùng như đámcưới, đám giỗ, tết cổ truyền, họ tổ chức ăn uống đãi khách và vì cho là thiếu tôntrọng khách nên họ không bao giờ đem ra đãi khách những món ăn hằng ngày Vàđây chính là một nét giao thoa trong ẩm thực giữa người Khmer và người Việt,người Khmer Thay vào đó, thức ăn trong dịp này là thịt gia súc, gia cầm tự nuôihoặc mua được chế biến thành nhiều món ăn khá phong phú như: thịt kho nướcdừa, cà ri, bún nước lèo, cù lao …

- Mắm Pro-hoc: phụ nữ Khmer khéo pha chế nhiều loại mắm truyền thống

khác nhau mà người Việt thường gọi chung là bò hóc (Pro-hoc) Mắm Prohocđược điều chế bằng cá trắng, cá linh hoặc tép Các loại cá, tôm tép dùng để làmmắm prohoc đều phải được rửa sạch, ngâm một đêm cho sình lên rồi vớt ra, chovào rổ để làm ráo nước, sau đó trộn chung với nước muối và cơm nguội theocông thức: 4 phần tép (hoặc cá), 2 phần muối và 1 phần cơm nguội Tất cả cácthứ này trộn chung vào một cái khạp, đậy nắp thật kín và đem ra phơi nắng trongthời gian từ một tháng đến ba tháng Mắm càng để lâu ăn càng ngon Mắmprohoc dùng để nêm với canh, kho chung với cá, kho thịt hoặc dùng chế các loạinước chấm Hàng năm, cứ sau mùa lũ rút đi là dịp người Khmer đánh bắt hoặcmua cá về làm mắm Pro-hoc là ẩm thực đặc trưng của người Khmer

Mắm màu tái, mùi khẳn, vị mặn rất đặc trưng Mắm prohoc ăn sống kèm vớikhế, chuối chát, rau sống hay bầm với xả ớt, ăn với cơm nguội hoặc được làmnguyên liệu chính trong món bún nước lèo nổi tiếng của người Khmer vùng Nam

Bộ mà Sóc Trăng và Trà Vinh là hai “kinh đô” của món bún ấy Ở Sóc Trăng,người ta còn chế biến ra loại mắm được làm từ cá trê vàng và nó đã trở thành đặc sản nổi tiếng với tên gọi là mắm Pro-hoc

- Khẩu vị: Vị ưa thích nhất của họ chính là vị chua và cay Gia vị chua lấy từ

quả me hay mẻ còn gia vị cay được tạo từ hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri,…

- Thức uống: Ở nông thôn nông thôn người Khmer dùng lu, khạp chứa nước

mưa tiêu dùng Họ chỉ dùng trà dể tiếp khách trong các lễ, tết Họ cũng uống

Trang 23

rượu trắng hoặc rượu thuốc như người Kinh nhưng rất ít và không uống rượu trong chùa vì đay là giới luật của Phật giáo tiểu thừa.

Nước thốt nốt là thức uống truyền thống của người Khmer, người ta sửdụng cả nước lẫn cái như dừa của người Kinh,từ nguyên liệu trái thốt nốtngười Khmer chế biến rượu thốt nốt, bánh thốt nốt, đường thốt nốt

Đối với khách du lịch ngoài nhu cầu được tham quan, tìm hiểu những nétđộc đáo ở mỗi nới đến thì nhu cầu được thưởng thức những đặc sản cũng rấtcao Ẩm thực của người Khmer rõ ràng có những nét độc đáo, khác lạ so với cácdân tộc khác, chẳng hạn như mắm Pro-hoc Óp, bún nước Lèo, bánh cống đã rấthấp dẫn và quen thuộc với du khách Tuy nhiên, một số món ăn của người Khmer

có mùi vị “lạ” với gu ẩm thực của một số người, đây là yếu tố khiến ẩm thựcKhmer chưa phát triển du lịch mạnh mẽ

2.2.1.2 Chiếc ghe ngo

Chiếc ghe Ngo là linh hồn của người Khmer và hàng năm ngày lễ hội truyềnthống đua ghe Ngo của đồng bào Khmer Sóc Trăng nói riêng và người Khmer ởkhu vực ĐBSCL nói chung thường diễn ra vào các ngày 14, 15 tháng Kă-đấthtương ứng vào khoảng Rằm tháng 10 Âm lịch của Việt Nam

Theo tương truyền, tục đua ghe Ngo của người Khmer Sóc Trăng lần đầutiên được tổ chức tại “Pem Kon Thô” tức là Vàm Dù Tho ngày nay thuộc địa bànhuyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng Nơi này các đội ghe Ngo của các vùng BạcLiêu, Kiên Giang, Trà Vinh tập trung về đây đều thuận lợi, ở đây có 1 con sônglớn thẳng dài, dòng nước chảy đều, có sân bãi lộ thiên và cũng là nơi ngã bađường tiếp giáp nhau thành nơi giao thương sầm uất lúc bấy giờ Sau ngày miềnNam hoàn toàn giải phóng được dời về sông Maspero (TP Sóc Trăng) và trở thành

lễ hội văn hóa hàng năm

Ghe Ngo – tiếng Khmer là Tuk Ngo là một loại thuyền độc mộc được khoét

từ một than cây gỗ tốt, được thiết kế đặc biệt, đúng kiểu phải dài tới 30 m, nơirộng nhất khoảng 70 cm, than ghe dài, thon như hình con rắn, mũi thấp hơn láinhưng cả hai đều cong vút lên Với thiết kế như vậy, ghe lướt song tốt nhờ lựccản nước ở mũi nhỏ Mũi ghe thường chạm đầu một linh vật như: con xiết –một loại thần nước, rắn thần, rồng, phượng, ó biển, voi, sư tử… Ghe được sơn

và trang trí rất đẹp, phần lườn thường chỉ sơn một màu đen, còn phần be vàphần thân nổi lên thường được trang trí bằng các đường hình học và các họa tiếthoa văn Khmer với các màu chue đạo trắng, xanh, đỏ, vàng… Mỗi đội đua có từ

20 – 30 tay trèo, người chỉ huy phải thông thạo kỷ thuật, nhiều kinh nghiệmtrong việc điều khiển mũi, lái và phối hợp động tác bơi của toàn đội, nhất là khiđua nước rút

Trang 24

Hàng năm, các chùa đều tổ chức duy tu, bảo dưỡng, trang trí ghe Ngo để kịptham gia vào các lễ hội đua ghe Ngo, nhất là đội đua trong lễ Cúng Trăng (Ok OmBok) Hội đua ghe là một nét sinh hoạt thiêng liêng của người Khmer thể hiệnmối liên hệ theo tư duy lưỡng hợp giữa các yếu tố mặt trời – nước, ánh sang –bóng tối, khô - ẩm, vốn là những yếu tố rất cần thiết cho việc trồng lúa Lễ hộidua ghe Ngo chính là sự biểu đạt hai yếu tố đó, nét độc đáo trong sinh hoạt vănhóa tinh than của cư dân nông nghiệp lúa nước.

Như vậy, những giá trị của chiếc ghe ngo của người Khmer Sóc Trăng chính

là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá phục vụ cho nhu cầu phát triển du lịch, vừa

có giá trị vật chất lại có giá trị tinh thần Với những lợi thế đó Sóc Trăng có thểkhai thác các tour du lịch văn hóa, đặc biệt là du lịch tôn giáo tín ngưỡng

2.2.1.3 Hệ thống chùa Khmer

a Ý nghĩa của ngôi chùa.

Ngôi chùa đối với người Khmer có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó tồn tạitrong ý thức của mỗi người dân Ngôi chùa là sự thăng hoa trong văn hóa củangười Khmer

Về mặt tôn giáo: Nhìn từ góc độ tâm linh, ngôi chùa là đỉnh cao của thănghoa tôn giáo Xây dựng và làm đẹp cho ngôi chùa chính là làm cho lòng mình thêmsung sướng “cái đẹp hiện ra trong cái thiêng liêng phật tính” Bởi vì ngôi chùa lànơi thờ Phật, nơi giữ cốt của tổ tiên, gắn bó với buổi đầu khai hoang lập ấp

Về mặt giáo dục:

Chùa như một ngôi trường, một thư viện, một bảo tàng của người dânKhmer Tại đây các sư dạy cho phật tử về giáo lý, phật pháp, đạo lý làm người…Nhà chùa còn đóng vai trò là nhà văn hóa thông tin, dạy các phật tử về nghề mộc,điêu khắc, xây dựng, canh tác trồng lúa… Thông qua ngôi chùa, người nông dânKhmer thấy mình đoàn kết hơn, chùa là trung tâm của phum, sóc, của cộng đồng.Theo lối tư duy “Tam đoạn luận” của người Khmer Nam Bộ thì “mất chữ viết làmất dân tộc, mất phong tục tập quán là mất dân tộc Dân tộc và tôn giáo cùng tồnvong, mất tôn giáo là mất dân tộc”

Về mặt văn hóa – nghệ thuật:

- Chùa là nơi diễn ra các lễ hội, kể cả dân gian và truyền thống của ngườiKhmer Chùa được xem là trung tâm văn hóa của phum, sóc, là nơi tập trung độivăn nghệ - thể thao cho các ngày hội lớn của dân tộc

- Riêng về mặt kiến trúc, ngôi chùa là tập hợp toàn bộ những nét tinh hoa vềnghệ thuật trang trí, hội họa, âm nhạc, ca múa và sân khấu Từ đó tạo nên bảnsắc, giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc Khmer

Như vậy, ngôi chùa là trung tâm tôn giáo, văn hóa, giáo dục, xã hội của người Khmer, là một tài nguyên du lịch có tiềm năng rất lớn, thu hút nhiều du khách đến

Trang 25

tham quan, tìm hiểu đặc biệt là du khách nước ngoài.

b Kiến trúc chùa

Nhìn chung, mỗi ngôi chùa người Khmer trong vùng ĐBSCL nói chung và ởSóc Trăng nói riêng đều có một giá trị cao về giá trị mỹ thuật Phật Giáo Mộtngôi chùa Khmer là sự tổng hợp hài hòa về những yếu tố tạo hình, tạo dáng, điêukhắc, kiến trúc, hội họa Môt ngôi chùa Khmer thường được kiến lập trên mộtkhu đất khá rộng rãi trong mỗi địa phương Với cảnh quan đó, chung quanh mộtngôi chùa thường trồng nhiều loại cây to như thốt nốt, dầu, sao, những cây đặcsản miền Nam Mỗi ngôi chùa Khmer thường bao gồm nhiều khu vực kiến trúcnhư: khu chánh điện, sala, nhà tăng, nhà tu thiền định, nhà thiêu hương và nhữngtháp thờ

- Chánh điện

Trước chùa thường là cổng (tam quan) trang trí hoa văn theo kiểu kiến trúcđền tháp Campuchia Vì là nơi cúng bái, hành lễ và cầu đảo, cho nên chánh điệngiữa vị trí trung tâm của ngôi chùa Những nền chùa Khmer thường được xây cấthơn mặt đất thường là một mét; phần để gia tăng vẻ tôn nghiêm; phần để tránhmùa lũ lụt Chẳng hạn như chánh điện chùa Khléang tại thị xã Sóc Trăng có babậc: mỗi bậc được bao quanh bằng một vòng rào xây bằng gạch Những hàngrào đều theo đúng các hướng đông, tây, nam, bắc; mỗi hướng đều có cửa ra vào,trang trí mỹ thuật Bên cạnh cổng vào là những ngôi tháp nhỏ, mỗi loại điêu khắc

và kiến trúc theo mỗi thể điệu khác nhau Cũng như những ngôi chùa Khmerkhác, chùa Khléang có sân rất rộng, thường dùng để tổ chức những ngày lễ lớnthường diễn ra trong mỗi tháng Khu chánh điện nằm vào trung tâm của toàn bộquần thể nầy Nền nhà được cất cao hẳn lên, và phân chia thành ba cấp bậc cónhững bố cục hoàn toàn khác nhau Khu vực nầy được phân ra thành bốn phần,được quay hẳn về bốn hướng ra vào khác nhau Mỗi hướng giành riêng cho mỗitầng lớp người khác nhau vào chùa, từ vị trụ trì đến chư tăng, thiện nam tín nữ

và những người phục vụ trong chùa

Cũng nhờ kỹ thuật bố trí khá hoàn chỉnh cho nên từ ngoài nhìn vào sẽ thấyngôi chánh điện cao hẳn lên; điều nầy có thể phân biệt được với chùa chiền cổtruyền Việt Nam Khung mái chùa uốn cao hẳn lên và được làm bằng loại gỗquý, được đưa từ nhiều vùng khác đến Mái chùa được phân ra làm ba phần bọcquanh nhau và những góc cạnh đều được trang trí và điêu khắc rất công phu.Những nhánh cao vút lên ở những góc mái, mang hình tượng Vichnou cổ truyền.Chung quanh chùa có nhiều cột cao san sát nhau tạo ra một hình tượng vững chải

và kỳ bí hẳn Ba lớp la thành bọc quanh chiến phần lớn sân chùa, khiến cho dukhách tưởng tượng đến những hạn chế từng vùng riêng biệt, mà nghi thức người

Trang 26

Khmer thường đưa ra cho mọi tín đồ đến hành lễ.

Đặc biệt nhất là những hình tượng Krud, tức là hình người đầu chim, mộtbiểu trưng về "vật nhân nhất thể" Ảnh hưởng Corinthien và Dorothien của HyLạp thể hiện rõ nét nhất trong những mô hình nầy Trong điện thờ và nhà Tổ cónhiêu bao lam; những bao lam nầy vươn lên cao vút lên tận mái nhà Tất cảnhững chi tiết nầy đều được chạm trổ, điêu khắc lẫn hội họa; màu sắc rực rỡ

và được chiếu sáng rực hẳn lên

Hai đầu trống ở hai đầu mái được đóng bít bằng một mảnh gỗhình tam giác, được gọi là "Hô Cheang" Phần nầy thường được khắc họa vàtrang trí rất đẹp Trên đầu hai góc mái trên cùng thường có một khúc đuôi rắn dài

và con vút; nhờ vậy, trông đầu mái có cảm giác nhẹ nhàng hẳn lên

Trên hai mái trên cùng nầy, ở phần giữa, thường xuất hiện một ngọn tháp caovút (có chùa đến ba ngọn tháp như chùa "Tắc Gồng" (Brasat Kông tại xã ThamĐôn, huyện Mỹ Xuyên) Nắp tháp to lớn, có hình một quả chuông úp xuống, gồm

có nhiều tầng chồng lên nhau Phía trên, có đặt một đầu tượng bốn mặt là vịthần "Maha Prum", như tại chùa Bãi Xài (Mỹ Xuyên); trên cùng lại có đặt thêmmột cột thu lôi cao vút Trên đầu góc của hai tầng mái dưới, thường thấy xuấthiện rất nhiều đầu con rồng (theo họa tiết Khmer); thân rồng là một bờ dãy,giương lên nhiều vi lưng Những tài liệu của Malleret cho biết: trong những thế

kỷ trước, chùa tháp Khmer không có tháp nóc; kiểu tháp nóc nầy do ảnh hưởngcủa nền kiến trúc Phật Giáo Thái Lan hay Miến Điện sang Trong điện thờ vànhà

Tổ có nhiều bao lam; những bao lam nầy vươn lên cao vút lên tận mái nhà

Tất cả những chi tiết nầy đều được chạm trổ, điêu khắc lẫn hội họa; màusắc rực rỡ và được chiếu sáng rực hẳn lên Trên bàn thờ chính có nhiều tượngPhật trong những tư thế và giai đoạn khác nhau trong đời của Ngài, từ khi đảnsinh cho đến hồi nhập diệt: ít nhất là 20 thể hình như thế Sau mỗi pho tượng cóđều ghi chú xuất xứ của pho tượng và người mang tượng đến cúng chùa

Trong chùa không có những tượng kim cương, tuy nhiên, ở những cửa ra vàothì được chạm nổi những hình Theanin và Reahu trông rất dữ dằn Thậm chínhững hình Tiên Nữ trên cửa hay trên cột trông cũng rất hung tàn, trong tư thế

Trang 27

chiến đấu Chánh điện của chùa Khmer chiếm toàn phần lớn và vị trí quan trọng

từ ngoài vào Đây là gian phòng dùng trong việc hành lễ, thờ phụng, cầu đảo,truyền đạo, hành đạo Thông thường, cách bài trí chánh điện đơn giản, nhưngkhông kém phần trang nghiêm Trên bệ chính cao nhất, có nhiều tầng, đặt photượng Phật Những tượng Phật của chùa Khmer thường quay về hướng đông.Giải thích về chọn phương hướng nầy, kinh điển Khmer cho rằng: Phật Tổ ởphương tây thì bao giờ cũng quay về hướng đông, để phổ độ chúng sanh Phần

bệ tượng chính thường khắc họa, trang trí một toà sen rộng lớn, chia nhiều bậc

và mỗi bậc đều có nhiều hoa văn trang trí mỹ thuật Bệ tượng thường là một toàsen và có nhiều bậc, được trang trí tỉ mỉ Trên bệ gồm một tượng Phật chính,thiết trí ở chính giữa; nhiều tượng nhỏ chung quanh

Khác với những ngôi chùa Việt Nam và chùa Trung Hoa, những loại chùaKhmer chỉ thờ đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, không thờ các vị Phật, Bồ tát khácnhư đức Quán Thế Âm Bồ tát, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, hay các vịKim Cương, La Hán và các Bồ tát khác Toàn thể tượng và bệ tượng thường đặtphía sau một cái khuôn lớn, có chạm khắc những mẫu hoa văn, hình kỷ hà rấttinh

vi Nổi bật nhất hiện nay là ngôi chùa Srâ Lâung, còn bảo lưu nhiều khung bằng

gỗ, có những hình chạm trỗ rất đẹp Những kỹ thuật chạm khắc gỗ tại chùa nầyđược thể hiện qua những khung hình rất sắc sảo Trong bố cục, phần chánh điệnthường được xây một nơi riêng biệt, cách xa hẳn các dãy sala và nhà tăng, nhàhậu

- Sala:

Những kiến trúc chùa chiền Khmer, thì sala là ngôi nhà xây đầu tiên khi dựng chùa; sala cũng được là kiểu "nhà hội" của Phật tử, giảng đường của những sưsải Sala cũng là nơi tiếp khác trong những ngày đại lễ Phật Giáo; có nhiềutrường hợp sala được ngăn chia thêm những gian phòng nhỏ cho chư tăng hay nơingụ tạm cho khách thập

Trong sala, phần trung tâm vẫn có bàn thờ Phật nhưng đơn giản hơn, và trong

bố cục nầy thì sala phải hướng về phía đông như bao nhiêu chánh điện khác.Theo tổ chức, sala kiến tạo đơn giả hơn phần chánh điện Nhìn tổng thể, thìnhững sala hiện có ở những ngôi chùa Khmer miền Nam Việt Nam hiện nay, tất

cả đều được xây dựng theo quy cách hiện đại; ngày trước sala chỉ là ngôi nhà sànnhỏ bé Cách bài trí của sala không giống như chánh điện.Sala gồm có: phòngchính để cử hành lễ dâng cơm, nơi tổ chức sinh hoạt, phòng tiếp khác, nơi tổchức phòng nhạc ngũ âm tế lễ Tại chùa Bãi Xâu (Mỹ Xuyên) sala còn có thêmmột dãy nhà khách Nơi đây thường tổ chức chúng thập loại chúng sinh, trai đànchẩn tế

- Nhà thiêu:

Trang 28

Theo tập tục của người Khmer, nhất là trong tổ chức của tín đồ Phật Giáo,người chết được hoả táng tại nhà thiêu Việc xây cất nhà thiêu không theo mộtquy định nào Trên nguyên tắc, nhà thiêu chỉ là gian phòng nhỏ, thông gió, để áoquan, cách xa chùa, trên có ống thông khói khi hỏa táng Cũng có những kiểu nhàthiêu khác; Mái nhà thiêu lại có nhiều tầng, xếp chồng lên nhau Trên mỗi đầugóc mái đều có trang trí hình rồng Nhà thiêu Khmer trông giống như kiểu đềnthờ linh vật của Chăm - Pa Kiểu này chia hai phần: phần dưới là nhà thiêu; phầntrên là ống khói Trong khu vực chung quanh chùa Khmer, thường có những loạitháp lớn nhỏ đủ kiểu và loại khác nhau Đây là những tháp để cốt Những loạitháp này thường được cấu trúc ba phần: chân tháp khá rộng, hình vuông, có một

lỗ nhỏ để cốt của người quá cố vào; thân tháp có nhiều tầng, nhỏ từ dưới lêntrên; đầu tháp là những mũi nhọn, trên đỉnh thường để đầu thần có bốn mặt gọi

là "Maha Prum" Phía trên đầu tượng nầy là cột sắt nhỏ, nhọn, có nhiều lông nhỏ.Còn những ngôi tháp lớn thì lưu lại cốt của các vị Sãi cả trong chùa, nhữngngười đã từng có công lao xây dựng và trùng tu, kiến thiết chùa Những ngôi tháp lớn hơn dùng để cốt của những người dân trong Phum, Srok

- Cổng chùa:

Hầu hết những cổng chùa Khmer thường được trang trí, điêu khắc tỉ mỉ vàđược xem là những công trình nghệ thuật nổi tiếng Tuy nhiên, những kiểu dángcủa các chùa không theo một khuôn mẫu nào nhất định Chẳng hạn như cổngchùa Phướn được xây dựng rất đồ sộ; phần trên là ba ngọn tháp theo kiểu cổngđền Angkor, trang trí bằng những hoa văn rất đẹp; phần dưới cổng có hình conrắn 7 đầu, nằm trên bờ lan can Những cổng chùa theo mô thức Chăm - Pa thìthường chạm khắc hình những người đua ghe Ngo

Có thể nói chùa của người Khmer là trung tâm tôn giáo, văn hóa, giáo dục, xãhội của người Khmer Không những thế, trong xu thế phát triển hiện nay nhữnggiá trị về tâm linh, kiến trúc của các ngôi chùa Khmer mà điển hình ở Sóc Trăng

là một tài nguyên du lịch vô cùng qúy giá để tạo nên những sản phẩm du lịch đặcsắc nơi đây Có thể nói chùa của người Khmer là trung tâm tôn giáo, văn hóa,giáo dục, xã hội của người Khmer Không những thế, trong xu thế phát triển hiệnnay những giá trị về tâm linh, kiến trúc của các ngôi chùa Khmer mà điển hình ởSóc Trăng là một tài nguyên du lịch vô cùng qúy giá để tạo nên những sản phẩm

du lịch đặc sắc nơi đây Một số ngôi chùa Khmer ở Sóc Trăng hiện nay thu hútđông khách tham quan như chùa Dơi (chùa Mã Tộc), chùa Khléang, chùa ChénKiểu

Tuy nhiên, hầu như những ngôi chùa Khmer ở Sóc Trăng đang đưa vào khaithác du lịch chưa được quản lý chặt chẽ, các tệ nạn chèo kéo (xin tiền và bán vésố) khách tham quan còn khá phổ biến, nơi đậu đỗ xe chưa thật sự thuận lợi và

Trang 29

môi trường xung quanh đang bị xâm hại Do đó, nếu như được đầu tư tốt về cơ

sở hạ tầng, công tác quảng lí và quảng bá du lịch và đầu tư đào tạo đội ngũhướng dẫn viên chuyên nghiệp thì du lịch Sóc Trăng chắc chắn sẽ có sự phát triển đột phá

2.2.2 Văn hóa tinh thần của người Khmer Sóc Trăng trong phát triển du lịch

2.2.2.1 Đạo Phật của người Khmer

Chùa đối với người Khmer mang một tình cảm sâu sắc Nhiều người Khmercho biết: “người Khmer từ lúc sinh ra cho đến khi lớn lên, rồi về già và cho đếnkhi mất đi đều gắn bó với chùa” Hàng ngày các con sóc dâng cơm cho sư sãikhông phải là một quy định bắt buột, đối với người Khmer, được các vị sư sãichiếu cố dùng cơm của họ dâng là một điề phước đức lớn Chùa là biểu tượngtinh thần cộng đồng của phum sóc mà đối với cá nhân, việc chăm sóc, xây dựngchùa là công việc tích cực, là con đường chắc chắn đưa đến sự giải thoát Họ cóthể đóng góp vào việc xây dựng chùa trong khi họ bị đói

Mỗi người con trai Khmer, bất kể thuộc tầng lớp xã hội nào đều có thể đi tu

Về nguyên tắc thì phải trên mười hai tuổi mới được tu, nhưng trên thực tế cũng

có các sa di nhỏ tuổi hơn Tu từ 12 tuổi đến 20 tuổi thì gọi là trả hiếu cho mẹ, từ

20 tuổi trở lên thì để trả hiếu cho cha, nhưng thường thì người con trai Khmer cóthể tu vào bất cứ lúc nào tuỳ cái phước của mình Tấc cả đã tạo nên trong ý thứcbất cứ thanh niên nào, trong cuộc đời mình đều muốn đi tu ít ra là một lần Họxem việc đi tu là nghĩa vụ vừa là vinh dự cuộc đời Đi tu còn là cơ hội để tíchđức, nhưng cơ hội tốt đẹp lại này không dành cho phụ nữ Nam giới cũng có thể

từ chối vinh dự này mà không có một lời chê bai nào, cũng như một người đi tu

có thể cởi chiếc áo cà sa để hoàn tục bất cứ lúc nào Một đời người, thậm chínhiều lần đi tu cũng không có quy định nào cấm cản Do đó, quan hệ giữa nhàchùa và phum sóc được gắn bó chặt chẽ hơn do định chế đi tu rất cởi mở này.Những ngày lễ hội thuần tuý Phật giáo như Lễ Phật đản, Lễ Nhập hạ, Lễ

Xuất hạ, Lễ ban hành giáo lý, Lễ Cầu Siêu, được tổ chức trong chùa là lẽđương nhiên, nhưng những ngày lẽ hội dân tộc, việc bểu diễn văn nghệ, sinhhoạt vui chơi và cả sinh hoạt cộng đồng phum sóc cũngdiễn ra ở chùa thì chùađâu chỉ đơn thuần là nơi sinh hoạt tôn giáo, mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hoácủa phạm vi số dân mà chùa ảnh hưởng bao gồm: thư viện, nơi sinh hoạt vănhoá

– văn nghệ, trường học chữ,… Cũng có thể nói chùa của người Khmer còn lànghĩa trang nữa, bởi lẽ người Khmer chết, sau khi thêu xác, cốt được gởi vàotháp

ở chùa

Trang 30

Có thể nói sự tồn tại vững chắc và phát triển ảnh hưởng của nhà chùa qua bao thế kỷ có được là do các định chế tu trì của đạo Phật đối với hậu hết mọi

Trang 31

thành phần trong xa hội trong cộng đồng phum sóc qua Ban quản trị chùa.

Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, chính sách tôn giáo và chínhsách dân tộc của Đảng và Nhà nước được thi hành có số hiệu lực ở miền Nam

đã mở ra một chuyển biến to lớn trong đồng bào Khmer Các vị sư sãi Khmer SócTrăng đã dễ dàng thâm nhập vào cuộc sống mới Trước đây các vị sư sãi sốngchủ yếu bằng của bố thí thì nay đã tham gia lao động sản xuất, tự túc phần lớnlương thực và tham gia công tác xã hội rộng rãi Các vị sư sãi đã nâng cao ý thứctrách nhiệm công dân của mình, nếu gương tốt cho dân chúng

Cho nên có thể nói sự tồn tại vững chắc và phát triển ảnh hưởng của nhàchùa qua bao thế kỷ có được là do các định chế tu trì làm cho đạo Phật thông quacác vị sư sãi đã trở thành đạo giáo rất bình dân đối với người Khmer Ngày naycác chùa Khmer ở Sóc Trăng là một trong những điểm du lịch hấp dẫn du khách

và được xem là loại hình du lịch phát triển mạnh mẽ nhất, kết hợp với du lịchsinh thái và tâm linh

2.2.2.2 Lễ hội

Các ngày lễ của người Khmer tỉnh Sóc Trăng được tổ chức theo Phật lịch,mặc dù hiện nay, các tính đồ vẫn phải dùng dương lịch Mỗi năm, các nhà thiênvăn soạn ra một tập lịch ghi đủ ngày tháng, mưa nắng, lễ lộc, gọi là Đại lịch(Maha sang-kran) Người Khmer mua về để coi ngày tháng cử hành những buổilễ

Lễ hội của người Khmer tỉnh Sóc Trăng có thể chia làm hai loại: lễ hội dân tộc và lễ hội tôn giáo

Lễ hội của người Khmer được xem là tài nguyên du lịch vô giá của SócTrăng Những lễ hội có giá trị lớn đối với du lịch hiện nay là:

- Lễ vào năm mới (Chol Chnam Thmây) còn gọi là lễ chịu tuổi, tức là là tết

của người Khmer, thường tổ chức vào giữa tháng 4 dương lịch (tức đầu thángChét của người Khmer) là thời điểm giao mùa: hết mùa nắng và bắt đầu mùamưa Lễ này được cử hành trong ba ngày Ngày đầu là ngày “Sangkran”, ngàygiữa là “Wonbót”, và ngày thứ bà là “Lơn Sắk”

Phần lớn, lễ Chôl Chnăm Thmây được tổ chức ở chùa, với sự tham gia củacác vị sư sãi, các vị Acha và những người Khmer sinh sống trong các phum sócchung quanh chùa Ngày nay, những nghi lễ truyền thống trong ngày Tết của dântộc vẫn được người Khmer Sóc Trăng gìn giữ, lưu truyền qua các thế hệ, thểhiện bản sắc văn hóa đặc trưng của dân tộc mình

Như vậy, lễ Chôl Chnăm Thmây hay còn gọi là Tết cổ truyền của ngườiKhmer được tổ chức với những nghi lễ, những sinh hoạt văn nghệ, trò chơi khácnhau nhưng đều đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của ngườiKhmer Lễ hội này là nguồn cảm hứng, là động lực chủ yếu thúc giục người

Trang 32

Khmer sinh sống và làm việc hiệu quả hơn Nó còn là niềm mơ ước và khao khátmột cuộc sống tốt đẹp, một tương lai lí tưởng của người Khmer Người Khmerlao động quanh năm vất vả chỉ mong chờ đến ngày lễ này để được nghỉ ngơi,thư giản, thăm viếng người thân, vun bồi tình cảm giữa người và người Đây là

lễ hội đặc trưng tiêu biểu nhất của người Khmer Nếu người Việt, Hoa xemtrọng lễ Tết Nguyên Đán thì người Khmer lại xem trọng lễ Chôl Chnăm Thmây này

- Lễ cúng ông bà (Sen Đolta):

Hàng năm, ngoài Tết Chol chnăm Thmây vào khoảng giữa tháng 4 dương lịch

và Lễ Ok Om Bok cổ truyền (rằm tháng 10 âm lịch), cứ vào khoảng cuối tháng 8

âm lịch (Khmer gọi là tháng photrobot) đồng bào Khmer lại tổ chức mừng lễ hộiSen Đolta, còn gọi là tết Sen Dolta, nhằm tưởng nhớ công ơn cha mẹ, họ hàng,cầu phước cho linh hồn những người đã khuất và tri ân tổ tiên đã khai phá đấtđai, phù hộ cho phum, sóc an vui

Và trong những ngày diễn ra lễ Dolta, tại các chùa Khmer còn diễn ra nhiều

lễ hội, biểu diễn nghệ thuật với các loại hình đặc sắc mang đậm đà bản sắc vănhóa Khmer như hòa nhạc ngũ âm, hát dì kê, múa các điệu múa truyền thống…nhiều họat động tín ngưỡng, tôn giáo và các họat động khác biểu hiện phong tục,tập quán của đồng bào Khmer

“Sen Dolta” có nghĩa là “cúng ông bà”, do đó lễ hội Sen Dolta bắt nguồn từtín ngưỡng dân gian Từ xa xưa, đồng bào Khmer cho rằng ngoài thế giới hiệnhữu còn có thế giới hồn linh; con người chỉ chết đi về thể xác, còn linh hồn thìvẫn tồn tại ở cõi vĩnh hằng Xuất phát từ đó, hình thức “Sen” (cúng) là một lễthức không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đồng bào với mục đích là đểvừa bày tỏ lòng biết ơn, vừa cầu mong đạt được những điều tốt lành, phước đứccủa người đang sống đối với người đã chết Việc “Sen” chủ yếu nhằm vào 2 đốitượng là hồn linh những người đã chết có quan hệ huyết thống với mình vànhững người có công tạo lập, bảo vệ cộng đồng dân tộc

Có thể thấy thông qua việc tổ chức lễ Sen Đolta, nó vừa góp phần giáo dục,nhắc nhở con người sống theo đạo lý vừa góp phần mở rộng, giao lưu và củng

cố thêm những tình cảm tốt đẹp mang tính chất truyền thống của dân tộc, mởrộng khối đoàn kết giữa các dân tộc anh em ở chung phum sóc Đồng thời, thôngqua lễ Sen Đolta càng khẳng định thêm sự gắn bó giữa đạo Phật Tiểu Thừa vớicuộc sống đời thường của đồng bào Phật Tử Khmer

- Lễ hội Ok Om Bok và đua ghe ngo

Lễ Ok Om Bok được biết dưới những tên khác nhau như Lễ cúng trăng, lễđút cốm dẹp hay lễ đưa nước Đây là lễ lớn thứ ba trong năm của đồng bàoKhmer Nam bộ, diễn ra vào trung tuần tháng Mười âm lịch (15/10), khi nước lũrút khỏi ĐBSCL Có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn gốc lễ này Phần

Trang 33

lớn nghiêng về thuyết có tên gọi là “cúng trăng” là vì lễ nhằm để tưởng nhớ đếncông ơn mặt trăng, coi mặt trăng là một vị thần điều tiết mùa màng đã giúp conngười được làm ăn khá giả trong năm.

Loại thức ăn rất đặc biệt dùng để cúng trong dịp lễ Ok Om Bok là cốm dẹp.Đến ngày lễ, sau khi cúng trăng xong, người lớn sẽ đút cốm dẹp cho trẻ em ăn.Vừa đút vừa hỏi “Con muốn được gì”, dĩ nhiên những đứa trẻ đã được dạy trướcnên trả lời “Năm nay con muốn được nhiều gạo và tiền” Sở dĩ có tục lệ này là

vì người ta tin rằng sẽ làm ăn phát đạt trong mùa tới Với hình thức như vậy nêngọi là lễ đút cốm dẹp

Lễ Ok Om Bok và còn được gọi là lễ đưa nước, do phụ thuộc vào thiênnhiên và nhất là nước đóng vai trò quan trọng trong đời sống nông nghiệp và do

vị trí địa lý khu vực họ đang sống nên cộng đồng người Khmer xem nước như vịthần có thể mang hạnh phúc cũng như tai họa, chính vì vậy vị thần không giận

dữ, phẫn nộ giúp người dân có mùa vụ tốt tươi thì khi kết thúc vụ mùa người ta

sẽ làm lễ tạ ơn Lễ thể hiện tấm lòng biết ơn của con người đối với hiệntượng tự nhiên Với quan niệm về vũ trụ và hình thức cũng như ý nghĩa của lễnhư vậy nên có thể nhận thấy đây chính là kết quả của nền văn minh nôngnghiệp Ở đây là nông nghiệp lúa nước, vì người Khmer sinh sống trong khu vựcđịa lý chịu nhiều tác động và phụ thuộc vào thiên nhiên, nhất là lũ lụt theo mùa,trong khi

hoạt động sản xuất chủ yếu chỉ là canh tác lúa nước

Tiến trình lễ diễn ra: Cũng như nhiều lễ dân gian khác trên khắp thế giới, Ok

Om Bok cũng có hai phần là lễ và hội

Phần lễ chủ yếu là những họat động xung quanh nghi thức cúng trăng Cúngtrăng có thể tại chùa, tại nhà hoặc một nơi có thể nhìn thấy mặt trăng rõ ràng.Trước khi trăng mọc, người ta sẽ tụ tại đến những nơi này để chuẩn bị cúngtrăng Đầu tiên, người ta làm một cái cổng bằng cây tre, trúc rộng khoảng 3 mét,trang trí thật đẹp Dưới cổng người ta kê một cái bàn bày các vật cúng Ngoàicốm dẹp là lễ thức bắt buộc, còn có các loại vật phẩm cúng khác có nguồn gốc

từ nông nghiệp như chuối, các loại khoai, trái cây, bánh kẹo Mọi người ngồichắp tay quay mặt về phía mặt trăng làm lễ chờ trăng lên Khi trăng lên đến đỉnh,mặt trăng tỏa sáng, người ta đốt nhang đèn và rót trà làm lễ tạ ơn trăng Ông chủ

lễ sẽ khấn vái nói lên lòng biết ơn của đồng bào đối với mặt trăng, xin mặt trăngtiếp nhận những lễ vật do đồng bào dâng và chúc phúc cho loài người có sứckhỏe dồi dào, được mưa thuận, gió hòa để mùa màng tốt đẹp, dân chúng hưởngđược ấm no, hạnh phúc trong năm tới Sau khi cúng, trẻ em được đút cốm dẹpnhư đã biết Sau cùng, mọi người cùng vui vẻ dùng các thức ăn và các em múahát, vui chơi các trò chơi dân gian

Phần hội trong dịp lễ Ok Om Bok thường lôi cuốn tất cả ba dân tộc anh em

Ngày đăng: 16/06/2019, 15:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Trần Văn Bổn (1999), Một số lễ tục dân gian người Khmer đồng bằng sông Cửu Long, NXB. Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số lễ tục dân gian người Khmer đồng bằng sôngCửu Long
Tác giả: Trần Văn Bổn
Nhà XB: NXB. Văn hóa dân tộc
Năm: 1999
[2]. Nguyễn Mạnh Cường (2008), Phật giáo Khmer đồng bằng sông Cửu Long - Những vấn đề nhìn lại, NXB. Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo Khmer đồng bằng sông Cửu Long -Những vấn đề nhìn lại
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: NXB. Tôn giáo
Năm: 2008
[3]. Phạm Thị Phương Hạnh (2011, chủ biên), Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB. Chính trị quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹptrong bản sắc văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia - Sự thật
[4]. Sơn Phước Hoan (Chủ biên), Sơn Ngọc San, Danh Sên (2002):truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ. NXB Giáo dục, 143tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ
Tác giả: Sơn Phước Hoan (Chủ biên), Sơn Ngọc San, Danh Sên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
[5]. Lê Hương (1969): Người Việt gốc Miên.- NXB Sài Gòn, 277tr.Các lễ hội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w