Với những phân tích trên đây, có thể xác định rằng, thừa kế tài sản là phạm trùpháp luật phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội nói chung và lịch sử phát triển kinh tế - xãhội nói riêng, nó x
Trang 2MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
5 Cơ cấu của bài tiểu luận 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN THỪA KẾ 4
1.1 Khái niệm về di sản và di sản thừa kế 4
1.1.1 Khái niệm về di sản 4
1.1.2 Khái niệm về di sản thừa kế 5
1.2 Mối quan hệ giữa quyền sở hữu tài sản và di sản thừa kế 8
1.3 Ý nghĩa của những quy định pháp luật về di sản thừa kế 10
1.3.1 Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người được hưởng thừa kế 11
1.3.2 Bảo đảm quyền và lợi ích của người có liên quan 11
1.3.3 Tôn trọng quyền định đoạt của người để lại di sản thừa kế 12
1.4 Quá trình hình thành và phát triển quy định của pháp luật về di sản thừa kế tại nước ta 14
1.4.1 Quy định của pháp luật về di sản thừa kê thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 14
1.4.2 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước ngày có Pháp lệnh thừa kế 15
1.4.3 Giai đoạn từ khi Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được ban hành đến ngày Bộ luật Dân sự 1995 có hiệu lực thi hành (ngày 01-07-1996) 19
1.4.4 Giai đoạn sau ngày Bộ luật Dân sự 1995 có hiệu lực thi hành (ngày 01-07-1996) đến nay 20
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ DI SẢN THỪA KẾ, THỰC TIỂN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 21
2.1 Đối tượng của di sản thừa kế 21
2.2 Di sản thừa kế là tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung của người khác 21
Trang 32.2.1 Tài sản riêng của vợ, chồng có trước khi kết hôn 21 2.2.2 Tài sản riêng của vợ chồng được thừa kế riêng trong hôn nhân 22 2.2.3 Tài sản của người chết trong khối tài sản chung theo phần với người khác.
23
2.3 Hạn chế của quy định pháp luật về di sản thừa kế 24
2.3.1 Những vấn đề bất cập và khó khăn trong tranh chấp di sản thừa kế 24 2.3.2 Một số ý kiến nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về di sản thừa kế 30
KẾT LUẬN 33
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thừa kế là một quan hệ xã hội có nền mống và xuất hiện từ thời sơ khai của xãhội loài người Cũng chính từ thời kỳ sơ khai đó, sở hữu và thừa kế đã xuất hiện nhưmột tất yếu khách quan và mang tính chất là một phạm trù kinh tế, giữa chúng có mốiliên quan ràng buộc, qua lại với nhau
Thừa kế di sản chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cánhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế; người thừa kế trởthành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật Với ý nghĩa
có tầm quan trọng như vậy, nên trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa
kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật nói chung và bản thân nócũng phản ánh phần nào bản chất chế độ xã hội đó, thậm chí còn phản ánh được tínhchất từng giai đoạn trong quá trình phát triển của một chế độ xã hội nói riêng
ở nước ta, từ năm 1945 đến nay pháp luật thừa kế được xây dựng và từng bước hoànthiện phù hợp với các quan hệ xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), theo đó quyền và lợiích về tài sản của công dân được chú ý bảo vệ phù hợp với tình hình phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước Lịch sử đã cho thấy rằng, quyền thừa kế nói chung và quyềnthừa kế theo pháp luật nói riêng của công dân Việt Nam có sự biến đổi theo hướngngày càng mở rộng và có sự phụ thuộc vào thành quả phát triển kinh tế - xã hội quacác thời kỳ Xét riêng về diện thừa kế, thì quyền thừa kế của công dân Việt Nam được
mở rộng tương ứng với quan điểm, cách nhìn nhận đúng đắn hơn đối với mối quan hệgiữa người có tài sản để lại và những người thừa kế
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều chủtrương, đường lối nhằm đổi mới toàn diện đất nước, phát triển nền kinh tế nhiều thànhphần; nhiều hình thức sở hữu được thừa nhận như một quy luật tất yếu, trong đó hìnhthức sở hữu tư nhân đã có được vị trí quan trọng Việc thực hiện tốt các chủ trương,đường lối đó đã tạo thêm cơ sở cho sự phát triển quyền thừa kế của công dân ViệtNam
Hiến pháp và các đạo luật cơ bản từ năm 1946 đến nay đều thể hiện nguyên tắcNhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân Pháp luật vềthừa kế từ năm 1945 đến nay đã nhất quán trên nguyên tắc cơ bản này và đã điều chỉnhkịp thời các quan hệ trong lĩnh vực thừa kế, cũng như tạo cơ sở pháp lý cơ bản choviệc giải quyết những tranh chấp phát sinh từ quan hệ thừa kế Trong hệ thống phápluật hiện nay những quy định về thừa kế đã chiếm số lượng đáng kể, nhưng trong quá
Trang 5trình áp dụng những quy định này trong thực tiễn cũng như trong việc giải quyếtnhững tranh chấp về thừa kế , vẫn tồn tại không ít khó khăn, vướng mắc Hàng năm
có hàng ngàn vụ án kiện về thừa kế mà Tòa án nhân dân (TAND) các cấp phải giảiquyết, nhưng pháp luật về thừa kế và những quy định pháp luật khác liên quan đếnthừa kế chưa thật sự đồng bộ và thống nhất, vì thế nhiều vụ tranh chấp thừa kế đã phảixét xử nhiều lần mà tính thuyết phục không cao Nhiều bản án, quyết định của Tòa ánvẫn bị coi là chưa "thấu tình đạt lý" Nhất là trong bối cảnh hội nhập, với thực trạngcủa nền kinh tế thị trường và xây dụng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện naynhững vấn đề tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân ngày càng trở nên phức tạp và đadạng Vì vậy, vấn đề di sản thừa kế và xác định di sản thừa kế cũng đặt ra nhiều hơnnhững vấn đề lý luận và thực tiễn cần giải quyết
Trước những tình hình đó, em quyết định lựa chọn đề tài “Di sản thừa kế- một
số vấn đề lý luận và thực tiễn”, qua đó, mong muốn có thể làm rõ cơ sở lý luận và
thực tiễn về vấn đề di sản thừa kế ở nước ta hiện nay, để từ đó đem lại nhận thức đúngđắn về di sản thừa kế- yếu tố quan trọng hàng đầu đối với việc giải quyết các vụ án vềthừa kế
Ngoài ra, trong một chừng mực nhất định, cũng từ việc nghiên cứu đề tài nàynhằm làm sáng tỏ thêm vấn đề về hiệu lực điều chỉnh cũng như về việc hoàn thiện cácquy phạm pháp luật về thừa kế ở nước ta
2 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài “Di sản thừa kế- một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,
nhằm làm rõ loại hình thừa kế di sản tuân theo các nguyên tắc, điều kiện, trình tự vàthủ tục do pháp luật quy định, mà không phụ thuộc vào sự định đoạt ý chí của người
có tài sản để lại Đó chính là việc vừa hệ thống hóa các quy phạm pháp luật thừa kếViệt Nam, vừa phân tích và đánh giá hiệu quả điều chỉnh của chế định pháp luật nàyqua các thời kỳ phát triển của xã hội Việt Nam, từ đó một mặt góp phần hoàn chỉnh lýluận khoa học đối với chế định pháp luật quan trọng này, mặt khác, giải quyết tốt vấn
đề lý luận cũng giúp cho việc thi hành, áp dụng cũng như hoàn thiện các qui định vềthừa kế theo pháp luật, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của chúng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Xây dựng các khái niệm thừa kế,di sản thừa kế, khái niệm quan hệ pháp luật disản thừa kế, khái niệm quyền thừa kế và khái niệm thừa kế theo pháp luật Phân tích,lập luận để làm rõ quá trình xây dựng và phát triển những qui định pháp luật di sảnthừa kế và thực tiễn ở nước ta để đánh giá nội dung những qui định về di sản thừa kế
theo pháp luật
Trang 64 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này được xác định trong phạm vi các quy phạm phápluật Việt Nam về thừa kế mà cụ thể là di sản thừa kế Phương pháp phân tích, tổng hợpcác quan điểm, các quy định của pháp luật và thực tiễn từ đó rút ra những kế luận,đánh giá và giải pháp.Phương pháp so sánh các quy định pháp luật về phân chia di sảnthừa kế so với các quy định về thừa kế khác trong bộ luật dân sự Việt nam 2015
5 Cơ cấu của bài tiểu luận
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm có 4chương bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về di sản thừa kế
Khái niệm về di sản và di sản thừa kế, mối quan hệ, ý nghĩa và quá trình hìnhthành cảu những quy định về di sản thừa kế
Chương 2: Quy định của pháp luật về di sản thừa kế, thực tiển và giải pháphoàn thiện
Tập trung làm rõ đối tượng của di sản là gì, tài sản riêng của người chết, những
vấn đề bất cập và hướng khắc phục quyết định pháp luật về di sản thừa kế
Trang 7CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN THỪA KẾ
1.1 Khái niệm về di sản và di sản thừa kế
1.1.1 Khái niệm về di sản
Từ xưa đến nay, bất kỳ xã hội nào trên thế giới không ở đâu có tận cùng cả bềrộng lẫn bề sâu, cũng như không ở đâu lại ngừng trệ, không biến đổi và không có sựtiếp nối và phát triển, chúng điều chiệu sự tác động của các hoạt động chính trị, vănhóa xã hội, kinh tế, khoa học, kĩ thuật, tôn giáo… Các quá trình này diễn ra hết sức đadạng và phong phú phản ánh quá trình nhận thức của loài người, nhầm thỏa mảng nhucầu về vật chất và tinh thần của con người Chính vì vậy để thỏa mảng được nhữngnhu cầu của minh, con người đã tận dụng từ những cái sẳn có trong tự nhiên để tạo ranhững thứ khác những thứ có thể tồn tại dưới dạng vô hình hoặt hữu hình Các dạngvật chất sẳn có trong tự nhiên và các sản phẩm do con người cải biến từ tự nhiên đượccoi là của nhân loại, của một quốc gia riêng biệt hay của một người nào đó trong xãhội loài người, và sẽ được chuyền lại và kế thừa cho nhừng thế hệ về sau
Các sự vật và hiện tượng trong thế giới tự nhiên, trong đó có kế thừa tự nhiên
và kế thừa chủ động Đối với những người có tài sản, cho dù là tài sản vô hình hay tàisản hữu hình, khi họ chết đi mà tài sản của họ chưa tiêu dùng hết thì đương nhiên nóvẫn tồn tại trong thế giới tự nhiên Sự kế thừa, tiếp nối là biểu hiện của cái có trước vàcái có sau; cái để lại từ thời trước, của xã hội trước, của người trước…cho thời sau;cho đời sau và cho người sau đang tồn tại Để chỉ những thứ mà thời trước hay người
trước để lại, người ta thường dùng hai từ “di sản”.
Thuật ngữ “di sản” trong Từ điển tiếng Việt được hiểu ở các khía cạnh sau:
- “Di” biểu hiện sự chuyển động ra khỏi vị trí nhất định thông qua sự tác động
nào đó lên một vật để lại dấu vết nhất định
- “Di” cũng được hiểu là dời đi nơi khác, thoát khỏi vị trí ban đầu, biểu hiện của
sự chuyển động từ nơi này đến nơi khác, từ điểm này đến điểm khác trong không gian
và thời gian (không gian là điều kiện căn bản của sự tồn tại của vật chất, còn thời gian
là điều kiện căn bản của sự biến đổi trạng thái của vật chất)
Với các nghĩa trên đây, “di” có thể hiểu một cách chung nhất là sự dịch chuyển
sự vật, hiện tượng làm thay đổi vị trí của chúng trong không gian và thời gian Sự thay
đổi vị trí của chúng bao giờ cũng thể hiện yếu tố “trước” và “sau” Nói cú thể diễn ra
trong một thời gian ngắn hoặc trong một thời gian dài
Từ “sản” được hiểu ở các khía cạnh sau:
Trang 8- Sinh ra, làm ra, tạo ra sản phẩm để sinh sống;
- Cái do con người tạo ra là kết quả tự nhiên của quá trình lao động, sản xuất;
- Là từ dùng để chỉ gia tài, sản nghiệp mang tính tổng thể của những tài sảntrong một khối
Với các nghĩa trên đây, “sản” được hiểu một cách chung nhất là tài sản hoặc
khối tài sản nằm trong sự chiếm hữu và sử dụng để mang lại lợi ích cho con người
Từ “di” được ghép với từ “sản” thành “di sản” nhằm để chỉ của cải, gia tài, sản nghiệp, cái mà thời trước để lại cho đời sau Trong Từ điển tiếng Việt thì “di sản”
được hiểu với nghĩa là:
- Tài sản của người chết để lại
- Cái của thời trước để lại: ví dụ như di tích lịch sử, di vật lịch sử…1
Từ những phân tích trên tác giả sẻ đưa ra khái niệm tương đối hoàn chỉnh về disản như sau
Hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa thông thường thì “Di sản là tài sản của người chết
để lại hoặc những cái mà thời trước để lại cho đời sau, bao gồm các giá trị vật chất là các tài sản đáp ứng nhu cầu nào đó của con người; các giá trị tinh thần thuộc về đời sống nội tâm, những tư duy, ý tưởng, ý nghĩ định hướng cho hoạt động của con người”
1.1.2 Khái niệm về di sản thừa kế
Ngay từ thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thủy, chế độ thị tộc, bộ lạc đãhình thành và tài sản có được thuộc về quyền chung của thị tộc, bộ lạc, thì thừa kếcũng đã hình thành theo tập tục thời kỳ đó Trong giai đoạn đầu của chế độ thị tộc, bộlạc, vai trò của người phụ nữ có tầm quan trọng đáng kể, địa vị chủ đạo của người phụ
nữ trong thị tộc, bộ lạc chi phối mọi vấn đề về kinh tế, xã hội, hôn nhân Chế độ thịtộc, bộ lạc theo mẫu hệ đã tạo ra tiền đề cho việc thừa kế tài sản của các con và nhữngngười thân thuộc trong thị tộc, bộ lạc của người mẹ Tóm lại, trong thời kỳ đầu của xãhội loài người - thời kỳ Nhà nước chưa xuất hiện và pháp luật chưa ra đời, thì sở hữu
và thừa kế tài sản đã xuất hiện như một tất yếu khách quan và nó thuộc về phạm trùkinh tế Mối quan hệ giữa sở hữu và thừa kế phát sinh trong xã hội rất mật thiết vàđược thể hiện ở chỗ: Nếu sở hữu là yếu tố tiền đề để thừa kế phát sinh, thì ngược lại,thừa kế lại là phương tiện để duy trì, củng cố và phát triển sở hữu tài sản Thừa kế làmột thực tế xã hội được thể hiện ở sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người
1 https://text.123doc.org/document/292812-di-san-thua-ke-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien.htm
Trang 9còn sống, nó gắn chặt với lợi ích của cá nhân, gia đình, cộng đồng dòng họ , vì thếtrong bất kỳ chế độ xã hội nào cũng có sự tác động của các quy tắc xã hội Quy tắc đóđược biểu hiện ở những yếu tố như phong tục, tập quán và cao hơn nữa là quy phạmpháp luật
Khi giai cấp đã xuất hiện, có giai cấp thống trị và có giai cấp bị trị, đương nhiênđối kháng giai cấp trong xã hội là điều không tránh khỏi Những trật tự trong quan hệ
sở hữu tài sản nói chung và trong quan hệ thừa kế nói riêng được Nhà nước của chế độ
tư hữu thiết lập trong giai đoạn này nhằm mục đích bảo vệ những lợi ích của giai cấpthống trị Thông qua những quy phạm pháp luật, Nhà nước điều chỉnh quan hệ thừa kếtrong việc xác định phạm vi chủ thể, nội dung, hình thức, điều kiện chuyển dịch tài sảnthừa kế và những vấn đề khác có liên quan đến việc thừa kế tài sản
Cùng với sự hình thành và phát triển nhà nước và pháp luật của chế độ tư hữuthì sở hữu và thừa kế đều là những phạm trù pháp luật và giữa chúng có mối liên hệmật thiết với nhau Chế độ tư hữu tài sản là tiền đề của chế định thừa kế, ngược lại chếđịnh thừa kế là cơ sở để củng cố chế độ tư hữu tài sản Như vậy, giữa chúng có mốiliên hệ ràng buộc theo những chuẩn mực pháp luật nhất định và mang bản chất giaicấp sâu sắc
Thừa kế là phạm trù pháp luật có tính khả biến Tính khả biến được thể hiệnbằng các quy phạm pháp luật mà các quy phạm này không những phụ thuộc vào mức
độ phát triển trong một chế độ xã hội nhất định, nghĩa là cũng có quy định khác nhautrong việc điều chỉnh mối quan hệ về thừa kế Thừa kế khi đó không những là phạmtrù kinh tế, phạm trù pháp luật, mà còn mang tính lịch sử, bởi vì nó thể hiện rõ nét quátrình phát triển kinh tế - xã hội của các chế độ xã hội khác nhau và của một chế độ xãhội theo từng giai đoạn phát triển nhất định
Với những phân tích trên đây, có thể xác định rằng, thừa kế tài sản là phạm trùpháp luật phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội nói chung và lịch sử phát triển kinh tế - xãhội nói riêng, nó xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội cóphân chia giai cấp dựa trên cơ sở tư hữu về tài sản (từ chế độ chiếm hữu nô lệ đến xãhội hiện đại ngày nay) được thể hiện ở sự chuyển dịch tài sản của người chết chongười còn sống (bao gồm cá nhân, tổ chức) theo các nguyên tắc, trình tự và thủ tục dopháp luật quy định
Di sản thừa kế là một vấn đề hết sức phức tạp, khi nói về di sản thừa kế, vẫncòn nhiều cách hiểu khác nhau Một trong những nguyên nhân của tình trạng nàychính là do còn nhiều vấn đề tranh cãi liên quan đến di sản thừa kế
Trang 10Một trong những vấn đề còn có nhiều ý kiến tranh cói đó là di sản thừa kế cóbao gồm nghĩa vụ tài sản của người chết để lại hay không
Về vấn đề này, hiện nay, trong khoa học pháp lý, vấn đề di sản thừa kế vẫn còntồn tại nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm thì cho rằng di sản thừa kế bao gồmtài sản và các nghĩa vụ tài sản của người chết để lại; có quan điểm lại cho rằng, di sảnthừa kế bao gồm tài sản và nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản của người chết để lại;
và có quan điểm lại cho rằng di sản thừa kế chỉ bao gồm các tài sản của người chết đểlại mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản…
Tán thành quan điểm thứ ba, theo tôi, di sản thừa kế chỉ bao gồm các tài sản củangười chết để lại mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản
Tồn tại một thực tế hiển nhiên là khi còn sống, một người cần đến tài sản của mình đểsản xuất và sinh sống Tài sản đó có được dựa trên nhiều căn cứ hợp pháp, họ hoàntoàn có quyền sở hữu đối với tài sản đó Bên cạnh đó có thể còn có các nghĩa vụ tàisản đối vơi các chủ thể khác Các nghĩa vụ này phát sinh từ những giao dịch dân sự, từhành vi gây thiệt hại hoặc từ các quan hệ pháp luật khác, chưa kịp thực hiện thì ngườinày chết, toàn bộ tài sản cũng như các nghĩa vụ tài sản sẽ được để lại là tất yếu Thậmchí xét rộng ra người chết cũng để lại cả những kinh nghiệm, tiếng tăm, danh dự cónghĩa là để lại các giá trị nhân thân, những ý nghĩa định hướng cho hoạt động của con
người Tất cả các yếu tố này của người chết để lại gọi là “cái” của thời trước, của
người trước để lại, được xác định là “di sản” chứ không chỉ là “di sản thừa kế”.
Ủng hộ quan điểm này, theo tác giả, nghĩa vụ tài sản của người chết không phải
là di sản thừa kế, bởi lẽ:
Về mặt ngữ nghĩa: thì thừa kế là thừa hưởng gia tài của người đi trước một
cách kế tục Theo nghĩa này, từ điển Tiếng Việt đó định nghĩa : “Thừa kế là hưởng củangười chết để lại cho” mà trong Pháp luật danh từ giải nghĩa thừa hưởng được hiểu là
“được ăn, được dùng, được tiêu thụ, được hưởng lợi, được giữ, được dùng làm của mình” Với nghĩa này thì không thể tư duy theo hướng người thừa kế sẽ “được hưởng nghĩa vụ tài sản” hay “hưởng tài sản nợ của ông bà, cha mẹ để lại, nếu di sản chỉ có nghĩa vụ tài sản”
Về phương diện pháp lý: nếu quan niệm di sản thừa kế mà người chết để lại
không chỉ bao gồm tài sản, quyền tài sản mà cũng bao gồm cả các nghĩa vụ tài sản củangười đó để lại, thì vấn đề thanh toán và phân chia di sản thừa kế được hiểu như thếnào
Theo quy định tại Điều 615 BLDS 2015, thì việc thực hiện nghĩa vụ tài sản
thuộc về những người được hưởng di sản thừa kế: “Những người hưởng thừa kế có
Trang 11trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Quy định này cần được hiểu là người hưởng thừa kế
thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại không phải với tư cách là chủ thể mới
“bước vào quan hệ nghĩa vụ”, có nghĩa là họ không thay thế vị trí chủ thể, họ thực
hiện nghĩa vụ tài sản bằng tài sản của người chết để lại, nợ của người chết không phải
là nợ của người hưởng di sản Sau khi thanh toán toàn bộ nghĩa vụ của người chết đểlại và những chi phí liên quan đến di sản thừa kế, nếu tài sản không còn thì khi đókhông còn tài sản để chia thừa kế và như vậy thì không có quan hệ nhận di sản thừakế
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 620 BLDS năm 2015 thì người thừa kế cóquyền nhận hoặc từ chối tiếp nhận di sản Nếu nhận di sản thì phải thực hiện việc trả
nợ thay cho người để lại di sản; nếu từ chối nhận di sản cũng có nghĩa từ chối thựchiện nghĩa vụ tài sản của người chết, họ không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản củangười chết Điều này chứng tỏ, người thức kế không buộc phải nhận di sản để rồi phảithực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết cho chủ nợ, nếu quan niệm nghĩa vụ tài sản
là di sản thừa kế thì trong mọi trường hợp chủ nợ đều có quyền yêu cầu người thừa kếthực hiện việc trả nợ
Nghĩa vụ tài sản của người chết thực sự là món nợ của người đó lúc còn sốngphát sinh từ những hành vi pháp lý của họ Vì thế, phải coi nghĩa vụ đó là của chínhbản thân người chết, phải dùng di sản của người chết để thanh toán Nếu sau khi thanhtoán nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác liên quan đến di sản mà vẫn còn di sản đểchia cho người có quyền hưởng di sản, thì phần di sản còn lại này mới được gọi là disản thừa kế
Như vậy, di sản thừa kế sau khi trừ nghĩa vụ tài sản của người chết mà chỉ bao gồm tài sản, các quyền tài sản được xác lập trên những căn cứ hợp pháp mà người chết để lại cho những người hưởng thừa kế Hiểu một cách tổng quan nhất thì di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại cho những người
có quyền hưởng thừa kế, mà sau khi trừ các nghĩa vụ tài sản của người đó 2
1.2 Mối quan hệ giữa quyền sở hữu tài sản và di sản thừa kế.
Thừa kế di sản theo quan hệ pháp luật Dân sự chính là sự chuyển dịch tài sản vàquyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởngthừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặctheo pháp luật Cho dù tài sản do người chết để lại thuộc về cá nhân hay tổ chức được
2 Tác giả: Bạch Thanh Thanh; Di sản thừa kế những vấn đề lý luận và thực tiển;
https://123doc.org/document/292812-di-san-thua-ke-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien.htm , thời gian truy cập 01/05/2018
Trang 12hưởng thừa kế , thì nó vẫn tồn tại chung cho xã hội, vì khi tài sản này lại được sửdụng, khai thác hợp lý cũng mang lại hiệu quả kinh tế không chỉ đối với người đượchưởng thừa kế, mà còn có lợi chung cho toàn xã hội
Di sản thừa kế là một bộ phận của chế độ tài sản, vì thế, nó chịu sự chi phối bởinhững quy định của pháp luật về tài sản và quyến sở hữu trong BLDS, đồng thời chịuảnh hưởng rất nhiều của các chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước
Di sản là yếu tố căn bản trong quan hệ nhận và để lại di sản, được biểu hiệnthông qua sự dịch chuyển di sản của người chết để lại sang cho những người hưởng disản Sự biểu hiện này chứng tỏ rằng, thừa kế là kết quả tất yếu của những quyền năngtrong quyền sở hữu, là mối liên hệ phụ thuộc giữa thừa kế và sở hữu, có sở hữu mới cóthừa kế
Di sản thừa kế có mối quan hệ hữu cơ với quyền sở hữu tài sản của cá nhân haynói cách khác, quyền sở hữu cá nhân là cơ sở chủ yếu để xác định di sản thừa kế cánhân sau khi qua đời Quyền sở hữu tài sản của công dân Việt Nam trong mỗi giaiđoạn phát triển kinh tế-xã hội khác nhau cũng có những thay đổi và được quy địnhkhác nhau, theo đó di sản thừa kế cũng có những thay đổi theo những quy định khácnhau về phạm vi và thành phần tài sản mà cá nhân có quyền sở hữu qua mỗi thời kì
Những cơ sở pháp lý về quyền sơ hữu tài sản của công dân được Nhà nước luônkhuyến khích công dân làm giàu chính đáng Những điều kiện khách quan mà phápluật quy định cho phép công dân phát huy mọi khả năng, mọi nỗ lực để lao động, sảnxuất kinh doanh trong các ngành nghề, lĩnh vực, trong các thành phần kinh tế…để cóthu nhập hợp pháp Tài sản của công dân trong giai đoạn hiện nay bao gồm thu nhậphợp pháp, của cải để dành, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức vàcác tái sản hợp pháp khác mà công dân sở hữu với tư cách cá thế, tiểu chủ hay tư bản
tư nhân…là di sản của cá nhân sau khi chết
Trong thời kì thực hiện đường lối đổi mới toàn diện ở nước ta, Nhà nước luôntạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các chính sách kinh tếđổi mới này đó đáp ứng ngày càng tốt hơn như cầu vật chất tinh thần của nhân dân trên
cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phầnkinh tế Những tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân trong giai đoạn hiện nay càngđược mở rộng về phạm vi, thành phần và giá trị; theo đó mà di sản thừa kế của cá nhânnhiều hay ít về giá trị, thành phần, số lượng và tính chất… phụ thuộc vào khả năng chủquan của người đó tạo ra và phụ thuộc vào những quy định của pháp luật về căn cứ xáclập quyền sở hữu cá nhân
Trang 13Theo quy định của pháp luật, những tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhângồm: thu nhập hợp pháp, nhà ở, máy móc, thiết bị, nhiên liệu, nguyên liệu, hàng tiêudùng, kim khí quý, đá quý, ngoại tệ bằng tiền mặt, số dư trên tài khoản gửi tổ chức tíndụng bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, các trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kì phiếu, chứngchỉ tiền gửi, thương phiếu, các giấy tờ có giá, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả,quyền sở hữu công nghiệp, quyền nhận số tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác phátsinh từ hợp đồng hoặc từ các căn cứ pháp lí khác, quyền đối với phần vốn góp trongcác doanh nghiệp… Những loại tài sản này mà một người khi còn sống có quyền sơhữu và khi người đó chết thì những tài sản này là di sản thừa kế, được đem chia thừa
kế theo di chúc và theo pháp luật Tuy nhiên, nếu nghĩa vụ về tài sản của người chết đểlại lớn hơn hoặc ngang bằng với giá trị di sản của người này để lại thì khi đó sẽ khôngcòn di sản để chia thừa kế
1.3 Ý nghĩa của những quy định pháp luật về di sản thừa kế.
Trong những chế định của pháp luật dân sự thì chế định thừa kế mang đặc thùđiều chỉnh quan hệ thừa kế giữa các chủ thể và quan hệ này sẽ xuất hiện khi một cánhân chết Toàn bộ di sản của người chết sẽ tiếp tục được dịch chuyển cho nhữngngười thừa kế Tuy nhiên quá trình dịch chuyển này thường tốn khá nhiều thời gian.Điều này xuất phát từ ý chí của người để lại di sản, hoặc từ quy định của pháp luậtthậm chí từ phía các chủ thể thừa kế, người có liên quan đến thừa kế Bộ luật dân sự
2015 đã có những quy định mới tạo điều kiện cho việc đạt được hiệu quả mới cơ bản
về đảm bảo quá trình khai thác, sử dụng di sản của người thừa kế Pháp luật quy định
di sản thừa kế và việc dịch chuyển nó từ người chết sang cho những người còn sốngkhác là mang tính khách quan, đáp ứng được quyền lợi chính đáng của các chủ thểtrong quan hệ thừa kế, qua đó thực hiện được các chức năng điều chỉnh của pháp luật,tạo điều kiện để các chủ thể xử xự theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức
xã hội Đặc biệt, nó tạo cơ sở pháp lý về các tiêu chí khi xác định di sản thừa kế.Những quy định của pháp luật về di sản thừa kế góp phần điều tiết, ổn định các quan
hệ tài sản trong giao lưu dân sự, Những quy định của pháp luật về di sản thừa kế là cơ
sở quan trọng cho việc xác định các loại tài sản nào được để lại thừa kế, phạm vi đượcđịnh đoạt trong tài sản chung, quyền phân định di sản của người có di sản, quyền củangười được hưởng di sản thừa kế Đó cũng là cơ sở pháp lý được áp dụng khi giảiquyết các tranh chấp liên quan đến việc thừa kế
Trang 141.3.1 Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người được hưởng thừa kế
Theo điều 614 BLDS 2015 “ Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế
có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” Tuy nhiên vấn đề cần quan tâmlà: Người thừa kế có được sở hữu toàn vẹn tài sản mà người để lại di sản đã định đoạttrong di chúc, hoặc theo sự phân định của pháp luật hay không?Về nguyên tắc, di sảnthừa kế được xác định tại thời điểm mở thừa kế Vì theo nguyên lý chung, một ngườiphải còn sống mới xác lập thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong các quan
hệ pháp luật, trong đó có quan hệ pháp luật về sở hữu Tuy nhiên, quan hệ thừa kế làquan hệ có tính đặc thù của nó, chỉ phát sinh khi có cái chết của một con người Ranhgiới giữa sự sống và cái chết chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc làm chấm dứt sự tồntại của người đó Các nhà làm luật đá lấy khoảnh khắc đó làm mốc thời gian để xácđịnh sự phát sinh thừa kế và các quan hệ thừa kế và xác định di sản việc xác định disản là đảm bảo khả năng tốt nhất cho những người thừa kế được hưởng đúng phần disản của người quá cố để lại theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật
Như vậy những người thừa kế sẽ trở thành chủ sở hữu đối với tài sản mà ngườichết để lại Nhưng chỉ sau khi việc phân chia diễn ra họ mới là chủ thể thực sự đối vớinhững tài sản đó và có những quyền hợp pháp đối với tài sản đó Việc phân chia di sảnchính xác đầy đủ sẽ tránh được những tranh chấp không đáng có giữa những ngườithừa kế, tình cảm giữa các thành viên trong gia đình Đối với những đối tượng thuộcđiều 644 BLDS 2015 , phân chia di sản chính xác để đảm bảo quyền và lợi ích của họ,không để họ bị thiệt thòi, tránh tình trạng những người có quyền thừa kế mà khôngđược hưởng
1.3.2 Bảo đảm quyền và lợi ích của người có liên quan
Trong trường hợp người chết để lại cả di sản và nghĩa vụ tài sản (khoản nợ),những khoản nợ này vẫn chưa được thanh toán thì việc phân chia chính xác tạo điềukiện thuận lợi để những người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản chính xác đối với cácchủ thể có liên quan Phân chia di sản chính xác hợp lí bảo đảm quyền và lợi ích hợppháp của đương sự sẽ tạo ra tâm lí tin tưởng vào pháp luật và đường lối chính sách củaĐảng và Nhà nước nói chung
Tăng cường tinh thần trách nhiệm và tình cảm của những người thừa kế vớinhau và với người đã khuất Khi nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại vẫn chưa đươcthanh toán thì những người thừa kế sẽ phải cùng nhau thực hiện nghĩa vụ đó trongphạm vi di sản mình được hưởng Đó không những là trách nhiệm mà còn là tình cảmđối với người đã khuất Mặt khác, những người thừa kế sẽ căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể
Trang 15để tự bàn bạc thỏa thuận phân chia khai thác sử dụng di sản thừa kế một cách hợp línhất, phù hợp với từng người
1.3.3 Tôn trọng quyền định đoạt của người để lại di sản thừa kế
Đối với cá nhân người để lại tài sản với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp đối vớinhững tài sản của mình, cá nhân có quyền lập di chúc để thực hiện quyền định đoạt tàisản của mình sau khi chết Pháp luật không cho phép bất kỳ ai có hành vi cản trở,cưỡng ép, đe doạ… người lập di chúc Người để lại thừa kế có thể thực hiện quyềnđịnh đoạt thông qua hình thức di chúc viết hoặc di chúc miệng, có thể nhờ người làmchứng cho việc lập di chúc, có thể yêu cầu công chứng viên đến chỗ ở của mình để lập
di chúc Khi thực hiện quyền định đoạt trong di chúc, người lập di chúc có quyền chỉđịnh người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sảncho từng người t hừa kế, dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng,giao nghĩa vụ cho người thừa kế, chỉ định người giữ di chúc; người quản lý di sản,người phân chia di sản theo điều 626 BLDS 2015
Khi xác định được di sản của người chết để lại là đã đảm bảo được quyền lợi,thành quả lao động và những tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người chết đểlại di sản; Bảo đảm và tôn trọng được quyền định đoạt trong di chúc của người chếtcũng như ý nguyện cuối cùng của họ là những tài sản đó phải được chuyển sang chonhững người thừa kế
Trong thời kỳ hiện đại, pháp luật thừa kế của các nước trên thế giới cũng nhưcủa Việt Nam đều quy định và cho phép áp dụng hai hình thức thừa kế để chia di sảntrong trường hợp cụ thể, nghĩa là được đồng thời áp dụng trong việc phân chia di sảnthừa kế theo di chúc và theo pháp luật Như vậy, việc áp dụng hai hình thức thừa kế cóthể xảy ra trong các trường hợp sau đây:
- Hoặc di sản được chia hoàn toàn theo di chúc;
- Hoặc di sản được chia hoàn toàn theo pháp luật;
- Hoặc di sản đồng thời được chia theo di chúc và theo pháp luật
Nghiên cứu pháp luật nước ta và pháp luật của một số nước khác đều thấy cónhững điểm chung và những điểm khác biệt cơ bản giữa hai hình thức thừa kế này
Dưới đây là bảng so sánh những khác biệt đó.
Trang 162 Người hưởng di
sản
Bất kỳ ai (hoặc cá nhânhoặc tổ chức) được chỉđịnh bằng di chúc
Cá nhân thuộc diện thừa
Theo bản so sánh trên thì người được thừa kế theo di chúc là bất kỳ ai (hoặc cánhân hoặc tổ chức) được chỉ định bằng di chúc Người được thừa kế theo di chúckhông bị giới hạn trong phạm vi các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống vàquan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản (có thể là người đồng thời hoặc là ngườikhông đồng thời thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản) Pháp luậtthừa kế ở nước ta không ấn định trước phạm vi người được thừa kế theo di chúc, màphụ thuộc vào sự định đoạt của người để lại di sản Người được thừa kế theo di chúcđược hưởng các phần di sản hoặc nhiều hoặc ít tùy thuộc vào việc phân định di sản củangười lập di chúc Người được chỉ định là người thừa kế theo di chúc có thể là ngườiđược hưởng toàn bộ khối di sản của người chết để lại, nếu quyền định đoạt của người
để lại di sản không bị hạn chế vì có sự liên quan đến người được thừa kế không phụthuộc vào nội dung của di chúc Người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhânthuộc diện thừa kế mà pháp luật quy định, những người thừa kế theo pháp luật trongcùng một hàng thừa kế, thì họ được hưởng các phần di sản ngang nhau
Ngoài ra, theo pháp luật thừa kế của nước ta, người lập di chúc có quyền địnhđoạt một phần di sản để di tặng cho người khác và phần di sản dùng vào việc thờ cúng.Quyền thừa hưởng phần tài sản di tặng và quyền quản lý phần tài sản dùng vào việcthờ cúng không phát sinh trên cơ sở thừa kế theo pháp luật
Như vậy, thừa kế theo di chúc hay thừa kế theo pháp luật đều là các hình thức thừa kế
do pháp luật qui định Hay nói cách khác, thừa kế theo di chúc và thừa kế theo phápluật là các hình thức thừa kế do chế định thừa kế điều chỉnh Việc phân biệt các hìnhthức thừa kế theo chế định thừa kế đã được BLDS của nước ta qui định như nhữngkhái niệm cơ bản:
Pháp luật quy định di sản thừa kế và việc dịch chuyển nó từ người chết sangcho những người còn sống khác là mang tính khách quan, đáp ứng được quyền lợichính đáng của các chủ thể trong quan hệ thừa kế, qua đó thực hiện được các chứcnăng điều chỉnh của pháp luật, tạo điều kiện để các chủ thể xử xự theo yêu cầu của
Trang 17pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội Đặc biệt, nó tạo cơ sở pháp lý về các tiêu chíkhi xác định di sản thừa kế.
1.4 Quá trình hình thành và phát triển quy định của pháp luật về di sản thừa kế tại nước ta
1.4.1 Quy định của pháp luật về di sản thừa kê thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nửaphong kiến Hệ thống pháp luật trong giai đoạn này chỉ là công cụ của thực dân Phápnhằm thực hiện triệt để chính sách khai thác thuộc địa Bản chất của chế độ nô dịchthuộc địa được bộc lộ công khai không những trong những chính sách cai trị của thựcdân Pháp, mà cả trong các qui phạm pháp luật Do đó pháp luật dân sự ở Việt Nam rađời trong giai đoạn này cũng chứa đựng bản chất thực dân - phong kiến khá rõ nét; đặcbiệt trong Bộ dân luật giản yếu 1883, Dân luật Bắc kỳ năm 1931 (DLB), Dân luậtTrung Kỳ năm 1936 (DLT) Tư tưởng trọng nam, khinh nữ của ý thức hệ phong kiếnvẫn được bảo tồn trong quan hệ xã hội, trong quan hệ gia đình và cả trong các điềukhoản pháp luật Trong lĩnh vực thừa kế di sản, quyền bình đẳng về thừa kế khôngđược bảo đảm, quyền thừa kế của người vợ bị hạn chế Người vợ không có quyền lập
di chúc để định đoạt tài sản của riêng mình, nếu không được chồng cho phép Khingười vợ chết trước, người chồng được thừa nhận là chủ sở hữu duy nhất đối với toàn
bộ di sản là tài sản riêng của vợ Ngược lại, nếu người chồng chết trước, theo qui địnhtại Điều 346 DLB năm 1931 và Điều 314 DLT năm 1936, thì người vợ chỉ có quyềnhưởng dụng tài sản riêng của bản thân Gia đình và dòng họ vẫn là cơ sở chính để xácđịnh vấn đề thừa kế, còn quan hệ hôn nhân chỉ được coi là thứ yếu3 Do coi trọng quan
hệ huyết thống, pháp luật thừa kế thời kỳ này đã chú ý đến quyền bình đẳng của cáccon trong việc hưởng di sản thừa kế của bố, mẹ Thừa kế theo pháp luật trong giaiđoạn này đã luôn thể hiện quan điểm bảo vệ gia đình huyết thống trong thừa kế
Theo trật tự của chế độ phong kiến, tư tưởng tôn ti, thế thứ được bảo tồn vàđược qui định bởi pháp luật, theo đó vị trí của người con trai trưởng hoặc cháu đíchtôn luôn được coi trọng Nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên, ông, bà, cha, mẹ trước hết do ngườicon trai trưởng hoặc người cháu trai đích tôn đảm nhiệm, do vậy việc để lại di sảndùng vào việc thờ cúng tổ tiên (hương hỏa) do trưởng nam hoặc cháu đích tôn củangười để lại hương hỏa đó quản lý để thờ cúng; các con gái của người để lại hươnghỏa không có quyền quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng đó Qui định trên của pháp
3 Điều 346 Bộ Luật Trung kì 1936
Điều 314 Bộ Luật Trung kì năm 1936
Trang 18luật thực dân - phong kiến vẫn bảo vệ quan niệm cũ: "Nữ nhi ngoại tộc" (con gáikhông thuộc dòng họ nội tộc).
Như vậy, dưới chế độ thực dân - phong kiến trước năm 1945, quyền thừa kếtheo pháp luật của người dân Việt Nam tuy đã được thể chế hóa bằng các qui địnhtrong các Bộ luật, song do bản chất giai cấp, nên những vấn đề về bình đẳng trongquan hệ thừa kế chưa được giải quyết, đặc biệt là quyền bình đẳng giữa nam và nữ,giữa vợ và chồng trong lĩnh vực thừa kế theo pháp luật
1.4.2 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước ngày có Pháp lệnh thừa kế
Trong giai đoạn 1945 - 1990, kể từ khi nước ta giành được độc lập, pháp luậtthừa kế của chế độ mới được xây dựng, củng cố và bổ sung theo hướng từng bướcđược hoàn thiện
Cùng với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đất nước ta đã bướcvào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội Song song với việccủng cố chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng đến việc củng cố và pháttriển nền kinh tế từ mức độ thấp nửa thực dân - phong kiến nhằm mục đích nâng caodần mức sống của nhân dân Các mối quan hệ trong xã hội đã dần dần được đổi mớitheo những chủ trương đúng đắn phù hợp với yêu cầu phát triển tất yếu, khách quancủa dân tộc và thời đại, trong đó quyền thừa kế của công dân cũng được coi trọng
Pháp luật thừa kế của Nhà nước ta đã xóa bỏ những tàn tích của chế độ phongkiến trong quan hệ thừa kế và thiết lập mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ
và chồng, giữa các con trong gia đình Loại bỏ tư tưởng gia trưởng, tư tưởng trọngnam, khinh nữ, bảo vệ quyền thừa kế của người vợ góa và người con gái đã kết hôn ,người vợ góa dù đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản của người chồng
Sắc lệnh ngày 10 tháng 10 năm 1945 cho phép áp dụng luật lệ của chế độ cũ,trong đó có những qui định về quyền thừa kế, ngoại trừ những điều khoản trái với nềnđộc lập và dân chủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, do điều kiện thời điểm lịch
sử lúc đó chưa cho phép chúng ta xây dựng và ban hành kịp thời các văn bản phápluật Đặc biệt, Sắc lệnh số 97-SL ngày 22 tháng 5 năm 1950 sửa đổi một số qui lệ vàchế định trong dân luật (do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, chiểu theo Sắc lệnh ngày 10-10-
1945 tạm giữ các luật lệ hiện hành ở Việt Nam) để thi hành cho đến khi ban hànhnhững bộ luật mới cho toàn cõi Việt Nam Sắc lệnh số 97-SL đã qui định nhữngnguyên tắc cơ bản được coi là nền tảng cho việc xây dựng pháp luật dân sự sau này,trong đó có luật về hôn nhân và gia đình, thừa kế di sản Các nguyên tắc cơ bản đãđược ghi nhận đó là: Quyền bình đẳng của vợ và chồng trong gia đình, vợ chồng có
Trang 19quyền thừa kế tài sản của nhau; con trai, con gái đều có quyền hưởng di sản thừa kếcủa bố, mẹ; người chồng góa hay người vợ góa, các con đã thành niên có quyền xinchia tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết, sau khi đã thanh toán tài sản chung;quyền nhận hay không nhận di sản thừa kế của những người là con cháu hoặc vợ haychồng của người chết được bảo hộ, các chủ nợ của người chết cũng không có quyềnđòi nợ quá số di sản để lại4.
Những nội dung trên của Sắc lệnh số 97-SL đã cụ thể hóa Điều 9 Hiến phápnăm 1946 là: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" và Điều 12(Hiến pháp năm 1946) là: "Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảođảm" Có thể thấy rằng, những quy định trong Sắc lệnh số 97-SL là tư tưởng chỉ đạotrong pháp luật dân sự nói chung và của pháp luật thừa kế nói riêng trong suốt cả mộtthời gian dài cho đến khi có văn bản pháp luật chính thức (Pháp lệnh thừa kế) Những
tư tưởng này cũng vẫn là tư tưởng chỉ đạo được thể hiện cụ thể trong chế định thừa kếtrong BLDS năm 1995 của nước ta
Để hướng dẫn Tòa án các cấp thống nhất trong việc giải quyết những tranhchấp về thừa kế trong giai đoạn này, căn cứ vào những quy định của Hiến pháp năm
1946 và tinh thần của Sắc lệnh số 97-SL, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số BNC ngày 18-9-1956 (sau đây gọi tắt là Thông tư số 1742) quy định rõ, vợ hoặcchồng của người chết có quyền thừa kế ngang với các con; vợ lẽ và con nuôi chínhthức của người để lại di sản có quyền thừa kế như vợ cả và con đẻ của người đó Vợgóa của người để lại di sản (kể cả vợ cả và vợ lẽ) đều có quyền thừa kế di sản củachồng và hưởng phần di sản ngang với các thừa kế cùng hàng khác Quy định trongThông tư số 1742 nói trên đã củng cố thêm nguyên tắc: "Người đàn bà có chồng cótoàn năng lực về mặt hộ"5
1742-Khi Hiến pháp năm 1959 được ban hành, tại Điều 14 của Hiến pháp đã chínhthức ghi nhận: Pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuấtkhác của nông dân, đồng thời pháp luật bảo hộ quyền sở hữu của công dân về của cảithu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác, quyền thừa
kế tài sản tư hữu của công dân được bảo đảm Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử
vì lúc đó chúng ta chưa có pháp luật dân sự hoàn thiện, Tòa án nhân dân tối cao(TANDTC) trong phạm vi chức năng của mình đã có những thông tư hướng dẫnđường lối giải quyết các tranh chấp về thừa kế di sản Thông tư số 594-NCPL ngày 27-8-1968 của TANDTC (sau đây gọi tắt là Thông tư số 594) hướng dẫn giải quyết tranhchấp về thừa kế có quy định cụ thể: Quyền bình đẳng nam nữ trong việc hưởng di sản;
4 Điều 10 Sắc lệnh số 97-SL 1950
5 Điều 6 Sắc lệnh số 97-SL 1950