1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non (Luận án tiến sĩ)

242 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 242
Dung lượng 9,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm nonQuản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm nonQuản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm nonQuản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm nonQuản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm nonQuản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm nonQuản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm nonQuản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm nonQuản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm nonQuản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm nonQuản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm nonQuản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non

Trang 1

Hoàng Công Dụng

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XUẤT BẢN PHẨM

ÂM NHẠC DÀNH CHO CẤP HỌC MẦM NON

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Hà Nội - 2019

Trang 2

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Hoàng Công Dụng

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XUẤT BẢN PHẨM

ÂM NHẠC DÀNH CHO CẤP HỌC MẦM NON

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa

Mã số: 9319042

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Đỗ Thị Quyên PGS.TS Nguyễn Đăng Nghị

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án tiến sĩ Quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non là do tôi viết và chưa công bố

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Hoàng Công Dụng

Trang 4

NỘI DUNG TRANG

MỞ ĐẦU ……… …….……… 1

Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non 9

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ……… 9

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý và mô hình quản lý ………… ……… 18

1.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non………….……… … ………… 36

1.4 Đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non………….……… ………… 43

Tiểu kết ……… ……….………… 50

Chương 2: Âm nhạc đối với giáo dục mầm non và thực tiễn sử dụng xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non ………… ………… 52

2.1 Âm nhạc đối với giáo dục mầm non ………… …… ……… 52

2.2 Thực trạng sử dụng xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non 64 Tiểu kết ……… ……….………… 80

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non giai đoạn 2014 - 2017 82

3.1 Khái quát thực trạng ……… 82

3.2 Một số nhận xét, đánh giá … ……….… 112

Tiểu kết ……… ……….………… 121

Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non ……… 123

4.1 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non ……… ……….………… 123

4.2 Đề xuất mô hình quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non ……… ……….………… 134

4.3 Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non …… ……….……… 141

Tiểu kết ……… ……… ……….………… 148

KẾT LUẬN ……….….……… 150

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ.……… 154

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….……… 155

PHỤ LỤC ……….……… 167

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNTT Công nghệ thông tin

GDĐT Giáo dục và đào tạo

TTTT Thông tin và truyền thông

UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural

Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc)

VHTTDL Văn hóa, thể thao và du lịch

XBP Xuất bản phẩm

XBPAN Xuất bản phẩm âm nhạc

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU

Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý từ trên xuống 22

Sơ đồ 1.2: Mô hình quản lý từ dưới lên 23

Sơ đồ 1.3: Mô hình quản lý trực tuyến 24

Sơ đồ 1.4: Mô hình quản lý theo chức năng 25

Sơ đồ 1.5: Mô hình quản lý phân cấp 27

Sơ đồ 2.1: Hoạt động âm nhạc với sự phát triển của trẻ mầm non 60

Sơ đồ 3.1: Thực tiễn mô hình quản lý hoạt động xuất bản XBPAN ……… 107

Sơ đồ 4.1: Mô hình quản lý tương tác đa chiều 138

Bảng 2.1: Thống kê thực trạng ứng dụng CNTT trong các cơ sở GDMN 70 Bảng 2.2: Thống kê đội ngũ giáo viên sư phạm âm nhạc cấp học mầm non 73 Bảng 2.3: Tỷ lệ các loại hình XBP âm nhạc của các cơ sở GDMN … 74

Bảng 2.4: Hình thức XBP âm nhạc được sử dụng trong cơ sở GDMN …. 75 Bảng 2.5: Nội dung của XBP âm nhạc được sử dụng trong cơ sở GDMN 75 Bảng 2.6: Mức độ đáp ứng thực hiện Chương trình giáo dục mầm non của XBP âm nhạc được sử dụng trong cơ sở GDMN ………. 77

Bảng 2.7: Tần suất khai thác sử dụng XBP điện tử về âm nhạc ………… 77

Bảng 2.8: Phương thức trang bị XBP âm nhạc tại các cơ sở GDMN … 79

Bảng 2.9: Trang thiết bị, học liệu hỗ trợ tổ chức hoạt động âm nhạc … 79

Bảng 3.1: Số lượng đăng ký và lưu chiểu XBP từ năm 2014 - 2017 97

Bảng 3.2: Số lượng phát hành cả nước từ năm 2014 - 2017 100

Bảng 3.3: Tổng hợp số lượng XBP phát hành từ 2014 - 2017 101

Bảng 3.4: Tổng hợp thực trạng trường mầm non có thư viện và quan điểm về sự cần thiết có thư viện trong trường mầm non ………….… … 103

Bảng 3.5: Số XBPAN được sử dụng trong các cơ sở GDMN của các Nxb 104 Bảng 3.6: Tổng hợp đề tài xuất bản phục vụ trẻ em có tác phẩm âm nhạc 106 Bảng 3.7: Thanh tra, kiểm tra hoạt động xuất bản từ năm 2014 - 2017 109

Biểu đồ 3.1: Chi tiêu của Chính phủ và hộ gia đình trên đầu học sinh các cấp giai đoạn 2009-2013 ……… 89

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non là sản phẩm văn hóa đặc trưng, phục vụ cho đối tượng trẻ ở độ tuổi từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi Quá trình hình thành và phát triển của loại hình xuất bản phẩm này diễn ra khoảng gần một thế kỷ cùng với lịch sử hình thành và phát triển của cấp học

Trong những năm qua, hoạt động xuất bản của nước ta đã có những bước phát triển và thu nhận được những kết quả đáng kể, đó là sự tăng trưởng hàng năm kể cả về chất lượng và số lượng xuất bản phẩm, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của các ngành và địa phương, góp phần khẳng định vị trí quan trọng của hoạt động của xuất bản trong đời sống xã hội nói chung, trong lĩnh vực giáo dục nói riêng Công tác chỉ đạo, quản lý xuất bản có tiến bộ, chú trọng đảm bảo định hướng chính trị, tư tưởng và hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất bản, phát hiện xử lý và khắc phục những lệch lạc, sai phạm Ngành xuất bản nhìn chung giữ được sự ổn định và từng bước chấn chỉnh, kiện toàn hoạt động, đáp ứng những điều kiện mới theo quy định

Đối với cấp học mầm non, một trong những nhân tố được coi là công cụ quan trọng phục vụ việc đổi mới, phương pháp, hình thức giáo dục cấp học mầm non là học liệu, thiết bị dạy học như sách vở, tài liệu, băng, đĩa, tranh ảnh Các xuất bản phẩm được người dạy và người học khai thác sử dụng để hỗ trợ cho việc học tập, nghiên cứu vấn đề được mở rộng và sâu hơn, đặc biệt đối với việc giáo dục âm nhạc trong các cơ sở giáo dục mầm non Chính vì vậy, nhu cầu sử dụng đồ dùng, trang thiết bị, sách vở, tài liệu băng đĩa hỗ trợ cho việc tổ chức các hoạt động âm nhạc được chú trọng và nâng cao Để phục vụ cho nhu cầu đó, các xuất bản phẩm âm nhạc và tài liệu liên quan được biên soạn, phát hành dưới nhiều hình thức và nội dung đa dạng, phong phú với nhiều thành phần tham gia Việc xuất bản ồ ạt các xuất bản phẩm tung ra thị trường như vậy

sẽ không tránh khỏi sự lạm dụng, chồng chéo; một số xuất bản phẩm kém chất

Trang 8

lượng, nội dung không đúng về đường lối chính trị, tư tưởng, gây ảnh hưởng không tốt đến đời sống xã hội và hoạt động giáo dục trong nhà trường Khuynh hướng thương mại hóa, chạy theo lợi nhuận kinh tế thuần túy tác động không nhỏ đến hoạt động xuất bản Nạn in lậu, nhập lậu băng, đĩa, xuất bản phẩm, vi phạm bản quyền đối với các tác phẩm âm nhạc diễn ra tương đối phổ biến Mạng lưới phát hành chưa đến được nông thôn, vùng sâu, vùng xa và các vùng đặc biệt khó khăn khác Khoa học công nghệ phát triển liên tục đã tác động mạnh mẽ đến phương thức hoạt động xuất bản, đến phương pháp, hình thức giáo dục Cơ cấu kinh tế xã hội có những thay đổi đáng kể làm cho cơ chế quản

lý, cơ chế đầu tư cho xuất bản phẩm cũng thay đổi theo

Bên cạnh những mặt đạt được trong quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc còn tồn tại không ít những khó khăn, thách thức và hạn chế: văn bản quy phạm pháp luật đôi lúc chưa ban hành kịp thời, có văn bản chưa thể hiện những nội dung phù hợp với tình hình thực tiễn; đội ngũ làm công tác quản

lý, điều hành còn thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu công việc; chưa thực sự thiết lập được một mô hình quản lý hiệu quả, phương thức quản lý hiện nay cho thấy sự chồng chéo, tồn tại những lỗ hổng trong quản lý; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng thực sự chưa hiệu quả v.v Những vấn đề này tạo nên nhiều bức xúc, khó giải quyết, đặc biệt mỗi khi có sự vụ vi phạm xảy ra

Hệ thống hóa những nghiên cứu đi trước cho thấy, các vấn đề lý luận và thực tiễn QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non hiện nay hầu như chưa được xem xét một cách cụ thể và chưa là đối tượng nghiên cứu của bất kỳ tác giả nào Qua tìm hiểu, phân tích và nhìn nhận các nghiên cứu mang tính phổ quát, liên quan tới quản lý nhà nước đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non, NCS nhận thấy cần phải có một hướng nghiên cứu để giải quyết một số vấn đề như sau:

- Sự đồng bộ, tính phổ quát, tính thực tiễn và tính khả thi của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật;

Trang 9

- Vấn đề phối hợp giữa các bộ ngành, cơ quan quản lý các cấp đối với nhiệm vụ quản lý hoạt động xuất bản XBPAN dành cho cấp học mầm non;

- Những ưu điểm, hạn chế của mô hình/quy trình quản lý hiện nay;

- Các biện pháp phòng chống các hành vi vi phạm quy định cũng như chế tài xử phạt và phương thức, phương pháp thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm của các tổ chức, cá nhân tham gia quá trình xuất bản, in và phát hành XBPAN dành cho cấp học mầm non;

- Chất lượng XBPAN sử dụng trong các cơ sở GDMN

Những vấn đề trên cần phải được tìm hiểu, nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đưa ra mô hình phù hợp, những giải pháp khả thi nhằm phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm hạn chế, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc sử dụng trong ngành giáo dục, đặc biệt là cấp học mầm non

Nhận thức được các vấn đề nêu trên, trong khuôn khổ của luận án, NCS

lựa chọn đề tài Quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non làm luận án tiến sĩ với mong muốn đóng góp một phần nhỏ

bé của mình vào việc nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với sản phẩm văn hóa - giáo dục này

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa ra khái niệm QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non; thông qua khảo sát, nghiên cứu đánh giá thực trạng để tìm ra mô hình, giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non, cụ thể:

Tìm hiểu, nghiên cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực QLNN về văn hóa, giáo dục;

Trang 10

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quan điểm, khái niệm và lý thuyết liên quan đến QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non; đưa ra một khái niệm về QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non

Khảo sát, đánh giá thực trạng QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non ở Trung ương và một số địa phương

- Xây dựng mô hình quản lý, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non, cụ thể:

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, xây dựng một mô hình quản lý phù hợp với tính chất, đặc thù của XBPAN dành cho cấp học mầm non;

Từ các cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu các vấn đề về QLNN đối với XBPAN dành cho cấp

học mầm non

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: NCS khảo sát, tìm hiểu thực trạng vấn đề nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2017; rà soát văn bản quy phạm pháp luật trong khoảng từ năm 2005 đến nay (Những tài liệu có nội dung liên quan được NCS tham khảo chủ yếu là vào khoảng thời gian sau năm 2000 và một số rất ít trước năm 2000)

- Về không gian: NCS tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến

đề tài tại Bộ GDĐT, Bộ TTTT (Cục Xuất bản, In và Phát hành), một số Nxb như Nxb Giáo dục Việt Nam, Nxb Kim Đồng, Nxb Âm nhạc (nay là Công ty TNHH một thành viên Nxb Âm nhạc) và khảo sát một số cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, cha mẹ trẻ thuộc 9 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Đà Nẵng, Đồng Nai, Đồng Tháp, Gia Lai, Hà Nội, Hà Tĩnh, Hòa Bình, Thái Bình

Trang 11

và thành phố Hồ Chí Minh (là những tỉnh, thành phố đại diện 9 tỉnh, thành phố thuộc 9 cụm thi đua theo Công văn số 4171/BGDĐT-TĐKT ngày 25/8/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Tổ chức lại cụm thi đua khối các sở giáo dục và đào tạo)

- Về nội dung: NCS nghiên cứu các vấn đề lý thuyết và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến nội dung QLNN đối với hoạt động xuất bản XBPAN dành cho cấp học mầm non, mô hình/quy trình QLNN đối với hoạt động xuất bản XBPAN dành cho cấp học mầm non; khảo sát, tìm hiểu thực trạng quản lý quá trình xuất bản, in, phát hành và sử dụng XBPAN dành cho cấp học mầm non

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Hệ thống các văn bản quy

phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về văn hóa, giáo dục nói chung, về hoạt động xuất bản, xuất bản phẩm âm nhạc và cấp học mầm non; tìm hiểu, khái quát các nghiên cứu đi trước liên quan đến các vấn đề về quản lý nhà nước đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non; thu thập các báo cáo, đánh giá, khảo sát thống kê các nội dung liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước về XBPAN dành cho cấp học mầm non từ Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các đơn vị liên quan

Phương pháp mô hình hóa: nghiên cứu, tổng hợp và phân tích các mô

hình quản lý; tái hiện, xây dựng mô hình quản lý XBPAN dành cho cấp học mầm non theo cơ cấu, chức năng của các chủ thể và khách thể quản lý

Phương pháp quan sát tham dự: Lập kế hoạch điền dã, nghiên cứu thực

tiễn về hoạt động xuất bản của các đơn vị như đã nêu tại mục 3.2 “Phạm vi nghiên cứu” của phần Mở đầu

Phương pháp phỏng vấn: Dự kiến nội dung, lập kế hoạch làm việc,

phỏng vấn một số nhà quản lý, biên tập viên của một số cơ quan là chủ thể quản

Trang 12

lý và đối tượng quản lý hoạt động xuất bản Tiến hành phỏng vấn lãnh đạo Nxb Giáo dục Việt Nam, lãnh đạo và nhân viên Công ty cổ phần Mỹ thuật và Truyền thông (Nxb Giáo dục Việt Nam), lãnh đạo và nhân viên Nxb Âm nhạc (nay là Công ty TNHH một thành viên Nxb Âm nhạc), kết hợp điều tra bằng phiếu hỏi

và phỏng vấn một số nhà quản lý giáo dục, nhà nghiên cứu, giáo viên mầm non

và cha mẹ trẻ (phỏng vấn tổng cộng khoảng 30 người trong thời gian từ năm

2016 đến năm 2018)

Phương pháp điều tra: Xây dựng bộ phiếu hỏi gồm 3 phiếu: 1 Phiếu

dành cho cán bộ quản lý cơ sở GDMN, tập trung vào các nội dung về quan điểm về XBPAN dành cho cấp học mầm non, quản lý việc mua sắm, sử dụng

và bảo quản XBPAN, lấy ý kiến đề xuất, kiến nghị về việc quản lý nhà nước đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non 2 Phiếu dành cho giáo viên mầm non gồm có các nội dung chủ yếu về chủng loại, số lượng, nội dung, hình thức, bảo quản và sử dụng XBPAN tại trường, quan điểm đổi mới nội dung, hình thức XBPAN dành cho cấp học mầm non, đề xuất, kiến nghị của giáo viên đối với việc nâng cao chất lượng XBPAN 3 Phiếu dành cho cha mẹ trẻ hỏi về sự hiểu biết, sự tham gia của cha mẹ trẻ đối với hoạt động âm nhạc của trẻ, mong muốn, đề xuất của họ để con họ được sử dụng XBPAN và tham gia hoạt động

âm nhạc được tốt hơn Bộ phiếu hỏi được NCS thực hiện với sự hỗ trợ của phòng GDMN, sở GDĐT của 9 tỉnh, thành phố nêu trên với 164 trường mầm non công lập và sự tham gia trả lời của 190 cán bộ quản lý GDMN, 190 giáo viên, 183 cha mẹ trẻ Tỷ lệ phản hồi của người trả lời đối với cả bộ phiếu là 100%, tỷ lệ phản hồi đối với từng câu hỏi thấp nhất là 186/190 CBQL (97,9%), 181/190 giáo viên (95,3%), 182/183 cha mẹ trẻ (99,5%) Bộ phiếu hỏi được xây dựng và xin ý kiến hoàn thiện từ tháng 9/2016 đến tháng 03/2017; gửi xin

ý kiến và thu thập từ tháng 3/2017 đến tháng 10/2017; xử lý kỹ thuật trên phần mềm thống kê SPSS 20 (Statistical Product and Services Solutions)

Trang 13

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Từ những vấn đề nêu trên, NCS tập trung nghiên cứu để trả lời các câu hỏi đặt ra như sau:

- Thực trạng quản lý nhà nước đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non ở Việt Nam hiện nay như thế nào?

- Mô hình/quy trình QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non hiện nay đã phù hợp chưa?

- Những vấn đề gì đặt ra và cần phải làm gì để nâng cao hiệu quả QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non trong thời gian tới?

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu đặt ra đối với luận án là: Hoạt động QLNN hiện nay đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non chưa thực sự hiệu quả là do

mô hình quản lý chưa phù hợp, giải pháp quản lý chưa sát thực tiễn

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về mặt khoa học, luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn quản

lý nhà nước đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non, từ đó đưa ra nhận định, đánh giá những vấn đề tương đồng và khác biệt giữa việc quản lý XBPAN dành cho cấp học mầm non với các loại hình XBP khác; phân tích vai trò của từng chủ thể quản lý cũng như vấn đề phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non; hệ thống hóa mô hình quản

lý để từ đó so sánh, đối chiếu, nhận xét trong quá trình triển khai đánh giá thực trạng QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non

Về mặt thực tiễn, NCS cố gắng tìm hiểu, xây dựng bức tranh về hiện trạng quá trình quản lý nhà nước đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non,

từ khâu xuất bản, phát hành đến sử dụng loại hình XBP này; nhấn mạnh vai trò của XBPAN đối với việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ, làm cơ sở để đề xuất mô

Trang 14

hình quản lý phù hợp với điều kiện hiện nay, đồng thời đưa ra những giải pháp, biện pháp cụ thể nhằm phục vụ cho việc quản lý XBPAN dành cho cấp học mầm non một cách hiệu quả, khoa học hơn

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XUẤT BẢN PHẨM ÂM NHẠC

DÀNH CHO CẤP HỌC MẦM NON 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động Hoạt động quản

lý bắt đầu từ kinh nghiệm, sau đó phát triển ở mức cao hơn và phức tạp hơn

Ở Trung Hoa thời cổ đại, tư tưởng đức trị của Khổng Tử đã chi phối hoạt động quản lý, chủ yếu đối với việc quản lý xã hội, đất nước Tư tưởng này áp dụng trong việc quản lý do nền kinh tế thời đó chỉ là tiểu nông, thủ công nghiệp

và buôn bán nhỏ Đến thời Chiến quốc (280 - 233 trước Công nguyên), kinh tế khá phát triển song lại kém ổn định về chính trị - xã hội, Hàn Phi Tử đã chủ

xướng tư tưởng pháp trị, coi trọng pháp chế nghiêm khắc và đề cao thuật dùng

người Các thuyết quản lý sau này kết hợp cả hai tư tưởng triết học đó để ngày

càng coi trọng hơn nhân tố văn hóa trong quản lý

Với sự phát triển thương mại (thế kỷ XVI) và cách mạng công nghiệp ở châu Âu (thế kỷ XVIII), hoạt động quản lý được tách ra thành một chức năng riêng như một nghề chuyên nghiệp từ sự phân công lao động xã hội Lý thuyết quản lý từng bước tách ra khỏi triết học để trở thành một khoa học độc lập

- khoa học quản lý

PGS.TS Nguyễn Tri Nguyên xác định khái niệm về quản lý văn hóa:

“Quản lý văn hóa với tư cách là quản lý về nghệ thuật và văn hóa xác định tính cách hoạt động được định hướng về kinh tế, về kế hoạch, về tính công khai, hoạt động liên quan tới nội dung nghệ thuật và mục tiêu văn hóa, được tập trung nhằm vào sự kiến tạo hiện tại và tương lai” [60, tr.81]

Cho đến nay đã có một số tài liệu, công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động xuất bản như tài liệu bồi dưỡng chức danh biên tập viên, phóng viên năm

Trang 16

2013 về Đường lối chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước về báo chí, xuất bản của trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý thông tin và truyền

thông [99] Chuyên đề 1 “Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước hiện

nay về báo chí, xuất bản” xác định quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, xuất bản; đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về xuất bản, trong đó xác định ba chức năng chủ yếu của báo chí, xuất bản là chức năng thông tin, chức năng giáo dục và chức năng chỉ đạo Chuyên

đề 2 “Công tác QLNN về xuất bản hiện nay” đã nêu các khái niệm, quan điểm

chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về QLNN về xuất bản cũng như tình hình công tác QLNN về xuất bản từ Trung ương đến địa phương; tóm tắt một số thực trạng quản lý hoạt động xuất bản thời điểm năm 2013 và những năm trước đó, đánh giá khái quát những điểm tiến bộ trong công tác quản lý, chỉ đạo xuất bản, chỉ ra một số điểm hạn chế, yếu kém và những nguyên nhân của hạn chế, yếu kém mà nguyên nhân chủ yếu là do công tác lãnh đạo của các cấp ủy đảng, công tác QLNN về xuất bản và sự lãnh đạo của các nhà xuất bản còn nhiều hạn chế Một nguyên nhân nữa là do việc ban hành chính sách, chế

độ, quy định phù hợp với thực tiễn còn chậm

Các vấn đề về QLNN đối với văn hóa, giáo dục được nêu và phân tích ở

một số tài liệu như Quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực [37] của Học viện Hành chính Thứ nhất, về văn hóa: Đối tượng QLNN về văn hóa được xác định

phải giới hạn văn hóa ở một phạm vi hẹp và vào những hoạt động cụ thể của văn hóa Tài liệu cũng nêu các yêu cầu và nội dung QLNN về văn hóa, cấu trúc,

mô hình tổ chức bộ máy quản lý văn hóa Thứ hai, về giáo dục: các quan điểm

phương hướng, chính sách và mục tiêu của nhà nước về giáo dục và đào tạo đã được đưa ra một cách hệ thống và rõ ràng Như vậy, tài liệu này đã hệ thống hóa và xác định quan điểm, chủ trương và định hướng của nhà nước về quản lý văn hóa và giáo dục nói chung Các nội dung, luận điểm của tài liệu mang tính

vĩ mô, tổng quát về toàn ngành mà không cho một đối tượng quản lý cụ thể

Trang 17

Chuyên đề thứ 12 “Công tác quản lý ngành văn hóa thông tin trong giai

đoạn hiện nay, mấy suy nghĩ” trong cuốn Văn hóa Việt Nam mấy vấn đề lý luận

và thực tiễn của GS.TS Nguyễn Chí Bền [5] khái quát nghiên cứu của một số

tác giả về quản lý ngành văn hóa thông tin của Việt Nam và Trung Quốc; phân tích nội dung quản lý, chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và các sản phẩm của ngành văn hóa thông tin; phân tích mô hình và những điểm mạnh, điểm yếu của công cụ quản lý, cơ cấu tổ chức quản lý, đội ngũ cán bộ quản lý, từ đó đề ra những giải pháp đổi mới cơ chế quản lý ngành văn hóa thông tin của Việt Nam

Cuốn Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế của TSKH Phan Hồng Giang và TS Bùi Hoài Sơn (đồng chủ biên)

[31] phân tích khái niệm về văn hóa, quản lý và quản lý văn hóa và mối quan

hệ giữa quản lý văn hóa và một số lĩnh vực chủ yếu như quản lý văn hóa và chính trị, quản lý văn hóa và pháp luật, quản lý văn hóa và kinh tế, quản lý văn hóa và thông tin - truyền thông, quản lý văn hóa và thể thao, quản lý văn hóa

và du lịch, hay quản lý văn hóa và gia đình; giới thiệu kinh nghiệm quản lý văn hóa của một số quốc gia trên thế giới như Anh, Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, Thái Lan, Ôxtrâylia để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; đánh giá thực trạng quản lý văn hóa ở Việt Nam từ khi bắt đầu tiến trình đổi mới (1986) đến nay (2012); đề xuất những quan điểm, giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý văn hóa trong tiến trình đổi mới

và hội nhập quốc tế trong đó có một nhóm giải pháp cho lĩnh vực quản lý hoạt động xuất bản - phát hành - in ấn Như vậy, cuốn sách đã trình bày những lý luận cơ bản về quản lý văn hóa, áp dụng vào thực tiễn quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay

Luận án tiến sĩ Khoa học kinh tế năm 1996: Xuất bản và phát hành sách giáo khoa trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước của tác giả

Trương Bích Châu [17] đi sâu vào nghiên cứu thực trạng xuất bản, phát hành sách giáo khoa nói chung song không tập trung nghiên cứu về quản lý hoạt

Trang 18

động xuất bản, phát hành sách giáo khoa Thời gian nghiên cứu của tác giả cách đây khá lâu (tại thời điểm từ 1995 về trước)

Luận văn thạc sĩ Khoa học kinh tế năm 1999 của tác giả Mạc Văn Thiện

nghiên cứu Giải pháp chủ yếu đổi mới quản lý xuất bản và phát hành sách giáo khoa ở nước ta hiện nay [94] Nội dung của luận văn nghiên cứu về vấn đề quản

lý xuất bản và phát hành sách giáo khoa và đề xuất giải pháp góp phần nâng cao chất lượng quản lý xuất bản và phát hành sách giáo khoa ở nước ta

Luận án tiến sĩ Văn hóa học năm 2008 của tác giả Đỗ Thị Quyên với đề

tài Quản lý thị trường sách ở Việt Nam từ 1993 đến nay [76] đã hệ thống hoá

về mặt lý luận thị trường sách và quản lý thị trường sách trong điều kiện hiện nay; nghiên cứu và đánh giá thực trạng thị trường sách, công trình khẳng định những thành công và hạn chế cơ bản của công tác quản lý thị trường sách hiện nay ở Việt Nam; đưa ra những luận cứ khoa học về xu hướng phát triển của thị trường sách trong những năm tới và đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thị trường sách ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Tác giả đã tổng hợp, phân tích cơ sở lý luận về quản lý thị trường sách

từ một số học thuyết, quan điểm, khái niệm trên thế giới qua các thời kỳ, từ đó, tác giả đưa ra khái niệm quản lý thị trường sách như sau:

Quản lý thị trường sách là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý thông qua hệ thống công cụ và phương pháp để sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống trong môi trường nhằm đạt được các mục tiêu trước mắt và lâu dài [76, tr.23]

Tác giả đã khái quát tình hình quản lý thị trường sách ở Việt Nam trước

1993, đi sâu tìm hiểu thực trạng quản lý thị trường sách giai đoạn 1993 - 2006 Tác giả hệ thống hóa mô hình quản lý thị trường sách từ cấp Trung ương đến địa phương Chính vì có nhiều cấp, nhiều ngành tham gia quản lý dẫn tới trong

Trang 19

quá trình quản lý, có lúc, có nơi còn nhiều bất cập, chưa thật hiệu quả, quản lý còn chồng chéo giữa cơ quan QLNN và cơ quan chủ quản Từ thực trạng nêu trên, tác giả đánh giá những ưu điểm, hạn chế của việc QLNN đối với thị trường sách Đặc biệt, trong 6 điểm hạn chế, đáng lưu ý là hạn chế về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và vấn đề thanh tra, kiểm tra

Luận án tiến sĩ Văn hóa học năm 2011 của tác giả Lê Thị Phương Nga

Nghiên cứu hoạt động quản lý xuất bản sách giáo khoa ở Việt Nam từ năm

1993 đến nay [57] đi sâu nghiên cứu thực trạng quản lý xuất bản sách giáo khoa

giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2007 và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quản lý xuất bản sách giáo khoa ở Việt Nam Qua tổng hợp, phân tích và nghiên cứu cơ sở lý thuyết, tác giả đã định nghĩa về quản lý sách giáo khoa Tác giả đã đưa ra hệ thống giải pháp nhằm giải quyết một số vấn đề nổi cộm như: giải pháp chống độc quyền xuất bản sách giáo khoa; xiết chặt thanh tra, kiểm tra và tăng mức xử phạt hành chính; chuẩn hóa chất lượng sách giáo khoa; cải tiến cách thức tổ chức xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa

Luận án tiến sĩ Kinh tế Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản ở Việt Nam năm 2015 [101], tác giả Nguyễn Anh Tú đã trình bày khái niệm và

đặc điểm hoạt động xuất bản; phân tích các loại hình XBP theo các khái niệm quy chiếu từ Luật Xuất bản 2004, Luật Xuất bản 2012, “điều 1 Nghị định của Chính phủ năm 2005” [101, tr.26] và giáo trình lý luận nghiệp vụ xuất bản của Trung Quốc Trong đó, XBPAN được nhắc đến như một loại hình không mấy chính thống, “bổ sung” bởi cụm từ “Ngoài ra” trong câu “Ngoài ra xuất bản

phẩm còn bao gồm các hình thức xuất bản phẩm khác như: băng, đĩa nhạc, hình (cả băng ghi âm, đĩa hát, đĩa lade, băng ghi hình, đĩa VCD và DVD)” [101,

tr.26] Từ các căn cứ cơ sở lý luận, tác giả đã phân tích và đưa ra khái niệm về QLNN đối với XBP Các lập luận, nghiên cứu của tác giả tập trung chủ yếu vào khía cạnh quản lý kinh tế - quản lý sản xuất kinh doanh trong QLNN đối với hoạt động xuất bản mà chủ thể quản lý bao gồm cả các cơ quan lập pháp, hành

Trang 20

pháp và tư pháp Tác giả đã nêu 3 hạn chế cơ bản của việc quản lý đối với hoạt động xuất bản, trong đó đáng chú ý là điểm yếu trong sự phối hợp trong công tác quản lý giữa các cơ quan Đảng với Nhà nước và các tổ chức xã hội nghề nghiệp, giữa các cơ quan cùng hệ thống Tác giả đã chỉ ra 4 nguyên nhân chủ quan, 3 nguyên nhân khách quan dẫn đến các hạn chế trong việc quản lý mà một trong những nguyên nhân là do tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng

công nghệ thông tin gây ra

Cuốn Giáo dục mầm non - Những vấn đề lý luận và thực tiễn của

PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết [103] nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến học liệu, đồ dùng, đồ chơi trong chăm sóc, giáo dục trẻ Phần V “Giáo dục thẩm mỹ” tác giả phân tích sâu hơn về vai trò, mục đích, ý nghĩa của âm nhạc với trẻ thơ cũng như quan điểm về giáo dục âm nhạc cho trẻ Tác giả đã chỉ ra những tác động tích cực của âm nhạc khi được nghe hát ru, học hát, làm quen với tiết tấu, vận động theo nhạc và đặt vấn đề cho trẻ em ở những gia đình có điều kiện học một số nhạc cụ Qua phần trình bày tại phần V của cuốn sách, tác giả đã đặt XBPAN trong vai trò là một thành phần để trẻ em có thể tiếp cận với âm nhạc một cách thuận lợi nhất

Cuốn sách 60 năm giáo dục mầm non Việt Nam do CN Phạm Thị Sửu

chủ biên [83] tổng hợp khái quát quá trình hình thành và phát triển giáo dục mầm non giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2006 Cuốn sách đã hệ thống các quan điểm, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực trạng QLNN đối với lĩnh vực GDMN qua từng thời kỳ XBPAN dành cho cấp học mầm non được liệt kê trong cuốn sách từ những ngày đầu hình thành cấp học một cách khá cụ thể, chi tiết

Trong cuốn Tổ chức hoạt động âm nhạc cho trẻ mầm non theo hướng tích hợp do TS Lê Thu Hương chủ biên [41], các tác giả hướng dẫn giáo viên

sử dụng từng học liệu, đồ dùng, đồ chơi âm nhạc vào từng hoạt động cụ thể

Tương tự, các cuốn sách Hướng dẫn tổ chức thực hiện Chương trình giáo dục

Trang 21

mầm non (từng cuốn cho từng độ tuổi: 3-36 tháng tuổi; 3-4 tuổi; 4-5 tuổi; 5-6 tuổi) của các tác giả TS Trần Thị Ngọc Trâm - TS Lê Thu Hương - PGS.TS

Lê Thị Ánh Tuyết (Đồng Chủ biên) [97] cũng chỉ đề cập đến việc sử dụng từng XBP đó vào các hoạt động cụ thể như thế nào

Từ việc tìm hiểu nghiên cứu của các tác giả đi trước liên quan đến QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non, có thể thấy một số điểm chính như sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã tìm hiểu, thống kê, hệ thống hóa

nhiều khái niệm về vấn để quản lý, một số tài liệu nghiên cứu lý thuyết, phương thức quản lý của một số nước trên thế giới, để xây dựng các khái niệm tùy theo từng lĩnh vực, nội dung và góc độ nghiên cứu khác nhau đối với việc QLNN đối với XBP như: khái niệm về QLNN đối với thị trường sách, thị trường xuất bản phẩm, sách giáo khoa, hoạt động xuất bản Các khái niệm này

là một trong những kết quả quan trọng để nhận diện đối tượng nghiên cứu một cách khoa học và bảo đảm mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn nghiên cứu Một số tài liệu trình bày quan điểm lý thuyết về QLNN đối với cấp học mầm non và đối với XBP sử dụng trong cơ sở GDMN, với việc học

âm nhạc của trẻ mầm non Bên cạnh đó, hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định XBP là một loại sản phẩm đặc biệt bởi nó chứa đựng cả giá trị vật chất, giá trị sử dụng và giá trị tinh thần; XBP biểu hiện mối liên hệ kinh

tế - văn hóa - giáo dục Chính vì vậy, đây là một trong những đối tượng quản

lý mang tính chất đặc thù, đa dạng và phức tạp Các nghiên cứu này là một phần quan trọng giúp NCS đánh giá vai trò của XBPAN dành cho cấp học mầm non cũng như tìm hiểu phương pháp, cách thức quản lý phù hợp đối với loại hình XBP đặc biệt này

Thứ hai, các tác giả thường tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực tiễn QLNN

đối với đối tượng quản lý theo một cấu trúc khá phổ biến: Quan điểm, định hướng - Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật - Tổ chức thực hiện - Thanh

Trang 22

tra, kiểm tra, đánh giá Từ đó, đánh giá những mặt mạnh, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế Cấu trúc này khá chặt chẽ và khoa học mà từ đó có thể rà soát một cách tổng thể nhất nhưng cũng lại rất cụ thể đối với từng lĩnh vực nghiên cứu về toàn bộ hoạt động xuất bản hoặc về một vài khâu nào đó trong chuỗi xuất bản Từ tìm hiểu thực trạng QLNN đối với lĩnh vực nghiên cứu, một số tác giả đã khái quát hóa thành các mô hình QLNN đối với đối tượng quản lý thuộc phạm vi nghiên cứu Các mô hình này sẽ phản ánh một phần nào

đó những điểm mạnh và lỗ hổng/điểm yếu trong cơ cấu tổ chức quản lý Mỗi

số liệu, mỗi nhận định, đánh giá thực trạng QLNN đối với các đối tượng liên quan đến hoạt động xuất bản là những kết quả tiền đề quý giá để có thể áp dụng vào những nghiên cứu tiếp theo sâu hơn, chi tiết hơn cho một đối tượng quản

lý hẹp hơn về lĩnh vực xuất bản nhưng lại mở rộng phạm vi quản lý sang lĩnh vực văn hóa, giáo dục, đó là XBPAN dành cho cấp học mầm non

Thứ ba, mỗi nghiên cứu đều đưa ra một hệ thống giải pháp nâng cao chất

lượng QLNN đối với đối tượng nghiên cứu, cụ thể là nâng cao chất lượng quản

lý đối với thị trường sách, thị trường xuất bản phẩm, sách giáo khoa, hoạt động xuất bản Mỗi hệ thống giải pháp chứa đựng những nội dung vĩ mô (QLNN hầu như xuất phát từ quan điểm, định hướng mang tính vĩ mô), thêm vào đó là những giải pháp rất cụ thể, giải quyết những bất cập mà kết quả nghiên cứu đã nêu ra Đây là những đề xuất quan trọng giúp NCS có căn cứ để áp dụng vào việc xây dựng một hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non

Đối chiếu với việc QLNN đối với XBPAN dành cho cấp học mầm non, NCS nhận thấy còn có một số điểm còn trống như sau:

Các nghiên cứu đã tập trung vào các vấn đề về QLNN đối với hoạt động xuất bản dưới góc độ quản lý kinh tế, xã hội, quản lý đội ngũ tham gia vào hoạt động xuất bản và quản lý một số loại hình XBP như sách, sách giáo khoa Toàn

bộ các nghiên cứu trước đó đều chưa đề cập tới việc quản lý XBPAN như một

Trang 23

đối tượng quản lý độc lập Ví dụ, Luận án tiến sĩ văn hóa học năm 2008 của tác

giả Đỗ Thị Quyên với đề tài Quản lý thị trường sách ở Việt Nam từ 1993 đến nay [76] Tác giả tập trung vào XBP dạng sách mà sách là một trong các loại

hình XBP âm nhạc Tuy nhiên, ngoài sách, XBPAN còn có nhiều loại hình khác Luận án tiến sỹ Văn hóa học năm 2011 của tác giả Lê Thị Phương Nga

Nghiên cứu hoạt động quản lý xuất bản sách giáo khoa ở Việt Nam từ năm

1993 đến nay [57] Mặc dù sách giáo khoa là một trong các loại hình XBP phục

vụ trong nhà trường nhưng XBPAN dành cho cấp học mầm non không phải là sách giáo khoa mà chỉ được coi là tài liệu tham khảo hoặc đồ dùng, đồ chơi, học liệu phục vụ tổ chức hoạt động âm nhạc cho trẻ lứa tuổi mầm non

Mỗi hoạt động xuất bản, mỗi loại hình XBP đều có đặc trưng riêng và cũng cần có những phương pháp, cách thức quản lý khác nhau Quản lý XBPAN dành cho cấp học mầm non không chỉ dựa trên cơ sở lý luận về quản

lý kinh doanh sản xuất, cũng không chỉ tiếp cận theo cách quản lý một sản phẩm làm công cụ hỗ trợ quá trình dạy - học nhằm hướng tới đạt mục tiêu giáo dục Đây là đối tượng quản lý đa chức năng, nó vừa là hàng hóa - sản phẩm của quá trình xuất bản, vừa là sản phẩm nghệ thuật lại vừa là đối tượng sử dụng vào mục đích giáo dục cụ thể Những quan điểm, nhận thức về việc học âm nhạc cấp học mầm non sẽ giúp xác định đáp án cho các câu hỏi quản lý ai? (tổ chức,

cá nhân tham gia vào hoạt động xuất bản, in, phát hành và sử dụng XBPAN), quản lý cái gì? (XBPAN dành cho cấp học mầm non) và quản lý như thế nào? (phương pháp, cách thức, mô hình QLNN đối với XBPAN)

Các tài liệu nêu trên cho thấy mỗi nghiên cứu đều có những phạm vi nhất định, có tài liệu nghiên cứu về việc QLNN đối với hoạt động xuất bản theo góc

độ quản lý kinh tế đối với việc sản xuất, xuất nhập khẩu XBP; có tài liệu nghiên cứu về QLNN đối với thị trường sách - cung cầu sách Mặc dù XBPAN đã nằm đâu đó trong các đối tượng quản lý XBP, vấn đề quản lý xuất bản và sử dụng XBPAN hầu như chưa được đề cập tới trong các công trình nghiên cứu, mà đây

Trang 24

lại là khâu phản ánh đầy đủ nhất mối liên hệ giữa cung và cầu, phản ánh hiệu quả, mức độ đáp ứng nhu cầu của người sử dụng sản phẩm xuất bản

Hiện nay, nguồn kinh phí đầu tư mua sắm trang thiết bị, học liệu, đồ dùng

đồ chơi cấp học mầm non chủ yếu từ nhà nước, thêm vào đó là một số nguồn kinh phí khác từ địa phương, từ nguồn xã hội hóa giáo dục, chương trình dự án

và một số nguồn hợp pháp khác Ngoài một số văn bản quy định về tiêu chuẩn

kỹ thuật, số lượng, hình thức, nội dung XBP sử dụng cho lứa tuổi mầm non, việc mua sắm trang thiết bị, học liệu, đồ dùng đồ chơi, hầu như việc sử dụng chúng nói chung, sử dụng XBPAN dành cho cấp học mầm non nói riêng chỉ được đề cập đến thông qua một số tài liệu hướng dẫn chuyên môn mà chưa có công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về việc QLNN đối với các XBP này

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý và mô hình quản lý

1.2.1 Những vấn đề lý luận về quản lý

Quản lý là một hoạt động tất yếu khách quan của một hoặc nhiều nhóm người làm việc với nhau để thực hiện một công việc chung hoặc nhằm đạt một mục tiêu chung nhất định Hoạt động quản lý ra đời khi xã hội loài người xuất hiện và phát triển từng bước từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Nhu cầu và trình độ quản lý ngày càng tăng cùng với sự phát triển mạnh của các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ và sự phân công lao động xã hội trên phạm vi quốc gia và thế giới Để quản lý trở thành một khoa học, nó đã trải qua một quá trình lâu dài với sự ra đời và phát triển của tư tưởng quản lý trong các giai đoạn lịch sử

Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trên thế giới đã đưa ra các quan điểm khác nhau về quản lý Các trường phái quản

lý học đã đưa ra những định nghĩa, quan điểm về quản lý như:

Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc

gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm "

Trang 25

Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch,

tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện

kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát ấy”

Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định" [31, tr.22] Trong các định nghĩa trên cần lưu ý một số điểm sau:

Quản lý phải có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Trong đó phải có

ít nhất một chủ thể quản lý và ít nhất một đối tượng bị quản lý chịu các tác động của các chủ thể quản lý và các khách thể có quan hệ gián tiếp với chủ thể quản

lý Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là nhiều lần

Quản lý phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng bị quản lý và chủ thể quản lý Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể quản lý tạo ra các tác động

Chủ thể quản lý phải thực hiện việc tác động Vì vậy, sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với các qui luật khách quan

Chủ thể quản lý có thể là một hay nhiều người Đối tượng bị quản lý có thể là con người hoặc sản phẩm của con người tạo ra Khách thể là các yếu tố tạo nên môi trường của hệ thống

Về cơ bản, các quan điểm quản lý qua các giai đoạn lịch sử đều thể hiện nội dung: Quản lý là một hoạt động trong đó nhân tố trung tâm của quản lý là con người (con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quản lý) và những đối tượng, những quan hệ ràng buộc, liên quan trong môi trường của hệ thống Quản lý đồng thời cũng là một khái niệm chỉ chức năng của các hệ thống có tính tổ chức nhằm bảo vệ và duy trì các cơ cấu xác định của một tổ chức, duy trì chế độ hoạt động thực hiện một chương trình và một mục đích của hoạt động

đã được ý thức hoá của một nhóm người, một tổ chức xã hội hay một cá nhân nào đó với tư cách là một chủ thể của hoạt động quản lý

Trang 26

Theo A.A Ragudin [80], quản lý của nhà nước đối với văn hóa là sự tác động chỉ huy và quản lý đối với hoạt động kinh tế trong văn hóa, trong điều kiện nhà nước là chủ thể Lịch sử nhân loại chứng minh rằng việc tham gia này (nghĩa là về mặt kinh tế) là cần thiết, nhưng vấn đề là ở chỗ mức độ và hình thức tham gia như thế nào để bảo đảm mối cân bằng giữa việc lãnh đạo của nhà nước với việc tự quản của đơn vị văn hóa Hình thức và mức độ đó tùy thuộc vào điều kiện thực tế của nền văn hóa trong một xã hội và một hoàn cảnh lịch

sử cụ thể Đối với chủ thể muốn tìm tòi (nhà nghiên cứu văn hóa học, nhà nhân loại học văn hóa…), biện pháp và mức độ tham gia của nhà nước vào công việc quản lý kinh tế trong văn hóa là đối tượng nghiên cứu quan trọng hàng đầu của một nền văn hóa cụ thể

Quản lý không đơn giản chỉ là khái niệm, nó là sự kết hợp của ba phương diện:

Thứ nhất, thông qua tập thể để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân Thứ hai, điều hòa quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn

giữa hai bên

Thứ ba, tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, thông qua hỗ trợ để làm

được những việc mà một cá nhân không thể làm được, thông qua hợp tác tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân, giá trị tập thể [31, tr.24] Khi quản lý với tư cách là một khoa học thì quản lý dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tự nhiên hay xã hội của các đối tượng khác nhau Mục đích, nội dung, cơ chế và phương pháp quản lý xã hội tùy thuộc vào chế độ chính trị

- xã hội Các hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch của những tập thể lớn hay nhỏ của con người và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt

Từ các vấn đề nêu trên, có thể hiểu QLNN đối với XBPAN là một quá trình tác động của nhà nước lên đối tượng quản lý (các doanh nghiệp xuất bản,

in, phát hành, các cơ sở GDMN, XBPAN và các yếu tố liên quan đến quá trình

Trang 27

sản xuất, phát hành và sử dụng các XBP này) và khách thể quản lý (các yếu tố giáo dục, kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và mối quan hệ ràng buộc, tương tác giữa các đối tượng bị quản lý với nhau và giữa họ với chủ thể quản lý)

Như vậy, QLNN đối với XBPAN gồm ba yếu tố cơ bản là cơ chế, điều kiện quản lý và nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực) Sự tác động của Nhà nước lên các đối tượng quản lý là một quá trình liên tục, xuyên suốt gắn liền với quá trình xuất bản, phát hành và sử dụng XBPAN dành cho cấp học mầm non Quá trình đó được thực hiện và điều chỉnh thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách phát triển giáo dục mầm non Đồng thời, Nhà nước thông qua bộ máy quản lý các cấp sử dụng các công cụ, hình thức, biện pháp quản lý phù hợp để đạt tới mục tiêu quản lý loại hình XBP đặc thù này

1.2.2 Một số mô hình quản lý

Trên thế giới có nhiều quan điểm, học thuyết về mô hình quản lý con người, quản lý doanh nghiệp Mô hình quản trị nhân sự lấy thuyết nhu cầu Maslow làm nền tảng, đó là các nhu cầu về sự an toàn, về tinh thần, giao tiếp

xã hội, được tôn trọng và khẳng định bản thân Mô hình quản trị nhân sự theo thuyết X-Y của Douglas McGregor trong đó thuyết X có cái nhìn tiêu cực vào người lao động nhưng thuyết Y lại quá lạc quan về người lao động Mô hình quản trị nhân sự kiểu Nhật của William Ouchi hay còn gọi là thuyết Z Thuyết

Z chú trọng vào việc gia tăng sự trung thành của người lao động với công ty bằng cách tạo ra sự an tâm và mãn nguyện cho họ cả trong và ngoài thời gian làm việc

Trong quản lý doanh nghiệp, có thể kể đến các mô hình Balanced scorecard, 5S, TQM Tuy nhiên, các mô hình quản lý doanh nghiệp còn có nhiều tên gọi khác nhau Các mô hình hoàn chỉnh và phức tạp thường được gọi

là tiêu chuẩn (Ví dụ ISO 9001:2015, là bộ tiêu chuẩn quốc tế “Hệ thống quản

lý chất lượng - Các yêu cầu” được ban hành bởi Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc

tế ISO - International Organization for Standardization Bộ tiêu chuẩn ISO

Trang 28

9001:2015 được ban hành dựa trên tổng kết các kiến thức và kinh nghiệm quản

lý chất lượng tiên tiến của thế giới), các mô hình đơn giản hơn được gọi là qui tắc (Ví dụ qui tắc 5S Tiếng Nhật là Seri, Seiton, Seiso, Seiketsu và Shitsuke Tiếng Anh là Sort, Set in order, Standardize, Sustaint và Self-Discipline Trong tiếng Việt có thể hiểu là Sàng lọc, Sắp xếp, Sạch sẽ, Săn sóc, Sẵng sàng), hoặc phương pháp (Ví dụ hệ phương pháp sáu Sigma Hệ phương pháp này dựa trên tiến trình mang tên DMAIC: Define - Xác định, Measure - Đo lường, Analyze

- Phân tích, Improve - Cải tiến và Control - Kiểm soát)

Tổng hợp từ các quan điểm, cách thức, phương pháp quản lý của từng thời kỳ, từng chế độ khác nhau, có thể khái quát thành một số mô hình quản lý điển hình như sau:

1.2.2.1 Mô hình quản lý từ trên xuống và Mô hình quản lý từ dưới lên

Mô hình quản lý từ trên xuống (Top down) hay còn gọi là Mô hình Kim

tự tháp là một mô hình quản lý truyền thống khá phổ biến Đỉnh tháp là nhà quản lý có quyền lực cao nhất và quyền ra quyết định Các cấp bên dưới thừa hành và chịu trách nhiệm thực thi những mệnh lệnh từ cấp trên Cấp quản lý cao nhất thường nắm trọn các quyết định chiến luợc quan trọng như định hướng, hoạch định, xây dựng chính sách, chỉ đạo vĩ mô Cấp trung gian hầu như chỉ là người tiếp nhận và triển khai các nhiệm vụ từ cấp quản lý cao nhất xuống cấp dưới Trên thực tế, đối tượng quản lý là người thực thi nhiệm vụ từ cấp lãnh đạo cao hơn sau khi đã được triển khai đầy đủ và rõ ràng của cấp trung gian

Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý từ trên xuống

Trang 29

Quản lý theo cách tiếp cận từ trên xuống có ưu điểm là mang tính tập trung cao Các quan điểm, định hướng chiến lược và nhiệm vụ cụ thể mà cấp quản lý đưa ra sẽ được áp dụng trực tiếp từ cấp cao nhất đến toàn hệ thống, cấp thực thi xây dựng các chính sách và kế hoạch hành động cần thiết để đạt được các mục tiêu chiến lược và vượt qua các cấp quản lý và giám sát

Điểm yếu của mô hình này là mang nặng tính áp đặt, chủ quan, từ đó làm tăng tính thụ động, hạn chế sự chủ động, tích cực của cấp dưới và khó tránh khỏi việc quản lý, chỉ đạo xa rời thực tế bởi thiếu tính tương tác từ dưới lên

Mô hình quản lý từ dưới lên (Bottom up) hay còn gọi là Mô hình Kim tự tháp ngược, là một phép ẩn dụ, đảo ngược cách quản lý truyền thống Cụ thể, phía trên của kim tự tháp là đối tượng quản lý sẽ được đặt ở khu vực cao nhất Các quản lý cấp cao hơn xếp ở vị trí thấp hơn trên kim tự tháp ngược này

Trong mô hình này, cấp dưới sẽ được trao quyền, được quyết định và tự chịu trách nhiệm trong các hoạt động của mình Nhà quản lý các cấp sẽ đóng vai trò định hướng, hỗ trợ, cố vấn hay hướng dẫn, kiểm tra

Sơ đồ 1.2: Mô hình quản lý từ dưới lên

Với cách tiếp cận mô hình này, đối tượng quản lý phải rất chủ động trong hoạt động của mình thay vì thụ động làm theo hướng dẫn của nhà quản lý Họ cũng cần nắm được định hướng, chủ trương và quan điểm của cấp trên, và vai trò của họ trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ mà mình đảm trách Nhà quản

Trang 30

lý là người chủ động trong việc nắm bắt khả năng, nhu cầu, mong muốn của cấp dưới, của đối tượng quản lý để định hướng, điều chỉnh mục tiêu chiến lược

Về lý thuyết, mô hình này giúp cho việc tổ chức, vận hành và quyết định nhanh hơn, linh hoạt và hiệu quả hơn Với cách tiếp cận tổ chức từ dưới lên như vậy, việc hoạch định, xây dựng và phát triển chính sách, kế hoạch và phương hướng sẽ xuất phát từ ý tưởng, đề xuất và giải pháp được đóng góp từ mọi tầng lớp, đối tượng trong hệ thống, khuyến khích sự tham gia của mọi tập thể, cá nhân vào quá trình ra quyết định, giải quyết vấn đề và lập kế hoạch chiến lược

Tuy nhiên, một trong những khó khăn khi áp dụng mô hình Kim tự tháp ngược là nó đòi hỏi rất cao sự tự giác, khả năng và kiến thức của đối tượng quản lý, người thực thi nhiệm vụ; nhà quản lý cấp cao phải có tầm nhìn chiến lược, có sự tin tưởng gần như tuyệt đối các cấp dưới sự quản lý của mình và phải tạo điều kiện tối đa để họ có thể phát huy năng lực bản thân

1.2.2.2 Mô hình quản lý trực tuyến và mô hình quản lý theo chức năng

Mô hình quản lý trực tuyến (Dimensional Management Model) là mô hình đơn giản nhất, trong đó có cấp quản lý cấp cao nhất và phân tuyến quản lý cấp dưới đối với các đối tượng quản lý khác nhau Cơ cấu này tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chế độ thủ trưởng, người lãnh đạo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả công việc của người dưới quyền

Sơ đồ 1.3: Mô hình quản lý trực tuyến

Trang 31

Đặc điểm cơ bản của mô hình này là người lãnh đạo thực hiện toàn bộ các chức năng quản lý, hoàn toàn chịu trách nhiệm về hệ thống mình phụ trách Còn người thực hiện nhiệm vụ thì chỉ nhận lệnh một người phụ trách và chỉ thi hành lệnh của người đó mà thôi

Mô hình này có ưu điểm là bộ máy gọn nhẹ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chế độ một thủ trưởng, nhưng nhược điểm của nó là nó đòi hỏi người lãnh đạo phải có kiến thức toàn diện, tổng hợp, đồng thời cơ cấu này làm hạn chế việc sử dụng các chuyên gia hay người tham mưu có trình độ cao theo chuyên môn Do đó, kiểu cơ cấu này chỉ nên áp dụng cho các tổ chức có quy

mô nhỏ và việc quản lý không quá phức tạp

Đối với mô hình quản lý theo chức năng (Function-based Management Model), nhiệm vụ quản lý được phân chia cho các bộ phận riêng biệt theo các chức năng quản lý, mỗi bộ phận đảm nhiệm một hay một số chức năng nhất định

Với cách tiếp cận này sẽ hình thành nên người lãnh đạo được chuyên môn hoá, chỉ đảm nhận thực hiện một số chức năng nhất định Mối liên hệ giữa các thành viên trong tổ chức rất phức tạp và chịu sự lãnh đạo của nhiều thủ trưởng So với mô hình quản lý trực tuyến, mô hình quản lý theo chức năng sẽ giúp người lãnh đạo chia bớt công việc cho người cấp dưới

Sơ đồ 1.4: Mô hình quản lý theo chức năng

Trang 32

Mô hình này có ưu điểm là có sự phân công, phân nhiệm trong quản lý, tránh chồng chéo trong việc quản lý thực hiện nhiệm vụ, thu hút được các chuyên gia vào công tác lãnh đạo, sử dụng tốt cán bộ hơn, phát huy tác dụng của người chuyên môn, giảm bớt gánh nặng cho người lãnh đạo Điểm hạn chế của mô hình quản lý trực tuyến là đối tượng quản lý càng có nhiều chức năng thì càng phải chịu sự quản lý của nhiều cấp, nhiều phía Bên cạnh đó, mô hình này cũng làm suy yếu chế độ thủ trưởng, như vậy các định hướng chiến lược, hoạch định chính sách cũng như các quyết định giải quyết tình huống đối với đối tượng quản lý sẽ gặp nhiều khó khăn hơn

1.2.2.3 Mô hình quản lý tập trung và mô hình quản lý phân cấp

Mô hình quản lý tập trung (Centralized Management Model) hay còn gọi

là mô hình Tập trung quyền, là mô hình tập trung mọi thứ về một trung tâm cao nhất Trung tâm này có thể coi là đầu não để ra các quyết định quản lý, hoạt động cho toàn bộ hệ thống

Mô hình quản lý tập trung có nét khá giống với mô hình quản lý từ trên xuống (Top down), nhưng khác ở chỗ, vai trò trung gian của mô hình quản lý tập trung mờ nhạt hơn nhiều, thậm chí là không có vai trò gì so với vai trò trung gian của mô hình quản lý từ trên xuống

Về mặt chiến lược, mô hình này giúp đảm bảo sự nhất quán trong chiến lược phát triển, đồng bộ trong chính sách quản lý, không có sự chồng chéo, các quyết sách đưa ra đều là duy nhất tạo hoạt động xuyên suốt, ít trở ngại, tránh rắc rối khi có nhiều dị bản, hạn chế các hoạt động phân tán, đầu tư dàn trải và riêng lẻ Một ưu điểm nữa của mô hình này là việc cập nhật thông tin từ trên xuống nhanh chóng và chính xác, do chỉ cần kết nối với trung tâm là được, tình trạng “tam sao thất bản” sẽ được hạn chế tối đa

Tuy nhiên, mô hình này sẽ tạo sức nặng lớn cho bộ máy quản lý trung tâm, khó phát huy được khả năng, năng lực của cấp dưới Ngoài ra, khi trung tâm đầu não gặp vấn đề thì toàn bộ hệ thống bị tê liệt

Trang 33

Mô hình quản lý phân cấp (Decentralized Management Model) là việc phân cấp, phân quyền cho từng bộ phận quản lý thấp hơn xử lý, thực hiện

So với mô hình quản lý từ trên xuống, mô hình quản lý phân cấp sẽ phân quyền cụ thể hơn cho quản lý cấp dưới (cấp trung gian) So với mô hình quản

lý theo chức năng, ngoài việc quản lý theo chức năng, mô hình quản lý phân cấp còn thực hiện việc quản lý theo quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp

Mô hình quản lý phân cấp có ưu điểm là mỗi cấp quản lý sẽ xác định rõ trách nhiệm của mình trong việc quản lý đối tượng và chủ động hơn trong việc quản lý, điều hành, điều hướng cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Mỗi cấp, mỗi bộ phận thành phần chỉ có ảnh hưởng nhau một cách hạn chế, nếu một bộ phận gặp vấn đề thì chỉ ảnh hưởng một cụm xung quanh nó hoặc ảnh hưởng đến việc triển khai các nội dung tương đồng, còn các nơi khác, các nội dung khác vẫn có thể tiếp tục triển khai hoạt động

Sơ đồ 1.5: Mô hình quản lý phân cấp

Hạn chế của mô hình này là dễ bị xảy ra tình trạng chồng chéo giữa bộ phận (chức năng) này với bộ phận khác trong cùng cấp quản lý, có thể có nhiều

bộ phận cùng làm một việc và bị thừa, trùng lặp Một hạn chế không nhỏ của mô hình này nữa là các nội dung quản lý chỉ đạo từ trên xuống qua các cấp dễ bị xảy

ra tình trạng “tam sao thất bản”, phản hồi từ dưới lên gặp nhiều khó khăn

Trang 34

1.2.3 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non

1.2.3.1 Xuất bản phẩm âm nhạc

Mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau hay mỗi thể chế xã hội khác nhau, nền

kinh tế, văn hóa, xã hội, công nghệ sản xuất khác nhau, khái niệm xuất bản sẽ

có nội hàm khác nhau Có quan niệm cho rằng xuất bản là hoạt động tổ chức

nội dung, hình thức, in ấn và phổ biến các ý tưởng dưới dạng văn bản như sách, báo, tạp chí, hay tồn tại dưới dạng công nghệ hiện đại hơn, là những cuốn sách điện tử ghi trong đĩa CD (Conpact Disc - đĩa mềm), trên mạng Internet để đông đảo công chúng có thể tiếp cận được Ý tưởng ở đây có thể là một tập thơ, một tập truyện ngắn, một bộ sách khoa học… Nơi tổ chức thực hiện quy trình đó để xuất bản các ấn phẩm chính là nhà xuất bản, các công ty sách

Theo Khoản 1, Điều 4 Luật Xuất bản năm 2012:

Xuất bản là việc tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành bản mẫu để

in và phát hành hoặc để phát hành trực tiếp qua các phương tiện điện tử [24]

Theo Từ điển xuất bản [105]: Xuất bản là hoạt động thuộc lĩnh vực văn

hóa tư tưởng thông qua việc sản xuất, phổ biến xuất bản phẩm đến nhiều người

Theo Khoản 4, Điều 4 Luật Xuất bản năm 2012:

Xuất bản phẩm là tác phẩm, tài liệu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã

hội, giáo dục và đào tạo, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật được xuất bản thông qua nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được cấp giấy phép xuất bản bằng các ngôn ngữ khác nhau, bằng hình ảnh,

âm thanh và được thể hiện dưới các hình thức sau đây:

Trang 35

Xuất bản điện tử là việc tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành

bản mẫu và sử dụng phương tiện điện tử để tạo ra XBP điện tử [24]

XBP điện tử là XBP quy định tại các điểm a, c, d, đ khoản 4 Điều này

(tức là tất cả XBP, trừ sách chữ nổi - NCS) được định dạng số và đọc, nghe, nhìn bằng phương tiện điện tử

Như vậy, XBP là sản phẩm của một quá trình sản xuất, chứa đựng tri thức, truyền tải thông tin, có giá trị vật chất và giá trị tinh thần

Đối với nhiều người ở nhiều nền văn hóa, âm nhạc là một phần quan trọng trong cách sống của họ Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ xác định âm nhạc là giai điệu theo chiều ngang và hòa âm theo chiều dọc Điều đó cho thấy âm nhạc thường có tổ chức và dễ nghe Tuy nhiên, nhà soạn nhạc thế

kỷ XX người Mỹ John Cage cho rằng bất kỳ âm thanh nào cũng có thể là âm nhạc Theo ông thì không có tiếng ồn, chỉ có âm thanh Nhà âm nhạc học Jean-Jacques Nattiez cho rằng khoảng cách giữa nhạc và tiếng ồn này không phải lúc nào cũng giống nhau, rất hiếm khi có một sự đồng thuận về định nghĩa âm nhạc, bởi không có khái niệm đơn giản và phổ quát về âm nhạc của bất kỳ nền văn hóa nào

Theo Từ điển tiếng Việt (Ngọc Lương chủ biên), “Âm nhạc là nghệ thuật

dùng âm thanh làm phương tiện để diễn đạt tư tưởng và tình cảm” [51]

Có thể xác định khái niệm “âm thanh” một cách sơ lược như sau: Âm thanh là những tiếng động do các vật thể va chạm với nhau mà tai chúng ta

nghe được Nói cách khác, âm thanh là một trong những hiện tượng vật lý được

tạo ra do chấn động Vật gây ra chấn động tạo ra âm thanh được gọi là nguồn

âm Những tiếng động chúng ta thường nghe trong cuộc sống như: tiếng xe chạy, tiếng mèo kêu, tiếng xào xạc của gió, tiếng tích tắc của đồng hồ… Khi nghe tiếng động, các dây thần kinh âm thanh tai người sẽ cảm nhận theo hướng khó chịu hoặc dễ chịu Qua sáng tạo của con người, tất cả các âm thanh đều có thể trở thành âm thanh âm nhạc

Trang 36

Âm nhạc là một môn nghệ thuật phối hợp âm thanh theo những quy luật nhất định Âm nhạc bắt nguồn từ đời sống lao động của con người, từ những

âm thanh trong cuộc sống, nó phản ánh tư tưởng, tình cảm, xúc cảm của con người Âm nhạc được tạo thành bởi bốn thuộc tính cơ bản, đó là cao độ (độ cao, thấp của âm thanh), trường độ (độ dài, ngắn của âm thanh), cường độ (độ mạnh, nhẹ của âm thanh), và âm sắc (hay còn gọi là màu âm - là sự khác biệt về giọng hát, loại/chất liệu của nhạc cụ; khác biệt về giai điệu, hòa âm, phối khí) Ngoài

ra, tốc độ cũng là yếu tố quan trọng trong việc diễn tả âm nhạc

Đối với giáo dục, âm nhạc là một yếu tố tham gia vào việc hình thành những

cơ sở của văn hóa âm nhạc: hiểu biết, cảm thụ âm nhạc và tham gia vào các hoạt động âm nhạc là những hoạt động chủ yếu của người học đối với âm nhạc

Khái niệm âm nhạc trong Chương trình giáo dục mầm non được hiểu một cách đơn giản, cụ thể, và xác định cho hai đối tượng là giáo viên và trẻ em Đối với trẻ em, âm nhạc là những bài hát ngắn gọn, vui tươi, có nội dung, hình ảnh gần gũi, ngộ nghĩnh, những con vật, cây cối, hoa lá được nhân cách hóa; là những âm hình tiết tấu ngắn, đơn giản Đối với giáo viên, âm nhạc là những kiến thức âm nhạc cơ bản, những bài hát, bản nhạc cho giáo viên sử dụng vào các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ

Từ những khái niệm nêu trên, có thể thấy XBPAN là toàn bộ sản phẩm của quá trình xuất bản liên quan đến lĩnh vực âm nhạc, bao gồm:

Thứ nhất, là sản phẩm in ấn các bài hát, bản nhạc, các nghiên cứu, hướng

dẫn, giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu, học liệu có thể là sách in thông thường

hoặc in chữ nổi thuộc lĩnh vực âm nhạc (theo Điều 2 Luật Lưu trữ 2011: Tài

liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân Tài liệu bao gồm văn bản, dự án, bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu, sổ sách, biểu thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghi hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ công tác, nhật ký, hồi ký, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in;

Trang 37

ấn phẩm và các vật mang tin khác Học liệu là các phương tiện vật chất lưu giữ, mang hoặc phản ánh nội dung học tập của môn học thuộc chương trình giáo dục được người học sử dụng làm phương tiện và nguồn để học tập theo mục tiêu và nội dung của chương trình và được giáo viên sử dụng làm căn cứ để tổ chức, hỗ trợ học tập theo đúng mục tiêu và nội dung dạy học);

Thứ hai, là đồ dùng, đồ chơi, áp-phích, tờ rời, tờ gấp, tranh, ảnh chứa

đựng các nội dung, kiến thức âm nhạc, hoặc để sử dụng cho việc tổ chức các hoạt động âm nhạc;

Thứ ba, là băng, đĩa tiếng/hình chứa đựng các bài hát, bản nhạc, giới

thiệu các tác phẩm âm nhạc, hướng dẫn, giảng dạy kiến thức âm nhạc;

Thứ tư, là các chương trình ca nhạc, chương trình giới thiệu tác giả, tác

phẩm âm nhạc, chương trình dạy hát, dạy đàn, cuộc thi về âm nhạc (hát, đàn, tác phẩm âm nhạc) trên đài phát thanh, truyền hình;

Thứ năm, là các sản phẩm nêu trên, được định dạng số và đọc, nghe, nhìn

bằng phương tiện điện tử

1.2.3.2 Cấp học mầm non

Tổng hợp quá trình hình thành và phát triển giáo dục mầm non của Việt Nam, có thể thấy GDMN được thể hiện như sau: GDMN là khâu đầu tiên của quá trình đào tạo nhân cách con người mới Việt Nam; GDMN coi trẻ dưới 6 tuổi đang phát triển với tốc độ rất nhanh là đối tượng giáo dục của mình, là chủ thể tích cực của hoạt động; GDMN tạo thành một hệ thống tác động đồng bộ đến nhân cách toàn vẹn của trẻ thông qua nhiều hình thức mang tính tích hợp; GDMN chủ trương kết hợp giáo dục trẻ trong nhóm với việc cá biệt hóa quá trình giáo dục đối với mỗi trẻ em; kết hợp chặt chẽ giữa GDMN gia đình với GDMN xã hội

Giáo dục mầm non được xác định là cấp học nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Lứa tuổi xác định ở cấp học này là trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi Cơ sở giáo dục mầm non bao gồm nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, trường

Trang 38

mẫu giáo, trường mầm non Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ

em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí,

năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời Để đạt được mục tiêu nêu trên, cấp học mầm non có chương trình, nội dung, phương pháp và các điều kiện hỗ trợ để đạt mục tiêu như đội ngũ, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu, học liệu

Từ những vấn đề trên cho thấy, xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non là toàn bộ sản phẩm của quá trình xuất bản liên quan đến lĩnh vực âm nhạc, được sử dụng vào các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non

1.2.3.3 Quản lý nhà nước đối với xuất bản phẩm âm nhạc dành cho cấp học mầm non

Đối tượng văn hóa hiểu theo nghĩa rộng được nhiều cơ quan tham gia quản lý Ví dụ: Văn hóa khoa học, Văn hóa giáo dục, Văn hóa nghệ thuật, Văn hóa thông tin, Văn hóa xã hội… Phạm vi luận án đề cập đến XBPAN, một trong những sản phẩm văn hóa đặc thù, là đối tượng chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Giáo dục

và Đào tạo

Quan điểm quan trọng về chỉ đạo phát triển văn hóa ở nước ta phải kể đến là: 1) Giữa chính trị, kinh tế và văn hóa vốn có quan hệ không thể tách rời, những tiến bộ trong sự phát triển ba lĩnh vực của đời sống xã hội này phải được đặt dưới sự thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam Chỉ dưới sự lãnh đạo thống nhất ấy mới tạo ra sự phát triển xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 39

2) Kế thừa phát huy các giá trị của văn hóa dân tộc đi liền với mở rộng giao lưu văn hóa với nước ngoài, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam Ngăn chặn và đấu tranh chống sự xâm nhập của các loại văn hóa độc hại, bảo vệ nền văn hóa dân tộc [37]

Chỉ thị số 42 CT/TW ngày 25/8/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng

về Nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản đã nêu định hướng

phát triển của hoạt động xuất bản:

1) Sự nghiệp xuất bản là một lĩnh vực hoạt động tư tưởng sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân, là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, có nhiệm vụ tích luỹ

và truyền bá các giá trị tinh thần, góp phần nâng cao dân trí, phát triển văn hóa, xây dựng nền tảng tư tưởng, thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng và khoa học của xã hội; xây dựng đạo đức, lối sống

và phát triển toàn điện nhân cách con người Việt Nam; góp phần đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành xã hội học tập Hoạt động xuất bản phải chăm lo bảo vệ, khẳng định và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và đấu tranh không khoan nhượng với các quan điểm sai trái, lạc hậu

2) Hoạt động xuất bản phải coi trọng việc phục vụ nhiệm vụ chính trị, tư tưởng, đáp ứng nhu cầu đọc của nhân dân, đồng thời phải thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh, xây dựng ngành xuất bản thành một ngành kinh tế - công nghệ phát triển toàn diện, vững chắc Cần xây dựng những chính sách và cơ chế phù hợp để xuất bản hoạt động có hiệu quả trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [Phụ lục 1, tr.169]

Trang 40

Quan điểm trên cho thấy, các hoạt động xuất bản, nhất là hoạt động tạo

ra sản phẩm phục vụ các hoạt động giáo dục trong nhà trường, càng phải được quan tâm một cách đặc biệt, bởi đây là môi trường được coi là để định hướng cho việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của con người, là môi trường trao đổi, tiếp nhận tri thức và hoạt động sáng tạo

Điều 6 Luật Xuất bản năm 2012 quy định 7 nội dung QLNN về hoạt

động xuất bản Trong đó, Khoản a Mục 1 nêu rõ: “Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển hoạt động xuất bản; ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động xuất bản

và bản quyền tác giả trong hoạt động xuất bản” Việc phân cấp quản lý về hoạt động xuất bản cũng được nêu tại Điều 6 này:

Chính phủ thống nhất QLNN về hoạt động xuất bản trong phạm vi

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi

là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện QLNN về hoạt động xuất bản tại địa phương [Phụ lục 1, tr.169]

Luật giáo dục năm 2005 quy định:

1) Khoản 1 Điều 5:

“Nội dung giáo dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của người học”

2) Khoản 1 Điều 23:

Nội dung giáo dục mầm non phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển

Ngày đăng: 15/06/2019, 06:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w