1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số giải pháp giúp học sinh phân biệt các từ loại, danh từ động từ tính từ trong môn tiếng việt lớp 4a3 mô hình VNEN tại trường tiểu học

24 498 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 147,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau một thời gian tiếp nhận lớp, tôi tiến hành thu thập các số liệu kết hợp với kết quả học sinh đầu năm môn Tiếng Việt lớp mình chủ nhiệm,tôi thấy vốn kiến thức về phân môn này của học

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Môn Tiếng Việt lớp 4 đóng một vai trò hết sức quan trọng nhất là phân mônLuyện từ và câu Qua môn học giúp học sinh có vốn từ hình thành cách dùng từđặt câu qua đó viết được một đoạn văn hay bài văn có chủ đề hoàn chỉnh có sửdụng các vốn từ đã học Từ những yêu cầu của môn học mà ngày đầu năm học2018- 2019 dưới sự phân công của Ban giám hiệu nhà trường, tôi được giao nhiệm

vụ giảng dạy lớp 4A3 Sau một thời gian tiếp nhận lớp, tôi tiến hành thu thập các

số liệu kết hợp với kết quả học sinh đầu năm môn Tiếng Việt lớp mình chủ nhiệm,tôi thấy vốn kiến thức về phân môn này của học sinh của lớp tôi chủ nhiệm các emđang còn nhiều thiếu sót Nếu tôi không có định hướng để sử dụng các hình thứcdạy học và phương pháp đúng cách thì cái giá mà các em nhận được rất đắt xáđịnh được tầm quan trọng của nó tôi muốn qua môn học sẻ cung cấp làm giàu chohọc sinh sự hiểu biết cơ bản để các em có kĩ năng trong việc phận biệt các từ loại

là Danh từ, Động từ, Tính từ qua các bài học các em tiếp nhận các khái niệm ngữpháp từ lý thuyết sang thực hành để học sinh hiểu và xác định được như thế nào làDanh từ, Động từ, Tính từ Biết rằng việc phân loại này là việc làm rất khó đối vớihọc sinh lớp 4 vì nó đòi hỏi có một trình độ tư duy nhất định Vậy làm thế nào đểgiảm độ khó cho học sinh trong việc lĩnh hội các khái niệm này chúng ta cần cungcấp các dấu hiệu, kĩ năng, hình thức ngữ pháp để học sinh dễ nhận diện Ví dụ khidạy Danh từ cho học sinh lớp 4, ta không chỉ cung cấp cho học sinh ý nghĩa chỉ sựvật của danh từ mà còn cần cho học sinh nhận biết những dấu hiệu hình thức đểnhận diện như: danh từ thường kết hợp với từ chỉ số lượng ở trước, với từ chỉ định

Trang 2

trình làm bài Tôi rất trăn trở và đã đi đến nghiên cứa: Làm thế nào để các em dễdàng phát hiện ra kiến thức mà không bị nhầm lẫn? Tôi đã quyết định đi sâu tìmhiểu và xây dựng đề tài: Một số giải pháp giúp học sinh phân biệt các từ loại,Danh từ - Động từ - Tính từ trong môn Tiếng Việt lớp 4A3 mô hình VNEN tạitrường tiểu học Lê Quý Đôn năm học 2018 - 2019 Chắc chắn không thể tránhkhỏi sai sót rất mong được sự đóng góp nhiệt tình từ hội đồng thẩm định và bạn

bè đồng nghiệp để sáng kiến được hoàn thiện hơn

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.

Tìm ra những khuyết điểm tồn tại và chỉ ra những giải pháp giúp học sinhphân biệt các từ loại, Danh từ - Động từ - Tính từ thông qua nội dung các tiết họcmột cách chính xác

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Phân biệt từ loại danh từ, động từ, tính từ ở học sinhlớp 4A3 trường TH Lê Quý Đôn – thị xã Buôn Hồ- Tỉnh Đăk Lăk

4.Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu và áp dụng bắt đầu từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 2năm 2019 ở lớp 4A3 về giúp học sinh phân biệt từ loại phần danh từ, động từ, tính

từ trong môn Tiếng Việt lớp 4 ở trường Tiểu học Lê Quý Đôn – thị xã Buôn Tỉnh Đăk Lăk

Hồ-5.Phương pháp nghiên cứu

-Phương pháp hỏi đáp; phương pháplí luận, thực tiễn; phương pháp điều tra,thống kê; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp đàm thoại, gợimở;phương pháp thực nghiệm, kiểm chứng; phương pháp thực hành; phương phápđánh giá, tổng kết kinh nghiệm

B PHẦN NỘI DUNG 1.Cơ sở lí luận

Mục tiêu của môn học Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giaotiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi

Trang 3

Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của

tư duy qua các phân môn Tập đọc, kể chuyện, chính tả, luyện từ và câu

Ở lớp 4 môn luyện từ và câu đóng một vai trò quan trọng hình thành cho các

em kĩ năng sử dụng từ, vốn từ loại đúng phù hợp với văn hóa phong tục của ngườiViệt Từ đó bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trongsáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam

xã hội chủ nghĩa.”

Qua các năm thực dạy lớp 4 tôi nhận thấy số học sinh được xem là có nănglực nhận thức, tư duy, vốn sống nổi trội hơn, nhanh nhẹn hơn các em khác chiếmrất ít trong tổng số học sinh của lớp Vì vậy trên cơ sở này, tôi quan tâm đến việcgiúp học sinh nắm vững kiến thức từ loại phần danh từ, động từ, tính từ trong mônTiếng Việt lớp 4 ngay đầu năm học 2018 – 2019

Đứng trước mục tiêu và nhiệm vụ của năm học tôi đã lên kế hoạch, xác địnhmục tiêu, đông thời hướng dẫn và bồi dưỡng cũng như có nội dung điều chỉnh từngbài dạy sao cho phù hợp với đối tượng học sinh trong lớp, tổ chức “học đi đôi vớihành” qua môn học kết hợp lồng ghép các trò chơi, thi giữa các nhóm, kiểm tratừng học sinh môn học kịp thời để có thể điều chỉnh rèn luyện bồi dưỡng các emhọc sinh trong lớp, phát động phong trào tự học, tự khám phá kiến thức dưới sựhướng dẫn của cô Để làm tốt điều này bản thân tôi phải không ngường học hỏi,chăm nghiên cứu tài liệu, học hỏi ở bạn bè đồng nghiệp, tự bồi dưỡng kiến thức đểnâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm cũng như phải bồi dưỡng lòngyêu nghề, tinh thần tận tâm với công việc thì mới có thể có vững kiến thức đểtruyền thụ đến từng đối tượng học sinh các kiến thức cần đạt của môn học đề ra

2.Thực trạng vấn đề nghiên cứu

Ta thấy rằng ở lớp 2, 3 việc phân biệt từ loại là chưa sõ ràng mới chỉ là nhậndiện các kiểu câu Ai là gì?; Ai làm gì?; Ai thế nào? Sang lớp 3 cũng chỉ cũng cốkiến thức của lớp 2 nâng cao hơn một chút với kiểu câu ai làm gì thì học sinh hiểucâu Ai là gì? Là mẫu câu giới thệu Câu Ai làm gì? câu đó có từ chỉ hoạt động, câu

Ai thế nào? chắc chắn có từ chỉ tính chất, trạng thái, đặc điểm cả sự vật nhưng

Trang 4

sang đến lớp 4 các kiểu câu đó học sinh lại hiểu nó là câu gì? Câu hỏi?, Câu kể?,nhận biết từ đơn từ phức, từ láy từ phức Bước đầu hiểu thế nào là danh từ, động từ,tính từ vận dụng danh từ, động từ, tính từ để đặt câu

Vậy trong câu kể, câu hỏi hay các loại câu khác cũng như các từ loại học sinhphải hiểu như thế nào? Nó đóng vai trò gì trong câu? Là giáo viên giảng dạy mônhọc này qua nội dung các bài học Tiếng Việt chúng ta góp phần tạo nền móng chohọc sinh dần có nền tảng có thể biết đâu là danh từ và muốn tìm danh từ ta nên làmnhư thế nào?

Với sự giúp đỡ bạn bè tổ khối nhất là hiệu phó chuyên môn để bản thân tôi cóđiều kiện qua tâm nghiên cứu đến sự thiếu sót của học sinh lớp 4A3 trong việc trựctiếp tham gia kiểm tra, đánh giá, chỉ đạo chương trình Có những biện pháp độngviên, khuyến khích học sinh và giáo viên giảng dạy, tạo động lực thúc đẩy côngviệc có hiệu quả tốt

Đa phần lớn một số học sinh chăm ngoan, hiếu học Nhìn chung ta đã thấyhọc sinh học toán dễ hơn học môn Tiếng Việt Vậy giải quyết mối quan hệ giữagiáo dục toàn diện học sinh học giỏi cả hai môn còn nhiều khó khăn Đặc biệt việchọc sinh môn Tiếng Việt còn gặp nhiều khó khăn hơn bởi nhiều lí do:

Phụ huynh chưa có sự quan tâm đến các con trong học tập Do điều kiện kinh

tế của nhân dân ở địa phương còn khó khăn vì làm nông nghiệp, giá cả bấp bệnh bố

mẹ bận làm đồng áng ít khi có thời gian quan tâm đến việc học hành của con cái

Có phụ huynh vì điều kiện phải đi làm ăn kinh tế xa, việc học tập ở nhà, hay muasắm tài liệu tham khảo là rất khó khăn do vậy hạn chế không nhỏ đến chất lượnghọc tập của các em Về giáo viên kiến thức tiếng Việt, khả năng tư duy nghệ thuậtcòn hạn chế, kinh nghiệm còn ít Đặc trưng môn học, đặc biệt phần cảm thụ và viếtvăn, phân tích còn phụ thuộc rất nhiều vào cá nhân học sinh, vào quá trình tích lũylâu dài của các em Chương trình VNEN có thay đổi phương pháp dạy học khác sovới mô hình hiện hành Những năm đầu giáo viên còn nhiều bỡ ngỡ Những trongnhững năm qua nhờ sự tìm tòi học hỏi bản thân tôi đã tích lũy được một số kinhnghiệm để vận dụng vào trong phương pháp truyền thụ kiến thức từ loại cho họcsinh lớp 4 tôi thực dạy

Trang 5

Sau khi vận dụng dạy học chất lượng dạy học các ở lớp 4A3 được nâng cao

rõ rệt Tất cả học sinh đều được thực hành trên các bài tập song kết quả chưa cao.Trình độ học sinh chưa đồng đều, một số em còn quá hạn chế nên chất lượng chưađạt cao Tôi thiết nghĩ giáo viên phải xác định dạy học lấy học sinh làm trung tâm,trân trọng sự sáng tạo dù nhỏ của học sinh, biết sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở đểhướng dẫn học sinh phân tích tìm hiểu bài tập Bản thân tôi đã nhận thức sâu sắc vềcác cuộc vận động lớn của ngành như “Đổi mới công tác quản lí và nâng cao chấtlượng giáo dục”, phong tào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tíchcực”

Tuy nhiên thời gian dành cho chương trình đến khi học sinh học tập khôngphải là nhiều so với lượng kiến thức các em cần nắm thì quá rộng Kiến thức về từloại mới mẻ và hết sức khó đối với các em các em chưa có khả năng tập trungchưa cao nên học sinh thường nóng vội, đọc đề qua loa, chưa hiểu thấu đáo đã bắttay vào làm

Trình độ ngôn ngữ của các em còn thấp mà yêu cầu đặt ra đối với học sinhhọc môn Tiếng Việt tương đối cao và đa dạng do vậy tôi chọn giúp học sinh phânbiệt kiến thức từ loại danh từ, động từ, tính từ trong môn Tiếng Việt lớp 4

Qua điều tra sơ bộ tại lớp 4A3 cho thấy, mặc dù các em đã được học qua nộidung Từ loại (phần danh từ, động từ, tính từ), song rất nhiều em nắm bắt khái niệmrất mơ hồ, máy móc Tuy các em có nêu được các khái niệm về danh từ, động từ,tính từ song bản chất về mặt ngữ nghĩa các em lại nắm rất hời hợt, điều đó chỉ đủ

để các em xác định đúng từ loại của những từ được coi là rất tường minh, như:

từ nên còn xác định học giỏi, hát hay, giỏi toán là một từ, khiến cho việc xác định

từ loại càng trở nên khó khăn hơn

Trang 6

Bảng kiểm tra về kĩ năng tách từ xác định từ loại lớp 4A3 (sĩ số: 29/29) nhưsau:

đó việc xác định từ loại bị khó khăn, dẫn đến những sai sót tiếp theo Với kết quảnày, tôi đặt ra một số vấn đề làm thế nào để học sinh làm tốt các bài tập có nộidung từ loại để học sinh phải nắm vững kiến thức về danh từ, động từ tính từ trongchương trình được tốt

3 Nội dung và hình thức của giải pháp

a.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

Để khắc phục thực trạng trên, đầu năm học 2018- 2019, tôi đã lên kế hoạchvận dụng một số kinh nghiệm: Giúp học sinh phân biệt kiến thức từ loại danh từ,động từ, tính từ trong môn Tiếng Việt lớp 4, nhằm tháo gỡ những khó khăn màhọc sinh mắc phải Sau đó họp tổ khối 4 thống nhất phương pháp giảng, hình thứcdạy học cũng như cách thức tiến hành các tiết dạy mang nội dung từ loại, cũngnhư các kiến thức mang nội dung thuộc phần từ và câu có dạng tương tự để cóchất lượng cao hơn

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp và biện pháp

1 Nắm vững cách phân biệt kiến thức về từ loại

2.Nghiên cứu kĩ nội dung cần giảng dạy

3.Tổ chức giảng dạy theo trình độ học tập của học sinh danh từ, động từ,tính từ dễ lẫn lộn

4.Tổ chức đánh giá kết quả học tập của học sinh theo đúng chuẩn yêu cầucần đạt thuộc bốn mức độ của thông tư 22 của Bộ giáo dục và đào tạo quy định vềđánh giá học sinh tiểu học

Trang 7

*Nắm vững cách phân biệt kiến thức về từ loại:

Bên cạnh việc giúp học sinh nắm vững kiến thức về từ từ đơn, từ phức, từghép, từ láy đã được học trong những tuần đầu, giáo viên cần cung cấp cho họcsinh đầy đủ các kiến thức về từ loại phần danh từ, động từ, tính từ, yêu cầu họcsinh nắm chắc khái niệm về danh từ, động từ, tính từ học xen kẽ trong các bài từtuần 5 đến tuần 12 biết thế nào là cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ học trongloạt bài về câu kể: Câu kể: Ai làm gì?, Ai thế nào?, Ai là gì? Từ tuần 19 đến tuần

25 Để làm được vấn đề này, đòi hỏi giáo viên phải nắm chắc các kiến thức về từloại danh từ, động từ, tính từ Cụ thể:

1 Danh từ: Danh từ là những từ chỉ sự vật (người, vật, hiện tượng, khái

niệm hoặc đơn vị)

Ví dụ Danh từ chỉ hiện tượng: mưa, nắng , sấm, chớp,

- Chỉ khái niệm: đạo đức, người, kinh nghiệm, cách mạng,

- Chỉ đơn vị: Ông, vị (vị giám đốc ), cô (cô Tấm ), cái, bức, tấm, ; mét, lít,ki-lô-gam, ; nắm, mớ, đàn,

Khi phân loại Danh từ tiếng Việt, trước hết, người ta phân chia thành 2 loại:Danh từ riêng và Danh Từ chung

- Danh từ riêng: là tên riêng của một sự vật (tên người, tên địa phương, tên

địa danh, )

- Danh từ chung: là tên của một loại sự vật (dùng để gọi chung cho một loại

sự vật ) Danh từ chung có thể chia thành 2 loại:

+ Danh từ cụ thể: là danh từ chỉ sự vật mà ta có thể cảm nhận được bằng cácgiác quan (sách, vở, gió, mưa, )

+ Danh từ trừu tượng: là các Danh từ chỉ sự vật mà ta không cảm nhận đượcbằng các giác quan (cách mạng, tinh thần, ý nghĩa, )

Các danh từ chỉ hiện tượng, chỉ khái niệm, chỉ đơn vị được giảng dạy trongchương trình Tiếng việt lớp 4 chính là các loại nhỏ của danh từ chung

Vậy học sinh cần phải hiểu được:

+ Danh từ chỉ hiện tượng:

Trang 8

Hiện tượng là cái xảy ra trong không gian và thời gian mà con người có thểnhận thấy, nhận biết được Có hiện tượng tự nhiên như: mưa, nắng, sấm, chớp,động đất, và hiện tượng xã hội như: chiến tranh, đói nghèo, áp bức,

Danh từ chỉ hiện tượng là danh từ biểu thị các hiện tượng tự nhiên (cơn mưa,ánh nắng, tia chớp, ) và hiện tượng xã hội (cuộc chiến tranh, sự đói nghèo, ) nóitrên

+ DT chỉ khái niệm:

Chính là loại danh từ có ý nghĩa trừu tượng danh từ trừu tượng - đã nêu ởtrên Đây là loại danh từ không chỉ vật thể, các chất liệu hay các đơn vị sự vật cụthể, mà biểu thị các khái niệm trừu tượng như: Tư tưởng, đạo đức, khả năng, tínhnết, thói quen, quan hệ, thái độ, cuộc sống, ý thức, tinh thần, mục đích, phươngchâm,chủ trương, biện pháp, ý kiến, cảm tưởng, niềm vui, nỗi buồn, tình yêu, tìnhbạn, các khái niệm này chỉ tồn tại trong nhận thức, trong ý thức của con người,không “vật chất hoá”, cụ thể hoá được Nói cách khác, các khái niệm này không cóhình thù, không cảm nhận trực tiếp được bằng các giác quan như mắt nhìn, tainghe,

+ Danh từ chỉ đơn vị:

Hiểu theo nghĩa rộng, danh từ chỉ đơn vị là những từ chỉ đơn vị các sự vật.Căn cứ vào đặc trưng ngữ nghĩa, vào phạm vi sử dụng, có thể chia danh từ chỉ đơn

vị thành các loại nhỏ như sau:

- Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên: Các danh từ này chỉ rõ loại sự vật, nên cònđược gọi là danh từ chỉ loại Đó là các từ: con, cái, chiếc; cục, mẩu, miếng; ngôi,tấm, bức; tờ, quyển, cây, hạt, giọt, hòn , sợi,

- Danh từ chỉ đơn vị đo lường: Các Danh từ này dùng để tính đếm, đo đếmcác sự vật, vật liệu, chất liệu,

VD: lạng, cân, yến, tạ, mét thước, lít sải, gang,

- Danh từ chỉ đơn vị tập thể: Dùng để tính đếm các sự vật tồn tại dưới dạngtập thể, tổ hợp Đó là các từ: bộ, đôi, cặp, bọn, tụi, đàn, dãy, bó,

- Danh từ chỉ đơn vị thời gian:Các từ như: giây, phút, giờ, tuần, tháng, mùa,

vụ, buổi,

Trang 9

- Danh từ chỉ đơn vị hành chính, tổ chức: xóm, thôn, xã, huyện, nước, nhóm,

tổ, lớp, trường, tiểu đội, ban, ngành,

*Cụm Danh từ:

- Danh từ có thể kết hợp với các từ chỉ số lượng ở phía trước, các từ chỉ định

ở phía sau và một số từ ngữ khác để lập thành cụm danh từ Cụm danh từ là loại tổhợp từ do danh từ và một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành

Trong cụm danh từ, các phụ ngữ ở phần trước bổ sung cho danh từ các ýnghĩa về số và lượng Các phụ ngữ ở phần sau nêu lên đặc điểm của sự vật màdanh từ biểu thị hoặc xác định vị trí của sự vật ấy trong gian hay thời gian

* Động từ: là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật.

VD: - Đi, chạy, nhảy, (động từ chỉ hoạt động )

- Vui, buồn, giận, (động từ chỉ trạng thái)

*Những lưu ý về động từ chỉ trạng thái:

- Đặc điểm ngữ pháp nổi bật nhất của động từ chỉ trạng thái là: nếu như động

từ chỉ hoạt động, hành động có thể kết hợp với từ xong ở phía sau (ăn xong, đọcxong , ) thì động từ chỉ trạng thái không kết hợp với xong ở phía sau (không nói:còn xong, hết xong, kính trọng xong, ) Trong Tiếng Việt có một số loại động từchỉ trạng thái sau:

+ Động từ chỉ trạng thái tồn tại (hoặc trạng thái không tồn tại):còn ,hết, có, + Động từ chỉ trạng thái biến hoá: thành, hoá,

+ Động từ chỉ trạng thái tiếp thụ: được, bị, phải, chịu,

+ Động từ chỉ trạng thái so sánh: bằng, thua, hơn, là,

Giúp học sinh tìm hiểu sâu thêm:

- Một số “nội động từ” sau đây cũng được coi là động từ chỉ trạng thái: nằm,ngồi, ngủ, thức, nghỉ ngơi, suy nghĩ, đi, đứng, lăn, lê, vui, buồn, hồi hộp, bănkhoăn, lo lắng, các từ này có một số đặc điểm sau:

+ Một số từ vừa được coi là động từ chỉ hành động, lại vừa được coi là động

từ chỉ trạng thái

+ Một số từ chuyển nghĩa thì được coi là động từ chỉ trạng thái (trạng thái tồntại)

Trang 10

VD: Bác đã đi rồi sao Bác ơi! (Tố Hữu)

Anh ấy đứng tuổi rồi.

+Một số từ mang đặc điểm ngữ pháp của tính từ (kết hợp được với các từ chỉmức độ)

- Các ‘ngoại động từ” sau đây cũng được coi là động từ chỉ trạng thái (trạngthái tâm lí) Yêu, ghét, kính trọng, chán, thèm, hiểu, các từ này mang đặc điểmngữ pháp của tính từ, có tính chất trung gian giữa động từ và tính từ

- Có một số động từ chỉ hành động được sử dụng như một động từ chỉ trạngthái

VD: Trên tường treo một bức tranh.

Dưới gốc cây có buộc một con ngựa.

- Động từ chỉ trạng thái mang một số đặc điểm về ngữ pháp và ngữ nghĩagiống như tính từ Vì vậy, chúng có thể làm vị ngữ trong câu kể: Ai thế nào?

*Những lưu ý về động từ nội động và động từ ngoại động có thể phân tíchthêm cho học sinh giỏi:

- Động từ nội động: Là những động từ hướng vào người làm chỉ hoạt động(ngồi, ngủ, đứng, ) Động từ nội động không có khả năng có bổ ngữ chỉ đối tượngtrực tiếp mà phải có quan hệ từ

VD1: Bố mẹ rất lo lắng cho tô i

Động từ nội động quan hệ từ bổ ngữ

- Động từ ngoại động: là những động từ hướng đến người khác, vật khác(xây, phá, đập, cắt, ) động từ ngoại động có khả năng có bổ ngữ chỉ đối tượngtrực tiếp

VD2: Bố mẹ rất thương yêu tôi

động từngoại động bổ ngữ

- Để phân biệt động từ nội động và động từ ngoại động, ta đặt câu hỏi: ai?cái gì? đằng sau động từ Nếu có thể dùng một bổ ngữ trả lời trực tiếp mà khôngcần quan hệ từ thì đó là động từ ngoại động (VD2), nếu không được thì đó là động

từ nội động (VD1): Hỏi: yêu thương ai? > yêu thương tôi

Lo lắng cho ai? > lo lắng cho tôi.(không thể hỏi: lo lắng ai?)

Trang 11

*Cụm động từ: Động từ thường kết hợp với các phụ từ mệnh lệnh (ở phía

trước) và một số từ ngữ khác để tạo thành cụm động từ Cụm động từ là loại tổ hợp

từ do động từ với một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành Nhiều động từ phải có các

từ ngữ phụ thuộc đi kèm, tạo thành cụm động từ mới trọn nghĩa

Trong cụm động từ, các phụ ngữ ở phần trước bổ sung cho động từ các ýnghĩa: quan hệ thời gian; sự tiếp diễn tương tự; sự khuyến khích hoặc ngăn cảnhành động; sự khẳng định hoặc phủ định hành động, Các phụ ngữ ở phần sau bổsung cho động từ các chi tiết về đối tượng, hướng, địa điểm, thời gian, mục đích,nguyên nhân, phương tiện và cách thức hành động

* Tính từ: là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạt động, trạng thái,

*Có 2 loại tính từ đáng chú ý là:

- Tính từ chỉ tính chất chung không có mức độ (xanh, tím, sâu, vắng, )

- Tính từ chỉ tính chất có xác định mức độ (mức độ cao nhất) (xanh lè, tímngắt, sâu hoắm, vắng tanh, )

* Phân biệt từ chỉ đặc điểm, từ chỉ tính chất, từ chỉ trạng thái:

- Từ chỉ đặc điểm

Đặc điểm là nét riêng biệt, là vẻ riêng của một một sự vật nào đó có thể làngười, con vật, đồ vât, cây cối, ) Đặc điểm của một vật chủ yếu là đặc điểm bênngoài, (ngoại hình) mà ta có thể nhận biết trực tiếp qua mắt nhìn, tai nghe, tay sờ,mũi ngửi, đó là các nét riêng, vẻ riêng về màu sắc, hình khối, hình dáng, âmthanh, của sự vật Đặc điểm của một vật có thể đặc điểm bên trong mà qua quansát, suy luận, khái quát, ta mới có thể nhận biết được Đặc điểm về tính tình, tâm

lí, tính cách của một người, độ bền, giá trị của một đồ vật

Từ chỉ đặc điểm là từ biểu thị các đặc điểm của sự vật, hiện tượng như đã nêu

ở trên

VD: + Từ chỉ đặc điểm bên ngoài: cao, thấp, rộng, hẹp, xanh, đỏ,

+ Từ chỉ đặc điểm bên trong: ngoan, chăm chỉ, bền bỉ,

- Từ chỉ tính chất:Tính chất cũng là đặc điểm riêng của sự vật, hiện tượng(bao gồm cả những hiện tượng xã hội, những hiện tượng trong cuộc sống, ), nhưng

Trang 12

thiên về đặc điểm bên trong, ta không quan sát trực tiếp được, mà phải qua quátrình quan sát, suy luận, phân tích, tổng hợp ta mới có thể nhận biết được Do đó, từchỉ tính chất cũng là từ biểu thị những đặc điểm bên trong của sự vật, hiện tượng.

VD: Tốt, xấu, ngoan, hư, nặng, nhẹ, sâu sắc, nông cạn, suôn sẻ, hiệu quả,thiết thực,

Như vậy, đối với học sinh tiểu học, khi phân biệt một cách tương đối từ chỉđặc điểm và từ chỉ tính chất, ta có thể tạm thời cho rằng: Từ chỉ đặc điểm thiên vềnêu các đặc điểm bên ngoài, còn từ chỉ tính chất thiên về nêu các đặc điểm bêntrong của sự vật, hiện tượng Một quy ước mang tính sư phạm như vậy được coi làhợp lí và giúp học sinh tránh được những thắc mắc không cần thiết trong quá trìnhhọc tập

- Từ chỉ trạng thái:Trạng thái là tình trạng của một sự vật hoặc một conngười, tồn tại trong một thời gian nào đó Từ chỉ trạng thái là từ chỉ trạng thái tồntại của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan

Người bệnh đang hôn mê.

Cảnh vật yên tĩnh quá Mặt trời toả ánh nắng rực rỡ.

Xét về mặt từ loại, từ chỉ trạng thái có thể là động từ, có thể là tính từ hoặcmang đặc điểm của cả động từ và tính từ từ trung gian, song trong chương trìnhVNEN ở cấp tiểu học, chúng ta thống nhất chỉ xếp chúng vào nhóm động từ để họcsinh dễ phân biệt

*Cụm tính từ: Tính từ có thể kết hợp với các từ chỉ mức độ như: rất, hơi,

lắm, quá, cực kì, vô cùng, để tạo tạo thành cụm tính từ khả năng kết hợp với cácphụ từ mệnh lệnh như động từ ngay trước nó là rất hạn chế

Trong cụm tính từ, các phụ ngữ ở phần trước có thể biểu thị quan hệ thờigian; sự tiếp diễn tương tự, mức độ của đặc điểm, tính chất, sự khẳng định hay phủđịnh Các phụ ngữ ở phần sau có thể biểu thị vị trí, sự so sánh, mức độ, phạm vihay nguyên nhân của đặc điểm, tính chất

* Nghiên cứu kĩ nội dung cần giảng dạy

Ngày đăng: 16/06/2019, 13:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w