1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng của V.I Lênin về nền kinh tế nhiều thành phần và sự vận dụng ở huyện Nghĩa Đàn trong công cuộc đổi mới kinh tế thời gian hiện nay

41 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 238,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài 1 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. 2 3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 3 3.1. Mục đích nghiên cứu 3 3.2. Nhiệm vụ 3 3.3. Phạm vi nghiên cứu 4 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4 5.Đóng góp của đề tài 4 6.Kết cấu của tiểu luận 4 NỘI DUNG PHẦN I. LÝ LUẬN CỦA LÊNIN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI. 5 1.1. Chính sách kinh tế mới của Lênin. 5 1.2. Lý luận của Lênin về phát triển kinh tế nhiều thành phần. 7 II. SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN CỦA LÊNIN VỀ KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở HUYỆN NGHĨA ĐÀN TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI THỜI GIAI HIỆN NAY. 12 2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Nghĩa Đàn 12 2.2 Những thành tựu và hạn chế 15 2.2.1 Thành tựu 15 2.2.1.1 Sự vận dụng lý luận của Lênin về phát triển kinh tế nhiều thành phần ở huyện Nghĩa Đàn trong công cuộc đổi mới giai đoạn hiện nay. 15 2.2.1.2 Những kết quả đạt được trong công cuộc đổi mới kinh tế nhiều thành phần ở huyện Nghĩa Đàn hiện nay. 23 2.2.2 Hạn chế 30 2.2.3. Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường phát triển kinh tế nghĩa đàn trong thời gian tới. 32 2.2.4 Triển vọng về phát triển kinh tế Nghĩa Đàn 34 KẾT LUẬN 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

Trang 1

Xô - Viết đã khôi phục nhanh chóng nền kinh tế sau chiến tranh Chính sáchkinh tế mới của Lênin đã chỉ ra các biện pháp về sự phát triển kinh tế xem đó làtiền đề, là nền tảng để xây dựng chủ nghĩa xã hội Vai trò của thành phần kinh tế

tư bản nhà nước là xây dựng cơ sở vật chất cho Chủ nghĩa xã hội, là việc hoànthiện quan hệ sản xuất mới Sử dụng nhiều thành phần kinh tế các hình thứckinh tế quá độ khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân thay cho sự thủtiêu kinh doanh tư nhân Chuyển các xí nghiệp nhà nước sang chế độ hoạch toánkinh tế, chủ trương phát triển quan hệ kinh tế với các nước phương Tây để tranhthủ vốn, khoa học kỹ thuật Và là sự phát triển lực lượng sản xuất tiến bộ nhằmđưa nền kinh tế phát triển đạt tới một xã hội mới

Tư tưởng của V.I Lênin về nền kinh tế nhiều thành phần được Đảng vànhà nước ta vận dụng, sáng tạo trong công cuộc đổi mới kinh tế Việt Nam nóichung và huyện Nghĩa Đàn nói riêng Trong công cuộc đổi mới kinh tế từ nềnkinh tế nhỏ tự cung tự cấp chuyển dần sang nền kinh tế thị trường có sự quản lýnhà nước Và Nghĩa Đàn cũng đang dần chuyển mình đổi mới phát triển kinh tế

Trang 2

xây dựng thành điểm sáng kinh tế trong giai đoạn mới, giai đoạn phát triển vớinhiều thành phần kinh tế đa dạng trong việc vận dụng tư tưởng đó của Lênin và

đã đạt nhiều thành tựu đáng kể Để thấy rõ nền kinh tế Nghĩa Đàn trong côngcuộc đổi mới kinh tế như thế nào sau khi vận dụng tư tưởng của Lê nin về nền

kinh tế nhiều thành phần? Nên em chọn đề tài “Tư tưởng của V.I Lênin về nền kinh tế nhiều thành phần và sự vận dụng ở huyện Nghĩa Đàn trong công cuộc đổi mới kinh tế thời gian hiện nay ”

Đại hội VI (1986) hơn 20 năm trước đã tạo bước ngoặt mới cho sự pháttriển mới của Viêt Nam và đường lối đổi mới do Đảng và nhà nước khởi xướng

và lãnh đạo Đảng ta đã xác định rằng : “đổi mới trước hết là phải đổi mới tưduy, nhất là tư duy kinh tế Tư tưởng cải cách của Lênin và chính sách kinh tếmới đã làm hồi sinh nươc Nga, giờ đây đã lại một lần nữa thể hiện giá trị, ýnghĩa và sức sống trên mảnh đất thực tiễn” của đổi mới Việt Nam nói chung vàNghĩa Đàn nói riêng Với đổi mới kinh tế thị trường định hướng XHCN NghĩaĐàn đã và đang mở rộng phát triểi kinh tế nhiều thành phần, đổi mới trong pháttriển kinh tế đạt được nhiều thành tựu lớn trong giai đoạn vừa qua

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.

Những nguyên lý phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ của Nga vớichính sách kinh tế mới và lý luậng nền kinh tế nhiều thành phần được V.I Lênin

xây dựng trong tác phẩn: “bàn về thuế lương thực” và có bàn đến trong một số tác phẩm như: “ kinh tế chính trị Mác - Lênin” ," những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác - Lê nin” Từ đó em nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận đó áp dụng

vào thực tiễn nền kinh tế cụ thể ở huyện Nghiã Đàn và vận dụng tư tưởng lýluận đó nhằm đạt được những thành tựu như thế nào? Và còn hạn chế ra sao? Đểđưa ra những giải phát thích hợp đối với phát triển kinh tế huyện trong thời giantới

Tư tưởng của V.I Lê nin về vấn đề phát triển kinh tế nhiều thành phầntrong giai đoạn đổi mới ở Nga và được vận dụng thực tiễn đối với phát triểnkinh tế ở huyện Nghĩa Đàn Những thay đổi mới trong nền kinh tế và thành tựu

Trang 3

đạt được của Nghĩa Đàn trong những năm gần đây.Và việc đổi mới kinh tế thịtrường tăng trưởng GDP của vùng và chủ động hội nhập đã mở cửa, hợp táckinh tế Phương thức kết hợp nỗ lực với ngoại lực đã đem cho huyện Nghĩa Đàn

sự sản sinh và phát triển cả tiền năng lẫn tiền lực huyện đã có Phát triển kinh tếtăng trưởng liên tục với tốc độ cao, phồn vinh, tăng cường được cả thế và lựccủa huyện và có vị thế diện mạo lớn thành điểm sáng kinh tế của tỉnh Nghệ An

Để làm được như vậy Đảng Bộ và nhân dân huyện đã đưa ra chính sách đổi mớikinh tế vận dụng sáng tạo mềm dẻo chính sách kinh tế mới của Lênin (NEP) vềnhiều thành phần

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài tìm hiểu rõ tư tưởng của V.I.Lênin về phát triển kinh tế nhiềuthành phần trong tác phẩm "Bàn về thuế lương thực" và chính sách “kinh tếmới” và sự đổi mới của huyện Nghĩa Đàn sau khi vận dụng tư tưởng trên Từ đó,

đề tài nghiên cứu nhận thức lý luận quan điểm của Lênin, vận dụng thực tiễnvào việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCH ở nước tahiện nay nói chung và huyện Nghĩa Đàn nói riêng Đề tài còn đưa ra nhữngthành tựu đạt được cũng như những hạn chế của sự vận dụng tư tưởng đó, vàđưa ra những giải pháp tăng cường đẩy nhanh việc phát triển kinh tế khắc phụcnhững nhược điểm, những tồn tại đồng thời đưa ra những phương hướng, triểnvọng mới trong công cuộc đổi mới kinh tế Nghĩa Đàn trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ

Phân tích rõ tư tưởng quan điểm của V.I Lênin về đặc điểm, tác dụng,vai trò của nền kinh tế nhiều thành phần thời kỳ quá độ từ một nước nôngnghiệp là chính đi lên CNXH ở nước Nga trong chính sách kinh tế mới Chínhnhững lý luận tư tưởng của Lênin đã vận dụng vào thực tế đối với việc phát triểnkinh tế cơ cấu thành nhiều phần vận hành theo cơ chế thị trường ở huyện NghĩaĐàn và thành tựu đạt được trong giai đoạn vứa qua

Trang 4

Làm rõ thay đổi, thành tựu hạn chế của huyện Nghĩa Đàn thời gian vừaqua xây dựng những giải pháp khắc phục khi vận dụng chính sách kinh tế mới,

về cơ cấu nhiều thành phần kinh tế

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, lý luận thựctiễn của Lênin trong bối cảnh nước Nga lúc bấy giờ và những chính sách pháttriển kinh tế nhiều thành phần, đường lối phát triẻn kinh tế xã hội của Đảng cộngsản Việt Nam Ngoài ra bài viết còn sử dụng các phương pháp như phân tích,phương pháp so sánh

5 Đóng góp của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài giúp sinh viên có nhận thức về đường lối kinh tếnhiều thành phần của đảng ta trong việc phát triển kinh tế thu hút vốn đầu tư vàthành tựu đạt được đối với sự vận dụng thực tiễn tư tưởng của V.I Lênin về nềnkinh tế nhiều thành phần ở huyện Nghĩa Đàn Xây dựng mô hình kinh tế sở hữu

đa dạng hóa trong cơ chế thị trương, đổi mới cơ cấu kinh tế vào công cuộc pháttriển công nghiệp hóa hiện đại hóa

6 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận kếtcấu làm hai phần chính

Trang 5

NỘI DUNG PHẦN I LÝ LUẬN CỦA LÊNIN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI.

1.1 Chính sách kinh tế mới của Lênin.

Ngay từ đầu tác phẩm“ Bàn về thuế lương thực, Lênin đã phân tích tínhchất quá độ của nền kinh tế và chỉ rõ năm thành phần kinh tế tồn tại ở nước Nga:Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một lớn có tính chất tự nhiên; sảnxuất hàng hoá nhỏ (bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì), chủ nghĩa tư bản tưnhân, chủ nghĩa tư bản nhà nước, chủ nghĩa xã hội Trong nền kinh tế nhiềuthành phần này, thành phần tiểu nông dân sản xuất nhỏ chiếm đa số Vì vậy,cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể giành thắng lợi được khi có sự liênminh chặt chẽ giữa giai cấp vô sản và nông dân Đó là một nguyên tắc, một đòihỏi đối với các nước tiểu nông bước vào chủ nghĩa xã hội và Đảng cầm quyềnnắm rõ khi triển khai chính sách kinh tế

Sự kiện đánh dấu quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế nướcNga là quyết định thực hiện thuế lương thực thay cho chế độ trưng thu lươngthực thừa, cho phép tự do buôn bán lúa mì, coi thương nghiệp là mắt xích chủyếu, là hình thức các mối quan hệ kinh tế giữa công nghiệp và nông nghiệp; giữathành thị và nông thôn, đồng thời là biểu hiện sinh động giữa liên minh côngnông trong thời kì quá độ

Ngày 8/3/1921, tại Đại hội X Đảng cộng sản Nga, V.I.Lênin đã đề xướngviệc áp dụng chính sách kinh tế mới và đã được đại hội chấp thuận

Chính sách kinh tế mới của Lênin bao gồm nhiều nội dung quan trọng liênquan đến tất cả các lĩnh vực đời sống, xã hội đặc biệt là về kinh tế Thực hiệnchế độ thu thuế lương thực, cho phép tự do buôn bán lúa mì, coi thương nghiệp

là mắt xích chủ yếu, là hình thức cơ bản của các mối liên hệ kinh tế giữa côngnghiệp với nông nghiệp hàng hoá, giữa thành thị với nông thôn và sự liên minhgiai cấp về kinh tế giữa công nông Áp dụng những hình thức khác nhau củaCNTBNN, coi CNTBNN là mắt xích trung gian để xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trang 6

Sử dụng các quan hệ hàng hoá tiền tệ, thực hiện khuyến khích lợi ích vậtchất và tinh thần đối với mọi người lao động, khai thác mọi nguồn lực để pháttriển sản xuất, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới.

Thực hiện kế hoạch điện khí hoá nước Nga, coi đó như một trong nhữngđiều kiện tiên quyết cho sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa

Củng cố chính quyền Xô Viết, tăng cường vai trò của quản lý, kết hợpchặt chẽ các biện pháp hành chính, tổ chức và kinh tế, thực hiện chế độ kiểm kêkiểm soát của nhà nước chuyên chính vô sản đối với đời sống kinh tế xã hội;trên cơ sở liên minh kinh tế để tăng cường củng cố liên minh công nông vềchính trị

Chính sách kinh tế mới thể hiện rõ quan điểm về việc thừa nhận sự tồn tại

và phát triển quan hệ hàng hoá tiền tệ, khuyến khích lợi ích kinh tế, vật chất đốivới người lao động Khai thác và sử dụng mọi nguồn lực Một mặt phát triển lựclượng sản xuất, mặt khác củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN

Thực tế nước Nga cho thấy việc tự do buôn bán trong phạm vi trao đổiháng hoá mang trong thị trường lưu thông tiền tệ, hoạt động thương nghiệp yếukém, thương nghiệp quốc doanh không tồn tại Thị trường và quan hệ hàng hoátiền tệ đã trở thành yêu cầu bức thiết Chính sách kinh tế mới ra đời đã giảiquyết vấn đề đó: Lênin quyết định cho phép tư bản tư nhân sử dụng thươngnghiệp vào các quan hệ hàng hoá - tiền tệ ở mức độ nhất định và trong thời hạnnhất định

Chính sách kinh tế mới đã phân tích những yêu cầu về củng cố chínhquyền Xô - Viết, nâng cao vai trò quản lý, kết hợp chặt chẽ biện pháp hànhchính với các biện pháp kinh tế trên cơ sở liên minh kinh tế để củng cố liênminh chính trị “ sau khi tiến đến chỗ có thể và quản lý đất nước, chúng ta đãkhông tiếc tiền bạc để thu hút về phía phần tử có văn hoá cao nhất do chủ nghĩa

tư bản đào tạo ” [tr.261_bvtlt]

Trang 7

Một điểm quan trọng nữa trong chính sách kinh tế mới của Lênin đó là đãchỉ ra các biện pháp về sự vận dụng các hình thức khác nhau của CNTBNN_ làchiếc cầu nối, những cảng trung gian để xây dựng CNXH

1.2 Lý luận của Lênin về phát triển kinh tế nhiều thành phần.

Lênin ông đã đưa ra quan điểm về nền kinh tế quá độ chuyển sang kinh tếnhiều thành phần, xét về mặt tổng quát thì chính sách kinh tế mới NEP chính là

sự thực hiện nguyên lý của chủ nghĩa Mác về cuộc cách mạng XHCN trong điềukiện của một nước tiểu nông, ở đó quan hệ kinh tế tư sản tuy đã hình thànhnhưng chưa đạt độ chín muồi Chính sánh kinh tế mới ra đời khi chính sách kinh

tế cộng sản thời chiến đã hoàn thành nhiệm vụ của nó mà không phù hợp vớithời bình hiện nay của nước Nga Với chính sách kinh tế mới đặc biệt chú trọngnhững nội dung về kinh tế nhiều thành phần trong lý luận của Lê nin “khôngcòn nghi nghờ gì nữa, ở một nước trong đó những người sản xuất tiểu nôngchiếm tuyệt đa số dân cư chỉ có thể thực hiện Cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩabằng một loạt những biện pháp quá độ đặc biệt, hoàn toàn không cần thiết ở cácnước Tư Bản chủ nghĩa”

Một trong những biện pháp quá độ đặc biệt mà Lênin nói ở đây là chínhviệc sử dụng và phát triển kinh tế nhiều thành phần Điều đó Lênin đặt ra vàphân vân: “ vậy danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế có phải cónghĩa là trong chế độ hiện nay có nhiều thành phần, những bộ phận, nhữngmảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xá hội không?” [tr248_bvtlt]

Cơ sở tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lênChủ nghĩa xã hội Xét đế cùng là do quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất quy định trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội Đặc biệt là nước tiểu nông, trình độ sản xuất còn nhiều hạn chế vàkhông đồng đều nên tất yếu còn tồn tại nhiều loại hình sở hữu nhiều thành phầnkinh tế, hơn nữa một số thành phần kinh tế có phương thức sản xuất cũ tác độngtích cực nhất định đối với sự phát triển lực lượng xã hội

Trang 8

“Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập mà có liên hệ chặc chẽ vớinhau, tác động lẫn nhau tạo thành cơ cấu kinh tế thống nhất bao gồm nhiềuthành phần kinh tế Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lênchư nghĩa xã hội là cơ cấu kinh tế cùng tồn tại và phát triển như một tổng thể,giữa chúng có mối liên quan vừa hợp tác vừa cạnh tranh lẫn nhau.” [tr202_kt-ctMác- Lênin]

Dựa trên cơ sở kinh tế Nga và giai đoạn xây dựng trong thời bình áp dụngchính sách kinh tế mới thì lý luận của Lênin về vấn đề phát triển kinh tế nhiềuthành phần kinh tế, xác định vị trí các thành phần kinh tế đó trong thời kỳ quá

độ Theo quan điểm của Lênin thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử đan xen của cácthành phần kinh tế cũ và mới.V.I Lênin đã chia nền kinh tế tồn tại năm thànhphần kinh tế: Thành phần kinh tế kiểu gia trưởng Thành phần kinh tế sản xuấthàng hóa nhỏ, sản xuất và buôn bán lương thực Thành phần kinh tế chủ nghĩa

tư bản tư nhân là thành phần kinh tế của tư bản vừa và nhỏ dựa theo chế độchiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và có sử dụng lao động làm thuê Thànhphần chủ nghĩa tư bản và nhà nước, theo Lênin cho rằng thành phần này vừa cónhân tố kinh tế xã hội chủ nghĩa vừa có nhân tố của chủ nghĩa tư bản Và thànhphần kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu giữa hai hình thức sởhữu toàn dân và sở hữu tập thể Năm thành phần kinh tế tạo thành đặc điểm củanền kinh tế nước Nga lúc bấy giờ kết hợp với “tô nhượng” và hình thức “hợp tácxa”

Lênin nói: “xin hãy xem định nghĩa cửa tôi và hồi thánh năm 1918 về cácthành phần (bộ phận cấu thành) của những kết cấu kinh tế - xã hội khác nhautrong nền kinh tế quốc dân của chúng ta Không ai có thể chối cãi được điềunày: ở đó có năm bậc (hay bộ phận tổ thành) của năm kết cấu đó từ kết cấu giatrưởng nghĩa là dã man, từ kết cấu gia trưởng nghĩa là dã man, đến kết cấu xãhội chủ nghĩa

Trang 9

Trong một số nước tiểu nông mà <<kết cấu>> chiếm ưu thế là kết cấu tiểunông tức kết cấu một phần có tính chất gia trưởng, một phần có tính chất tiểu tưsản, thì đó là dĩ nhiên” [tr266-tr267_bvtlt]

Như vậy vấn đế cơ cấu nhiều thành phần kinh tế được Lênin bàn nhiềutrong một nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội, và để làm được như vậy cần

có những đổi mới trong tư duy và nhận thức với những bước sai lầm Cho rằngchỉ phát triển kinh tế ở tiểu nông nhỏ, sản xuất tất cả những sản phẩn mà họ cầndùng Tìm mọi cách ngăn chăn triệt để mọi sự phát triển tư nhân, không phải làquốc danh tức là thương mại, tức là chủ nghĩa tư bản, một sự phát triển khôngthể tránh khỏi được khi hàng triệu người sản xuất nhỏ.“chính sách ấy là sự dạidột và sự tự sát đối với đảng nào muốn áp dụng nó Dại dột, vì về phương tiệnkinh tế, chính sách ấy không thể nào thực hiện được; tự sát, vì những đảng nàođịnh thi hành một chính sách như thế, nhất định sẽ bị phá sản” [tr267_bvtlt]

Từ những qua điểm phát triển kinh tế như vậy chúng ta thấy rõ cần ápdụng nhiều thành phần kinh tế đối với bước quá độ Dựa trên cơ sở yêu cầu củathực tiễn phát triển kinh tế và lý luận của Lênin đã đề cập đến CNTB nhà nướcvới tính chất là hợp quy luật, hợp với trình độ quần chúng giữa sản xuất nhỏ lênCNXH Và sự cần thiết phải phát triển kinh tế TB nhà nước,và hình thức tônhượng Đặc biệt Thực hiện chế độ thuế lương thực cho phép tự do buôn bán coithương nghiệp là mắt xính chủ yếu, là hình thức cơ bản của mối liên hệ kinh tếgiữa công nghiệp với nền nông ngiệp hàng hoá, giữa thành thị với nông thôn và

sự liên minh giai cấp về kinh tế giữa công nhân và nông dân

Thành phần Kinh tế Tư Bản nhà nước: CNTB nhà nước là sự hiện diệncủa các quan hệ hợp đồng kinh tế - một bên là nhà nước tư bản( hình thức kinh

tế tư bản), một bên là nhà nước Xô viết Lênin nhấm mạnh cần thiết phải sủdụng thành phần kinh tế này Vì: áp dụng hình thức khác nhau của chũ nghĩa tưbản nhà nước coi đó là móc xích trung gian xây dựng CNXH Lênin khẳngđịnh “Để chúng ta có thể làm tròn một cách thắng lợi nhiệm vụ của chúng ta, tức

là chuyển thẳng lên CNXH, chúng ta phải hiểu những đường lối, thể thức, thủ

Trang 10

đoạn và phương sách trung gian cần thiết để chuyển quan hệ tiền TBCN lênCNXH” [tr274_bvtlt]

Tư bản nhà nước để đi lên CNXH với một bên là sản xuất hàng hoá nhỏtrong nền kinh tế quá độ ở nước nga lúc bấy giờ trên cơ sở yêu cầu của thực tiểnphát triển kinh tế nước Nga bấy giờ (giai cấp tư sản và giai cấp tiểu tư sản chốnglại sự kiểm kê sự kiểm soát của nhà nước Vô xiết nạn đần cơ lan rộng) Nhiệm

vụ Xô -Viết phải hướng sự phát triển của kinh tế tư bản tư nhân và sản xuấthàng hoá bằng con đường CNTB nhà nước Có hoàn thành nhiệm vụ đó mới cóthể chiến thắng tình trạng vô chính phủ do tư bản tư nhân và sản xuất hàng hóanhỏ gây ra Việc sử dụng CNTB nhà nước phù hợp với lợi ích của giai cấp côngnhân, kinh tế nhiều thành phần và có thể thu được trình độ công nghiệp, tổ chứcsản xuất, khả năng quản lý Lênin nhấn mạnh: Muốn có CNXH phải có ba điềukiện cơ sở VCKT hiện đại, phải có tổ chức nhà nước để định hướng điều tiết nềnkinh tế, vai trò lãn đạo của giai cấp công nhân

Sử dụng biện pháp kinh tế mền dẻo đối với nhà tư bản chấp nhận CNTBnhà nước để học tập khả năng quản lý, khả năng tổ chức của nhà tư bản CNTBđược Lênin dánh giá cao bởi ngoài tiềm lực ngoài vể vốn, khoa học kỹ thuật,khả năng tổ chức quản lý, mà còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế thời

kỳ quá độ lên CNXH Sử dụng các quan hệ hàng hoá - tiền tệ thực hiện khuyếnkhích vật chất và tinh thần đối với mọi người lao động, khai thác mọi nguồn lực

để phát triển lực lượng sản xuất, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới Đểlàm được như vậy Lênin nhận định: Tại sao phải thay chính sách thời chiến sangchính sách kinh tế mới? “Tình hình chính trị hồi đầu xuân năm 1921 phải đưađến chổ bắt buộc phải dùng nhửng biện pháp cấp tốc, cương quyết nhất, cấpthiết nhất để cải thiện đời sống nông dân và nâng cao lực lượng sản xuất cho họ”[tr262_bvtlt]

Thực tiễn sự tồn tại và phát triển của CNTB nhà nước dưới nhiều hìnhthức đa dạng phù hợp với thực tiễn Với năm hình thức: các xí nghiệp công tư

Trang 11

hợp doanh, các xí nghiệp liên doanh, các hình thức kinh tiêu dại lý gia công,hình thức tô nhượng, hợp tác xã

Tô nhượng: Lênin đưa ra sự vận dụng “tô nhượng” Trong điều kiện của

nước Nga lúc này “tô nhượng là sự liên kết , liên minh giữa chính quyền nhànước Xô -Viết , nghĩa là nhà nước vô sản với CNTB nhà nước” [tr269_bvtlt]

Lênin xác định: “Khi du nhập CNTB nhà nước dưới hình thức tô nhượngchính quyền Xô -Viết tăng cường được nền đại sản xuất đối lập với nền tiểu sảnxuất, nền sản xuất tiên tiến đối lập với nền sản xuất lạc hậu, nền sản xuất cơ khíhoá với nền sản xuất thủ công nghiệp” [tr270_bvtlt]

Từ đó cho thấy “Áp dụng một cách có chừng mực và thận trọng chínhsách tô nhượng nhất định sẻ giúp được chúng ta cải thiện được nhanh chóng tìnhtrạng sản xuất, đời sống công nhân và nông dân” [tr270_bvtlt]

Bên cạnh đó Lênin còn bàn về vấn đề HTX trong chính sách kinh tế mớiNEP như hình thức kinh tế tập thể có sử dụng yếu tố tư bản nhà nước và trởthành hình thức của CNTB nhà nước nhưng phức tạp hơn và “HTX là hình thứckinh tế có lợi cho CMXHCN nó sẽ tạo điều kiện cho kiểm soát liên hợp của tổchức hàng triệu người sản xuất nhỏ khắc phục được tình trạng hổn loạn”[tr271_bvtlt]

Những quan điểm của Lênin trong chính sách kinh tế mới còn đề cập đếnphát triển kinh tế nhiều thành phần, phát triển quan hệ hàng hoá tiền tệ kinh tếthị trường Lênin cũng khuyến khích hợp tác kinh tế với nước ngoài để tiếp thunhững tiến bộ của các nền kinh tế phát triển Lênin đã nhìn nhận CNTB ở nhữngkhía cạnh tích cực và chủ trương sử dụng những tiến bộ của CNTB để xây dựngXHCN

Trang 12

II SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN CỦA LÊNIN VỀ KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở HUYỆN NGHĨA ĐÀN TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI THỜI GIAI HIỆN NAY.

2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Nghĩa Đàn

Huyện Nghĩa Đàn nằm về phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An Sau khi tách Thịtrấn Thái Hoà cùng 7 xã vùng phụ cận để thành lập thành lập Thị xã Thái Hoà(năm 2008), huyện Nghĩa Đàn còn 24 đơn vị hành chính với quy mô diện tích61.785ha tự nhiên (chiếm 4,5% diện tích tỉnh Nghệ An), dân số 130.140 người

Vị trí trung tâm mới của huyện được quy hoạch tại khu vục trung tâm xã NghĩaBình hiện nay, cách đường mòn Hồ Chí Minh khoảng 1 - 2 km về phía Đông,cách Thành phố Vinh khoảng 90km, cách Thị xã Thái Hoà khoảng 6km về phíaĐông - Bắc

Nghĩa Đàn nằm trong vùng có nhiều cơ quan nhà nước là các trung tâmnghiên cứu khoa học, các doanh nghiệp SX và dịch vụ, cơ sở công nghiệp, nhất

là công nghiệp chế biến nông - lâm sản…sẽ là những yếu tố đảm bảo vững chắccho Nghĩa Đàn trong quá trình xây dựng và phát triển

*Vị trí địa lý, kinh tế:

Huyện Nghĩa Đàn nằm từ toạ độ 105018’ – 105035’ kinh độ Đông và

19013’ – 19033’ vĩ độ Bắc và có vị trí địa lý khá thuận lợi như sau:

+ Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá

+ Phía Nam giáp Huyện Tân Kỳ và huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An.+ Phía Đông giáp tỉnh Thanh Hoá và huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An.+ Phía Tây giáp huyện Quỳ Hợp - tỉnh Nghệ An

Đây là huyện có vị trí địa lý và nguồn lực chiếm vai trò rất quan trọng: Làcửa ngõ phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An, Nghĩa Đàn có vị trí hết sức thuận lợi, cóĐường mòn Hồ Chí Minh chạy dọc từ phía Bắc xuống phía Nam, có quốc lộ 48chạy ngang theo hướng Đông - Tây, nối quốc lộ 1A với cửa khẩu Thông Thụ(Quế Phong) đang được xây dựng, là cầu nối giữa tỉnh Nghệ An với các tỉnhBắc và Trung Lào…Là điều kiện thuận lợi để tỉnh Nghệ An nói chung và huyện

Trang 13

Nghĩa Đàn nói riêng mở rộng các quan hệ, trao đổi sản phẩm hàng hoá, pháttriển nghành thương mại, du lịch,….các nước trong khu vực và các tỉnh khác.

Do có vị trí nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của vùng Tây Bắc Nghệ

An nên từ lâu Nghĩa Đàn đã được xem là một trong những trọng điểm kinh tếcủa cả tỉnh

*Địa hình, đất đai

* Địa hình

Nghĩa Đàn thuộc huyện vùng núi thấp, có địa hình khá thuận lợi so vớicác huyện trung du, miền núi của tỉnh Huyện có đồi núi không cao, thoải dần từTây Bắc xuống Đông Nam, bao quanh là các dãy núi có độ cao từ 300m đến400m như Chuột Bạch, Cột Cờ, Bồ Bồ, Hòn Sương, Vùng trung tâm gồmnhiều dãy đồi bát úp thấp và thoải, xen kẽ giữa chúng là các thung lũng bằngphẳng với độ cao từ 50 đến 70m

Với đặc điểm địa hình bề mặt của huyện Nghĩa Đàn có 8,0% diện tích bềmặt tự nhiên là đồng bằng thung lũng, 65% là đồi núi thấp thoải, 27% là núitương đối cao đã tạo cho địa phương nhiều vùng đất thoải bằng với quy mô diệntích lớn, thuận lợi để phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp kết hợp đạt hiệu quảcao

* Đất đai

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 61.785 ha, diện tích sông suối, mặtnước chuyên dùng và núi đá chiếm 4.460 ha, diện tích thổ nhưỡng còn lại57.352 ha.chia ra 6 nhóm đất chính

Trang 14

Bảng : Các loại đất tự nhiên huyện Nghĩa Đàn

6 Nhóm đất Feralit đỏ vàng vùng đồi núi cao 3.410 5,95

* Khí hậu, thuỷ văn

- Khí hậu: Nghĩa Đàn chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng Bắc Trung Bộ và

vùng Tây Bắc - Nghệ An, có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa:

+ Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,30C trung bình tháng cao nhất là 28

-290C (tháng 6, 7), thấp nhất là dưới 200C (tháng 12, 1 và 2) Nhiệt độ cao tuyệtđối là 41,6oC, nhiệt độ thấp tuyệt đối là – 0,20C Tổng nhiệt độ bình quân hằngnăm 85030C, trong đó: vụ Đông Xuân 36000C, vụ Hè Thu 49030C

+ Lượng mưa trung bình 1.633 mm/năm, có đến 70% lượng mưa tậptrung từ tháng 5-10 Lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm; mùa khôlượng mưa không đáng kể

+ Hướng gió chủ yếu là Tây Bắc, Đông Nam, ngoài ra còn chịu ảnhhưởng của gió Phơn Tây Nam (gió Lào) khoảng từ tháng 5 đến tháng 8

- Tổng số giờ nắng trong năm: 1597 giờ trong đó tháng 7 cao nhất (bìnhquân 170 giờ) và tháng 1 thấp nhất (79 giờ)

Tổng lượng bốc hơi 825 mm/năm

+ Ẩm độ phổ biến từ 80-86% Tần suất bão ít xuất hiện

Nhìn chung tổng quan nghĩa đàn có tiềm năng về phát triển kinh tế, tạotiềm năng cho chính sách đổi mới kinh tế giai đoạn hiện nay

- Dân cư và nguồn lao động

Trang 15

Theo số liệu thống kê đến 1/10/2008, dân số Nghĩa Đàn có 130.140 người(bằng 2,2% dân số cả tỉnh) gồm 3 dân tộc Kinh, Thái, Thổ sinh sống và 100% dân

cư là nông thôn, dân số tham gia trong khu vực SX nông nghiệp có 123.104 người(chiếm 93,88%) Có 4 xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 của Chính phủ

Toàn huyện có 81.077 lao động (chiếm 62,3% tổng dân số), trong đó laođộng nông - lâm - thuỷ sản là 50.074 người (chiếm 72,89% lao động trong khuvực SX) Đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ, kinh nghiệm sản xuất, cùng hệthống các doanh nghiệp và hệ thống trạm trại trên địa bàn - đó là những hạt nhânquan trọng góp phần phát triển kinh tế xã hội của huyện

Bên cạnh đó huyện có cộng đồng dân cư với truyền thống, kinh nghiệm

và bản chất đã được đúc kết, quy tụ nhiều tinh hoa tốt đẹp của nhiều tầng lớpngười lao động từng là công nhân, nông dân, là những người làm khoa học,những chiến sĩ tham gia xây dựng kinh tế là nguồn lực không thể thiếu trong quátrình phát triển của huyện

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên và xã hội của Nghĩa Đàn tương đối thuậnlợi cho sự phát triển KT - XH của huyện nhà Tuy nhiên, sau khi thành lập Thị

xã Thái Hoà (2008), huyện Nghĩa Đàn đang đứng trước những thách thức mới

về phát triển kinh tế huyện như: Vị trí là trung tâm KT - XH vùng Tây Bắc tỉnh

sẽ suy giảm, Nghĩa Đàn không còn là trung tâm SX công nghiệp và dịch vụ tổnghợp của các huyện, đơn vị trong vùng

2.2 Những thành tựu và hạn chế

2.2.1 Thành tựu

2.2.1.1 Sự vận dụng lý luận của Lênin về phát triển kinh tế nhiều thành phần ở huyện Nghĩa Đàn trong công cuộc đổi mới giai đoạn hiện nay.

Trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận, nhận thức rõ hơn về CNXH và về thời

kỳ quá độ lên CNXH, dựa vào những kết quả bước đầu của sự đổi mới từngphần, lắng nghe, tổng kết sáng kiến, kinh nghiệm của nhân dân, của các địaphương và cơ sở huyện Nghĩa Đàn đã và đang phấn đấu xây dựng kinh tế ngày

Trang 16

càng vững mạnh, phát triển từ quá độ lên, thời kỳ công nghiệp hóa điện đại hóa.

Nghị quyết Trung ương 6, khóaVI, chỉ rõ: "Trong điều kiện nước ta, các hình

thức kinh tế tư nhân, cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân vẫn cần thiết lâu dài chonền kinh tế và nằm trong cơ cấu nền kinh tế hàng hóa đi lên chủ nghĩa xã hội".Đại hội VIII(6-1996) của Đảng nêu năm thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước,kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tưnhân Và tại Đại hội IX của Đảng xác định, ở nước ta hiện nay, cần phát triểnsáu thành phần kinh tế, tức là ngoài năm thành phần kinh tế nêu trên, có thêmthành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và nhấn mạnh các thành phần kinh

tế đó đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa cùng phát triển lâu dài, lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nướccùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tếquốc dân Có thể nói đây là quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng có tầmquan trọng đặc biệt, nó tạo điều kiện cho mọi cá nhân, đơn vị, tập thể khai thácphát huy mọi tiềm năng, nội lực, tạo ra một tổng hợp lực thật sự cho việc pháttriển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng Bộ nhân dânhuyện Nghĩa Đàn đã thấy rõ việc cần thiết xây dựng kinh tế nhiều thành phần

mà nhà nước đã vạch hướng như trên Phát triển mạnh các loại hình tổ chức sảnxuất kinh doanh, các hình thức doanh nghiệp, các loại hình công ty Các hìnhthức sở hưu tư nhân, sở hưu nhà nước sở hữu tập thể, là một nội dung cơ bảncủa của việc đổi mới kinh tế thị trường trong giai đoạn qua của huyện

Sử dụng nhiều thành phần kinh tế tức là sự thừa nhận tồn tại nhiều hìnhthức tổ chức kinh tế, nhiều phương thức quản lý khác nhau phù hợp với lựclượng sản xuất của huyện Nghĩa Đàn đang có Vận dụng hợp lý tư tưởng nềnkinh tế nhiều thành phần có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăngtrưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả năng suất lao động của người dân cũng nhưcác doanh nghiệp, các xưởng sản xuất Nền kinh tế nhiều thành phần làmphong phú đa dạng các thành phần các chủ thể, kinh tê từ đó thức đẩy phát triểnkinh tế hàng hóa, tạo tiền đề đẩy mạnh cạnh tranh Khắc phục tình phát triển một

Trang 17

mô hình kinh tế nhỏ, sản xuất nhỏ không có hiệu quả kinh tế cao như xưởng chếbiến cao su Nghĩa Đàn, chế biến cà phê Thái Hòa, các doanh nghiệp sản xuất mỹnghệ nhỏ Bên cạnh đó còn vận dụng năm hình thức kinh tế là cầu nối trạmtrung gian cần thiết để đưa sản xuất nhỏ của huyện Nghĩa Đàn phát triển với quy

mô lớn hơn, hiệu quả kinh tế cao hơn

Và Đại hội IX (4-2001) đã không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiệnđường lối đổi mới, làm rõ hơn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của công cuộcđổi mới và xây dựng CNXH ở Việt Nam Qua 20 năm đổi mới tại đại hội đạibiểu toàn quố lần thức X, Đảng ta đã xác định nền kinh tế Việt Nam có nămthành phần đó là: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, khinh tế tư nhân ( cá thể, tiểuchủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Đảng Bộ và nhân dân Nghĩa Đàn đưa ra chính sách phát triền như sau:Bước vào thực hiện nhiệm vụ năm 2009 có những thuận lợi cơ bản đã tạo pháttriển kinh tế- xã hội: Là năm thứ tư thực hiện nghị quyết Đại hội 26 Huyện Đảng

bộ và kế hoạch phát triển kinh tế năm (2006-2010) của huyện Nghĩa Đàn vàđáng chú ý là tổ chức thành công hội nghị các Doanh nghiệp, mở ra nhiều triểnvọng cho kinh tế, là những năm đạt kết quả tốt trong thu hút vốn đầu tư, đặc biệt

là thu hút vốn đầu tư các dự án chăn nuôi bò sữa tập trung quy mô công nghiệplớn do công ty cổ phần sữa TH triển khai với vốn đăng ký 47.649,7 tỷ đồng vàvốn đầu tư đã cam kết là 6.300 tỷ đồng Trong những năm vừa qua tình hìnhphát triển kinh tế Nghĩa Đàn có bước biến đổi mới và Đảng Bộ nhân dân huyệnđang cố gắng xây dựng Nghĩa Đàn thành điểm sáng kinh tế của tỉnh Nghệ Antrong những năm tới tiếp theo kế hoạch tới năm 2015 Phấn đấu đạt tốc độ pháttriển kinh tế cao và bền vững; từng bước nâng cao hiệu quả và năng lực cạnhtranh các sản phẩm của địa phương như cam, mía cà phê, cao su Tạo chuyểnbiến trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và cơ cấu đầu tư;tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư, tạo môi trường đầu tư thông thoáng cho nhàđầu tư Khai thác tối đa lợi thế của huyện, đồng thời hạn chế tối thiểu các mặtbất lợi Việc xây dựng kinh tế nhiều thành phần sẽ góp phần vào việc đưa huyện

Trang 18

Nghĩa Đàn nhanh chóng trở thành điểm sáng kinh tế trong thời gian tới Sự tồntại nhiều thành phần kinh tế, tức là tồn tại nhiều hình thức tổ chức kinh tế, nhiềuphương thức quản lý phù hợp với trình độ khác nhau với lực lượng sản xuất củahuyện Chính sự phú hợp đó có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng lao động tăngtrưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả trong năm thành phần kinh tế và trong toàn bộnền kinh tế của huyện Nền kinh tế nhiều thành phần làm phong phúc đa dạngcác chủ thể kinh tế hiện có ở huyện từ đó thúc đẩy kinh tế hoàng hóa, tạo tiền đềphát triển toàn thể các tiềm năng của vùng Để làm được điều đó nhân dânhuyện cũng như Đảng bộ huyện cần tăng cường đẩy nhanh công tác đổi mới,vận dụng tư tưởng của Lênin mà nhà nước đã đề ra ở các kỳ đại hội, thực hiệnchương chủ trương sau:

Trước hết, đó là đổi mới tư duy lý luận nhận thức mà thực chất là Đảng bộhuyện Nghĩa Đàn nắm vững và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, của cơchế thị trường nhiều thành phần định hướng XHCN hiện nay mà nước ta đã địnhhướng trong các kỳ đại hội Có nghĩa là tôn trọng quy luật giá trị, quy luật tíchluỹ tư bản, quy luật tái sản xuất, quy luật cạnh tranh và tôn trọng các quy luậtvận động khách quan khác của các quan hệ sản xuất, tư liệu sản xuất và trao đổihàng hoá - tiền tệ trong nền kinh tế thị trường cả kinh tế đối nội và kinh tế đốingoại dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thứ hai, từ nhận thức đúng đắn về thời kỳ quá độ, Đảng bộ huyện nhândân Nghĩa Đàn quyết định đổi mới cơ cấu kinh tế, coi nền kinh tế có cơ cấunhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ khăc phục căn bệnh nóngvội, chủ quan, duy ý chí Thừa nhận tồn tại và phát triển khách quan các thànhphần với sự đan xen các loại hình sở hữu Mà tại Đại hội Đảng lần thứ VI(1986), chúng ta thừa nhận: “nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần” Đại hộiVIII (1996) khẳng định “Thực hiện nhất quán, lâu dài phát triển nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế vàhình thức tổ chức kinh doanh” Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoàiđang tồn tại ở nước ta hiện nay dưới hình thức đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp,

Trang 19

liên doanh liên kết phát triển trên cơ sở tư tưởng thời Lênin “chế độ tô nhượng”,

“đại lý”, “thuê những cơ sở sản xuất”, “hợp doanh”, “liên doanh” giữa Nhà nướcvới tư bản tư nhân thông qua một số loại hình công ty tư nhân, công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn…

Thứ ba, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng bộ UBNDhuyện Nghĩa Đàn và vai trò, chức năng quản lý điều hành của Nhà nước Nângcao năng lực lãnh đạo của cán bộ trong huyện, đội ngũ lãnh đạo và sức chiếnđấu của nhân dân thời gian tới Và hoàn thiện củng cố sức mạnh của hệ thốngchính trị huyện thời gian tới

Thứ tư, đổi mới chính sách đối ngoại thu hút vốn đầu tư tư nhân, nướcngoài, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hoá, mối quan hệ hợp tác kinh tế củavùng, tỉnh thành trên cả nước Dựa theo quan điểm nhà nước đã đề ra: Việt Nammuốn là bạn và là đối tác tin cậy của các nước trên thế giới trên cơ sở giữ vữngđộc lập chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi

Bên cạnh đó phải dựa trên Kinh tế tư bản nhà nước với tư cách một thành

phần kinh tế “bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nướcvới tư bản tư nhân trong nước và hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tưbản nước ngoài”, “có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to lớn

về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý… của các nhà tư bản vì lợi ích củabản thân họ, cũng như của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước” Để kinh

tế tư bản nhà nước thực hiện được vai trò quan trọng đó, Đảng Cộng sản ViệtNam chủ trương áp dụng nhiều phương thức góp vốn kinh doanh giữa Nhà nướcvới các nhà kinh doanh tư nhân trong và ngoài nước nhằm “tạo thế, tạo lực” chocác doanh nghiệp Việt Nam phát triển, tăng sức hợp tác và cạnh tranh với bênngoài, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực quản lý để

thu hút có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.“phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh”, Đảng ta đã chỉ

rõ: “Trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiềuhình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể,

Trang 20

kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài

Nhằm mục tiêu đó và trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa, huyện cần “phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước

dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản

tư nhân trong và ngoài nước”, “tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chínhsách, pháp lý” để nó được “phát triển trên những định hướng ưu tiên của nhànước, kể cả đầu tư ra nước ngoài”; đồng thời “chú trọng phát triển các hình thức

tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu” giữa sở hữu nhànước với sở hữu tập thể và tư nhân, dưới hình thức vốn và đóng góp cổ phần

Về vấn đề phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã trong

bối cảnh xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa, tại Đại hội X, Đảng ta đã khẳng định chủ trương “tiếp tục đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể” trên cơ sở tổng kết thực tiễn, sớm có chính

sách, cơ chế cụ thể khuyến khích phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tậpthể đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, baogồm các tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới, chú trọng phát triển và nâng cao hiệu

quả hoạt động Đảng bộ huyện Nghĩa Đàn nhấn mạnh trong những năm trước

mắt, chúng ta cần phải “tiếp tục đổi mới chính sách để khuyến khích, thúc đẩyphát triển mạnh các loại hình kinh tế tập thể với những hình thức hợp tác đadạng, tự nguyện, đáp ứng nhu cầu của các thành viên, phù hợp của các hợp tác

xã, liên hiệp hợp tác xã cổ phần” theo vận dụng kinh tế mới của Lênin

Chính dựa trên quan điểm của Đảng và nhà nước trong những năm vừaqua khi thực hiện chính sách kinh tế mới vận dụng lý luận chính sách nền kinh

tế nhiều thành phần của Lênin, Đảng Bộ và nhân dân Nghĩa Đàn tăng cường cốgắng xây dựng nhiều chủ trương nhằn nâng cao hiệu quả từng thành phần kinh

tế trong cơ cấu nhiều thành phần, đồng thời xây dựng một mô hình kinh tế phùhợp với tiềm lực mà huyện nhà đã có Phát huy thế mạnh về trồng trọt, chănnuôi, thủ công nghiệp đặc biệt là cây công nghiệp như cao su, cà phê, cam, mía

Ngày đăng: 14/06/2019, 17:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- LêNin – bộ giáo dục và đào tạo Khác
2. Bộ giáo dục và đào tạo: Giáo trình kinh tế chính trị Trường đại học bách khoa Hà nội Khác
3. Bộ giáo dục và đào tạo: Giáo trình kinh tế chính trị Nhà xuất bản chính trị quốc gia Khác
4. Văn kiện Đại hội Đảng VI, XI,X 5.V.Lênin: Lênin toàn tập, tập 42 Nhà xuất bản Sự thật, Hà nội ,1961 Khác
7. Bảng đánh giá hiệu quả kinh tế huyện Nghĩa Đàn năm 2009 8. Phương hướng phát triển của huyện Nghĩa Đàn năm 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w