1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế tìm hiểu về apec

25 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 160 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUĐược thành lập vào tháng 11 năm 1989, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á –Thái Bình Dương APEC là một diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biệnpháp kinh tế, thúc đẩy thương mại

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ APEC 3

1.1.Bối cảnh và sự ra đời của APEC 3

1.1.1.Sáng kiến của Ô-xtrây-lia về việc thành lập APEC 3

1.1.2 Những nhân tố dẫn đến sự ra đời của APEC 4

1.2 Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của APEC 7

1.2.1 Mục tiêu 7

1.2.2 Nguyên tắc hoạt động của APEC 11

PHẦN 2: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM 19

KHI THAM GIA APEC 19

2.1.Cơ hội 19

2.2.Thách thức 20

2.2.1 Thách thức đối với Chính Phủ 20

2.2.2 Thách thức đối với cộng đồng doanh nghiệp 21

PHẦN 3: KẾT LUẬN 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Được thành lập vào tháng 11 năm 1989, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á –Thái Bình Dương (APEC) là một diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biệnpháp kinh tế, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các nến kinh tế thành viên trên

cơ sở hoàn toàn tự nguyện trong khi thực sự mở cửa đối với tất cả các nước và khuvực khác Hiện nay, APEC có 21 thành viên chiếm khoảng 52% diện tích lãnh thổ,59% dân số, 70% nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thế giới và đóng góp khoảng57% GDP toàn cầu và hơn 50 % thương mại thế giới.Nội dung hoạt động củaAPEC xoay quanh 3 trụ cột chính là tự do hoá thương mại và đầu tư, tạo thuận lợicho thương mại và đầu tư, và hợp tác kinh tế kỹ thuật với các chương trình hànhđộng tập thể (CAP) và chương trình hành động quốc gia (IAP) của từng thànhviên Nói cách khác, mục tiêu của APEC không phải là để xây dựng một khốithương mại, một liên minh quan thuế hay một khu vực mậu dịch tự do như kiểu

EU, NAFTA hay AFTA, mà là một diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biệnpháp kinh tế, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các nến kinh tế thành viên trên

cơ sở hoàn toàn tự nguyện trong khi thực sự mở cửa đối với tất cả các nước và khuvực khác

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và Kinh tế mới cùng với sự phát triển nhanhchóng của công nghệ thông tin như hiện nay, các Nhà Lãnh đạo APEC nhận thức

rõ sự cần thiết phải tập trung nhiều hơn vào các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật nhằmgiảm khoảng cách về phát triển trong APEC, giúp các thành viên đang phát triểntheo kịp xu thế phát triển của kỷ nguyên công nghệ thông tin APEC ngày càngquan tâm đến các vấn đề an ninh, chính trị, đẩy mạnh hợp tác về an ninh conngười, chống tham nhũng, minh bạch hoá, an ninh con người Tuy nhiên, hầu hếtcác thành viên APEC vẫn cho rằng cần phải duy trì bản chất hợp tác kinh tế cũng

Trang 3

như những nguyên tắc cơ bản của diễn đàn này APEC cũng sẽ tiếp tục thúc đẩytiến trình cải cách theo hướng hiệu quả, năng động hơn và tăng cường tính liến kếtnhằm giúp APEC vượt qua thách thức, nắm bắt các cơ hội trong môi trường thếgiới và khu vực đang thay đổi nhanh chóng.

Việt Nam là một trong những thành viên của APEC nên ít nhiều cũng chịuảnh hưởng của các chính sách hợp tác phát triển APEC Hơn nữa nền kinh tếViệt Nam luôn vận động theo sự thay đổi của nền kinh khu vực cũng như thế giớichính vì thế việc nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của APEC là một vấn

đề cần thiết trong kinh tế quốc tế Nó không những giúp chúng ta hiểu rõ về lýthuyết kinh tế mà còn nắm bắt được tình hình vận hành của APEC trong thực tế

Trang 4

PHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ APEC 1.1.Bối cảnh và sự ra đời của APEC

1.1.1.Sáng kiến của Ô-xtrây-lia về việc thành lập APEC

Ngay từ những năm 1960, ý tưởng về liên kết kinh tế khu vực đã được một

số học giả người Nhật Bản đưa ra Năm 1965, hai học giả người Nhật Bản Kojima

và Kurimoto đã đề nghị thành lập một "Khu vực mậu dịch tự do Thái BìnhDương" mà thành viên gồm năm nước công nghiệp phát triển, có thể mở cửa chomột số thành viên liên kết là các nước đang phát triển ở khu vực lòng chảo TháiBình Dương Sau đó, một số học giả khác như Tiến sĩ Saburo Okita (cựu Ngoạitrưởng Nhật Bản) và Tiến sĩ John Crawford (Đại học Tổng hợp Quốc gia Ôt-xtrây-lia) đã sớm nhận thức được sự cần thiết phải xây dựng sự hợp tác có hiệu quả vềkinh tế ở khu vực Tư tưởng này đã thúc đẩy những nỗ lực hình thành Hội đồngHợp tác Kinh tế Thái Bình Dương (PECC) năm 1980 Chính PECC sau này đãcùng với ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành chế độ tư vấn kinh

tế rộng rãi giữa các nền kinh tế trong khu vực cũng như thúc đẩy ý tưởng thành lậpAPEC

Vào cuối những năm 1980, một số quan chức chính phủ Nhật Bản, đặc biệt

Bộ trưởng Bộ Thương mại và Công nghiệp (MITI) lúc đó là Hajime Tamura, đãgợi ý thành lập một diễn đàn hợp tác có tính chất kỹ thuật về các vấn đề kinh tếkhu vực Mỹ lúc đầu tỏ ra ít quan tâm đến gợi ý này vì đang tập trung thúc đẩytiến triển của vòng đàm phán U-ru-goay của GATT và hình thành Khu vực Mậudịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), trong khi chính phủ Công Đảng của Thủ tướngBob Hawke ở Ôt-xtrây-lia lúc đó đã nhận thức được tầm quan trọng thiết yếu củamối quan hệ kinh tế, thương mại với châu Á đối với Ôt-xtrây-lia nên đã kịp thờinắm bắt và thúc đẩy ý tưởng về một diễn đàn hợp tác kinh tế

Trang 5

Tháng 1 năm 1989, tại Xê-un, Hàn Quốc, Thủ tướng Bob Hawke đã nêu ýtưởng về việc thành lập một Diễn đàn tư vấn kinh tế cấp Bộ trưởng ở châu Á -Thái Bình Dương với mục đích phối hợp hoạt động của các chính phủ nhằm đẩymạnh phát triển kinh tế ở khu vực và hỗ trợ hệ thống thương mại đa phương NhậtBản, Ma-lai-xia, Hàn Quốc, Thái Lan, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po, Bru-nây, In-đô-nê-xia, Niu Di-lân, Ca-na-đa và Mỹ đã ủng hộ sáng kiến này Tháng 11 năm 1989,các Bộ trưởng Ngoại giao và Kinh tế của các nước nói trên đã họp tại Can-bê-ra,Ôt-xtrây-lia quyết định chính thức thành lập APEC.

Sau đó, APEC kết nạp thêm Trung Quốc, Hồng Công và Đài Loan (với têngọi theo tiếng Anh là Chinese Taipei) vào tháng 11 năm 1991; Mê-hi-cô, Pa-pu-aNiu Ghi-nê tháng 11 năm 1993; Chi-lê tháng 11 năm 1994 và tạm ngừng thời hạnxét kết nạp thành viên trong ba năm Đến tháng 11 năm 1998, APEC kết nạp thêm

ba thành viên mới là Pê-ru, Liên bang Nga và Việt Nam, đồng thời quyết định tạmngừng thời hạn xem xét kết nạp thành viên mới trong mười năm để củng cố tổchức

Đến nay, APEC đã có 21 nền kinh tế thành viên với khoảng 2,5 tỷ dân;19.000 tỷ đô la Mỹ GDP mỗi năm và chiếm 47% thương mại thế giới (xem bảng1) APEC bao gồm cả hai khu vực kinh tế mạnh và năng động nhất thế giới: khuvực Đông Á và khu vực Bắc Mỹ (gồm Mỹ, Ca-na-đa và Mê-hi-cô) với những nétđặc thù và vô cùng đa dạng về chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa Chỉ trong mườinăm đầu tồn tại và phát triển, các nền kinh tế thành viên APEC đã đóng góp gần70% cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tế toàn cầu

1.1.2 Những nhân tố dẫn đến sự ra đời của APEC

Từ cuối những năm 1970, đặc biệt là trong những năm 1980, sự tăng trưởngkinh tế liên tục và với nhịp độ cao của châu Á mà nòng cốt là các nền kinh tế

Trang 6

Đông Á đã thu hút sự chú ý của cả thế giới Tiếp theo "sự thần kỳ" của Nhật Bản,các nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs), ASEAN và đặc biệt là sự nổi lên củaTrung Quốc đã biến châu Á thành khu vực phát triển kinh tế năng động bậc nhấtthế giới.

Từ những năm 1980, các nước châu Á luôn luôn dẫn đầu thế giới về tốc độphát triển kinh tế (xem bảng 2) trong khi kinh tế thế giới bị suy thoái vào đầunhững năm 1990 Xuất khẩu thực sự là động lực tăng trưởng kinh tế ở các nướcchâu Á Trong giai đoạn 1980-1992, xuất khẩu của các nước châu Á tăng nhanhnhất thế giới, đạt tốc độ bình quân hàng năm trên 10%, so với 4% của các nướcchâu Âu và Mỹ La-tinh và 6% của các nước công nghiệp phát triển vốn chiếm tới2/3 thương mại thế giới Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các nước châu Átăng mạnh, phần lớn từ Mỹ, Nhật Bản và các nền kinh tế NIEs Tiềm lực lớn vềxuất khẩu hàng hoá, dịch vụ và vốn đầu tư đòi hỏi phải có thị trường ổn định, rộng

mở và hạn chế đến mức tối đa những hàng rào ngăn trở sự lưu chuyển của hànghoá, dịch vụ, đầu tư trong khu vực Do đó, hợp tác và liên kết kinh tế khu vực trởthành nhu cầu cấp thiết để bảo đảm cho sự phát triển kinh tế cao và ổn định

Trong khi đó, xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh, thể hiện qua sự phâncông lao động quốc tế đan xen nhau dưới tác động của những tiến bộ của khoa học

- công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Việc Trung Quốc cải cách và mở cửacàng làm gia tăng xu thế này ở châu Á - Thái Bình Dương Trong nền kinh tế thếgiới, các hoạt động sản xuất, thương mại, tài chính và dịch vụ ngày càng đượcquốc tế hóa Cùng với toàn cầu hóa và như một sự ứng phó với toàn cầu hoá, xuthế khu vực hóa cũng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu Từ cuốinhững năm 1980, liên kết kinh tế khu vực ở châu Âu và Bắc Mỹ được đẩy mạnhthêm một bước Các nước thuộc Liên hiệp châu Âu đã thoả thuận lập ra một thị

Trang 7

trường chung vào năm 1992 và ráo riết lập kế hoạch cho một liên minh tiền tệ vớimột đồng tiền chung Còn ở Bắc Mỹ, tháng 1 năm 1989 Mỹ và Ca-na-đa chínhthức ký Hiệp định thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do song phương (CAFTA).Trong khi đó, ở châu Á- Thái Bình Dương tuy có ổn định tương đối về chính trị,

và là một khu vực năng động và có nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa cómột hình thức liên kết nào có tính chất chính thức, liên chính phủ và toàn khu vực

để bảo đảm lợi ích của các nước trong khu vực trước sự gia tăng ngày càng mạnhcủa chủ nghĩa khu vực bảo hộ ở Tây Âu và Bắc Mỹ

Từ những năm 1970 -1980, nhất là cuối những năm 1980, trong khu vựcchâu Á - Thái Bình Dương đã thấy rõ xu thế là các nền kinh tế ngày càng tuỳthuộc lẫn nhau một cách chặt chẽ hơn về nhiều mặt Chỉ nói riêng về thương mại,năm 1989, xuất khẩu hàng hóa của các nước châu Á - Thái Bình Dương sang Mỹchiếm 25,8% tổng giá trị xuất khẩu của họ, trong khi đó xuất khẩu của Mỹ sangchâu Á - Thái Bình Dương chiếm 30,5% tổng giá trị xuất khẩu của Mỹ Xuất khẩucủa Nhật Bản sang các nước châu Á - Thái Bình Dương chiếm 33% tổng kimngạch xuất khẩu của Nhật Bản và giá trị xuất khẩu của châu Á - Thái Bình Dươngsang Nhật Bản chiếm 9,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước này Xuấtkhẩu của Nhật Bản sang Mỹ chiếm 34,2% giá trị xuất khẩu của Nhật Bản và xuấtkhẩu của Mỹ sang Nhật Bản chiếm 12,3% tổng giá trị xuất khẩu của Mỹ Sự tuỳthuộc lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế đã tạo ra một lực gắn kết, một nhu cầuphối hợp giữa các nền kinh tế trong khu vực với nhau

Như vậy, chính sự tăng trưởng cao liên tục và phát triển của nền kinh tế ởkhu vực châu Á - Thái Bình Dương, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa cũng như

sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nền kinh tế đã đặt ra yêu cầu kháchquan, cấp bách cho việc hình thành một diễn đàn mở rộng trong khu vực nhằm

Trang 8

phối hợp chính sách về các lĩnh vực kinh tế, thúc đẩy tự do hóa và khuyến khíchthương mại hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học -công nghệ giữa các nền kinh tế ở châu Á - Thái Bình Dương, qua đó duy trì tốc độtăng trưởng kinh tế cao và bảo đảm sự phát triển bền vững của khu vực châu Á -Thái Bình Dương khi bước vào thế kỷ XXI.

1.2 Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của APEC

1.2.1 Mục tiêu

Trong bối cảnh quá trình liên kết và hợp tác kinh tế ở các khu vực và trênphạm vi toàn cầu phát triển mạnh, tự do hóa kinh tế, thương mại và đầu tư trởthành xu hướng bao trùm, APEC ra đời như một sự đáp ứng đúng lúc đối với yêucầu và lợi ích của các nền kinh tế ở châu Á- Thái Bình Dương vốn đang ngày càngtuỳ thuộc lẫn nhau hơn Từ chỗ ban đầu hoạt động như là một nhóm đối thoạikhông chính thức, APEC đã dần dần trở thành một thực thể khu vực đi đầu trongviệc thúc đẩy tự do hóa mậu dịch, đầu tư và hợp tác kinh tế Ngày nay, APEC baogồm tất cả các nền kinh tế lớn trong khu vực và các nền kinh tế năng động nhất,tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới Các nền kinh tế của các thành viên APECcho thấy sự đa dạng, phong phú của khu vực cũng như các trình độ và phươngthức phát triển khác nhau Mặc dù giữa các nền kinh tế trong khu vực có nhiềuđiểm khác biệt nhưng việc họ hợp tác được với nhau trong một diễn đàn đã phảnánh mục đích và quyết tâm chính trị chung là thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triểnkinh tế bền vững trong khu vực và trên thế giới Mục đích chung của APEC đãđược xác định ngay từ Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ nhất ở Can-bê-ra, Ôt-xtrây-lia năm 1989 Mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế của khu vực đòi hỏiphải thúc đẩy hệ thống thương mại đa phương mở, tập trung giải quyết những vấn

Trang 9

đề kinh tế nhằm tăng cường lợi ích chung thông qua việc khuyến khích các luồnghàng hoá, dịch vụ, vốn đầu tư và chuyển giao công nghệ giữa các thành viên.

Những yêu cầu cơ bản trên được đúc kết thành các mục tiêu cơ bản củaAPEC tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ ba ở Xê-un, Hàn quốc năm 1991 Tại Hộinghị này, các Bộ trưởng đã thông qua Tuyên bố Xê-un, đặt nền móng cho sự pháttriển của APEC như một khuôn khổ hợp tác khu vực với 4 mục tiêu là:

- Duy trì sự tăng trưởng và phát triển của khu vực vì lợi ích chung của cácdân tộc trong khu vực, và bằng cách đó đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triểncủa nền kinh tế thế giới;

- Phát huy các kết quả tích cực đối với khu vực và nền kinh tế thế giới do sựtuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế tạo ra, khuyến khích các luồng hànghoá, dịch vụ, vốn và công nghệ;

- Phát triển và tăng cường hệ thống thương mại đa phương mở vì lợi ích củacác nước châu Á - Thái Bình Dương và các nền kinh tế khác;

- Cắt giảm những hàng rào cản trở việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ và đầu tưgiữa các thành viên phù hợp với các nguyên tắc của GATT/WTO ở những lĩnhvực thích hợp và không làm tổn hại tới các nền kinh tế khác

Tuy nhiên, không giống như các tổ chức khu vực khác (đặc biệt là EU),ngay từ đầu APEC không nhấn mạnh đến mục tiêu tạo lập hệ thống ưu đãi thuếquan, liên minh thuế quan, hay thị trường chung, mà nhấn mạnh tới việc tăngcường hệ thống thương mại đa phương mở Điều này có thể lý giải bởi hai lý do.Một là, APEC là tập hợp của các nền kinh tế rất đa dạng về trình độ phát triển, chế

độ chính trị-xã hội cũng như điều kiện lịch sử - văn hóa Vì thế, các nước đangphát triển như ASEAN, NIEs không muốn thành lập một khu vực tự do hóa và bị

Trang 10

lệ thuộc một cách bất bình đẳng vào các nền kinh tế lớn hơn, có trình độ phát triểncao hơn như Mỹ, Nhật Bản, Ô-xtrây-lia và Ca-na-đa Hai là, các nền kinh tếAPEC, đặc biệt là các nước Đông á phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh tế thếgiới Sự tăng trưởng của các nền kinh tế Nhật Bản, NIEs và ASEAN trong thập kỷ

70 và 80 chủ yếu nhờ vào sự thành công của chiến lược hướng vào xuất khẩu, dovậy, họ rất muốn duy trì một hệ thống thương mại toàn cầu mở và ổn định Việcthế giới bị chia cắt thành các khu vực cát cứ sẽ là điều bất lợi trước hết đối vớinhững thành viên APEC có nền kinh tế, thương mại phát triển cao

Ngay từ đầu, APEC đã tích cực theo đuổi mục tiêu tăng cường hệ thốngthương mại đa phương mở Trong tất cả các Hội nghị Bộ trưởng hàng năm củaAPEC đều thảo luận những tiến triển trong Vòng đàm phán đa phương U-ru-goaycủa GATT và ra những tuyên bố chung nhằm phối hợp hành động của các thànhviên APEC trong quá trình đàm phán, kêu gọi các nước khác tăng cường nỗ lực đểVòng đàm phán U-ru-goay đạt kết quả Mỹ và một số thành viên APEC coi diễnđàn này là chỗ dựa để xúc tiến tự do hóa thương mại trong trường hợp vòng đàmphán U-ru-goay thất bại Trên thực tế, APEC đã đóng một vai trò quan trọng trongviệc thúc đẩy sự thành công của Vòng đàm phán U-ru-goay Tuyên bố chung củaHội nghị Cấp cao lần thứ nhất năm 1993 nhấn mạnh: "Cơ sở của sự tăng trưởngkinh tế của chúng ta là một hệ thống thương mại đa phương mở Vì vậy, chúng tacam kết cố gắng hết sức để Vòng đàm phán U-ru-goay kết thúc thành công vàongày 15/12" Các Bộ trưởng APEC dẫn đầu là Mỹ và Nhật Bản đã đưa ra sựnhượng bộ về tiếp cận thị trường đối với một loạt các sản phẩm trị giá 250 tỷ đô-latrong vòng đàm phán cuối cùng ở U-ru-goay, qua đó thúc đẩy các nước khác, đặcbiệt là Cộng đồng châu Âu, kết thúc cuộc đàm phán đúng kỳ hạn

Trang 11

Việc kết thúc thành công Vòng đàm phán U-ru-goay và sự ra đời của Tổchức Thương mại Thế giới (WTO) đã đặt APEC trong một khung cảnh mới Hộinghị Bộ trưởng Thương mại APEC tại Gia-các-ta tháng 11 năm 1994 nhận định:

"Trong bối cảnh sau Vòng đàm phán U-ru-goay, đang có một cơ hội rộng mở đểAPEC bắt đầu tiến tới sự tự do hóa rộng lớn hơn phù hợp với các nguyên tắc cơbản của GATT/WTO, có tính tới sự đa dạng về trình độ phát triển kinh tế khácnhau của các thành viên APEC"

Trên thực tế, mục tiêu về một khu vực thương mại mở ở châu Á - TháiBình Dương đã được đề cập ngay từ Hội nghị Bộ trưởng lần thứ hai năm 1990.Tại Hội nghị này, các Bộ trưởng đã đồng ý rằng "chủ đề trung tâm kế tiếp củaAPEC sau sự kết thúc Vòng đàm phán U-ru-goay là xúc tiến một hệ thống thươngmại cởi mở hơn" Mục tiêu này được thúc đẩy tại Hội nghị Cấp cao lần thứ nhấttại Seattle (Mỹ) tháng 11 năm 1993 khi các nhà Lãnh đạo APEC thừa nhận sự tuỳthuộc lẫn nhau về kinh tế và sự đa dạng của các nền kinh tế ở khu vực, đồng thờibắt đầu nhìn nhận về một "cộng đồng” châu Á - Thái Bình Dương

Một năm sau, tại Hội nghị Cấp cao ở Bô-go, In-đô-nê-xi-a, các nhà Lãnhđạo APEC đã tiến một bước lớn hướng tới mục tiêu dài hạn về thương mại và đầu

tư tự do và mở cửa trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Tuyên bố về Quyếttâm chung của Hội nghị nhấn mạnh: "Chúng ta nhất trí tuyên bố cam kết hoànthành việc đạt được mục tiêu về thương mại, đầu tư tự do và mở trong khu vựcchâu Á - Thái Bình Dương vào năm 2010 đối với các thành viên phát triển và năm

2020 đối với các thành viên đang phát triển" Mặc dù còn có những khác biệt giữacác thành viên APEC về nhận thức đối với cam kết của các nhà Lãnh đạo Cấp caohay những bảo lưu của một vài thành viên về mục tiêu tự do hóa thương mại, camkết của các nhà Lãnh đạo đã đặt nền tảng đầu tiên cho việc hình thành một khu

Trang 12

vực tự do hóa thương mại và đầu tư ở một khu vực rộng lớn nhất thế giới và có tốc

độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới

Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc hợp tác chặt chẽ nhằm huy động cóhiệu quả các nguồn lực trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, duy trì tốc độtăng trưởng bền vững của các nền kinh tế, đồng thời giảm bớt sự chênh lệch vềtrình độ phát triển giữa các thành viên, APEC cũng rất coi trọng đẩy mạnh hợp táckinh tế và kỹ thuật Ngay từ Hội nghị Bộ trưởng lần thứ nhất năm 1989, các Bộtrưởng đã nhất trí rằng để APEC đem lại những lợi ích thực sự, các thành viênphải tiến xa hơn, không chỉ đồng ý về các nguyên tắc cơ bản mà phải đi vào nhữngvấn đề hợp tác cụ thể Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ hai năm 1990, APEC đã lập

ra 7 Nhóm công tác nhằm phối hợp các hoạt động hợp tác trong các lĩnh vực cụthể Hội nghị Bộ trưởng lần thứ tư năm 1992 đã thông qua một khuôn khổ chung

về thương mại và đầu tư nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và đầu tưtrong khu vực Chính những hoạt động của các Nhóm công tác và khuôn khổchung về thương mại và đầu tư đã đặt nền tảng cho sự hợp tác về kinh tế và kỹthuật của APEC và được ghi nhận như là nội dung thứ hai (để bổ sung và hỗ trợcho nội dung thứ nhất là thúc đẩy tự do hóa thương mại và đầu tư) trong Chươngtrình Hành động Ô-xa-ca được thông qua tại Hội nghị Cấp cao ở Ô-xa-ca, NhậtBản năm 1995

1.2.2 Nguyên tắc hoạt động của APEC

Nguyên tắc cùng có lợi

Tuyên bố Xê-un của Hội nghị Bộ trưởng lần thứ ba năm 1991 nêu rõ: "Việchợp tác trong APEC dựa trên nguyên tắc cùng có lợi, có tính đến sự khác biệttrong các giai đoạn phát triển kinh tế trong các hệ thống chính trị - xã hội, và chú ýđầy đủ đến các nhu cầu của những nền kinh tế đang phát triển"

Ngày đăng: 16/06/2019, 14:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w