1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và việc võn dụng vào quỏ trỡnh xõy dựng xó hội chủ nghĩa ở việt Nam

29 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 162,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

6. Ý nghĩa của đề tài: Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần làm rõ hơn vấn đề ĐHXHCN và tính đúng đắn của sự lựa chọn ĐHXHCN ở nước ta hiện nay. - Đề tài góp phần vào việc tìm ra các nguyên tắc và giải pháp nhằm giữ vững mục tiêu XHCN trong điều kiện mới của Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Với những đóng góp trên, tôi hi vọng đề tài của mình có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việchọc tập, nghiên cứu về học thuyết HTKT-XH và sự vận dụng học thuyết đó trong xây dựng CNXH đối với độc giả quan tâm nghiên cứu.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đường lối đổi mới toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang

đi vào cuộc sống Trong đường lối đó, vấn đề phát triển nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhànước Định hướng Xã hội chủ nghĩa (ĐHXHCN) là vấn đề được đặc biệt quantâm xây dựng và hoàn thiện Chủ trương trên, được triển khai trong thực tiễn,

đã thu được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên, đây là một hướng đi rấtmới của con đường Chủ nghĩa xã hội (CNXH) Do tính mới mẻ đó mà gặpkhông it khó khăn và thách thức, và có nhiều hoài nghi vào sự thắng lợi củacon đường đó Con đường đổi mới này sẽ có những khó khăn, thách thức vàcũng chứa đựng những nguy cơ, trong đó nguy cơ chệch hướng XHCN nổi lênhàng đầu Rõ ràng vấn đề ĐHXHCN cần được xem xét và khẳng định rõ hơntrong điều kiện mới Vì vậy, ĐHXHCN trở thành vấn đề vừa có tính lý luận,vừa có tính thực tiễn cấp bách cần được nghiên cứu, làm sáng tỏ

Định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được khẳng định dựa trênnhững cơ sở khoa học, trong đó cơ sở lý luận có tầm quan trọng đặc biệt làhọc thuyết Mác - Lênin về Hình Thái Kinh tế - xã hội (HTHTKTXH) Song,trước sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, ly luận đó đang đượcphê phán từ nhiều phía Họ cho rằng CNXH sụp đổ thì Chủ nghĩa Mác cũngtiêu tan Trong thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam những năm trước đây,việc vận dụng học thuyết HTKT-XH cũng còn những sai lầm, hạn chế Nhữngsai lầm, hạn chế đó là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân vềnhận thức Do trình độ nhận thức về học thuyết còn hạn chế, thậm chí còn lệchlạc ở một số vấn đề cụ thể, mặt khác do sự vận dụng còn mang tính giáo điều,thiếu sáng tạo, chưa phản ánh đầy đủ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước mà

đã dẫn đến những sai lầm trong thực tiễn xây dựng CNXH, ảnh hưởng tiêu

Trang 2

cực tới tiến trình phát triển của đất nước Nhờ có lý luận hình thái kinh tế-xãhội của Mác, đã giúp chúng ta nghiên cứu một cách đúng đắn và khoa học sựvận hành của xã hội trong giai đoạn phát triển cũng như tiến trình vận đọnglịch sủ nói chung của xã hộii loài người Muốn đưa đất nước tiến lên CNXHphải đổi mới nhận thức, phải vận dụng sáng tạo học thuyết vào trong điều kiện

cụ thể của Việt Nam và đặc điểm mới của thời đại

Xuất phát từ nhận thức trên, tôi chọn đề tài "Học thuyết hình thái kinh

tế - xã hội và việc vân dụng vào quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa ở việt Nam” có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

- Vấn đề nghiên cứu và vận dụng lý luận Hình thái Kinh tế-xã hội vàocông cuộc xây dựng CNXH từ lâu đã được nhiều nhà khoa học và chính trị ởLiên Xô (cũ) và các nước XHCN khác quan tâm nghiên cứu Đặc biệt từ saukhi CNXH hiện thực ở Đông Âu khủng hoảng và sụp đổ thì vấn đề trên đượcnhiều nhà nghiên cứu ở Trung Quốc đề cập tới Chẳng hạn tác giả Du Thúy

"Mùa đông và mùa xuân Matxcơva - Sự chấm dứt một thời đại" (Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội 1995) đã đề cập đến một số nguyên nhân sụp đổ củaCNXH hiện thực ở Liên Xô

Tập thể tác giả do Mã Hồng Chủ chủ biên "Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995) đã đưa ra một số quan điểm

về xây dựng CNXH trong điều kiện kinh tế thị trường Ngoài ra còn có một sốbài nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đăng trên các tạp chí

Vấn đề trên được đặc biệt chú ý ở Việt Nam đó là vấn đề đổi mới, bướcquá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chủ nghĩa Tư bản, vì vậy gần đây, ở trongnước xuất hiện một số công trình

Trang 3

- Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX10 "Dự thảo một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại hiện nay" (Hà Nội 1994) có một phần quan

trọng đề cập đến giá trị của học thuyết HTKT-XH với tính cách là cơ sở khoahọc của con đường tiến lên CNXH ở Việt Nam

Vấn đề nêu trên đã được đề cập tới một số khía cạnh trong các sách vàbài viết của tác giả

- Đào Duy Tùng: "Quá trình hình thành con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994) đã khái quát các giai

đoạn tiến hành cách mạng XHCN ở nước ta

- Giáo sư Trần Xuân Trường: "Định hướng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một số vấn đề lý luận cấp bách" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996) có đề

cập đến một số vấn đề của lý luận hình thái và sự vận dụng nó trong tình hìnhmới

- Phó giáo sư, tiến sĩ Tô Huy Rứa "Con đường và điều kiện đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta" (Tạp chí Cộng sản số 6-1996) đã nêu

lên một số điều kiện nhằm đảm bảo ĐHXHCN

- Tiến sĩ Nguyễn Thế Nghĩa: "Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội - cơ sở lý luận của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa"

Ngoài các sách và bài viết, trong thời gian gần đây cũng có một số luận

án tiến sĩ tập trung nghiên cứu các đề tài gần gũi với vấn đề như:

- Trương Hữu Hoàn: "Quy luật phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất và vấn đề nhận thức, vận dụng quy luật này ở một số nước xã hội chủ nghĩa" (Luận án Phó tiến sĩ Triết học, chuyên ngành CNDVBC và

CNDVLS, mã số 5.01.02, Hà Nội 1995) Tác giả đã có khía cạnh đề cập đến

sự vận dụng quy luật nói trên trong thời kỳ quá độ lên CNXH bỏ qua chế độTBCN ở Việt Nam

Trang 4

Nhìn chung các công trình trên, đặc biệt là các công trình trong nướcđều tập trung vào việc bảo vệ lý luận HTKT-XH và vận dụng nó vào việc xácđịnh mục tiêu, thực hiện mục tiêu XHCN ở Việt Nam trong điều kiện mới.Tuy nhiên thực tiễn luôn vận động, ĐHXHCN ở nước ta đang đặt ra nhữngvấn đề mới cần được tiếp tục lý giải và khẳng định.

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích: Dưới góc độ lý luận HTKT-XH, luận án góp phần làm

sáng tỏ thực chất vấn đề ĐHXHCN và việc giữ vững định hướng đó trongđiều kiện phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ:

1) Trên cơ sở khẳng định giá trị bền vững của lý luận HTKT-XH để luậngiải tính đúng đắn của sự lựa chọn mục tiêu tiến lên CNXH của Việt Nam

2) Xem xét làm sáng tỏ thuật ngữ "định hướng xã hội chủ nghĩa" và chỉ

ra một số vấn đề từ thực tiễn vận dụng học thuyết HTKT-XH đặt ra đối vớiquá trình thực hiện ĐHXHCN ở Việt Nam

3) Nêu lên những nguyên tắc và giải pháp cơ bản quán triệt học thuyếtHTKT-XH để thực hiện ĐHXHCN trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần,hoạt động theo cơ chế thị trường ở Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu của luận án

Đề tài không đi vào xem xét một cách toàn diện các vấn đề của họcthuyết HTKT-XH, cũng không xem xét toàn diện các mặt của công cuộc xâydựng CNXH ở nước ta mà nêu hướng tiếp cận của học thuyết HTKT-XH để đivào luận giải một số khía cạnh của vấn đề ĐHXHCN và giữ vững ĐHXHCNhiện nay ở Việt Nam

Trang 5

Cơ sở lý luận dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác

-Lênin về HTKT-XH, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam

về xây dựng CNXH để giải quyết những vấn đề trong đề tài

- Cơ sở thực tiễn: Đề tài dựa vào thực tiễn xây dựng CNXH đã và đang

diễn ra ở Việt Nam, tham khảo bài học kinh nghiệm về đảm bảo mục tiêuCNXH ở một số nước khác trước đây và hiện nay để luận chứng những vấn đềtrong đề tài Đồng thời đó cũng là những cơ sở thực tiễn quan trọng để luận ánđưa ra những giải pháp nhằm giữ vững ĐHXHCN trong điều kiện mới hiệnnay

5 Phương pháp nghiên cứu của Đề tài

Đề tài vận dụng tổng hợp các nguyên tắc phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử để luận giải các nội dung đặt ra, trong đó chú trọng

sử dụng các phương pháp lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, phương phápkhảo sát thực tế v.v

6 Ý nghĩa của đề tài:

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

Với những đóng góp trên, tôi hi vọng đề tài của mình có thể dùng làmtài liệu tham khảo trong việchọc tập, nghiên cứu về học thuyết HTKT-XH và

sự vận dụng học thuyết đó trong xây dựng CNXH đối với độc giả quan tâmnghiên cứu

Trang 6

NỘI DUNG

I HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI

1 Khái niệm về phạm trù học thuyết Hình thai kinh tế-xã hội

Khác với quan điểm của các nhà triết học và xã hội trước đây cho rằng

xã hội là một tập hợp ngẫu nhiên của nhiều hiện tượng xã hội như gia đình,dân tộc, tôn giáo, các tổ chức chính trị Triết học Mác lần đầu tiên xem xét xãhội như một hệ thống trọn vẹn với một chỉnh thể những cơ cấu phức tạp liênkết thành hình thái kinh tế- xã hội

Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống

hoàn chỉnh, có cấu trúc phức tạp, trong đó có các mặt cơ bản là lực lượng sảnxuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng Mỗi mặt của hình thái kinh tế

- xã hội có vị trí riêng và tác động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau

Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất - kỹ thuật của mỗi hình thái kinh

tế - xã hội Hình thái kinh tế - xã hội khác nhau có lực lượng sản xuất khácnhau Suy đến cùng, sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hìnhthành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội

Quan hệ sản xuất là “quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ xã hội khác”1 Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển củalực lượng sản xuất và tác động tích cực trở lại lực lượng sản xuất Mỗi hìnhthái kinh tế - xã hội có một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho nó Quan hệsản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội Các quan hệ

1

Trang 7

sản xuất tạo thành cơ sở hạ tầng của xã hội Các quan điểm về chính trị, phápquyền, đạo đức, triết học v.v các thiết chế tương ứng được hình thành, pháttriển trên cơ sở các quan hệ sản xuất tạo thành kiến trúc thượng tầng của xãhội Kiến trúc thượng tầng được hình thành và phát triển phù hợp với cơ sở hạtầng, nhưng nó lại là công cụ để bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng đãsinh ra nó Ngoài các mặt cơ bản đã nêu trên, các hình thái kinh tế - xã hội còn

có quan hệ về gia đình, dân tộc và các quan hệ xã hội khác Các quan hệ đóđều gắn bó chặt chẽ với quan hệ sản xuất, biến đổi cùng với sự biến đổi củaquan hệ sản xuất

2 Sự tác động biện chứng giữa các yếu tố Hình thái kinh tế- xã hội

2.1 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

2.1.1 Khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất

Phương thức sản xuất

Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức nhất định Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người Mỗi xã hội được đặc

trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định Phương thức sản xuất đóngvai trò quyết định đối với tất cả các mặt của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất tronglịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao Trongsản xuất, con người có "quan hệ song trùng": một mặt là quan hệ giữa ngườivới tự nhiên, tức là lực lượng sản xuất; mặt khác là quan hệ giữa người vớingười, tức là quan hệ sản xuất Phương thức sản xuất chính là sự thống nhấtgiữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tươngứng

Trang 8

Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiêntrong quá trình sản xuất Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn củacon người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Lực lượng sản xuất baogồm người lao động với kỹ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất, trước hết

là công cụ lao động Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con người và

tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động, kết hợp với nhau tạo thành lựclượng sản xuất

Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất, "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động" Chính người lao

động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng laođộng của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động, tácđộng vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Cùng với quátrình lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người ngàycàng được tăng lên, đặc biệt là trí tuệ của lao động ngày càng cao Ngày nay,với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, lao động trí tuệ ngày càng đóngvai trò chính yếu

Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngàycàng to lớn Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lựcmạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển

Quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sảnxuất và tái sản xuất xã hội Quan hệ sản xuất gồm ba mặt: quan hệ về sở hữuđối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệtrong phân phối sản phẩm sản xuất ra Quan hệ sản xuất do con người tạo ra,nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, không phụ

Trang 9

thuộc vào ý muốn chủ quan của con người C.Mác viết: "Trong sản xuất,người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên Người ta không thể sản xuấtđược nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và

để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được, người ta phải có nhữngmối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tựnhiên, tức là việc sản xuất"2 Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sảnxuất; giữa ba mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, tạo thành một hệthống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động, phát triển khôngngừng của lực lượng sản xuất Trong ba mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ sởhữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng choquan hệ sản xuất trong từng xã hội Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyếtđịnh quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũngnhư các quan hệ xã hội khác

2.1.2 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sảnxuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cáchbiện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độphát triển của lực lượng sản xuất Đây là quy luật cơ bản nhất của sự vậnđộng, phát triển xã hội Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là khôngngừng phát triển Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi vàphát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động Sự phát triểncủa lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất

Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình

độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó Trình độ lực

2

Trang 10

lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinhnghiệm và kỹ năng lao động của con người, trình độ tổ chức và phân công laođộng xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất.

Gắn liền với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính

chất cá nhân lên tính chất xã hội hóa Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công,phân công lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất

cá nhân Khi sản xuất đạt tới trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao động xãhội phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa

Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó

Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và giảm bớt lao động nặng nhọc,con người không ngừng cải tiến, hoàn thiện và chế tạo ra những công cụ sảnxuất mới Đồng thời với sự tiến bộ của công cụ, tri thức khoa học, trình độchuyên môn kĩ thuật và mọi kỹ năng của người lao động cũng ngày càng pháttriển

Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phùhợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sảnxuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong

đó quan hệ sản xuất là "hình thức phát triển" của lực lượng sản xuất Trongtrạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều "tạo địa bàn đầy đủ" cholực lượng sản xuất phát triển Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng vàkết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lựclượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát

Trang 11

triển của lực lượng sản xuất Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành "xiềng xích"

của lực lượng sản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Yêu cầu kháchquan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sảnxuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lựclượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Thay thếquan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là phương thứcsản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế C.Mác đã viết:

"Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vậtchất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đó từtrước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hìnhthức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành nhữngxiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cáchmạng xã hội"

Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất

Mặc dù bị chi phối bởi lực lượng sản xuất nhưng với tính cách là hìnhthức, quan hệ sản xuất cũng có những tác động nhất định trở lại đối với lựclượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy lực lượng sảnxuất phát triển Ngược lại, quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc "tiên tiến"hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìmhãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sựphát triển của lực lượng sản xuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ

sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Tuy nhiên,việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất không

Trang 12

phải giản đơn Nó phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội củacon người Trong xã hội có giai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, thôngqua cách mạng xã hội.

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhânloại Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyênthủy, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa

và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật

xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển củalực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất

2.2 Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

2.2.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Quan hệ sản xuất được hình thành một cách khách quan trong quá trìnhsản xuất tạo thành quan hệ vật chất của xã hội Trên cơ sở quan hệ sản xuấthình thành nên các quan hệ về chính trị và tinh thần của xã hội Hai mặt đócủa đời sống xã hội được khái quát thành cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượngtầng của xã hội C.Mác viết: "Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành

cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiếntrúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhấtđịnh tương ứng với cơ sở hiện thực đó"

Cơ sở hạ tầng: là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu

kinh tế của một xã hội nhất định.

Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể bao gồm quan hệ sản xuất thống trị,quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mống của xãhội tương lai Trong đó, quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai tròchủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác, nó quy định xu hướng chung của

Trang 13

đời sống kinh tế - xã hội Bởi vậy, cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể đượcđặc trưng bởi quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội đó Tuy nhiên, quan hệsản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mầm mống cũng có vai trò nhất định

Như vậy, xét trong nội bộ phương thức sản xuất thì quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, nhưng xét trong tổng thể các quan hệ xã hội thì các quan hệ sản xuất "hợp thành" cơ sở kinh tế của xã hội, tức là cơ sở hiện thực, trên đó hình thành nên kiến trúc thượng tầng tương ứng.

Kiến trúc thượng tầng: Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan

điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, v.v cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội, v.v được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định.

Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật vậnđộng phát triển riêng, nhưng chúng liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau

và đều hình thành trên cơ sở hạ tầng Song, mỗi yếu tố khác nhau có quan hệkhác nhau đối với cơ sở hạ tầng Có những yếu tố như chính trị, pháp luật cóquan hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng; còn những yếu tố như triết học, tôn giáo,nghệ thuật chỉ quan hệ gián tiếp với nó Trong xã hội có giai cấp, kiến trúcthượng tầng mang tính giai cấp Đó chính là cuộc đấu tranh về mặt chính trị -

tư tưởng của các giai cấp đối kháng, trong đó, đặc trưng là sự thống trị về mặtchính trị - tư tưởng của giai cấp thống trị Trong kiến trúc thượng tầng của xãhội có giai cấp, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng Nó tiêu biểu cho chế

độ chính trị của một xã hội nhất định Nhờ có nhà nước, giai cấp thống trị mớithực hiện được sự thống trị của mình về tất cả các mặt của đời sống xã hội

2.2.2 Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Trang 14

Mổi hình thái kinh tế - xã hội có cơ sở hạ tầng và kiến trức thượng tầngnhất định , có hình thành một cách khách quan và gắn liền với những điều kiệnlịch sử xã hội cụ thể Trong đó cơ sở hạ tầng, toàn bộ những quan hệ kinh tế cảu

xã hội bao giờ cũng giữ vai trò quyết định

Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng

Khác với những quan điểm cho rằng nhà nước, hệ tư tưởng chính trị, đờisống tinh thần…đẻ ra và quyết định kinh tế hoặc cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng có quan hệ độc lập ngang nhau, không phụ thuộc lẫn nhau chỉ cóđạo đức là quyết định tất cả triết học Mác- Lê Nin hoàn toàn bác bỏ nhữngquan điêm trên đây và khẳng định cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đốivới kiến trúc thượng tầng Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúcthượng tầng tương ứng với nó Tính chất của kiến trúc thượng tầng là do tínhchất của cơ sở hạ tầng quyết định Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thốngtrị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống tinhthần của xã hội Các mâu thuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết định cácmâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị tư tưởng; cuộc đấu tranh giai cấp về chínhtrị tư tưởng là biểu hiện những đối kháng trong đời sống kinh tế Tất cả cácyếu tố của kiến trúc thượng tầng như nhà nước, pháp quyền, triết học, tôngiáo, v.v đều trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạtầng quyết định Khi cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn, kiến trúcthượng tầng cũng thay đổi theo C.Mác viết: "Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn

bộ kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng" Quátrình đó diễn ra không chỉ trong giai đoạn thay đổi từ hình thái kinh tế - xã hộinày sang hình thái kinh tế - xã hội khác, mà còn diễn ra ngay trong bản thânmỗi hình thái kinh tế - xã hội Tuy sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng cũnggắn với sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhưng lực lượng sản xuất khôngtrực tiếp làm thay đổi kiến trúc thượng tầng Sự phát triển của lực lượng sản

Ngày đăng: 14/06/2019, 10:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w