Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về nhóm côn trùng nước ở khuvực này mới chỉ tập trung nghiên cứu đa dạng sinh học về loài ở các suốithuộc Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh [83] hoặc đa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
-
HOÀNG THỊ THÚY
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ
CỦA CÔN TRÙNG NƯỚC Ở XÃ NGỌC THANH, THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
-
HOÀNG THỊ THÚY
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ
CỦA CÔN TRÙNG NƯỚC Ở XÃ NGỌC THANH, THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 8 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN HIẾU
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS
Nguyễn Văn Hiếu - cán bộ giảng dạy Tổ Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường cũng như hoàn thiện luận văn của mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các học viên, sinh viên
trong Tổ Động vật, Khoa Sinh - Kỹ thuật nông nghiệp, Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn
Tôi cũng cảm ơn các thầy cô, đồng nghiệp công tác tại trường THCS THPT DTNT Phúc Yên và bạn bè đã động viên, tạo điều kiện cho tôi thực hiện tốt công việc của mình
Cuối cùng, tôi bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và người thân đã đã động viên và là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Thúy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sựhướng dẫn của TS Nguyễn Văn Hiếu Các kết quả nghiên cứu, các số liệutrình bày trong luận văn là do nghiên cứu, thực tiễn đảm bảo tính trung thực
và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học, trong các tạp chíchuyên ngành và các hội thảo khoa học, sách chuyên khảo, … nào khác
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Thúy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
4 Điểm mới của đề tài 3
NỘI DUNG 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học về loài 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về nhóm dinh dưỡng chức năng 16
1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước tại Việt Nam 17
1.2.1 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học về loài 17
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về nhóm dinh dưỡng chức năng 27
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.2 Thời gian nghiên cứu 28
2.3 Địa điểm nghiên cứu 28
2.4 Phương pháp nghiên cứu 36
Trang 62.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên 36
2.4.2 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm 37
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 38
2.4.4 Chỉ số đa dạng sinh học và chỉ số tương đồng 38
2.5 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội ở xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 40
2.5.1 Điều kiện tự nhiên 40
2.5.2 Tình hình kinh tế xã hội 41
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1 Thành phần loài và đa dạng sinh học về loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 43
3.1.1 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 51
3.1.2 Đa dạng sinh học về loài của côn trùng nước 54
3.2 Phân bố của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 63
3.2.1 Phân bố của côn trùng nước theo sinh cảnh tại 63
3.2.2 Phân bố của côn trùng nước theo các đợt thu mẫu 70
3.3 Cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước theo các sinh cảnh 77
3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến môi trường sống và giải pháp bảo vệ các loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 80
3.4.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến môi trường sống các loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 81
3.4.2 Một số đề xuất để bảo vệ các côn trùng nước tại tại khu vực nghiên cứu 83
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Một số đặc điểm sinh cảnh tại các điểm nghiên cứu 31
Bảng 2.2 Quan hệ giữa giá trị chỉ số Shannon - Weiner (H’) 39 Bảng 3.1 Số lượng và tỷ lệ ( ) các taxon thuộc các bậc phân loại của
côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 43
Bảng 3.2 Thành phần các loài côn trùng nước ở khu vực nghiên cứu 45
Bảng 3.3 Số lượng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của
Phù du tại Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 54
Bảng 3.4 Số lượng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của
Chuồn chuồn tại Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 56
Bảng 3.5 Số lượng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của
Cánh úp tại xã Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 57
Bảng 3.6 Số lượng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của Bộ
Cánh nửa (Hemiptera) tại Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 57
Bảng 3.7 Số lượng và tỷ lệ (%)các taxon thuộc các bậc phân loại của
Bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại xã Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 58
Bảng 3.8 Số lượng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của Bộ
Hai cánh (Diptera) tại Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 60
Bảng 3.9 Số lượng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của
Bộ Cánh vảy (Lepidoptera) tại xã Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 61
Bảng 3.10 Số lượng và tỷ lệ (%) các taxon thuộc các bậc phân loại của
Bộ Cánh lông (Trichoptera)tại xã Ngọc Thanh, Phúc Yên, Vĩnh Phúc 61
Bảng 3.11 Số lượng loài côn trùng nước theo các dạng sinh cảnh 64
Trang 8Bảng 3.12 Chỉ số tương đồng Sorensen giữa các sinh cảnh nghiên cứu 66
Bảng 3.13 Số lượng cá thể côn trùng nước tại các sinh cảnh trên đơn vị
diện tích 5m2
67
Bảng 3.14 Loài ưu thế và chỉ số đa dạng sinh học Shannon - Weiner (H’)
tại khu vực nghiên cứu 69
Bảng 3.15 Số lượng loài côn trùng nước theo các đợt nghiên cứu 70
Bảng 3.16 Số lượng cá thể của các bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên
cứu ở đợt 1 và đợt 2 trên đơn vị thu mẫu là 7,5m2
74
Bảng 3.17 Loài ưu thế và chỉ số đa dạng sinh học Shannon - Weiner (H’)
tại khu vực nghiên cứu theo đợt nghiên cứu 76
Bảng 3.18 Số lượng các nhóm chức năng dinh dưỡng theo sinh cảnh 77
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu tại khu vực nghiên cứu 29Hình 3.1 Số loài của từng bộ côn trùng nước giữa các sinh cảnh 64Hình 3.2 Sơ đồ tương đồng thành phần loài côn trùng nước giữa cácsinh cảnh nghiên cứu 66Hình 3.3 Tỷ lệ ( ) về số lượng cá thể theo nhóm dinh dưỡng chức năngtại các sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu 78
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cũng như các động vật không xương sống khác, côn trùng nước gópphần duy trì hệ sinh thái thủy vực phát triển ổn định Chúng có mặt hầu hết ởcác thủy vực nước ngọt, đặc biệt là thủy vực dạng suối Với nhiều đặc tính nổitrội như số lượng loài nhiều, số lượng cá thể lớn… đặc biệt chúng là nhữngmắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lưới thức ăn Côn trùng nước vừa lànhóm sinh vật tiêu thụ, tiếp nhận các nguồn vật chất thô rơi rụng, hệ tảo bámlàm nguồn thức ăn; vừa chuyển hóa vật chất hữu cơ thành các dạng dễ hấpthu đưa vào dòng chảy và đồng thời là nguồn thức ăn cho các sinh vật tiêu thụnhư: cá, lưỡng cư, động vật không xương cỡ lớn Sự phát triển đa dạng củaquần xã côn trùng nước đóng góp lượng sinh khối đáng kể vào hệ thống dòngchảy Nhiều loài côn trùng nước có quan hệ mật thiết đối với con người Một
số loài côn trùng nước gây hại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh, tácnhân phá hoại sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp… Chính vì vậy, côn trùngnước là đối tượng quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới
và trong nước
Trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đếncôn trùng nước Từ việc phân loại, phân nhóm chức năng dinh dưỡng cho đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái, sinh sản, di truyền, tiến hóa, ứng dụng… Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côn trùng nước cũngđược quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là ở các Vườn Quốc gia (VQG) và cácKhu bảo tồn thiên nhiên; những nơi có hệ thống sông, suối phong phú, tiềm
ẩn tính đa dạng côn trùng nước Tuy vậy, các nghiên cứu chủ yếu tập trung theo hướng phân loại học và đa dạng sinh học về loài Các nghiên cứu vềphân bố và cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước còn ít,
Trang 11chưa thành hệ thống
Xã Ngọc Thanh là xã vùng núi duy nhất của thành phố Phúc Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc với diện tích hơn 7.732,68 ha Một phần diện tích của xã NgọcThanh thuộc vùng đệm của VQG Tam Đảo Địa hình chủ yếu của xã là đồinúi thấp, có độ cao so với mặt nước biển dao động từ khoảng 25m đến 300m
Xã Ngọc Thanh có nhiều dạng thủy vực khác nhau, trong đó thủy vực dạngsuối tương đối đa dạng và phong phú Các suối này là điều kiện rất tốt cho sựphát triển của các loài thủy sinh vật nói chung và các loài côn trùng nước nóiriêng Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về nhóm côn trùng nước ở khuvực này mới chỉ tập trung nghiên cứu đa dạng sinh học về loài ở các suốithuộc Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh [83] hoặc đa dạng sinh học về loài Phù du [6] mà chưa nghiên cứu về nhóm côn trùng nước trong toàn bộ khuvực, đặc biệt các nghiên cứu về phân bố và cấu trúc nhóm dinh dưỡng chứcnăng của chúng còn ít và tản mạn
Bên cạnh đó, dưới tác động của con người các hệ thống suối đã cónhững biến đổi nhất định so với ban đầu Nhiều đoạn suối chảy qua các khudân cư cũng ít nhiều chịu sự tác động trong sinh hoạt hằng ngày của ngườidân Chính vì vậy, chúng tôi đã tiến hành đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm phân bố
của côn trùng nước ở xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc yên, tỉnh Vĩnh Phúc”
2 Mục đích nghiên cứu
- Cung cấp các dẫn liệu đa dạng sinh học và phân bố của côn trùng nước
ở khu vực nghiên cứu theo sinh cảnh, theo đợt thu mẫu
- Cung cấp các dẫn liệu về đặc điểm nhóm dinh dưỡng chức năng củacôn trùng nước theo sinh cảnh
- Bước đầu đánh giá những ảnh hưởng bởi hoạt động của con ngườiđến côn trùng nước ở khu vực nghiên cứu làm cơ sở cho việc bảo tồn các loàicôn trùng nước
Trang 123 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3 1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học về thành phần loài và phân bốcủa côn trùng nước ở xã Ngọc Thanh là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứuchuyên sâu về nhóm sinh vật này ở khu vực nghiên cứu
3 2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài góp phần cung cấp những tư liệu phục vụ cho việcnghiên cứu, giảng dạy về côn trùng nước tại xã Ngọc Thanh, thành phố PhúcYên, tỉnh Vĩnh Phúc Từ đó đề xuất các biện pháp nhằm bảo tồn sự đa dạngcủa nhóm sinh vật này ở khu vực nghiên cứu
4 Điểm mới của đề tài
- Lần đầu tiên thu được các đại diện thuộc bộ Bọ nhảy (Collembola) cho khu hệ côn trùng nước tại Việt Nam
- Lần đầu tiên hệ thống danh sách cập nhật nhất về nhóm côn trùng nướctại khu vực nghiên cứu
- Cung cấp dẫn liệu mới về phân bố của các loài côn trùng nước theodạng sinh cảnh và theo đợt thu mẫu ở khu vực nghiên cứu
- Cung cấp các dẫn liệu đầu tiên về phân bố nhóm dinh dưỡng chức năngcủa côn trùng nước theo dạng sinh cảnh suối ở khu vực nghiên cứu
Trang 13tả, phân loại mà còn đi sâu vào các cơ chế bên trong như: biến động quần thểcôn trùng, các mối quan hệ dinh dưỡng, đáp ứng yêu cầu của sinh thái học Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố hàngloạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: McCafferty (1983)
[63]; Morse et al (1994) [66]; Merritt& Cummins [65];… Các nghiên cứunày đã bổ sung và cung cấp nhiều kiến thức về côn trùng nước bao gồm cảphân loại học, sinh thái học, tiến hóa, ứng dụng…
Qua các công trình nghiên cứu, đến nay đã xác định được 9 bộ điểnhình, thường gặp thuộc nhóm Côn trùng ở nước: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata), Cánh lông (Trichoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh cứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), Cánhrộng (Megaloptera), Cánh vảy (Lepidoptera) Ngoài ra còn các đại diện khácthuộc nhóm sinh vật này nhưng ít gặp như: bộ Bọ nhảy (Collembola), bộCánh thẳng (Orthoptera),
1.1.1 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học về loài
Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Bộ Phù du là côn trùng có cánh cổ sinh tương đối nguyên thủy, thậmchí còn được xem như một trong những tổ tiên của côn trùng Dựa vào nhữngbằng chứng về hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Cacbon
và kỷ Pecmơ trong đại Cổ sinh (cách đây khoảng 250 triệu năm) [40]
Trang 14Các loài thuộc bộ Phù du được mô tả từ rất sớm Lineaus (1758), đã mô
tả 6 loài Phù du tìm thấy ở châu Âu và xếp chúng vào một nhóm, ông đặt tên
là Ephemera Có thể xem đây là công trình đầu tiên đặt nền móng cho các
nghiên cứu về Phù du sau này [60].Vào thế kỷ XX, những nghiên cứu về Phù
du thực sự phát triển mạnh mẽ với các công trình tiêu biểu của của Návas(1922) [67], Ulmer (1932-1933) [104], Lestage (1921, 1924, 1930) [57, 58, 59], Edmunds (1962) [39], đã xây dựng hệ thống phân loại đến họ thuộc bộ Phù du trên toàn thế giới Ông đã đưa ra khóa phân loại bậc cao cũng nhưnguồn gốc phát sinh của Phù du, cũng như sự phân bố của các họ theo khu
vực địa động vật trên thế giới Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của cácnghiên cứu về Phù du, hệ thống phân loại của ông ngày càng tỏ ra hạn chế
McCafferty và Edmunds (1979), đã bổ sung những dẫn liệu mới vàđiều chỉnh khóa phân loại cho phù hợp với thực tế nghiên cứu đòi hỏi [62]
Tiếp sau công trình nghiên cứu mang tính bước ngoặt này hệ thống phân loại Phù du ngày càng được hoàn chỉnh bởi các nghiên cứu của McCafferty (1983) [63] và nhiều nhà nghiên cứu về Phù du khác Gần đây, Odgen vàWhiting (2005) đã tổng hợp lại thành một hệ thống tổng quát về nghiên cứu phân loại Phù du du dựa trên những nghiên cứu về sinh học phân tử (dẫn theo Barber-James, 2010) [23]
Theo Hubbard et al (2008), trên toàn thế giới đã xác định được khoảng
3000 loài Phù du thuộc 375 giống thuộc 37 họ, trong đó ở châu Âu có khoảng
350 loài và Bắc Mỹ là 670 loài Đa dạng ở mức độ loài của Phù du ở các họthể hiện rất khác nhau, có những họ chỉ có 1 loài như: Coryphoridae, Machadorythidae, Có những họ có hàng trăm loài như Baetidae, Heptageniidae,…[45] Tuy vậy những con số này vẫn chưa phản ánh hết mức
độ đa dạng của Phù du trên thế giới nhất là các khu vực nhiệt đới
Ở khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du được thựchiện bởi các nhà côn trùng học từ châu Âu như: Navás (1922, 1930) [67, 68]
Trang 15Theo kết quả nghiên cứu của Dudgeon (1999), ở châu Á có khoảng 128 giốngthuộc 18 họ của bộ Phù du [38] Tác giả cũng đã xây dựng khóa định loại tớitaxon bậc giống của Phù du ở châu Á, những nghiên cứu này là cơ sở nềntảng thúc đẩy việc nghiên cứu về Phù du ở khu vực
Tại khu vực Đông Nam Á, các nghiên cứu về Phù du đã được khởixướng bởi Uéno (1961, 1969) [102, 103] và Ulmer (1939) [105] Các nhànghiên cứu của Việt Nam và Thái Lan cũng đã công bố khá nhiều công trìnhnghiên cứu về Phù du trong thời gian gần đây: Nguyen (2003) [71], Nguyen
& Bae (2003) [72], Braasch & Boonsoong (2009) [25]
Có thể thấy các nghiên cứu về khu hệ và phân loại học của bộ Phù du ởkhu vực Châu Á tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á nơi cócác hệ thống các thủy vực đa dạng và phong phú đặc biệt là các thủy vựcdạng suối, điều kiện khí hậu, thời tiết thuận lợi cho sự sinh trưởng và pháttriển của các loài Phù du Các nghiên cứu về khu hệ và phân loại học của Phù
du ở khu vực này khá chi tiết cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành, đặc biệt
là giai đoạn ấu trùng
Cho đến nay, những nghiên cứu liên quan đến phân loại và hệ thống
học Phù du khá tỉ mỉ, các nhà khoa học đã xây dựng khoá phân loại chi tiết
tới loài kể cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành Hiện nay, hướng nghiên cứu
tập trung vào các vấn đề sinh thái, phục hồi và bảo tồn các loài cũng như cácnghiên cứu ứng dụng của Phù du vào thực tiễn
Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Từ khoảng cuối thế kỉ XIX những nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn đã được bắt đầu, nhưng phải sang thế kỉ XX các nghiên cứu về nhóm côn trùngnước này mới được các nhà nghiên cứu phân loại học và sinh thái học chú ýnhiều hơn Ở giai đoạn đầu, các công trình nghiên cứu về Chuồn chuồn chủyếu tập trung mô tả hình dạng và đặc điểm ngoài các loài Chuồn chuồn thu
Trang 16thập được ở châu Á và châu Âu nhằm xây dựng khóa định loại Merritt & Cummins (1996), xây dựng khóa định loại tới giống ở cả giai đoạn thiếu trùng
và trưởng thành bộ Chuồn chuồn thuộc khu vực Bắc Mỹ [65]
Bộ chuồn chuồn được chia thành 3 phân bộ: phân bộ Zygoptera (Chuồn chuồn kim), phân bộ Anisoptera (Chuồn chuồn ngô) và phân bộ
Anisozygoptera Phân bộ Anisozygoptera chỉ có 1 giống là Epiophlebia,
giống này có một số loài chỉ phân bố ở độ cao khoảng 2.000m ở những consuối thuộc Nhật Bản và vùng núi cao Himalaya (Tani Miyatake, 1979; Kumar & Khanna, 1983) Hai phân bộ còn lại phân bố rộng cả ở nơi nước
đứng cũng như nước chảy với số lượng loài phong phú (dẫn theo Morse et al.,
1994) [66] Đến năm 2008 trên thế giới đã xác định được khoảng hơn 6000 loài thuộc hơn 600 giống của bộ Chuồn chuồn [65]
Khu vực Bắc Mỹ những nghiên cứu đầu tiên về phân loại học Chuồnchuồn được thực hiện bởi Muttkowski (1910), Needham và Heywood (1929),
đã xác định được khoảng 462 loài, phần lớn các loài gần đây được mô tả đều thuộc họ Gomphidae là họ có số lượng loài lớn và đa dạng nhất trong bộChuồn chuồn (dẫn theo Merritt Cummins, 1996) [65]
Ở khu vực châu Á, công trình nghiên cứu đầu tiên về Chuồn chuồn ởBangladesh được công bố bởi Chowdhury & Akhteruzzaman (1983) [37] Hai ông đã mô tả chi tiết các ấu trùng của 13 loài Chuồn chuồn thuộc phân bộAnisoptera Ngoài ra còn một số công trình điển hình khác như: Asahina
(1993) [21], Subramanian (2005) [95]
Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những côngtrình nghiên cứu về sinh học, sinh thái học và tập tính sinh học của Corbet (1999 )[36], Silsby (2001)[ 90] Các công trình nghiên cứu này chủ yếu dựavào giai đoạn trưởng thành Đối với giai đoạn thiếu trùng, Ishida Ishida(1985) đã xây dựng khóa định loại có kèm theo hình vẽ rõ ràng tới giống ởvùng châu Á [46]
Trang 17Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Theo Fochetti & Tierno (2008), bộ Cánh úp (Plecoptera) là một bộ côntrùng nước thuộc nhóm côn trùng phát triển qua biến thái không hoàn toàn, xuất hiện ở kỷ Pecmi khoảng 300 triệu năm trước đây Cánh úp có sự phân bốrộng rãi trên toàn cầu (trừ khu vực Antartica) và đóng vai trò quan trọng trong
hệ sinh thái nước ngọt, chúng đóng vai trò là sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2 đồng thời cũng là thức ăn của nhiều loài động vật không xương sống và cá; thiếu trùng bộ Cánh úp còn được sử dụng trong nhiều nghiên cứu ứng dụngnhư là những chỉ thị sinh học để đánh giá chất lượng môi trường nước, [ 41]
Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp đã xác định được khoảng 3500 loài, trong đó: khu vực Bắc Mỹ có khoảng 650 loài (Stark Baumann, 2005), khu vực Trung Mỹ 95 loài, khu vực Nam Mỹ 378 loài (Heckman, 2003), khu vựcChâu Âu 426 loài (Fochetti Tierno, 2004), khu vực Châu Phi 126 loài; Châu
Á là khu vực có số lượng loài phong phú nhất với số loài đã xác định được lêntới 1527 loài trong đó: khu vực Đông Á và Nam Á có khoảng 784 loài, Trung Quốc đứng đầu với 350 loài (Yuzhou & Junhua, 2001), tiếp đó là Nhật Bản với
306 loài (Sivec Yang 2001); Tây Á có 114 loài và Bắc Á với 279 loài Khu vực Australia có 191 loài(Michaelis & Yule, 1988) và New Zealand với 104loài (dẫn theo Fochetti & Tierno, 2008) [88]
Khu hệ Cánh úp ở châu Á được nghiên cứu bởi những nhà khoa họcchâu Á và châu Âu Trong suốt những thập niên 30 của thế kỷ XX, Wu vàClaassen (1934, 1935, 1937, 1938) đã mô tả khóa định loại Cánh úp ở miềnNam Trung Quốc Kawai (1961 - 1975) nghiên cứu ở Ấn Độ, Bangladesh đến
phía Nam châu Á Zwick và Sivec (1980) mô tả một số loài Cánh úp ởHimalaya Vào thập niên 80 của thế kỷ XX, Zwick (1980, 1983, 1985, 1988)
cũng đưa ra những nghiên cứu về khu hệ Cánh úp ở Đông Nam Á Uchida et
al (1988, 1989) mô tả một vài loài thuộc phân họ Perlinae của họ Perlidae ởMalaysia, Thái Lan và mô tả 2 giống thuộc Peltoperlidae (Cryptoperla và
Trang 18Yoraperla) ở Nhật Bản và Đài Loan Stark (1979, 1987, 1983, 1991, 1999) đãghi nhận nhiều loài mới trong họ Peltoperlidae và Perlidae ở châu Á Gần
đây, Du et al (1999) đã công bố những tài liệu liên quan đến Perlidae ở miền
Nam Trung Quốc (dẫn theo Cao, 2002 ) [27]
Các nghiên cứu đa dạng về loài của bộ Cánh úp ở khu vực Đông Nam
Á được tiến hành khá sớm Các nghiên cứu này được thực hiện bởi các nhàkhoa học đến từ châu Âu và châu Mỹ như Banks (1913-1919), Navás (1924-1934), Klapálek (1909-1923) Kawai (1969), dựa trên các mẫu vật ở dạngtrưởng thành thu thập được ở Borneo (Indonesia), Philippin, Thái Lan và ViệtNam đang được lưu giữ ở Bảo tàng Bishop đã công bố danh lục gồm 16 loàithuộc 8 giống và 4 họ của bộ Cánh úp ở khu vực này Bốn họ được xác địnhlà: Peltoperlidae, Nemouridae, Leuctridae và Perlidae Trong 16 loài thu thập
được có 4 loài mới cho khoa học là Amphinemura minuta, Amphinemura
gressitti, Protonemura filigera và Rhopalopsole femina Tuy nhiên, các mẫu
vật dùng trong phân loại đều ở giai đoạn trưởng thành, không có mẫu vật nào
ở giai đoạn thiếu trùng Theo Kawai (1969), khu hệ Cánh úp ở khu vực ĐôngNam Á còn tiềm ẩn số lượng loài rất lớn vẫn chưa được biết đến (Dẫn theo Nguyễn Văn Hiếu, 2016) [5]
Trong số các họ ghi nhận được ở khu vực Đông Nam Á thì họ Perlidaeđược quan tâm nghiên cứu nhiều hơn cả Vào thập niên 80 của thế kỷ XX, hàng loạt các nghiên cứu về họ này ở khu vực Đông Nam Á đã được công bố, trong đó phải kể đến các nghiên cứu của Zwick ở Indonesia, Stark ở đa số cácquốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á và Sivec ở Philippin Dựa trên các kết
quả nghiên cứu đã được công bố và các kết quả nghiên cứu mới, Cao et al
(2007) đã đưa ra danh lục gồm 113 loài thuộc 7 giống của họ Perlidae ở khuvực Đông Nam Á Nghiên cứu trên được coi là nghiên cứu tổng hợp nhất vềkhu hệ Perlidae ở khu vực này Theo kết quả nghiên cứu trên, trong 7 giống
Trang 19thu được thì giống Neoperla có số lượng loài nhiều nhất với 94 loài, tiếp đến
là giống Phanoperla với 10 loài, giống Chinoperla với 3 loài, 2 giống
Agnetina và Tyloperla mỗi giống đều có 2 loài, 2 giống còn lại là
Entrocorema và Togoperla, mỗi giống đều chỉ có một loài Trong 113 loài ghi
nhận được có 41 loài thu thập được ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, phía Tây của Malaysia, Myanma; 60 loài ghi nhận được ở đảo Sumatra, Java
và Borneo thuộc Indonesia; 18 loài ở Philippin Các mẫu vật dùng trongnghiên cứu chủ yếu ở dạng trưởng thành, một số mẫu vật ở giai đoạn thiếutrùng [32]
Về khía cạnh sinh thái học, thiếu trùng Cánh úp thường sống trongnước, nồng độ ôxy cao, một số còn tìm thấy trong các khu vực hồ, ngoài ramột số loài còn có khả năng sống trên cạn Các nghiên cứu gần đây của
Beracko et al (2016) đã đưa ra được sự ảnh hưởng của độ che phủ rừng đốivới cấu trúc quần xã và quá trình phát triển của thiếu trùng Cánh úp Haynghiên cứu về sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đối với sự phát triểncủa thiếu trùng Cánh úp ở khu vực suối trong rừng tự nhiên và suối ở khu vực
bị chặt phá rừng [32]
Về khía cạnh ứng dụng, do có sự nhạy cảm cao đối với các tác động ônhiễm môi trường nước nên những nghiên cứu ứng dụng của Cánh úp tậptrung ở lĩnh vực chỉ thị chất lượng môi trường nước
Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu bộ Cánh nửa (Hemiptera) ở nước về hình thái, sinh học, sinh thái, phân loại và chủng loạiphát sinh như: Cheng và Fernando (1969), Menke (1979), Andersen (1985),
Schuh và Slater (1995), Hilsenwoff (1991) (dẫn theo Yang et al., 2004)
[109] Năm 2008, thế giới xác định được 4.810 loài, 343 giống và 23 họthuộc bộ Cánh nửa trong đó bao gồm 4.656 loài, 326 giống, 20 họ sống ở
Trang 20nước ngọt [85] Merritt & Cummins (1996) [65], Morse et al (1994) [66] đã
xây dựng khóa định loại tới giống của các họ thuộc bộ Cánh nửa ở khu vực
Bắc Mỹ và Trung Quốc
Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khásớm bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury (1972, 1973) (dẫn theo Morse et al., 1994) [66]
Ở Đông Nam Á, nghiên cứu khu hệ bộ Cánh nửa đã được tiến hànhkhoảng 50 năm trước Đặc biệt, trong giai đoạn gần đây các công trình củaZettel Chen ở Việt Nam (1996) và Thái Lan (1998) Các nghiên cứu tậptrung vào việc mô tả, xây dựng khóa định loại (dẫn theo Tran, 2008) [97]
Cùng với việc nghiên cứu về phân loại học, nhiều nhà khoa học cũngquan tâm đến việc nghiên cứu các lĩnh vực sinh thái học, địa lý sinh vật, chủng loại phát sinh, tập tính hay sự thích nghi của Cánh nửa ở nước Có thể
kể đến công trình nghiên cứu của Cobben (1968, 1978), Andersen (1982), Damgaard (2008) Cheng (1965, 1966, 1976) đã công bố một số bài báo về
sinh thái và địa lý sinh vật của giống Halobates Những nghiên cứu về vai trò
của bộ Cánh nửa trong hệ sinh thái cũng được quan tâm bởi các nhà khoa học
như Keffer (2000), Spence và Andersen (2000), Sites (2000), Yang et al (2004), Chen et al (2005) (dẫn theo Tran, 2008) [97]
Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Theo Klaas-Douwe et al (2014), Cánh lông là một trong những bộ có
số lượng loài phong phú và đa dạng nhất trong các bộ côn trùng sống trongnước sạch và đứng thứ ba trong các bộ côn trùng nước, tuy nhiên tính đếnhiện nay các nhà khoa học dự đoán mới có khoảng 25 loài được mô tả Trênthế giới, Cánh lông có sự phân bố đa dạng, có thể tìm thấy ở những suối cónhiệt độ tương đối cao (lên tới 340
C) [56]
Trang 21Những nghiên cứu về hệ thống phân loại học của bộ Cánh lông đượcthực hiện bởi Ross (1956, 1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn
thiện bởi Morse (1997) Theo Ito et al (2012), ước tính trên thế giới có
khoảng 14.548 loài, 616 giống và 49 họ còn tồn tại và 685 loài thuộc 125
giống và 12 họ đã hóa thạch của bộ Cánh lông [47]
Ở châu Á các nghiên cứu về khu hệ và phân loại học của bộ Cánh lôngđược tiến hành rất sớm bởi các nghiên cứu của Ulmer (1911, 1915) Tiếp theo
là các nghiên cứu của Iwata (1927), Ito (1984-1992), Tanida (1986, 1987), Martynov (1914, 1931, 1935, 1936), Banks (1937, 1940), Mosely (1942), Hwang (1957, 1958), Wang (1963), Kimmins (1955), Schmid (1958-1961) Các nghiên cứu này được tiến hành chủ yếu ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Pa-kít-tan, In- đô- nê- xi- a , Phi-lip-pin (dẫn theo Dudgeon, 1999) [38]
Morse et al (1994) đã xây dựng khóa định loại tới taxon bậc giống dựa vào hình thái ngoài ở giai đoạn ấu trùng của Cánh lông ở Trung Quốc, khóađịnh loại này được coi là cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn về phân loại học
của Cánh lông ở Trung Quốc sau này [66] Dudgeon (1999), đã xây dựng khóa định loại taxon bậc họ của bộ Cánh lông ở châu Á [38]
Bộ Cánh lông được nghiên cứu nhiều ở các nước Đông Nam Á điểnhình là các nghiên cứu của Ulmer (1951, 1955, 1957) [106, 107, 108], Morse (2009); Banks (1937) là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ Cánh lông ởPhilippin Đặc biệt trong những năm gần đây, hàng loạt các công trình nghiêncứu mới về Cánh lông được công bố: Malicky (2007) đã cung cấp danh sáchgồm 327 loài và chứng minh sự đa dạng của Cánh lông trên đảo Sumatra caohơn so với các khu vực khác ở Indonesia (dẫn theo Johason và Oláh, 2008b) [50] Johason & Oláh (2008a, 2008b) đã công bố 7 loài mới thuộc giống
Tinodes thuộc họ Psychomyiidae cho khu hệ Cánh lông Đông Nam Á và 1loài mới từ Hồng Kông [49, 50]
Trang 22Các nghiên cứu về Cánh lông cũng được quan tâm ở một số quốc giakhác như Nhật Bản với những nghiên cứu của Iwata (1927), Tanida (1986, 1987), Ito & Ohkawa (2012); Trung Quốc (Martynov, 1930, 1931; Wang, 1963), Thái Lan (Chantaramongkol & Malicky, 1989, 1991, 1992, 1993,
1995, 1997; Radomsuk, 1999; Sangpradub et al., 1999; Malicky et al., 2001,
2002; Chaiyapa, 2001) Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế về định loại ấu trùngtới giống và loài nên các nghiên cứu ở Đông Nam Á mới chỉ dừng lại ở giaiđoạn trưởng thành Các khóa định loại của Cánh lông ở Đông Dương (Lào,
Campuchia và Việt Nam) dựa trên những nghiên cứu của tác giả Wallace et
al (1990), Edington and Hildrew (1995), Wiggins (1996) (dẫn theo Hoang, 2005) [43]
Bên cạnh những nghiên cứu về phân loại học, những nghiên cứu về sinh thái và đặc điểm sinh học của bộ Cánh lông cũng được đặc biệt chú ý, tiêu biểu là một số công trình liên quan đến giai đoạn ấu trùng của Wiggins (1969, 1978, 1985, 1986) Năm 2009, Morse đã công bố một danh sách đầy
đủ các loài cũng như phân bố địa lý sinh vật của bộ Cánh lông trên toàn thếgiới và tiếp tục được cập nhật cho tới hiện nay (dẫn theo Hoang, 2005) [43]
Brouwer et al (2017) đã đánh giá khả năng chống trịu của 6 loài Cánh lôngthường sống ở khu vực nước đứng dưới tác động của tốc độ dòng chảy, qua
đó đã đánh giá được khả năng thích nghi của các loài này trong tự nhiên khi
có sự thay đổi [26.] Martins et al (2017) đã đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với khả năng tồn tại, phát triển của loài Phylloicus elektoros thông
qua việc đánh giá các yếu tố như nhiệt độ nước và nồng độ CO2 [61]
Nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera)
Theo Jach & Balke (2008), bộ Cánh cứng (Coleoptera) là bộ có sốlượng loài lớn nhất trong giới Động vật Hiện nay, số loài thuộc bộ côn trùngnày vào khoảng 277.000 - 350.000 loài và khoảng 18.000 loài trong số đó
Trang 23thuộc nhóm côn trùng nước [46] Hiện nay, các công trình nghiên cứu về bộCánh cứng tập trung vào phân loại học, sinh thái học, tiến hóa như: cácnghiên cứu của Feng (1932, 1933), Gschwendtner (1932), Fernando (1962, 1969), Nertrand (1973), Jach (1984) (dẫn theo Morse et al., 1994) [66]
Ở Trung Quốc, Wu et al đã xác định có 601 loài, Sato (1988) đã định
loại được 311 loài ở Nhật Bản, Britton (1970) xác định ở Úc có khoảng 510loài và White (1984) đã phân loại được 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹ thuộc
bộ Cánh cứng (dẫn theo Merritt Cummins, 1996) [65]
Những nghiên cứu mới đây có thể kể đến như Short & Jia (2012) đã bổ
sung 2 loài mới của giống Oocyclus là Oocyclus fikaceki và Oocyclus dinghu
cho khu hệ Cánh cứng Châu Á từ các mẫu vật thu được ở Đông Nam Trung Quốc [89]
Mặc dù là nhóm côn trùng nước có số loài rất phong phú tuy nhiên con
số này chỉ là một phần nhỏ tổng số loài của bộ Cánh cứng vì thế các côngtrình nghiên cứu về bộ Cánh cứng ở nước thường ít được quan tâm hơn cácloài Cánh cứng trên cạn
Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)
Bộ Hai cánh là một trong những bộ côn trùng có số lượng loài nhiềunhất trong giới Động vật với khoảng 120.000 loài sống ở nước được biết trênthế giới Đây là bộ có nhiều họ rất phổ biến và được nghiên cứu rất kỹ, do chúng có quan hệ chặt chẽ với đời sống con người như họ Muỗi (Culicidae),
họ Ruồi đen (Simuliidae) Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về bộHai cánh được công bố trên toàn thế giới, trong đó tiêu biểu là các công trìnhnghiên cứu của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich Hortle (1989) Đốivới khu vực châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975, 1977) đã tổng hợp mộtdanh lục khá đầy đủ về thành phần loài của bộ Hai cánh ở miền Ấn Độ - MãLai Khóa định loại tới họ và giống hiện nay chủ yếu thực hiện theo khóa định
Trang 24loại được xây dựng bởi Harris (1990) Do nhiều loài thuộc bộ này là vật chủtrung gian truyền bệnh cho người, gia súc và đa dạng ở các lĩnh vực sản xuấtnông nghiệp, y tế, chăn nuôi, môi trường… những đặc điểm về sinh thái học
của bộ này đã được quan tâm nghiên cứu từ sớm (dẫn theo MerrittCummins 1996) [65]
Trong những năm gần đây, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu liênquan đến việc sử dụng ấu trùng bộ Hai cánh đặc biệt là họ Chironomidae như
là sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước [66]
Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)
Bộ Cánh rộng được xem là nhóm côn trùng nguyên thủy trong nhómcôn trùng biến thái hoàn toàn Hiện nay, bộ Cánh rộng có khoảng 300 loàiđược biết trên thế giới và chia thành hai họ là: Corydalidae và Sialidae Giaiđoạn trưởng thành ở cạn và ăn thịt, thường hoạt động vào ban đêm Tuynhiên, giai đoạn ấu trùng lại sống dưới nước và ăn thịt các loài động vật [65]
Ấu trùng của bộ Cánh rộng thường phân bố ở các thủy vực nước ngọtnhư: sông, suối, hồ nơi có nhiều mùn, các mảnh vụn, cát hoặc sỏi nhỏ Chúngtrải qua 5 lần lột xác và sống được khoảng 1 năm trong vòng đời của mình
Ấu trùng rời khỏi các thủy vực nước ngọt và hóa nhộng [39]
Trong khi họ Corydalidae có phân bố khá rộng thì các loài thuộc họSialidae này lại phân bố rất hẹp, ở châu Á, họ này mới chỉ phân bố ở vùng ônđới thuộc Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1940) (dẫntheo Merritt & Cummins, 1996) [65]
Nghiên cứu về bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
Bộ Cánh vảy là một trong những bộ côn trùng có số loài lớn nhất trênthế giới, tuy nhiên chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae vàCrambidae sống ở nước Giai đoạn trưởng thành của bộ này đã được nghiêncứu từ lâu và rất nhiều công trình đã được công bố cùng với các khóa phânloại đến loài Nhưng ở giai đoạn ấu trùng, chỉ có một số công trình nghiên cứu,
Trang 25tiêu biểu là của Merrit và Cummins (1996) [65], Morse et al (1994) đã đưa ra
khóa định loại đến giống của ấu trùng bộ Cánh vảy [66]
Ở châu Á, các nghiên cứu về bộ Cánh vảy chủ yếu là về phân loại họctrong đó có các nghiên cứu của Rose Pajni (1987), Habeck & Solis (1994)
và Munroe (1995) (dẫn theo Merritt & Cummins, 1996) [65] Trong cácnghiên cứu này, các tác giả cũng đã thành lập khóa định loại cụ thể tới loài
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về nhóm dinh dưỡng chức năng
Trong hệ sinh thái thủy sinh, các dòng suối với các quần xã sinh vật cưtrú như: lưỡng cư, cá, động vật đáy, sinh vật nổi và đặc biệt là nhóm côntrùng thuỷ sinh đã đóng góp nhiều giá trị về đa dạng sinh học Các quần thểnày gắn kết chặt chẽ với nhau thông qua mạng lưới dinh dưỡng và được phântheo nhóm chức năng dinh dưỡng Phương pháp phân nhóm chức năng dinhdưỡng (Functional Feeding Groups - FFGs) được Merrit & Cummins (1996) phát triển dựa trên đặc điểm sinh cảnh sống, cấu tạo phần phụ miệng, cách thunhận thức ăn và loại thức ăn của nhóm côn trùng thủy sinh, đây là nhóm sinhvật chiếm ưu thế trong các quần xã sinh vật thủy vực suối đầu nguồn [65]
Trước đó, các nghiên cứu về nhóm dinh dưỡng chức năng của
Cummins et al (1979, 1989) [52, 53] đã công bố những kết quả bước đầu về
các nhóm dinh dưỡng chức năng của côn trùng nước Sau đó, Cummins et al
(2005) đã công bố các nghiên cứu về lĩnh vực này ở Brazil [54]
Các nhóm côn trùng được chia thành các nhóm chức năng cơ bản:nhóm cắt xé (shredders: shr) sẽ lấy thức ăn từ các vật chất thô, vật chất rơirụng (lá, mảnh thân thực vật); nhóm cào nạo (scrappers: scr) lấy thức ăn lànhóm tảo bảm đá; nhóm thu lọc (collector - filterer: c-f) lấy thức ăn là các hạtvật chất mịn, lơ lửng trong môi trường nước; nhóm thu gom (collector - gatherers: c-g) thu thập các vật chất ở nền đáy; nhóm ăn thịt (predators -p) ăncác sinh vật khác như các nhóm côn trùng thủy sinh [86]
Trang 26Hướng tiếp cận côn trùng thuỷ sinh theo nhóm chức năng dinh dưỡng(FFGs) cung cấp nhiều thông tin về quá trình chuyển hoá vật chất hữu cơ, mối
quan hệ dinh dưỡng, các dòng năng lượng có trong dòng chảy Trong nhiều
nghiên cứu gần đây, hướng tiếp cận này được sử dụng như một công cụ đánhgiá chất lượng môi trường dòng chảy [20, 96]
1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước tại Việt Nam
Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu côn trùng nước đã được một số tác giả
đề cập đến, những nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực phân loại học đối vớicác bộ phổ biến của côn trùng nước cũng như những nghiên cứu ảnh hưởngcủa côn trùng nước tới người, gia súc các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, y tế, chăn nuôi, môi trường sử dụng côn trùng nước làm sinh vật chỉ thị Dưới đây
là một số kết quả nghiên cứu chính về côn trùng nước ở Việt Nam cho đếngiai đoạn hiện nay
1.2.1 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học về loài
Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Tác giả đầu tiên mô tả các loài thuộc bộ Phù du ở Việt Nam là Lestage(1921, 1924) Ông đã công bố 3 loài mới của bộ Phù du dựa vào mẫu vậtđược lưu giữ ở bảo tàng Pari (mẫu thu được ở miền Bắc Việt Nam) Ngay sau
đó, Navás (1922, 1925) đã công bố hai loài Ephemera longiventris và
Ephemera innotata, cũng dựa trên các mẫu vật thu được ở miền Bắc ViệtNam (dẫn theo Nguyen, 2003) [71]
Năm 1967, Đặng Ngọc Thanh đã mô tả một loài mới thuộc họHeptageniidae khi nghiên cứu về khu hệ động vật không xương sống ở miềnBắc Việt Nam Đặng Ngọc Thanh (1980) xác định khu hệ Phù du ở Bắc ViệtNam có 54 loài, 29 giống thuộc 13 họ khác nhau Tuy nhiên trong số này chỉ có
13 loài là được đinh tên đầy đủ tên khoa học, còn lại chỉ ở mức độ giống Đặcbiệt trong nghiên cứu này, tác giả đã mô tả hai loài mới cho khoa học đó là
Thalerosphyrus vietnamensis và Neoephemeropsis cuaraoensis [11] Đặng
Trang 27Ngọc Thanh và cộng sự (2002), ở Việt Nam đã biết 56 loài thuộc 30 giống của Phù du Trong đó, giống Baetis có 8 loài, giống Ephemerella có 6 loài Đặc
điểm thành phần loài Phù du ở Việt Nam là có sắc thái nhiệt đới rõ rệt, bêncạnh đó lại có những giống phân bố rộng trong vùng ôn đới, cận nhiệt đới [12]
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khoá định loạicác nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đãđưa ra khoá định loại tới họ ấu trùng Phù du Kết quả của công trình này là cơ
sở khoa học cho các nghiên cứu phân loại về Phù du cũng như việc sử dụngđối tượng này là sinh vật chỉ thị cho các thuỷ vực nước ngọt ở Việt Nam [10]
Nguyen (2003) đã xác định được 102 loài thuộc 50 giống và 14 họ Phù
du ở Việt Nam Trong đó, có 23 loài đã được biết đến trong các nghiên cứutrước, 30 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam, 37 loài mới cho khoahọc và 12 loài được dự đoán là loài mới cho Việt Nam Nghiên cứu được thựchiện từ 1998-2002 ở 55 địa điểm thuộc 23 tỉnh, thành thuộc Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng khóa định loại chi tiết đến loài và mô tảđặc điểm hình dạng ngoài của các loài thuộc bộ Phù du ở Việt Nam, nghiêncứu này là cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về bộ Phù du
ở nước ta [71]
Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về thành phần loài củaPhù du được tiến hành ở nhiều khu vực khác nhau trên cả nước, đặc biệt là ởcác khu vực VQG, Khu Bảo tồn thiên nhiên, khu Dự trữ sinh quyển… ỞVQG Tam Đảo, Nguyễn Văn Vịnh (2004) đã xác định được 32 loài thuộc 24giống và 8 họ Trong đó, có 10 loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ động vậtViệt Nam cũng như VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc, bên cạnh đó, tác giả cũng đãđưa ra đặc điểm phân bố thành phần loài theo các đai độ cao khác nhau [17]
Ở VQG Ba Vì, Nguyễn Văn Vịnh (2005) đã xác định được 27 loài
thuộc 22 giống và 9 họ, trong đó, có một loài mới cho khoa học là Polyplocia
orientalis Trong nghiên cứu này, tác giả cũng đã sử dụng phương pháp thống
Trang 28kê sinh học để đánh giá sự phân bố thành phần loài theo tính chất dòng chảy(nơi nước chảy và nơi nước đứng) [18]
Ở VQG Hoàng Liên được tiến hành với nhiều nghiên cứu khác nhau,Nguyễn Văn Vịnh (2005) đã xác định được 53 loài thuộc 31 giống và 11 họ.Kết quả đã công bố được 4 loài mới cho khoa học dựa vào các mẫu chuẩn thu
được tại Sapa, đó là: Isca fasica Nguyen and Bae, 2003; Rhoenanthus sapa Nguyen and Bae, 2004; Afronurus meo, Nguyen and Bae, 2003; Iron
longintibius, Nguyen and Bae, 2004 Đồng thời, xác định được 10 loài lần
đầu tiên ghi nhận cho khu hệ động vật của Việt Nam Jung et al (2008) đã
xác định được 53 loài, 30 giống, 9 họ So với nghiên cứu trước đó củaNguyễn Văn Vịnh, nghiên cứu này không thu được 02 họ (Prosopistomatidae
và Neoephemeridae) và 01 giống [51]
Các nghiên cứu của Nguyen Bae (2003a, 2003b, 2003c, 2004a, 2004b, 2004c, 2004d, 2004e, 2008, 2013) [73-82] về nhóm côn trùng nướcnày đã được tiến hành và đã công bố các loài mới cho khoa học dựa trên cácmẫu vật thu được tại các khu vực khác nhau ở Việt Nam
Nguyễn Văn Vịnh et al (2007), trong kết quả bước đầu điều tra thành
phần loài Phù du tại VQG Bi Doup - Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng, đã xác địnhđược 48 loài thuộc 30 giống và 7 họ [69]
Nguyễn Văn Vịnh (2008), trong nghiên cứu về thành phần loài của bộPhù du (Ephemeroptera) ở VQG Bạch Mã, Thừa Thiên Huế, đã xác địnhđược 56 loài thuộc 33 giống và 11 họ đồng thời các tác giả cũng nhận xét về
sự phân bố của bộ Phù du theo độ cao tại khu vực nghiên cứu [19]
Cho đến nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiếu (2016) đã xác định được 78loài, 43 giống, 13 họ thuộc bộ Phù du của hệ thống suối thuộc VQG Hoàng Liên, trong đó đã ghi nhận mới cho khu hệ động vật Việt Nam 20 loài (họ Baetidae:
Acentrella lata, Baetis clivisus, Baetis gracilentus, Baetis inornatus, Baetis morrus, Baetis pseudofrequentus, Baetis pseudothermicus, Baetis tatuensis, Baetis
Trang 29terminus, Labiobaetis operosus, Labiobaetis borneoensis, Neobaetiella macani, Nigrobaetis gracientus, Nigrobaetis mundus, họ Ephemerellidae: Drunella
ishiyamana và Teloganopsis oriens, họ Heptageniidae: Epeorus nguyenbaeorum,
họ Leptophlebiidae: Thraulus macilentus, họ Siphluriscidae: Siphluriscus
chinensis và họ Prosopitomatidae: Prosopistoma sinensis) và 24 loài ghi nhận mới
cho VQG Hoàng Liên [5]
So với nhiều bộ côn trùng nước khác thì bộ Phù du ở Việt Nam đãđược nghiên cứu một cách có hệ thống với nhiều công trình nghiên cứu củacác tác giả trong và ngoài nước, đồng thời đây cũng là bộ có khóa định loại ởgiai đoạn ấu trùng tương đối hoàn thiện
Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
So với những nghiên cứu về Phù du thì những nghiên cứu về khu hệChuồn chuồn ở Việt Nam còn ít và chưa thành hệ thống, các nghiên cứu chủ
yếu tập trung vào giai đoạn trưởng thành của Chuồn chuồn
Trong những năm gần đây, khu hệ Chuồn chuồn tại Việt Nam tiếp tụcđược nghiên cứu Người tiên phong là Asahina - thuộc bảo tàng Tự nhiênTokyo (Nhật Bản) Asahina (1996) đã công bố 84 loài thuộc 12 họ Chuồnchuồn ở miền Nam Việt Nam Trong tài liệu này, tác giả đã công bố một loài
mới: Chlogomphus vietnamensis Asahina, thuộc họ Cordulegasteridae [22]
Karube (1999) đã công bố một loài mới trên tạp chí Odonatologica là
Planaeschna cucphuongensis thuộc họ Aeshidae Mẫu vật của loài này đượcthu thập ở VQG Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình [55]
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) khi xây dựng khóa định loạicác nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đãxây dựng khóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn [10]
Nguyễn Văn Vịnh et al (2001), trong nghiên cứu khu hệ côn trùng
nước ở VQG Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họ của bộ Chuồn
Trang 30chuồn ở khu vực này Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phân loại thiếutrùng chuồn chuồn ở Việt Nam còn ít Do đó, những mẫu vật thu được mớichỉ phân loại đến bậc giống [70]
Bùi Minh Hồng và cộng sự (2011), trong nghiên cứu khu hệ côn trùng nước ở VQG Tam Đảo đã xác định được 17 loài chuồn chuồn kim thuộc 14giống, 4 họ Trong đó, họ Calopterygidae có số lượng giống và loài cao nhất;còn họ Amphipterygidaechỉ gặp với 1 giống, 1 loài Họ Calopterygidae và họChlorocyphidae có độ phong phú cao nhất, chiếm tỷ lệ 35, 5 số mẫu, ít mẫunhất là họ Amphipterygidae Độ phong phú của các loài chuồn chuồn kim có
sự chênh lệch khá rõ giữa các sinh cảnh: Sinh cảnh thủy vực có độ phong phúcao nhất, sinh cảnh bìa rừng có độ phong phú thấp nhất [7]
Bùi Minh Hồng và cộng sự (2011), nghiên cứu thành phần loài và đặcđiểm phân bố của phân bộ chuồn chuồn ngô Anisoptera từ Vườn quốc giaCúc Phương, Nho Quan, Ninh Bình đã xác định có 19 loài thuộc 7 giống, 5 họ: Aeschnidae, Gomphidae, Cordulegastridae, Cordulidae và Libellulidae.Trong số đó có một loài đặc hữu chỉ tìm thấy ở vườn quốc gia Cúc phương là
Planaeschna cucphuongensis, 1 loài là đặc hữu của khu vực: Chlorogomphus
nakamurai ; và 2 loài quý hiếm được Chlorogomphus auratus và
Asiagomphus acco [8]
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp được tiến hành khá sớmnhưng còn ít Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai (1968, 1969), Zwick
(1988), Stark et al (1999), nhưng tất cả các mẫu vật đều ở giai đoạn trưởngthành (dẫn theo Cao, 2002) [27]
Trong thời gian gần đây những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã đượcquan tâm nghiên cứu Mục đích của những nghiên cứu là nhằm xác định lại
và mô tả một số loài mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên những nghiên cứu trước
đó và những điều tra về sau của cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng được
Trang 31thu thập ở Việt Nam
Nguyen et al (2001) khi nghiên cứu về nhóm côn trùng nước ở VQGTam Đảo đã tiến hành định loại các loài thuộc bộ Cánh úp Kết quả cho thấy
số loài Cánh úp ở VQG Tam Đảo là 12 loài thuộc 3 họ [70]
Cao (2002) đã công bố dẫn liệu mô tả 50 loài thuộc 22 giống, 4 họ ởViệt Nam dựa trên những đặc điểm của cả hai giai đoạn trưởng thành và ấutrùng Tác giả đã xây dựng khóa định loại cho cả côn trùng trưởng thành vàthiếu trùng Cánh úp ở Việt Nam đồng thời cung cấp những miêu tả chi tiết vềhình thái của thiếu trùng bộ Cánh úp Công trình này là cơ sở khoa học chocác nghiên cứu sau này về bộ Cánh úp ở nước ta [27]
Cao (2007), Cao and Bae (2007a, 2007b, 2007c, 2007d, 2008, 2009)
đã công bố nhiều loài mới thuộc bộ Cánh úp thu được ở Việt Nam cho khoahọc Các loài này đều thuộc họ Cánh úp lớn (Perlidae) Các tác giả cũng đã
mô tả chi tiết hình dạng ngoài qua các giai đoạn phát triển của chúng Các
loài này là: Agnetina den và Chinoperla rhododendroma; Acroneuria
bachma và Acroneuria magnifica; Neoperla sungi, Neoperla tamdao và
Neoperla yentu; Chinoperla rhododendrona; Neoperlops vietnamellus và
Phanoperla namcattien [28- 31, 33, 35]
Năm 2009, trong nghiên cứu thành phần loài họ Perlidae thuộc bộ Cánh
úp ở khu vực miền Trung Việt Nam, Cao Thị kim Thu đã xác định được 22
loài thuộc 10 giống, trong đó có 4 loài mới là Neoperla tamdao, Tyloperla
trui, Acroneuria bachma, Chinoperla rhododendrona và 4 loài lần đầu ghinhận cho khu hệ Việt Nam Cũng trong năm này đã mô tả thêm hai loài nữa
thuộc giống Acroneuria (Perlidae) và 1 loài thuộc giống Phanoperla [14]
Stark và Sivec (2010) đã công bố một số loài mới cho khu hệ Cánh úpViệt Nam với 7 loài được mô tả từ VQG Cát Tiên và VQG Yok Đon, 8 loàiđược mô tả ở hệ thống suối ở Sa Pa, tỉnh Lào Cai [91, 92] Cũng nhóm tác giả
Trang 32này đã phát hiện 2 mẫu vật thuộc giống Neoperla có kích thước khác thường
so với những loài đã thu được trước đó tại Cao Bằng vào năm 2005 [93]
Cao Thị Kim Thu (2011) từ các mẫu vật thu thập được và tham khảocác tài liệu đã công bố, đã tổng hợp được danh lục gồm 70 loài Cánh úp lớnthuộc 13 giống ở Việt Nam Do đó, hiện nay đã có 48 loài mới cho khoa họcđược mô tả từ mẫu vật và có 55 loài mới chỉ thấy ở Việt Nam mà chưa ghinhận ở một nơi nào trên thế giới [15]
Stark et al (2012) đã ghi nhận 3 loài mới là Rhopalopsole azun (Gia Lai), R minima (Nghệ An) và R sapa (Lào Cai), đồng thời cũng cung cấp
một khóa phân loại tới loài của giống này tại Việt Nam Tuy nhiên, cácnghiên cứu mới đây chỉ dừng lại ở giai đoạn trưởng thành của bộ Cánh úp [94] Nguyễn Văn Hiếu et al (2015) đã công bố thành phần loài và phân bố
của bộ Cánh úp ở VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai dựa trên mẫu vật thu thập
từ năm 2012 đến năm 2013, kết hợp với các mẫu vật đã thu thập từ trước đếnnay đang được lưu giữ tại Phòng Sinh thái môi trường nước, Viện Sinh thái
và Tài nguyên sinh vật và tại Bộ môn Động vật Không xương sống, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Ngoài ra, tác giả còn kết hợpvới các tài liệu có liên quan đến khu vực nghiên cứu để đưa ra dẫn liệu vềthành phần loài Cánh úp Kết quả đã ghi nhận được 58 loài, 21 giống, 5 họthuộc bộ Cánh úp Đây có thể coi là dẫn liệu đầy đủ và cập nhật nhất về thànhphần loài bộ Cánh úp tại VQG Hoàng Liên [4]
Năm 2016, tác giả cũng đã công bố về thành phần loài Cánh úp tạiVQG Hoàng Liên, đã có 27 loài thuộc 14 giống và 4 họ được ghi nhận [5]
Năm 2017, Fochetti và Ceci đã ghi nhận 2 loài mới dựa trên mẫu Cánh
úp trưởng thành ở Việt Nam gồm Nemoura kontumensis và Amphinemura
konplongensis, mẫu vật thu đươc vùng núi cao thuộc tỉnh Kon Tum [42]
Trang 33Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm Những tài liệu
về Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước châu
Âu như: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913) Những nghiên cứu
đầu tiên của Ulmer về 2 loài Hydromanicus buenningi và Paraphlegopteryx
tonkinensis đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu về Cánh lông ở Việt Nam.Navás (1913, 1917, 1921, 1922, 1930, 1932, 1933) đã mô tả một số loài thuộccác tổng họ của Hydropsychoidae, Philopotamoidae (Stenopsychidae), Leptoceroidae, Limnephiloidae và Rhyacophiloidae Banks (1931) và Mosely(1934) nghiên cứu về Hydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae Oláh (1987 - 1989) mô tả các loài thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae vàRhyacophiloidae (dẫn theo Hoang, 2005) [43]
May (1998) và Malicky (1994, 1995, 1998), mô tả các loài thuộc họHydropsychoidae, Phiolopotamoidae, Leptoceroidae, Sericostomatoidae, Limnephiloidae, Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacopphiloidae từcác mẫu vật thu được ở một số vùng của Việt Nam Malicky và Mey (2001),
mô tả 2 loài mới thuộc giống Ceratopsyche ở miền Bắc Việt Nam Schefter và
Johanson (2001), mô tả 3 loài thuộc giống Helicopsyche (dẫn theo Hoang, 2005) [43] Nguyen et al (2001) định loại được 23 loài thuộc 16 họ của bộCánh lông ở VQG Tam Đảo khi nghiên cứu về nhóm côn trùng nước tại khuvực này [70]
Hoang (2005) trong nghiên cứu về khu hệ Cánh lông ở Việt Nam đãxác định được 198 loài (14 loài mới cho Việt Nam và 25 loài mới được ghinhận) thuộc 58 giống và 24 họ Trong nghiên cứu này, tác giả đã đưa ranhững mô tả chi tiết đến hình thái của ấu trùng Cánh lông ở Việt Nam [43]
Hoang & Bae (2006) đã thực hiện nghiên cứu so sánh mức độ đa dạngcôn trùng nước giữa suối Đắk Pri ở miền Nam Việt Nam với suối ở miền
Trang 34Trung của Hàn Quốc, kết quả cho thấy bộ Cánh lông ở nước ta đa dạng hơnnhiều về số lượng loài và họ [44]
Oláh Johanson (2010) đã công bố 14 loài mới được công bố thuộc
giống Dipseudopsis, Hyalopsyche và Pseudoneureclipsis từ các mẫu vật thu
được tại các tỉnh thành của Việt Nam [84]
Năm 2016, Nguyễn Văn Hiếu et al đã ghi nhận được 36 loài, 35 giống,
17 họ thuộc bộ Cánh lông, trong đó có 1 loài ghi nhận mới cho VQG HoàngLiên, tỉnh Lào Cai [5]
Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)
Ở Việt Nam những nghiên cứu về bộ Cánh nửa được biết đến đầu tiên
là vào khoảng đầu thế kỷ 20 và chủ yếu được tiến hành bởi các nhà khoa họcnước ngoài như Lansbury (1972, 1973), Nieser (2002, 2004), Polhemus vàPolhemus (1995, 1998)… Những loài thuộc họ Gerridae đầu tiên được miêu
tả từ Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903 Hai thập kỷ sau, China (1925) mô tả loài Gigantometra gigas, là loài có kích thước lớn nhất thuộc họ
Gerridae và là đặc hữu của Việt Nam và đảo Hải Nam Năm 1996, Zettel vàChen đã có những dẫn liệu về họ Gerridae ở Việt Nam, ghi nhận tổng cộng
khoảng 40 loài Năm 1997, Hecher công bố 2 loài mới: Pseudovelia intonsa
và P pusilla, hiện chỉ tìm thấy ở Việt Nam (dẫn theo Tran, 2008) [92]
Tran (2008) đã đưa ra khóa định loại đến loài của họ Gerridae, ghi nhận
64 loài thuộc 26 giống [97] Tran et al (2010) đã bổ sung thêm 3 loài cho Việt Nam: Hydrometra albolineata Scott, 1874; Hydrometra jaczewskii
Lundblad, 1933 và Hydrometra ripicola Andersen, 1992, đồng thời cũng cập nhật dẫn liệu mới về phân bố của 9 loài Hydrometra ở Việt Nam [98]
Những nghiên cứu này đã bổ sung danh sách thành phần loài, mô tả cácloài mới, cũng như xây dựng các khóa định loại đến loài của các giống, gópphần làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về bộ Cánh nửa ở nước của
Trang 35Việt Nam Năm 2011, tác giả đã cung cấp danh sách loài Cánh nửa thuộc khuvực đô thị Hà Nội bao gồm 23 loài, 12 giống, 9 họ [99] Đây là nghiên cứuđầu tiên cho khu hệ Cánh nửa tại Hà Nội
Mới đây nhất, Tran và Polhemus (2012) đã bổ sung một loài Gerris
mới từ miền Nam Việt Nam đồng thời ghi nhận sự xuất hiện lần đầu tiên của
hai loài Gerris latiabdominis và Gerris gracilicornis từ khu vực phía tây bắc
của đất nước Trong đó cũng đưa ra một khóa phân loại chi tiết cho 4 loài
Gerris có mặt ở Việt Nam hiện nay [100]
Nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera)
Bộ Cánh cứng là nhóm côn trùng phát triển biến thái hoàn toàn, vòngđời bao gồm 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng, trưởng thành Cánh cứng ởnước sống một phần hoặc toàn bộ các giai đoạn trong vòng đời ở môi trườngnước Cánh cứng ở nước cũng có mức độ đa dạng cao, đặc biệt là ở các khuvực nhiệt đới Tại Việt Nam, các nghiên cứu còn tản mạn, chỉ tập trung vàomột số taxon như các nghiên cứu của Delève (1968) về họ Dryopidae vàElmidae, của Sato (1972) về Dytiscidae và Noteridae hoặc chỉ được liệt kê
trong các nghiên cứu về quần xã côn trùng nước như Nguyên văn Vịnh et al
(2001), nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo [70] ; Cao et al (2008) nghiên
cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã [34], Nguyễn Xuân Quý và cộng sự (2001) khi định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ởViệt Nam [10]
Gần đây nhất Nguyễn Thị Thu Quý và cộng sự (2017) đã đưa ra dẫnliệu về thành phần loài Cánh cứng ở nước tại một số thủy vực thuộc tỉnhQuảng Nam Kết quả định loại Cánh cứng ở nước tại khu vực nghiên cứubước đầu đã xác định được 34 loài thuộc 26 giống, 8 họ Trong đó có 5 loài
lần đầu tiên ghi nhận cho khu hệ động vật Việt Nam là Macronychus
Trang 36reticulatus, Gyrinus distinctus, Orectochilus punctipennis, Porrorhynchus
marginatus và Laccobius [3]
Nghiên cứu về các bộ Hai cánh, bộ Cánh vảy và bộ Cánh rộng
Ở Việt Nam những nghiên cứu về Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng (Megaloptera) còn tản mạn Các nghiên cứuthường không tập trung vào một bộ cụ thể mà thường đi cùng với các nghiên
cứu về khu hệ côn trùng nước nói chung như: Nguyen et al (2001), nghiên
cứu ở Vườn Quốc gia Tam Đảo [70] ; Cao (2008) nghiên cứu ở Vườn Quốcgia Bạch Mã [34], Nguyễn Xuân Quýnh Nguyễn Xuân Quý và cộng sự(2001) khi định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thườnggặp ở Việt Nam [10]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về nhóm dinh dưỡng chức năng
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về nhóm dinh dưỡng chứcnăng của côn trùng thủy sinh đã được một số nhà nghiên cứu tiến hành Tuynhiên các nghiên cứu mới chỉ được thực hiện tại các dòng chảy đầu nguồn vàhầu hết đều tập trung khảo sát sự đa của côn trùng thủy sinh và khái quát vềđánh giá chất lượng nước sạch [13]
Tại xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc có nhiềudạng thủy vực khác nhau, trong đó thủy vực dạng suối tương đối đa dạng vàphong phú Các suối này là điều kiện rất tốt cho sự phát triển của các loàithủy sinh vật nói chung và các loài côn trùng nước nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về nhóm côn trùng nước ở khu vực này mới chỉ tậptrung nghiên cứu đa dạng sinh học về loài ở các suối thuộc Trạm Đa dạngsinh học Mê Linh [83] hoặc đa dạng sinh học về loài Phù du [6] mà chưanghiên cứu về nhóm côn trùng nước trong toàn bộ khu vực, đặc biệt cácnghiên cứu về phân bố và cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của chúng ởkhu vực này còn ít và tản mạn
Trang 37C hương 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Mẫu vật được sử dụng trong nghiên cứu là ấu trùng và thiếu trùngcủa các loài côn trùng nước (Lớp Côn trùng, Ngành Chân khớp) thu đượctại một số thủy vực thuộc địa phận xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.2 Nội dung nghiên cứu
- Đa dạng về loài của nhóm côn trùng nước dựa trên đặc điểm hình tháicủa cá thể ở giai đoạn trước trưởng thành tại xã Ngọc Thanh, thành phố PhúcYên, tỉnh Vĩnh Phúc
- Nghiên cứu phân bố của côn trùng nước theo sinh cảnh, theo đợt thu mẫu
- Nghiên cứu phân bố và cấu trúc nhóm dinh dưỡng chức năng của côntrùng nước theo các dạng sinh cảnh
- Tìm hiểu một số nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học và đề xuấtbiện pháp bảo tồn nhóm côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu
2.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4/2017 đếntháng 09/2018 Mẫu vật sử dụng trong nghiên cứu được thu thập ở các thủyvực dạng suối thuộc xã Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Mẫu được thu ngoài thực địa theo hai đợt:
+ Đợt 1: được tiến hành từ ngày 16/9/2017 đến ngày 23/9/2017 (mùa mưa) + Đợt 2: được tiến hành từ ngày 15/3/2018 đến ngày 24/3/2018 (mùa khô)
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại 15 điểm thu mẫu thuộc địa phận xã
Trang 38Ngọc Thanh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (Hình 2.1)
Hình 2.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu tại khu vực nghiên cứu
Nguồn bản đồ: Ủy ban nhân dân xã Ngọc Thanh, 2014
Trong đó có 5 điểm (được ký hiệu từ R1 đến R5) thuộc suối trong rừng
tự nhiên (sinh cảnh 1); 5 điểm (được ký hiệu từ DC1 đến DC5) thuộc suốichảy qua các khu dân cư chịu tác động trong sinh hoạt của con người (sinhcảnh 2); 5 điểm (được ký hiệu từ điểm ĐR1 đến ĐR5) thuộc suối chảy quakhu vực đồng ruộng chịu tác động của các hoạt động sản xuất nông nghiệp(sinh cảnh 3)
Trang 39- Sinh cảnh 1: suối thuộc khu vực rừng tự nhiên, hai bên suối là rừngnguyên sinh, độ che phủ cao (65 - 95%), kích thước suối dao động từ 3m - 8m, nền đáy chủ yếu là đá cuội (kích thước 25cm - 100cm) và sỏi lớn (5cm - 25cm), đôi khi có đá tảng (lớn hơn 100cm), thỉnh thoảng có sỏi nhỏ (0,1cm - 5cm) và cát (0,01cm - 0,1cm), đất ven bờ thường cứng và kết cấu rắn, suối có
độ dốc thấp
- Sinh cảnh 2: suối chảy qua các khu dân cư, hai bên suối chủ yếu lànhà ở của người dân, độ che phủ khoảng 20 - 40%, kích thước suối daođộng từ 3m - 5m, nền đáy của suối chủ yếu là đá cuội và sỏi lớn, sỏi nhỏ vàcát Suối có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ do bị tác động mạnh trong sinh hoạt củangười dân Nền đáy của suối bị xáo trộn
- Sinh cảnh 3: suối chảy qua khu đồng ruộng, hai bên suối là ruộngcanh tác hoặc một bên là ruộng canh tác một bên là đường đi, độ che phủ củasuối rất thấp (0 - 5%), kích thước suối dao động từ 2,5m - 4,5m; nền đáycủa suối chủ yếu là sỏi nhỏ, cát và bùn, ven bờ là đất mềm, độ dốc thấp, tốc
độ dòng chảy chậm Nền đáy của suối cũng bị xáo trộn do tác động của ngườidân địa phương Các suối này có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước
cho sản xuất nông nghiệp ở địa phương Nước suối khá đục
Trong quá trình thu mẫu, các thông số về đặc điểm tự nhiên như cấutrúc nền đáy, độ che phủ và đặc điểm thực vật thủy sinh được ghi chép đầy
đủ, cụ thể trong bảng 2.1
Trang 40Bảng 2.1 Một số đặc điểm sinh cảnh tại các điểm nghiên cứu
Độ rộng của suối từ 2 - 3m Hai bên suối có nhiều cây
cỏ, cây bụi và cây gỗ lớnnhỏ Nền đáy của suối chủyếu là đá lớn và sỏi Suốinhiều bã mùn thực vật Độche phủ 60 - 80%
Độ rộng dòng nước từ 3m Hai bên suối có rừngcây bui, rừng tre, nứa vàcây gỗ nhỏ và trung bình.Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ,
2,5-ít đá tảng lớn Suối nhiềumùn bã thực vật Độ chephủ 80-90%
Độ rộng dòng nước từ 5m
3-Hai bên suối có rừng câybụi, rừng tre, nứa và cây gỗnhỏ và trung bình Nền đáychủ yếu là đá nhỏ, đá tảnglớn Suối nhiều mùn bãthực vật Độ che phủ 90-95%