Với những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài Hồi ký văn học của Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan nhìn từ góc độ thể loại làm nội dung nghiên cứu của luận văn với mong muốn mang đến một cái
Trang 1HÀ N ỘI, 2018
Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐÀO THỊ HƯƠNG THU
H ỒI KÝ VĂN HỌC CỦA ĐẶNG THAI MAI,
VŨ NGỌC PHAN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Trang 2HÀ N ỘI, 2018
Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐÀO THỊ HƯƠNG THU
H ỒI KÝ VĂN HỌC CỦA ĐẶNG THAI MAI,
Trang 3thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm HàNội II, Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ văn, các thầy
cô trong tổ lý luận văn học, đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ, động viên chúngtôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, BGH trường THPT Tam Dương, bạn
bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
Hà N ội, ngày 10 tháng 9 năm 2018
Tác gi ả luận văn
Đào Thị Hương Thu
Trang 4L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung tôi trình bày trong luận văn là kết quả quá trình nghiên cứu của bản thân tôi
Trong quá trình nghiên cứu, tôi có tìm hiểu, tham khảo thành quả khoa
học của các tác giả khác với sự trân trọng và biết ơn, nhưng những nội dung tôi nghiên cứu không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
Hà N ội, ngày 10 tháng 9 năm 2018
H ọc viên
Đào Thị Hương Thu
Trang 5M ỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN
L ỜI CAM ĐOAN
M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1
1 Lý do ch ọn đề tài 1
2 L ịch sử vấn đề 3
3 M ục đích nghiên cứu 11
4 Nhi ệm vụ nghiên cứu 11
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
6 Phương pháp nghiên cứu 12
7 D ự kiến đóng góp của luận văn 13
8 C ấu trúc luận văn 13
N ỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỒI KÝ 14
VÀ H ỒI KÝ VĂN HỌC 14
1.1 Nh ững vấn đề chung về hồi ký 14
1.1.1 Khái ni ệm hồi ký 14
1.1.2 Nh ững đặc điểm chung của hồi ký 16
1.1.3 S ự phân loại hồi ký 18
1.2 Nh ững vấn đề chung về hồi ký văn học 20
1.2.1 Khái ni ệm hồi ký văn học 20
1.2.2 Đặc điểm của hồi ký văn học 21
1.2.3 S ự phân loại hồi ký văn học 26
Ti ểu kết chương 1 31
CHƯƠNG 2 : ĐẶC SẮC HỒI KÝ VĂN HỌC CỦA ĐẶNG THAI MAI, VŨ NGỌC PHAN – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 32
Trang 62.1 Đặc sắc nội dung hồi ký – tự truyện của Đặng Thai Mai 32
2.1.1 Th ời niên thiếu trên quê hương Lương Điền và những kí ức xúc động về người thân 32
2.1.2 Th ời thanh niên và quá trình học tập, trưởng thành 38
`2.1.3 Đến với văn chương và quá trình rèn luyện nghề viết 45
2.2 Đặc sắc nội dung hồi ký văn học hỗn hợp của Vũ Ngọc Phan 46
2.2.1 M ột gia đình lớn giàu truyền thống văn hóa, một gia đình nhỏ hạnh phúc 47
2.2.2 Tái hi ện sinh động, chân thực những nét văn hóa của Hà Nội xưa 60 2.2.3 M ột đời văn cần mẫn, một sự nghiệp phong phú 64
2.2.4 Chân dung các b ạn văn đương thời 71
Ti ểu kết chương 2 78
CHƯƠNG 3 : ĐẶC SẮC HỒI KÝ ĐẶNG THAI MAI, VŨ NGỌC PHAN – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 79
3.1 Điểm nhìn nghệ thuật độc đáo 79
3.1.1 Điểm nhìn nghệ thuật của Đặng Thai Mai trong Hồi ký thời kỳ thanh thi ếu niên 80
3.1.2 Điểm nhìn nghệ thuật của Vũ Ngọc Phan trong Những năm tháng ấy 81
3.2 K ết cấu 83
3.2.1 K ết cấu của Hồi ký thời kỳ thanh thiếu niên (Đặng Thai Mai) 83
3.2.2 K ết cấu của hồi ký Những năm tháng ấy (Vũ Ngọc Phan) 85
3.3 Ngh ệ thuật kể, tả, bình luận thâm thúy, hấp dẫn 87
3.3.1 Ngh ệ thuật kể, tả, bình luận thâm thúy trong hồi ký của Đặng Thai Mai 87
3.3.2 Ngh ệ thuật kể, tả, bình luận hấp dẫn trong hồi ký của Vũ Ngọc Phan 90
Trang 73.3 Gi ọng điệu 96
3.3.1 Gi ọng điệu trong hồi ký của Đặng Thai Mai 96
3.3.2 Gi ọng điệu trong hồi ký của Vũ Ngọc Phan 99
Ti ểu kết chương 3 102
K ẾT LUẬN 103
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 106
Trang 8M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
1.1 Hồi ký là một thể tài thuộc thể ký Đây là một thể loại đặc biệt, có những đóng góp quan trọng trong diễn trình của văn học Việt Nam, nhất là giai đoạn sau 1975 Nội dung của hồi ký tập trung vào hồi ức về số phận, đời tư của cá nhân hoặc những câu chuyện, sự kiện đã qua của cuộc đời So với các thể loại văn học khác, ký xuất hiện muộn, nghĩa là có tuổi đời khá “trẻ” nhưng chủ thể sáng tạo ra nó lại là những tác giả “già”, có thâm niên trong nghề viết, trải qua nhiều biến cố, chứng kiến những bước ngoặt của đất nước, những thăng trầm
của lịch sử Chính nhu cầu nhận thức lại quá khứ là nguyên nhân thúc đẩy hồi
ký phát triển Cái tôi cá nhân tác giả cùng những tâm tư, suy nghiệm trở thành đối tượng phản ánh chính của các tác phẩm hồi ký Bên cạnh đó, qua hồi ức
về cuộc đời mình, người viết hồi ký còn có khả năng xây dựng chân dung của nhiều nhân vật cùng thời và phác họa gương mặt thời đại Nhu cầu tự thân của
thể loại cùng với sự dung hợp, giao thoa giữa các thể loại đã mang đến cho
hồi ký một diện mạo mới với vị thế ngày càng quan trọng trong đời sống văn
học Nhiều tác phẩm hồi ký ra đời gây được sự chú ý của đông đảo bạn đọc,
trở thành một hiện tượng và giành được những giải thưởng cao trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật Nhờ có các tác phẩm hồi ký, chúng ta mới có dịp chiêm ngắm một lần nữa những sự kiện, những nhân vật của một thời đã xa ở điểm nhìn của hiện tại đồng thời có cơ hội để nhìn nhận nó một cách thấu tình, đạt lí Hồi ký giống như chiếc cầu nối mang tác giả và các nhân vật được nói đến tới gần hơn với độc giả, giúp chúng ta gặp gỡ tác giả và các nhân vật
ở “cự li gần”
1.2 Đặng Thai Mai và Vũ Ngọc Phan là những tác giả lớn của nền văn học dân tộc Hai ông được xem là những nhà nghiên cứu có uy tín hàng đầu của văn học Việt Nam thế kỉ XX với nhiều nhận định sắc sảo về văn chương nghệ
Trang 9thuật Được biết đến với tư cách là những nhà phê bình, các tác phẩm được đánh giá cao nhất của hai ông đều là những cuốn sách lí luận, phê bình văn
học Đó cũng là đối tượng được tập trung nghiên cứu của các luận án, luận văn trong một thời gian dài Nhưng bên cạnh vai trò là nhà phê bình, là nhà giáo mẫu mực, Đặng Thai Mai và Vũ Ngọc Phan còn là những nhà văn màvăn phong in đậm dấu ấn của một trí tuệ uyên bác, một nhân cách sáng chói
và một quan niệm cầm bút hết sức chân chính, nhân văn Nói đến di sản của hai ông không thể không nhắc tới hai cuốn hồi ký: Hồi ký thời kì thanh thiếu
niên (Đặng Thai Mai) và hồi ký Những năm tháng ấy (Vũ Ngọc Phan)
Không chỉ góp những bông hoa đẹp trong vườn hoa nở rộ của hồi ký giai đoạn 1975 – 2010 mà hai tác phẩm ấy còn tái hiện sinh động một giai đoạn
lịch sử nhiều thăng trầm của đất nước Ở góc độ nghệ thuật, cả hai tác phẩm
đã đáp ứng được những khoái cảm thẩm mĩ trong tầm đón đợi của người đọc hiên đại, thể hiện sự già dặn trong cách viết, cách cảm và cách biểu hiện của người cầm bút Vì vậy, chúng tôi cho rằng sẽ là thiếu sót rất lớn nếu nghiên
cứu về hai tác giả Đặng Thai Mai và Vũ Ngọc Phan mà không đề cập đến hai
cuốn hồi ký nói trên
1.3 Văn học Việt Nam sau 1975 chứng kiến sự thay đổi toàn diện về nhiều
mặt, trong đó sự vận động của tư duy nghệ thuật dẫn đến cái nhìn thể loại cũng không còn như trước Sự bình đẳng giữa các thể loại ngày càng đậm nét trong quan niệm của người viết cũng như trong tâm thế tiếp nhận của công chúng độc giả Bakhtin cho rằng trong đời sống văn học, các thể loại luôn được đặt trong quan hệ đồng đẳng về giá trị, song mỗi thể loại là sự thể hiện
“một thái độ thẩm mĩ đối với hiện thực, một cách cảm thụ, nhìn nhận, giải
minh th ế giới và con người” Tuy nhiên, một thực tế vẫn diễn ra trong nghiên
cứu là hầu hết chúng ta chỉ chú ý đến các tác phẩm “đích thực văn học” nhưthơ, truyện, kịch mà xem hồi ký như một thể tài cận văn học, chưa dành cho
Trang 10nó sự quan tâm đúng mức Nhìn từ góc độ thể loại, hồi ký không chỉ thể hiện chân thực hiện thực mà còn cho phép sự thể hiện cảm hứng, phong cách cá nhân đối với hiện thực ấy Nghĩa là một tác phẩm hồi ký có giá trị phải cung
cấp nhiều thông tin chính xác, khách quan nhưng cũng cần phải sinh động và
hấp dẫn Hồi ký của Đặng Thai Mai và Vũ Ngọc Phan đã đáp ứng đầy đủ
những yêu cầu ấy
Với những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài Hồi ký văn học của Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan nhìn từ góc độ thể loại làm nội dung nghiên
cứu của luận văn với mong muốn mang đến một cái nhìn đầy đủ về giá trị của hai tác phẩm soi chiếu dưới góc độ thể loại Điều này không chỉ làm rõ giá trị
của hai tác phẩm mà còn tái hiện cuộc đời, sự nghiệp của hai cây bút lớn mà
còn giúp người đọc hôm nay hiểu sâu hơn về lịch sử, văn hóa cũng như chândung của nhiều nhân vật nổi tiếng đương thời
2 L ịch sử vấn đề
2.1 L ịch sử thể loại
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, hồi ký là thể loại xuất hiện
muộn Ở phương Tây, hồi ký đã phát triển khá mạnh từ thế kỉ XIX Ở Việt Nam, mãi đến những năm 40, 50 của TK XX hồi ký mới lác đác xuất hiện và
phải đến những thập niên cuối TK XX mới phát triển nở rộ với tư cách là một
thể loại độc lập Việc định danh và nghiên cứu về hồi ký vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều, với những quan niệm và hướng đi khác nhau
Khảo sát lịch sử nghiên cứu hồi ký ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy
nếu trong các giáo trình, từ điển, các tác giả chỉ nhắc đến thể loại này với lượng câu chữ rất hạn chế thì thời gian gần đây đã có một số luận án, luận văn
thạc sĩ, các bài báo đã chú ý, quan tâm đến hồi ký Có thể kể đến các công trình tiêu biểu tác giả Pospelov trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học tập 1
(Nxb Giáo dục, 1985), tác giả Phương Lựu trong cuốn Lí luận văn học (Nxb
Trang 11Giáo dục, 2004), tác giả Hà Minh Đức trong cuốn Lí luận văn học (Nxb Giáo
dục, 1995), tác giả Trần Đình Sử trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (Nxb
Giáo dục, 2007), tác giả Đức Dũng trong cuốn Ký văn học và ký báo chí (Nxb
Văn hóa – thông tin, Hà Nội, 2003)…Trong các công trình này, các tác giả
chủ yếu là sáng tỏ một số vấn đề căn bản của ký – thể loại “mẹ” của hồi ký Tác giả Đức Dũng đã đặt hồi ký văn học trong “các thể ký tự sự” cùng với ký
sự, phóng sự văn học, truyện ký và chân dung văn học Người viết đã cung
cấp những thông tin cần thiết về tiểu loại này Ông đặt nó trong mối tươngquan giữa cái tổng thể (hồi ký) với cái cá biệt (hồi ký văn học) để thấy điểm
thống nhất giữa chúng cũng như đánh giá cao hơn vai trò, vị trí của hồi ký văn học trong hồi ký nói chung
Trong những năm gần đây, một số luận án, luận văn và các bài báo đã
chọn hồi ký làm đối tượng nghiên cứu, có thể dẫn ra như : luận án tiến sĩ của Nguyễn Quang Hưng với đề tài: Đặc điểm hồi kí văn học Việt Nam từ 1975 -
2010 (Đại học Huế - 2016) đã làm sáng tỏ đặc điểm về nội dung và nghệ thuật
của những tác phẩm hồi ký trong văn học Việt Nam giai đoạn 1975 – 2010
Luận án tiến sĩ của Trần Thị Mai Phương với đề tài: Tư duy nghệ thuật trong
h ồi kí văn học Việt Nam từ 1986 đến nay (Đại học Quốc gia Hà Nội – 2016)
đã có sự nghiên cứu công phu về tư duy nghệ thuật trong hồi ký văn học Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay ở ba góc độ : mã quan niệm, hình tượng nghệ thuật và phương thức trần thuật Đặc biệt luận án tiến sĩ của Lê Thị Lệ Thủy
với đề tài: Hồi ký văn học (của nhà văn) trong văn học Việt Nam hiện đại
nhìn t ừ góc độ thể loại (Đại học Quốc gia Hà Nội - 2016) dưới sự hướng dẫn
của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện được xem là công trình có nhiều đóng gópquan trọng cho công cuộc nghiên cứu hồi ký Luận án đã phân chia, định danh
rõ ràng các tiểu loại của hồi ký và làm sáng tỏ nó dưới góc nhìn thể loại Kết
Trang 12quả nghiên cứu của luận án là cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi tham
khảo cho luận văn của mình
Ngoài ra còn có các bài báo của Nguyễn Thế Hưng, Lương Ích Cần với nhan đề “Bàn thêm về mối quan hệ giữa người kể và người ghi trong hồi ký”(Tạp chí Văn học, số 3 – 1976), của Phạm Hồng Giang với nhan đề “Góp một
ý kiến về vấn đề nâng cao chất lượng ghi chép hồi ký” (Tạp chí Văn học, số 9
– 1996), một số bài báo của Nguyễn Quang Hưng như : “Chân dung các nhà
văn trong hồi ký văn học” (Tạp chí Non nước, số 155 Tr 66-68), “Chân dung
tự họa trong hồi kí – nhìn từ đặc trưng thể loại” (Tạp chí Văn học, số 2, 2016)
“Tính đa giọng điệu trong hồi ký Việt Nam sau 1975” (Tạp chí Khoa học Đại
học Huế, số 1, 2016)… Trong các công trình này, các tác giả chủ yếu đi vào
những khía cạnh như: người kể chuyện trong hồi ký, yếu tố hư cấu trong tác
phẩm hồi ký và chủ yếu triển khai trên diện rộng, làm sáng tỏ vấn đề ở mức
độ khái quát chứ chưa chúng minh cụ thể những đặc trưng của thể loại trên tác phẩm
Bên cạnh đó cũng phải kể đến những công trình, bài báo nghiên cứu
từng tác giả, tác phẩm có tiếng vang trên văn đàn như hồi ký của Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nguyên Hồng…Trong đó khi tìm hiểu
Tô Hoài với hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều, Đặng Thị Hạnh tìm hiểu
cấu trúc thời gian của Cát bụi chân ai, Nguyễn Đăng Điệp chú ý tới phương
diện nghệ thuật và chất tiểu thuyết trong hai cuốn hồi ký nói trên Các bài viết
của PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện về hồi ký Những ngày thơ ấu của Nguyên
Hồng và Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương của Ma Văn Kháng in
trong Văn chương, Nghệ thuật và Thẩm mĩ tiếp nhận (Tiểu luận – Phê bình)
đã cung cấp nhiều ý kiến có giá trị về hồi ký Trong bài “Những ngày thơ ấu –
cuốn hồi ký, tự truyện đặc sắc, mở đầu cho một thể tài của Văn học Việt Nam
hiện đại”, tác giả đã viết: “Hồi ký – tự truyện về thời thơ ấu, về đời văn và
Trang 13nghề văn của các nhà văn Việt Nam hiện đại, đã làm phong phú và sâu sắc thêm bức tranh về đời sống xa hội – lịch sử, văn hóa – văn nghệ, chân dung văn nghệ sĩ và con người Việt Nam đương thời qua thăng trầm của lịch sử dân
tộc” [53, tr 172] Còn trong bài “Ma Văn Kháng và cuốn Hồi ký – tự truyện
mới”, tác giả đánh giá về tác phẩm: “Hồi ký – tự truyện của Ma Văn Kháng là
một nỗi niềm tự bạch của một nhà văn tâm huyết với cuộc đời, với vănchương và với bạn bè trong cõi nhân thế Duy trì một tâm thế lắng đọng, một bút pháp tôn trọng sự trung thực với bản chất các sự kiện, tính cách con người, tác phẩm của ông cho thấy một chút u-mua hóm hỉnh tự trào của nhà văn, nhẹ nhàng nhắc nhở người khác, việc này việc nọ, để đạt tới sự hoàn thiện và cái đẹp của nhân cách, của văn chương” [53, tr.336]
Một bộ phận đáng kể là các luận văn tập trung nghiên cứu về những tác
giả, tác phẩm quen thuộc như : Nguyễn Hoàng Hà với luận văn Cái nhìn,
không gian và th ời gian nghệ thuật trong hồi ký của Tô Hoài (Luận văn Thạc
sĩ Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2009), Đoàn Thị Thúy Hạnh với đề tài
Ngh ệ thuật trần thuật của Tô Hoài qua hồi ký (Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2001), Phạm Thị Hiền với đề tài: Hai phong cách hồi ký :
Nh ững ngày thơ ấu (Nguyên Hồng) và Cỏ dại (Tô Hoài) (Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, 2008), Đặng Ngọc Huyền với đề tài: Đặc điểm hồi ký của các nhà thơ Lưu Trọng Lư – Huy Cận – Xuân Diệu (Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2010), Lê Thị Kim Liên với đề tài Thể hồi ký tự truyện trong
h ồi ký của Ma Văn Kháng và Đặng Thị Hạnh (Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2010)….Chúng tôi nhận thấy chưa có bài viết cũng như luận văn nào bàn đến hai cuốn hồi ký của Đặng Thai Mai và Vũ Ngọc Phan một cách chi tiết
2.2 V ề vấn đề nghiên cứu tác giả và tác phẩm
2.2.1 V ề tác giả Đặng Thai Mai và Hồi ký thời kì thanh thiếu niên
Trang 14Đặng Thai Mai (1902 – 1984) được biết đến là một học giả uyên thâm,
một cốt cách thanh cao hiếm có, một nhà văn hóa lịch lãm, một nhà sư phạm
mẫu mực và là một cây bút sắc sảo, điêu luyện Những gì ông để lại có giá trị
hết sức lớn lao về tư tưởng, tri thức và phương pháp luận Có thể kể tới những
đóng góp của ông như: Văn học khái luận, Lỗ Tấn – thân thế, văn nghệ, Chủ nghĩa nhân văn dưới thời kì văn hóa Phục hưng, Giảng văn Chinh phụ ngâm, Văn thơ Phan Bội Châu, Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX…Hầu
hết các công trình của ông đều thuộc lĩnh vực phê bình, lí luận Bên cạnh đó,ông còn là một nhà sáng tác Trước Cách mạng, Đặng Thai Mai có một số truyện ngắn bằng tiếng Pháp nêu gương các chiến sĩ cách mạng buổi đầu (Cô câm đã lên tiếng, Chú bé ) Tuy nhiên, khi nghiên cứu về Đặng Thai Mai,
phần lớn mọi người thường chú ý đến những thành tựu thuộc về khoa học lí
luận, phương pháp, tư tưởng mà không mấy quan tâm đến tác phẩm văn của ông Các công trình nghiên cứu, đánh giá về Đặng Thai Mai đã công bố có thể
kể đến như Luận án tiến sĩ của Hoàng Thị Mai với đề tài Đặng Thai Mai với
v ấn đề phương pháp luận giảng văn ở nhà trường phổ thông (Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội, 2000) khẳng định những đóng góp của Đặng Thai Mai cho
lĩnh vực giáo dục nước nhà, cuốn sách Nhớ Đặng Thai Mai (Nxb Hội nhà
văn, 2002) là những trang hồi ức và suy nghĩ do những người trong gia đìnhghi lại và do một số tác giả viết về nhà vǎn Đặng Thai Mai Tập sách được xem như một nén hương thắp lên để tưởng nhớ một người đã đi xa nhưng còn
để lại biết bao tình cảm thân thiết cho gia đình, bạn bè và dấu ấn sâu sắc đối
với nền vǎn học nước nhà Các bài viết, các chuyên luận của nhiều giáo sưđầu ngành như Gs Phan Trọng Luận với bài “Nhớ về thầy, một nhà sư phạm,
một học giả chân chính”, Gs Nhan Bảo với bài “Tưởng nhớ Đặng Thai Mai”,
Gs Hoàng Tuệ, Gs Đỗ Hữu Châu trong cuốn Đặng Thai Mai và văn học, đặc
biệt là bài viết “Đọc sách Văn thơ Phan Bội Châu của Đặng Thai Mai” của
Trang 15Vũ Ngọc Phan đăng trên tạp chí Văn nghệ, t4/1959 và bài “Đặng Thai Mai –
người giảng văn” của nhà thơ Hoàng Trung Thông đăng trên tạp chí Văn học,
2/1985 Các bài viết này một lần nữa khẳng định vị trí và những đóng góp của Đặng Thai Mai tập trung ở các lĩnh vực nghiên cứu, lí luận và giảng dạy Văn
học Bài viết của PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện với nhan đề “Đặng Thai Mai
và cuộc tranh luận Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị nhân sinh” in
trong Phong cách và Đời văn (Tiểu luận – Phê bình) đã khẳng định sự đúngđắn cũng như tầm quan trọng của tư tưởng Mácxit trong văn nghệ mà Đặng Thai Mai là một tiếng nói không thể thiếu Khảo sát cẩn thận các văn bản của ông trực tiếp nói về cuộc tranh luận này, tác giả Nguyễn Ngọc Thiện đã tổng
kết lại tư tưởng ủng hộ quan điểm Nghệ thuật vị nhân sinh cũng như vai trò
của Đặng Thai Mai trong cuộc tranh luận này : “Đặng Thai Mai có thể xem là người sơ kết cuộc tranh luận nói trên Với độ lùi thời gian và hoàn cảnh cho phép, ông công khai khẳng định và ghi nhận kết quả một chặng đường để đi
tới một cái mốc mới của tư duy lý luận văn nghệ Mácxit” [58, tr.162]
Trên các trang mạng cũng có nhiều bài viết về cuộc đời và sự nghiệp
của giáo sư Đặng Thai Mai như bài viết của giáo sư Trần Đình Sử “Đặng Thai
https://trandinhsu.wordpress.com/2014/09/24/ , bài viết “Giáo sư Đặng Thai Mai – nhà khoa học và người yêu nước” của Trần Hinh đăng trên tranghttp://www.ussh.vnu.edu.vn/d4/news/ ….đã cung cấp nhiều thông tin về vai trò là một nhà khoa học có tâm với đất nước và nhân dân của Đặng Thai Mai
Cuốn hồi ký của nhà văn được viết những năm cuối đời và đã nhận giải
A giải thưởng của hội nhà văn Việt Nam năm 1986 Tuy nhiên khi tìm hiểu về
cuốn hồi ký, chúng tôi chỉ tìm được những dòng giới thiệu ngắn ngủi trong các tài liệu về Đặng Thai Mai chứ chưa có một bài viết nào tập trung khai thác tác phẩm Trong luận án về hồi ký của mình, Lê Thị Lệ Thủy đã viết:
Trang 16“Nhằm ghi lại cuộc đời mình như một quá trình tôi luyện, trưởng thành, Đặng
Thai Mai trong H ồi ký tỏ ra điềm đạm và chừng mực, … Độc giả cảm nhận
khá rõ về cuộc đời riêng, thái độ, tư tưởng, những tâm sự trăn trở của một thanh niên trí thức trước thời cuộc nhiều biến động qua các trang viết về thời thiếu niên” [53, tr 88] Tác giả luận án cũng chỉ dừng lại ở những đánh giában đầu về tác phẩm chứ chưa có sự khảo sát tỉ mỉ
2.2.2 V ề tác giả Vũ Ngọc Phan và hồi ký Những năm tháng ấy
Vũ Ngọc Phan (1902 -1987) được đánh giá là một trong những cây bút
viết phê bình văn học tiêu biểu nhất của nước ta đầu thế kỉ XX Ông được vinh dự nhận giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996 cho những đóng gópquan trọng với nhiều tác phẩm về nghiên cứu, phê bình, phóng tác, dịch, sáng tác Ông là một cây bút xông xáo và uyên bác, từng viết cho nhiều tờ báo
cũng như làm chủ bút cho tờ Tuần báo Hà Nội tân văn và là người chủ trương
lập Nhà xuất bản Hà Nội Ông còn là một cây bút viết ký khá nổi bật với các tác phẩm Chuyện Hà Nội (bút ký, 1944), Những trận đánh Pháp (ký sự lịch
sử, 2 tập, 1946) Tuy nhiên, cũng giống như Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan được biết tới trước hết với tư cách là nhà nghiên cứu, phê bình Vì vậy, phần
lớn các bài viết về ông đều xoay quanh những đóng góp trong lĩnh vực này Trong quá tình sưu tầm tài liệu cho luận văn, chúng tôi có dịp được tiếp cận
với những công trình như của PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện (2005) Lý luận, phê bình văn học Việt Nam từ đầu TKXX đến 1945, tập trung ở bài viết
“Những đóng góp buổi đầu của Vũ Ngọc Phan trong nghiên cứu văn học theo đặc trưng thể loại và phong cách” Trong bài viết này, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện đã chỉ rõ những tiến bộ trong cách tiếp cận, phân loại, xem xét và nghiên cứu tác phẩm theo đặc trưng thể loại của Vũ Ngọc Phan khi làm bộ sách đồ sộ Nhà văn hiện đại, coi ông là “người mở đường” [57, tr
164] cho một phương pháp nghiên cứu mới ở Việt Nam Cùng quan điểm
Trang 17này, trong bài viết “Học tập nhà văn Vũ Ngọc Phan”, tác giả Vũ Ngọc Khánh cũng chỉ rõ : “Từ những ngày đầu xây dựng nền quốc văn mới, hình như Vũ
Ngọc Phan là người trước nhất, nhiều nhất, nếu không phải là duy nhất đề cập đến vấn đề xác định thể loại” [33, tr 73] Có thể thấy những đóng góp của Vũ
Ngọc Phan cho học thuật là vô cùng to lớn
Một số luận văn nghiên cứu về Vũ Ngọc Phan mà chúng tôi có dịp tiếp
cận như Trần Thị Lệ Dung (1998) với luận văn Thạc sĩ Đóng góp của Vũ
Ng ọc Phan cho phê bình – nghiên cứu văn học qua Nhà văn hiện đại, Đại học
Sư phạm Vinh; Phạm Thị Thanh Nga (2008) với luận văn Thạc sĩ Đóng góp
c ủa Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh về mặt phương pháp phê
bình, nghiên c ứu văn học trong giai đoạn 1930 – 1945, Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh…cũng xem xét Vũ Ngọc Phan ở những đóng gópcho phê bình, nghiên cứu văn học chứ chưa nói tới vai trò là người sáng tác
của ông
Bên cạch đó là nhiều bài báo trên các tạp chí chuyên ngành và báo
mạng như “Vũ Ngọc Phan với các giá trị văn chương học thuật dân tộc” của tác giả Phong Lê đăng trên trang http://vanhien.vn/ ngày 01/10/2013, “Nguồn sáng Vũ Ngọc Phan” của Đặng Tiến đăng trên https://vanhoanghean.com.vn/08.10.2014….Chỉ có điều, các bài viết này chưa nói một cách thỏa đáng về
vai trò là nhà văn của Vũ Ngọc Phan Tác phẩm được quan tâm nhiều nhất
của ông là bộ Nhà văn hiện đại, còn những tác phẩm khác chỉ được giới thiệu khá sơ lược Cuốn hồi ký Những năm tháng ấy cũng vậy Đây là một tác
phẩm có tính tổng kết cuộc đời, sự nghiệp cũng như mang đậm dấu ấn vănphong của nhà văn nên cần được nghiên cứu nhiều hơn Nhưng cho đến nay,
vẫn chưa có công trình, bài bào nào lấy cuốn hồi ký làm đối tượng nghiên cứu độc lập
Trang 18Như vậy, có thể thấy, cuốn Hồi ký thời kỳ thanh thiếu niên và hồi ký
Nh ững năm tháng ấy chưa từng được xem xét, mổ xẻ, đánh giá đúng với tầm
vóc và giá trị của nó Với luận văn này, chúng tôi xem như là người đầu tiên nghiên cứu về hai cuốn hồi ký với tư cách là hai tác phẩm văn chương của hai tác giả lớn
3 M ục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một cách hệ thống các đặc trưng thể loại của hồi ký trong
H ồi ký thời kỳ thanh thiếu niên (Đặng Thai Mai) và Những năm tháng ấy (Vũ
Ngọc Phan), luận văn nhằm thực hiện các mục đích sau:
- Làm rõ những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của hồi ký trong hai tác
phẩm đã nêu trong đề tài, từ đó thấy được những đặc sắc chung và riêng của các tác phẩm
- Thấy được tài năng và những đóng góp của hai tác giả cho sự phát triển của
nền văn học nước nhà nói riêng và cho sự nghiệp xây dựng đất nước nói chung
- Khẳng định vị trí của hai tác giả trong nền văn học Việt Nam ở phương diện
là các nhà văn
4 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Xác định khái niệm hồi ký và đặc trưng của thể loại này
- Khảo sát các đặc trưng thể loại trên đối tượng nghiên cứu của luận văn
- Vận dụng các kiến thức, phương pháp nghiên cứu chuyên ngành để phân tích, khái quát các luận điểm đặc trưng thể loại hồi ký trong hai tác phẩm từ
đó thấy được nét độc đáo của hồi ký tự truyện và hồi ký văn học hỗn hợp cũng như giá trị của hai tác phẩm trong lịch sử phát triển hồi ký Việt Nam
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 19Đối tượng nghiên cứu của luận văn đã được xác định trong đề tài : cuốn
H ồi ký thời kì thanh thiếu niên của Đặng Thai Mai và hồi kí Những năm
tháng ấy của Vũ Ngọc Phan Trong quá trình thực hiện, chúng tôi có tham
khảo một số tác phẩm hồi ký khác cũng như các tác phẩm khác của hai nhà văn nhưng đó chỉ nhằm hỗ trợ cho việc nghiên cứu hai đối tượng trên
5.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi tập trung nghiên cứu về đặc trưng thể loại
của hai cuốn hồi ký nói trên Tất cả các vấn đề khác, khi có điều kiện chúng tôi sẽ tiếp tục bàn sau
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp loại hình: Dựa vào đặc trưng thể loại để định hướng tìm hiểu
nhằm làm nổi bật những nét đặc trưng cũng như khác biệt của đối tượng khảo sát
- Phương pháp thống kê, phân loại: Đây là phương pháp được tiến hành đầu
tiên nhằm cung cấp những chi tiết, dữ kiện, số liệu chính xác tạo cơ sở tin cậy
để triển khai các luận điểm trong luận văn
- Phương pháp so sánh – đối chiếu: So sánh là một thao tác quan trọng của tư
duy, một phương pháp hữu hiệu của nghiên cứu khoa học Chúng tôi sẽ sử
dụng thao tác này để rút ra những điểm chung cũng như những đặc sắc riêng
của từng tác phẩm trên cơ sở đối chiếu với lý thuyết chung
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Để khái quát lý thuyết, chúng tôi tiến
hành phân tích các tác phẩm thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn theohướng làm sáng tỏ các đặc điểm thể loại của hồi ký - tự truyện, hồi ký văn chương hỗn hợp, sau đó tiến hành tổng hợp các kết quả đã phân tích
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như phươngpháp nghiên cứu tiểu sử, phương pháp phân tích, cảm thụ tác phẩm văn
học….trên quan điểm lịch sử và quan điểm hệ thống
Trang 207 D ự kiến đóng góp của luận văn
Lần đầu tiên lấy hai cuốn hồi ký làm đối tượng nghiên cứu, luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ giá trị hai tác phẩm quan trọng của hai nhà văn trong sự soi chiếu từ đặc trưng thể loại Ngoài việc khám phá những đặc điểm của hồi
ký, chúng tôi còn hướng tới việc phát hiện phong cách viết của hai nhà văn
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào thành quả nghiên cứu nói chung, phục vụ cho việc học tập và giảng dạy chuyên ngành Văn học
8 C ấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm
ba phần chính như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về hồi ký và hồi ký văn học
Chương 2: Đặc sắc hồi ký văn học của Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan – nhìn
từ phương diện nội dung
Chương 3: Đặc sắc hồi ký văn học của Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan – nhìn
từ phương diện nghệ thuật
Trang 21N ỘI DUNG CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỒI KÝ
VÀ H ỒI KÝ VĂN HỌC 1.1 Nh ững vấn đề chung về hồi ký
1.1.1 Khái ni ệm hồi ký
Hồi ký là một thể tài văn học thuộc ký – một thể loại văn học xuất hiện khá sớm nhưng phải đến thế kỉ XVII, đặc biệt từ thế kỉ XIX mới thực sự phát triển mạnh mẽ Để xác định khái niệm hồi ký, người ta thường tìm hiểu về ký – thể loại “mẹ” của nó Về mặt thuật ngữ, ký nghĩa là ghi chép (tiếng Nga là
Ocherk, ti ếng Pháp là Essai, tiếng Trung Quốc gồm bộ kỉ và bộ ngôn ghép
lại) để trình bày sự việc, mô tả lại về con người và các sự kiện đã qua, từ đó
bộc lộ quan điểm của người viết Trong dòng chảy liên tục của văn học, ký là
thể loại có vị trí quan trọng bởi nó giàu tính thời sự, phản ánh kịp thời những
biến động của đời sống Nhà văn Tô Hoài cho rằng : “Nhà văn là thư kí của
thời đại Tôi nghĩ danh hiệu cao quý ấy, mệnh lệnh chiến đấu ấy, trước hết chúng ta trân trọng tặng cho những người viết ký” [25, tr.71] Ông đánh giá cao thể loại này : “Ký cũng như truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ, hình thù nóđấy nhưng vóc dáng nó luôn đổi mới, đòi hỏi sáng tạo và thích ứng” [25, tr.36] Nhà thơ Xuân Diệu thì coi ký là thể loại bước ra từ cuộc sống, mang trên mình sự mới mẻ và xanh tươi của cuộc đời
Ký gồm nhiều tiểu loại khác nhau : bút ký, du ký, ký chính luận, nhật
ký, phóng sự, tản văn, hồi ký…trong đó hồi ký là tiểu loại đã gặt hái nhiều
thành công trong các giai đoạn gần đây
Về khái niệm hồi ký (memoir), có nhiều ý kiến đưa ra, có người dựa
vào nội hàm của hai chữ hồi ký, có người dựa vào đặc trưng để định nghĩa.
Tuy nhiên các ý kiến đều khá thống nhất ở những điểm cơ bản: tái hiện quá
khứ; người thật, việc thật, tác giả là người trong cuộc hoặc chứng kiến
Trang 22Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê) : “Hồi ký là thể văn ghi lại
những điều còn nhớ sau khi đã trải qua, đã chứng kiến sự việc” [17, tr.591] Cùng quan điểm đó, nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi trong T ừ điển thuật ngữ văn học đã viết : “Hồi ký là một thể loại thuộc
loại hình ký, kể lại những biến cố xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến” [20, tr.127] Có thể thấy các tác giả trên đã định
nghĩa hồi ký dựa trên cách triết tự hai chữ hồi (quay trở lại) và ký (ghi chép lại
những điều đã chứng kiến) Đó là cách cắt nghĩa ngắn gọn, dễ hiểu nhưng còn đông cứng, thiếu độ mở, dẫn đến sự thiếu hợp lý khi áp dụng với hồi ký hiện đại
Phần lớn các tác giả đều quan niệm hồi ký là một tiểu loại của ký Lại
Nguyên Ân trong 150 thu ật ngữ văn học định nghĩa : Hồi ký là “một thể
thuộc thể tài ký Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả, kể về
những sự kiện có thực trong quá khứ mà tác giả tham gia hoặc chứng kiến” [1, tr 154] Theo Hà Minh Đức: “Hồi ký ghi lại diễn biến của câu chuyện và nhân vật theo bước đi của thời gian qua hồi tưởng” [12, tr 285] Trong giáo
trình Lí lu ận văn học tập 2 (Trần Đình Sử chủ biên), các tác giả đã xác định :
Hồi ký là một dạng tự truyện của tác giả, “cung cấp những tư liệu của quá khứ
mà đương thời chưa có điều kiện nói được” [56, tr 380]
Như vậy, hồi ký là một dạng thức thuộc loại hình ký Hồi ký kể lại
những sự việc xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hay chứng
kiến Nội dung phản ánh trong hồi ký mang tính xác thực cao Đó là những sự
việc và con người để lại ấn tượng sâu sắc, gắn với những kỉ niệm riêng nhưngđồng thời tái hiện chân thực đời sống lịch sử - xã hội và văn hóa của thời đãqua
Trong luận văn này, chúng tôi có tham khảo khái niệm hồi ký do Lê
Thị Lệ Thủy đề xuất trong luận án Tiến sỹ và coi đó như một cơ sở lý thuyết
Trang 23quan trọng : “Hồi ký là thể loại tự sự đặc biệt thuộc loại hình ký, “là thiên trần thuật từ ngôi tác giả” – kể lại những sự việc đã xảy ra trong quá khứ mà bản thân đã tham dự hay chứng kiến, thậm chí có thể lấy chất liệu từ chính cuộc đời mình Hồi ký có thể hư cấu nhưng đòi hỏi phải có tính xác thực, và hình
thức tự sự của dòng hồi ức” [61, tr.31]
1.1.2 Nh ững đặc điểm chung của hồi ký
Là một tiểu loại của ký, hồi ký cũng mang trong mình những đặc trưng
của thể loại mẹ nhưng vẫn có những đặc điểm riêng, phân biệt với các tiểu
loại khác như nhật ký, tự truyện Có thể thấy những đặc trưng nổi bật của hồi
ký được đúc rút từ thực tiễn sáng tác như sau:
Hồi ký là những ghi chép về những sự việc trong quá khứ trên cơ sở
hồi tưởng mà người viết – cũng là nhân vật chính ghi lại bằng những hồi ức
trực tiếp của mình Tác phẩm hồi ký được trần thuật bởi một nhân vật xưngtôi Đó là nhân vật chứng kiến rất nhiều biến cố không chỉ với mình mà còn
với xã hội, đất nước và kể lại cho độc giả nghe Người viết hồi ký thường là
những người nổi tiếng, có ảnh hưởng lớn tới một lĩnh vực hoặc một giai đoạn nào đó Đó cũng phải là con người có trí tuệ và nhân cách, được mọi người
thừa nhận và kính trọng như Vũ Ngọc Phan, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Ma Văn Kháng… “Người viết hồi ký kể lại những điều mà mình có dịp quan sát hoặc nghe trực tiếp, những sự việc và con người để lại những ấn tượng sâu sắc, gắn bó với những kỉ niệm riêng đồng thời cũng có một nội dung xã hội phong phú” [12, tr 230] Như vậy, những dấu ấn của quá khứ trong cái nhìn hồi cố của người viết hồi ký chính là các sự việc, các nhân vật
đã để lại dấu ấn đậm nét không chỉ có ý nghĩa với bản thân tác giả mà còn có
ý nghĩa trong đời sống xã hội khi ấy
Một trong những thuộc tính cơ bản nhất của hồi ký là tính xác thực của đối tượng miêu tả và tính trung thực của người hồi tưởng bởi nội dung của tác
Trang 24phẩm là tái hiện những gì đã xảy ra trong quá khứ Vũ Ngọc Phan từng viết:
“Mình viết về mình nếu không tốt đẹp thì cũng đầy thơ mộng Điều quan
trọng là nó có biểu hiện tính chân thật hay không” [50, tr 364] Hà Minh Đức cũng nhấn mạnh : “không gắn với sự thật trong đời sống, ký dễ chơi vơi vàxóa đi ranh giới giữa mình với các thể loại khác” [12, tr.211] Có thể thấy, đây không chỉ là đặc trưng mà còn là giá trị của hồi ký Người đọc hồi ký bị
hấp dẫn bởi những thông tin có độ chính xác cao của bản thân người viết cũngnhư bức tranh đời sống, xã hội, thời đại do cuốn hồi ký đó dựng lên Đảm bảo tính trung thực khi trần thuật không phải là một việc dễ dàng, ngược lại nó đòi
hỏi người viết phải dũng cảm bởi đó là quá trình “đấu tranh” thực sự Đấu tranh với người khác, đấu tranh với chính mình, không ngại chạm tới những vùng “nhạy cảm” để nói lên sự thật Nên nếu không phải là người có nhân cách thường sẽ không đủ dũng khí để viết hồi ký
Một đặc điểm nữa được thừa nhận như một điều hiển nhiên là hồi ký
mang tính ch ủ quan của người kể chuyện Việc lựa chọn các sự kiện để kể
trong hồi ký phụ thuộc vào trí nhớ và quan niệm của người hồi tưởng Người
kể có thể kể chi tiết sự việc này, bỏ qua hoặc chỉ nói lướt đến sự việc kia Sự
hồi tưởng cũng chịu ảnh hưởng của quy luật “quên lãng” bởi các sự kiện đã
xảy ra từ lâu khó lòng có thể được nhớ một cách chính xác tuyệt đối, tường
tận Trong nhiều trường hợp, nhà văn không tránh khỏi phải sử dụng thêm hư
cấu, tưởng tượng Tất nhiên hư cấu ở đây không đồng nghĩa với sự bịa đặt hay cố ý thêm thắt mà cần được hiểu là sự lựa chọn, kết nối các chi tiết để trình bày sự kiện theo ý đồ của người kể Thậm chí, có những sự việc vốn nó không phải như thế nhưng vì người kể luôn tâm niệm về nó như vậy thành ra lâu dần, sự việc ấy lại là hiện thực với chính người kể chuyện Đó cũng làđiều mà các nhà lí luận quan ngại trước các tác phẩm hồi ký : “do thời gian lùi
xa, nhiều sự kiện nhớ không chính xác, nhớ nhầm hoặc tưởng tượng thêm mà
Trang 25không tự biết” [55, tr.380] Đóng góp của người viết hồi ký là đã đem đến
một cái nhìn, một cách đánh giá về các sự kiện, nhân vật góp phần làm nên ý nghĩa xã hội cũng như giá trị nghệ thuật cho tác phẩm, bộc lộ được con người tinh thần của mình Hồi ký là nơi để tác giả tự họa chân dung của mình là vì
thế
Ở phương diện nghệ thuật, đặc trưng nổi bật hàng đầu của hồi ký là
cách k ể chuyện theo dòng hồi tưởng với kết cấu linh hoạt, giọng điệu phong
phú Tác phẩm hồi ký không sử dụng cốt truyện mà mạch tự sự được triển khai tuân theo cơ chế của dòng ý thức, nhớ đến đâu kể đến đấy Sự hồi tưởng quá khứ thường theo trật tự thời gian tuyến tính nhưng có nhiều chỗ, người
viết sẽ đảo lộn trật tự thời gian ấy nhằm tái hiện trọn vẹn một sự kiện đồng
thời tạo nên tính hấp dẫn cho nghệ thuật trần thuật Cùng với sự linh hoạt của
kết cấu là tính phong phú của giọng điệu Tùy vào mối quan hệ với đối tượng được nói tới, tác giả sẽ thể hiện những giọng điệu khác nhau, tạo nên nhiều màu sắc đa dạng, góp phần thể hiện tính cách con người tác giả
1.1.3 S ự phân loại hồi ký
Có nhiều tiêu chí để phân loại hồi ký, trong luận văn này, chúng tôi dựa vào đặc trưng nội dung và tư cách của tác giả để phân chia hồi ký
Trên thế giới, người ta đã chia hồi ký thành nhiều dạng như : hồi ký của các nhà văn, hồi ký chính khách kể về cuộc đời hoạt động chính trị, hồi ký
của các tác giả là nhân chứng cho một sự kiện chính trị xã hội quan trọng Ở
Việt Nam, dựa trên thực tiễn sáng tác, có thể chia hồi ký thành ba loại lớn: hồi
ký văn học, hồi ký cách mạng và hồi ký khác
H ồi ký văn học là hồi ký do trực tiếp các nhà văn viết, kể về quá trình
sống và học tập của mình cùng chân dung của các nhà văn khác cùng thời
Hồi ký văn học cung cấp cho bạn đọc những thông tin quan trọng về cuộc đời
và sự nghiệp của nhà văn, về bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa của đất nước
Trang 26một thời Đây cũng là bộ phận hồi ký rất giàu giá trị nghệ thuật bởi nó được
tạo nên từ tâm hồn, trí tuệ của những người cầm bút giàu kinh nghiệm, có vốn
sống dồi dào, năng lực cảm thụ nghệ thuật tinh tế với một kho ngôn ngữ vô cùng phong phú Có thể kể tới một số cuốn hồi ký đã được bạn đọc đón nhân
nồng nhiệt như : Những năm tháng ấy (Vũ Ngọc Phan) Hồi ký Thời kỳ thanh
thi ếu niên (Đặng Thai Mai), Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương
(Ma Văn Kháng), Cô bé nhìn mưa (Đặng Thi Hạnh), Trong mưa núi (Phan
Tứ), Từ bến sông Thương (Anh Thơ), Hồi ký song đôi (Huy Cận), Chiều
chi ều, Cỏ dại (Thô Hoài)…
H ồi ký cách mạng là lời kể của các nhà cách mạng có những đóng góp
nổi bật cho sự nghiệp chính trị của đất nước Phần lớn những hồi ký này đều
do người khác chắp bút theo hồi tưởng của chủ thể câu chuyện Bối cảnh của các hồi ký loại này là bức tranh xã hội rộng lớn của các thời kì vận động cách
mạng, là cuộc đối đầu gay gắt giữa ta và địch Người kể thể hiện rõ lập trường
của một người yêu nước, một nhà cách mạng trong cuộc đấu tranh của dân
tộc Tác giả chủ ý hạn chế nói về mình mà để quần chúng, nhân dân làm nhân
vật chính Hồi ký cách mạng thường hấp dẫn bạn đọc bởi tính xác thực cao,
bởi những thông tin có giá trị lịch sử, xã hội sâu sắc Một số hồi ký cách
mạng gây được tiếng vang như : Những năm tháng không thể nào quên (hồi
ức của đại tướng Võ Nguyên Giáp do Hữu Mai thể hiện), Nhân dân ta rất anh
hùng (h ồi ức của Hoàng Quốc Việt do Thép Mới ghi), Gia đình, bạn bè, đất nước (Nguyễn Thị Bình), Bất khuất (Nguyễn Đức Thuận)…
H ồi ký khác là những hồi ký được viết bởi những nhân vật hoạt động
trong các lĩnh vức khác như các nhà kinh tế, các nghệ sĩ, các nhà khoa
học…Họ thường kể lại quá trình rèn luyện và hoạt động của mình, đặt mình vào nhiều mối quan hệ khác nhau Những hồi ký này giúp ta hình dung rõ hơn
về con đường tu dưỡng để đạt tới thành tựu của những nhân vật nổi tiếng,
Trang 27những thăng trầm trong nghề nghiệp, những ẩn khuất của cuộc đời tư Có thể
kể tới các hồi ký của một số nghệ sĩ trong lĩnh vực sân khấu, điện ảnh, âm
nhạc như : Điện ảnh, chặng đường và kỉ niệm (Trung Sơn), Phim là đời (Đặng Nhật Minh), Hồi ký Phạm Duy (Phạm Duy)…hay của các nhà nghiên
cứu như Nhớ nghĩ chiều hôm (Đào Duy Anh)…
Có thể thấy, hồi ký rất đa dạng về kiểu loại, chúng lại rất dễ dung hợp
với các thể loại khác để tạo nên những dạng thức phong phú Sự phân chia hồi
ký vì vậy chỉ mang tính chất tương đối Chúng tôi phân chia hồi ký theo tiêu chí nội dung và cương vị tác giả cũng nhằm hạn chế tối đa sự “mờ nhòa”dạng
loại so với các tiêu chí phân chia khác
1.2 Nh ững vấn đề chung về hồi ký văn học
1.2.1 Khái ni ệm hồi ký văn học
Là một bộ phận quan trọng của hồi ký, hồi ký văn học do các nhà văn
vi ết, trực tiếp kể về cuộc đời mình và các nhà văn khác ở thời quá khứ với một
l ối trần thuật hấp dẫn, linh hoạt, không chỉ đáp ứng yêu cầu về tính chính xác
c ủa sự kiện, thông tin mà còn mang đến những khoái cảm thẩm mĩ cho độc
giả Hồi ký văn học không chỉ đảm bảo về nội dung thông tin mà còn phải đảm bảo tính nghệ thuật Nó cung cấp cho bạn đọc những tư liệu về đời tư của nhà văn, về quá trình nhà văn ấy phấn đấu, rèn luyện và bén duyên với nghề
viết đồng thời lí giải những vấn đề như : những tác phẩm có giá trị được viết theo phong cách nào, những mối liên hệ giữa người viết và môi trường được
phản ánh, tác động của những yếu tố khách quan và chủ quan đã chi phối đến tác phẩm, những câu chuyện xoay quanh tác phẩm và dư luận công chúng Hình tượng trong hồi ký văn học thuộc loại hình tượng ghi chép sự thật Chủ
thể trần thuật đồng thời cũng là người ghi chép lại Đó có thể là một nhà vănsáng tác hoặc một nhà văn nghiên cứu, phê bình
Trang 281.2.2 Đặc điểm của hồi ký văn học
Hồi ký văn học do các nhà văn trực tiếp viết để kể về mình hoặc các
bạn văn khác cùng thời Qua hồi ức của những cá nhân, hồi ký văn học sẽ đivào khám phá những số phận, cuộc đời, nhân cách của những nhân vật nổi
tiếng một thời Là một thể tài của hồi ký, hồi ký văn học cũng mang những đặc điểm của hồi ký nói chung Bên cạnh đó, hồi ký văn học cũng có những đặc điểm riêng phân biệt với các thể tài hồi ký khác
1.2.2.1 K ết cấu linh hoạt theo dòng hồi ức trên tinh thần tôn trọng sự thật
Hồi ký văn học là thể loại được nhiều nhà văn lựa chọn bởi nó có khả năng đáp ứng cao nhu cầu tái hiện một cách chân thực, chi tiết đời sống của quá khứ Khi viết hồi ký, nhà văn đồng thời cũng vào vai người có thẩm quyền trong việc đánh giá sự việc, con người mà tác giả đã được chứng kiến
Với hồi ký thông thường, yêu cầu hàng đầu và gần như duy nhất là tính xác
thực của thông tin, vì vậy người viết sẽ kể theo trình tự thời gian chuỗi các sự
việc đã xảy ra Còn với hồi ký văn học, tính nghệ thuật là một thuộc tính, một đòi hỏi tất yếu, góp phần làm nên giá trị tác phẩm Từ chất liệu “người thật,
việc thật” trong quá khứ, người viết sẽ lựa chọn, sắp xếp các sự việc và kể lại theo cách riêng của mình để vừa làm hiện lên một cách chân thực, sống động
cuộc sống của những năm tháng đã qua, vừa in đậm dấu ấn gương mặt tác giả
Dù bám vào sự thật nhưng cách các nhà văn triển khai khác hẳn với các nhà viết sử bởi người viết hồi ký chỉ tiếp nhận và tái hiện lại phần hiện thực
mà tác giả nhìn rõ hơn cả, còn đọng lại sâu sắc trong hồi ức và để lại ấn tượng đậm nét trong trí nhớ Những trang hồi ký văn học sẽ mang đến cho bạn đọc
một cách nhìn, một tư liệu độc đáo về đời sống, xã hội của đất nước trong quá
khứ thông qua đôi mắt và cách viết của nhà văn Vì vậy hồi ký văn học thường không tránh khỏi sự chủ quan trong nhìn nhận, tính phiến diện, không đầy đủ của thông tin sự kiện Thậm chí, chúng ta cũng phải thừa nhận sự tồn
Trang 29tại của hư cấu, tưởng tượng trong tác phẩm hồi ký văn học bởi khi viết về
những điều xảy ra đã quá lâu thì khó lòng đảm bảo nguyên vẹn sự thật Và hơn nữa, hồi ký văn học khi đã bước một chân vào địa hạt của văn chương,nghệ thuật thì tất yếu không nên đặt quá cao vấn đề chính xác tuyệt đối Tuy nhiên, giá trị cơ bản nhất của hồi ký vẫn nằm ở tính chân thực của thông tin được ghi lại Sự hư cấu chỉ chiếm một phần không đáng kể và không nằm ngoài mục đích tái hiện chân thực các sự việc và con người
Một đặc điểm mang tính đặc thù nhưng cũng là yếu tố mang đến sự độc đáo cho tác phẩm hồi ký văn học là sự linh hoạt trong cách kết cấu tác phẩm Không có một khuôn kết cấu cố định nào cho các tác phẩm hồi ký văn học
Sự đa dạng trong cách triển khai một tác phẩm hồi ký văn học phản ánh sự đa
dạng trong dòng hồi ức của người viết Có người lựa chọn bắt đầu bằng một
sự kiện như trong hồi ký của Đặng Thai Mai, Ma Văn Kháng, cũng có người
lựa chọn cách mở đầu truyền thống, giới thiệu về gốc gác của mình như Vũ
Ngọc Phan, Đặng Thị Hạnh Nhìn chung, mở đầu và kết thúc hồi ký văn học hoàn toàn phụ thuộc vào ý đồ của nhà văn, không bị chi phối bởi bất cứ khuôn mẫu nào
Chính vì kết cấu linh hoạt theo dòng hồi ức nên trong hồi ký văn học,
cốt truyện không thực sự được xem trọng Khi triển khai các tình tiết, nhà văncũng không chịu sự chi phối của quy luật khách quan mà tái hiện chúng theo quy luật của tâm lí, chấp nhận sự ngẫu hứng như một thuộc tính của cảm xúc
Kết cấu của hồi ký văn học cực kí biến hóa : có khi xếp chồng các lớp thời gian, có khi lắp ghép các mảng hồi ức, trình tự hồi ức thường xuyên bị xáo
trộn Tính liên kết của các sự kiện trong hồi ký văn học là sự thống nhất trong
cảm hứng, nghĩa là sự liên kết bên trong
Kết cấu linh hoạt theo dòng hồi ức là đặc trưng và cũng là thế mạnh của
hồi ký khi tái hiện bức tranh cuộc sống của một thời quá vãng Nó làm nên
Trang 30giá trị nghệ thuật cho tác phẩm cùng với ý nghĩa xã hội mà hồi ký mang đến
bởi tinh thần tôn trọng sự thật Tác phẩm hồi ký văn học vì thế ngày càng được bạn đọc ưa chuộng
1.2.2.2 Di ễn ngôn theo phong cách cái tôi tác giả
Trong hồi ký văn học, chủ thể của câu chuyện đồng thời cũng là người ghi lại (ở các loại hồi ký khác có nhiều trường hợp chủ thể câu chuyện và người ghi chép không phải là một) theo một lối hành văn mang đậm dấu ấn phong cách của người viết Vì vậy, hình tượng tác giả luôn giữ vị trí trung tâm, “cái tôi” của họ cũng được bộc lộ rõ nét Tác giả có quyền chủ động trong việc trình bày hoàn cảnh, tái dựng hiện thực, bộc lộ cảm hứng, lựa chọn tình tiết, sắp xếp sự kiện, sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu…Cùng một hoàn
cảnh sống, cùng hoạt động trong một lĩnh vực nhưng hồi ký của hai nhà vănkhác nhau sẽ đưa đến cho người đọc hai sự “trông nhìn” và “ thưởng thức”khác nhau Tính chủ quan là điều dễ nhận thấy trong hồi ký văn học bởi :
“Trong cuộc đời con người, không phải tất cả mọi điều đều được các tác giả lưu giữ dầy đủ trong kí ức, và không phải tất cả đều cần được phơi trải trên trang sách Và vì mục đích của mỗi người khi thực hiện cuốn hồi ký hay tự truyện là khác nhau, cho nên mọi tình tiết nêu ra đều có “chọn lọc” và chắc
chắn không thể thoát khỏi cái nhìn chủ quan của người viết” [36]
Chất liệu làm nên một cuốn hồi ký văn học không chỉ là cuộc đời của
bản thân nhà văn mà còn có rất nhiều mối quan hệ, nhiều nhân vật khác Vì
vậy, cùng với việc tái hiện cuộc đời mình với những biến cố, thăng trầm, người viết còn có thể bày tỏ quan điểm về cuộc sống, về bạn bè, đồng nghiệp,
về những điều đã xảy ra Với bản thân, người viết hồi ký văn học thường có thái độ nghiêm khắc, trung thực nhìn thẳng vào con người mình để phán xét
cả cái tốt và cái xấu Họ coi mình là đối tượng để khảo sát chứ không phải là tượng đài để ngợi ca Với người khác, người viết hồi ký văn học thường cố
Trang 31giữ thái độ khách quan nhất, tránh việc khen chê mang màu sắc cảm tính Nhưng ngay trong cách trần thuật khách quan ấy cũng đã chứa đựng cách đánh giá kín đáo, tế nhị của người viết
Sự hiện diện của cái tôi tác giả là một đặc điểm quan trọng của hồi ký văn học Cái tôi ấy thể hiện rõ trong bản lĩnh người viết bởi viết hồi ký là quá trình đấu tranh để nói ra sự thật Cái tôi ấy cũng thể hiện trong chính cuộc đời
của tác giả, không ai giống ai Nó cũng thể hiện ở khả năng thâm nhập đời
sống xã hội, chiều sâu của nhận thức, chiêm nghiệm về thế sự, nhân sinh Cái tôi ấy cũng thể hiện ở sự quan tâm đến tâm thế, cảm xúc của người đọc, cách
tạo ra niềm tin cho độc giả đối với sự thật được viết trong tác phẩm Bên cạnh
đó, cái tôi tác giả còn được thể hiện ở những thủ pháp được sử dụng, ở giọng điệu để tạo dấu ấn riêng Người đọc có thể nhận ra cái tôi Nguyên Hồng đa
cảm, dễ xúc động, một Tô Hoài tinh tường, tỉnh táo, hài hước; Ma Văn Kháng
tạo bạo, thẳng thắn; Vũ Ngọc Phan mực thước, tài hoa nhưng rất khiêm nhường, Đặng Thai Mai thâm trầm, sâu sắc, hóm hỉnh
Cái tôi tác giả trong hồi ký văn học giữ vị trí tối thượng, là người đưa
bạn đọc khám phá hiện thực từ lăng kính của mình, là người kiến tạo khuynh hướng tư tưởng, phong cách nghệ thuât, là chủ thể sáng tạo duy nhất của tác
phẩm
1.2.2.3 Phong phú, đa dạng trong hình thức thể hiện nghệ thuật ngôn từ
Hồi ký văn học vốn rất dễ thâm nhập với các thể loại khác, tạo nên
những dạng thức phong phú Mỗi nhà văn có một ưu thế, sở trường riêng trong sự kết hợp tả, kể, tạo nên những trang viết với nhiều màu sắc độc đáo Trên cái nền câu chuyện có thật, sự linh hoạt trong trình tự hồi tưởng kết hợp
với một mức độ nhất định yếu tố tưởng tượng, hư cấu khiến hồi ký văn học
tiệm cận tiểu thuyết tự thuật; sự gia tăng cảm xúc khiến nó giàu tính trữ tình,
gần với mạch liên tưởng phóng túng của tùy bút Về điều này, Tô Hoài cũng
Trang 32cho rằng : “Hồi ký cũng như truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ, hình thù nóđấy nhưng vóc dáng luôn luôn mới đòi hỏi sáng tạo và thích ứng Cho nên càng chẳng nên trói nó vào một cái khuôn Cũng không có thể làm việc ấy được” [23, tr.33]
Trong một tác phẩm hồi ký văn học, các nhà văn thường kết hợp linh
hoạt nhiều phương thức như tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận với những thao tác tư duy khoa học Phương thức tự sự đóng vai trò chủ đạo trong việc thuật lại các sự kiện, tình tiết Miêu tả, biểu cảm, nghị luận được dùng như
những phương thức hỗ trợ không chỉ giúp cho việc kể lại trở nên cụ thể, sinh động mà còn góp phần rất lớn đến thành công của tác phẩm, đặc biệt trong
việc hướng người đọc đến những giá trị nhân văn đẹp đẽ Ở hồi ký văn học còn có sự kết hợp tự nhiên giữa tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học Người
viết hồi ký văn học không chỉ có tài năng và tâm hồn văn chương mà còn phải
có kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực, có khả năng bao quát, đánh giá các
sự kiện, hiện tượng trong đời sống Giá trị cùa tác phẩm hồi kí vì vậy không
chỉ dừng ở giá trị thông tin mà còn vươn tới giá trị thẩm mĩ, không chỉ đápứng nhu cầu biết của người đọc mà còn thỏa mãn những khoái cảm thẩm mĩ
của độc giả
Mặc dù giọng điệu đặc trưng của thể loại là giọng điệu trần thuật khách quan nhưng chính cá tính sáng tạo của mỗi tác giả đã mang đến màu sắc
giọng điệu riêng cho mỗi tác phẩm Đặng Thai Mai trong Hồi ký thời kỳ thanh
thi ếu niên bộc lộ giọng điệu thâm trầm, hóm hỉnh, thấm thía, sâu cay và một thái độ chính trị rất rạch ròi, Vũ Ngọc Phan trong Những năm tháng ấy thể
hiện giọng điệu trữ tình hoài niệm, tha thiết; Anh Thơ trong Từ bến sông
Thương có giọng điệu ấm áp, giàu nữ tình và chất trữ tình…Thông thường,
một tác phẩm hồi ký thường hiện diễn nhiều kiểu giọng điệu nhưng luôn có
Trang 33một giọng điệu chủ đạo, giọng điệu ấy phù hợp với cá tính con người và cá tính sáng tạo của nhà văn
Ngôn ngữ trong hồi ký văn học cũng vô cùng đa dạng, nó cho thấy sở trường của nhà văn trong việc sử dụng tài sản chung của cộng đồng để tạo nên đứa con tinh thần riêng của mình Có người sử dụng ngôn ngữ với sắc thái trung hòa, chuẩn mực như Vũ Ngọc Phan, Đặng Thai Mai; Có người ưa sử
dụng ngôn ngữ dân dã, đậm chất đời thường như Tô Hoài ; Có người không
ngại dùng những từ ngữ thô tục như Ma Văn Kháng khi ông gắn vào miệng nhân vật những câu kiểu như : “Mẹ nó, ngô tháng giêng ăn mẹ nó hết rồi, còn
bắt thống kê! Làm bỏ mẹ chẳng đủ ăn đây này” ; “Đ mẹ nó, không có mặt nó
vứt toàn xương xẩu cho người ta Ông đút c vào mua nữa” ; “mày bây giờ bên l thì chắc, bên c thì lép”; “cái cứt gì cũng phân, phân như cứt” [ 31], Tố
Hữu sử dụng ngôn ngữ rất đậm chất Huế…
Chính sự phong phú, đa dạng trong hình thức thể hiện nghệ thuật ngôn
từ đã làm nên sự hấp dẫn cho những tác phẩm hồi ký văn học đồng thời thể
hiện rõ phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn
1.2.3 S ự phân loại hồi ký văn học
Trong thưc tiễn sáng tác, hồi ký văn học phát triển với những biểu hiện
rất phong phú, tạo ra nhiều nhánh, nhiều dạng, nhiều sự kết hợp đan xen giữa
hồi ký và các thể ký khác cũng như hồi ký và các thể tự truyện, tiểu thuyết…căn cứ vào một số phương diện như đề tài, khuynh hướng cảm hứng,
phương thức thể hiện, có thể chia hồi ký văn học thành các tiểu loại sau:
1.2.3.1 H ồi ký - tự truyện
H ồi ký và tự truyện là hai khái niệm gần nhau nhưng vẫn có ranh giới
khu biệt Trong Từ điển văn học (bộ mới) Đỗ Đức Hiểu phân biệt : “ Hồi ký
có thể chỉ ghi lại những sự kiện về một thời kỳ lịch sử mà tác giả không phải
là nhân vật chính ; còn tự truyện kể truyện cái “tôi” tác giả Tự truyện không
Trang 34phải một tập hợp những kỷ niệm tản mạn, mà được bố trí như một truyện, một
tiểu thuyết” [18, tr 1906] Người viết hồi ký và tự truyện đều có cái nhìn hồi
cố, hướng về dĩ vãng với cảm hứng tổng kết và lí giải Tuy vậy, về bản chất,
tự truyện mang đặc trưng của truyện, giàu tính miêu tả, chú trọng đến sự lôi
cuốn trong lời kể còn hồi ký mang đặc trưng của ký, thiên về trần thuật, đề cao tính xác thực Tự truyện xuất phát từ nhu cầu giới thiệu, cắt nghĩa về bản thân để bộc bạch với người đọc về quá trình hình thành nhân cách và thế giới tâm trạng của mình Còn hồi ký thường xuất hiện khi người ta có cảm hứng
hồi cố, có nhu cầu trục vớt quá khứ, để nói những điều mà trong quá khứ chưa tiện nói ra Người viết hồi ký thường chọn thời điểm gần kết thúc hành trình cuộc đời để hồi tưởng lại cả một chặng đường dài đã qua với rất nhiều
nỗi niềm, tiếc nuối, còn tự truyện có thể được viết ra bất cứ lúc nào trong
cuộc đời, khi người viết muốn khẳng định về sự hiện diện của cái “tôi” và chủ
đề để suy tưởng thường gắn với một sự kiện nhất định
Trong giáo trình Lý lu ận văn học (tập 2) do GS Trần Đình Sử chủ biên
có đoạn viết : “Hồi ký là một dạng tự truyện của tác giả, cung cấp những tư
liệu quá khứ mà đương thời chưa có điều kiện để nói ra được” Sự phân biệt
rạch ròi giữa hai thể loại này là điều không dễ dàng và cũng không thực sự
cần thiết Ở mỗi tác phẩm cụ thể, người ta sẽ xem xét yếu tố tự truyện đậm hơn hay hồi ký đậm hơn mà thôi Tự truyện từ lâu đã không được đọc như
một bản lí lịch tự thuật mà đã được coi như một tác phẩm nghệ thuật Hồi ký văn học cũng không dừng lại ở giá trị thông tin mà đã vươn tới giá trị thẩm
mĩ
Trong thực tế sáng tác, bên cạnh việc tuân thủ các đặc trưng thể loại, các nhà văn luôn có ý thức phá vỡ ranh giới giữa chúng Có thể xuất phát từ
những lí do chủ quan như lựa chọn đối tượng thể hiện, mong muốn mang đến
sự mới mẻ cho tác phẩm mà nhà văn cố ý đưa vào tác phẩm thuộc thể loại này
Trang 35những yếu tố của thể loại khác, tạo nên hiện tượng “lệch chuẩn” một cách tài hoa Hơn nữa, sự pha trộn thể loại cũng là một quy luật khách quan trong đời
sống văn học Cùng với việc giữ vững những đặc điểm mang tính đặc thù của
thể loại gốc là việc tiếp thu những đặc điểm của thể loại khác để tăng tính hấp
dẫn và hiệu quả biểu đạt cho tác phẩm Sự tương tác giữa hồi ký và tự truyện
đã dẫn đến một tiểu loại mang tính lưỡng giá : hồi ký – tự truyện Tất nhiên không phải hồi ký nào cũng mang tính tự truyện Hồi ký cách mạng, hồi ký về các danh nhân là hồi ký nhân chứng Hồi ký chỉ mang tính tự truyện khi tác
giả viết về bản thân mình, soi rọi vào thế giới bên trong của mình, lí giải sự hình thành nhân cách và vị trí xã hội mà mình đang có Một số hồi ký – tự truyện được biết đến rộng rãi như : Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng), Năm
tháng nh ọc nhằn, năm tháng nhớ thương (Ma Văn Kháng), Hồi ký thời kỳ
thanh thi ếu niên (Đặng Thai Mai)…
Có thể khẳng định hồi ký - tự truyện là một tiểu loại thuộc hồi ký; là
hình thức tồn tại của tác phẩm văn học với những đặc điểm tương đối ổn định trong lịch sử về các mặt như: ngôn ngữ, bố cục, thể thức, dung lượng Nó không chỉ có đặc trưng hình thức mà còn có nội dung đặc trưng Hồi ký tự truyện mang trong nó những đặc điểm chung của thể loại bao hàm nó (thể hồi ký), đồng thời nó cũng có những đặc trưng riêng để phân biệt với các tiểu loại khác
1.2.1.2 H ồi ký - chân dung văn học
Hồi ký chân dung văn học xuất hiện trong giai đoạn cận hiện đại của
lịch sử, khi mà việc viết văn, sáng tạo nghệ thuật đã trở thành loại hình được chuyên môn hóa Văn nghệ sĩ đã trở thành một tầng lớp có vị trí nhất định trong xã hội và trở thành đối tượng miêu tả của văn học nghệ thuật Đây cũng
là lúc mà giới cầm bút có ý thức sâu sắc về mình và nghề nghiệp của mình
Trang 36Hồi ký chân dung văn học được xây dựng từ cuộc đời thực của các đối tượng nhưng không hoàn toàn trùng khít với con người tiểu sử bởi nó có xu hướng tiểu thuyết hóa Có những hồi ký chân dung mang đậm dấu ấn của phê bình, cũng có những tác phẩm giống như những trang tiểu sử về nhà văn.
Những bức chân dung nghệ sĩ được tái hiện cũng rất độc đáo, có người được
kể trong suốt một hành trình dài sống, lao động sáng tạo; có người chỉ được tái hiện qua kỉ niệm về những lần gặp gỡ Có những bức chân dung được nhìn
từ xa, nghĩa là người viết chỉ chú ý đến những ưu điểm, bỏ qua khuyết điểm
những cũng có những bức chân dung được kéo về gần, hiện lên ở cả những cái tốt lẫn cái xấu, cả phần thiên thần lẫn phần rắn rết Có điều, dù nhìn đối tượng ở cự li nào, các tác giả hồi ký cũng luôn giữ một thái độ công bằng với
những đánh giá sắc sảo, không có yếu tố kèn cựa, nhục mạ Bởi người viết hồi
ký chân dung thường là những người có bản lĩnh và nhân cách, được mọi người thừa nhận và yêu mến
Hồi ký chân dung văn học là một thể tài khá đặc biệt, nó nằm ở vị trí
tiếp giáp giữa sáng tác và phê bình văn học, có nội dung tái tạo diện mạo và
phẩm chất tinh thần của đối tượng một cách đúng đắn, sâu sắc Hình ảnh một nhà văn, nhà thơ hay một nhà hoạt động xã hội nào đó thường được hình thành từ sự tổng hợp những hồi ức, kỉ niệm cùng những nhìn nhận, đánh giá
của người viết, đôi khi có cả sự tưởng tượng, thậm chí lý tưởng hóa
Hồi ký chân dung văn học là một tiểu loại của hồi ký văn học Tác giả
lấy chính đồng nghiệp của mình làm đối tưởng miêu tả, bàn luận, qua đó làm
hiện lên một cách sống động, đa chiều hình ảnh của nhiều nhà văn, nhà thơquen thuộc Hồi ký chân dung vì vậy luôn được xem là nguồn cung cấp tư
liệu quý về đời sống văn chương Đứng từ góc đọ thể loại có thể nhận thấy
hồi ký chân dung văn học tồn tại dưới nhiều dạng thức biến thể : có tác phẩm thiên về phê bình, có tác phẩm chủ yếu tái hiện các sự kiện trong cuộc đời nhà
Trang 37văn được nói tới, có tác phẩm giống như những trang viết xúc động về tình
bạn….Ngoài giá trị cung cấp tư liệu, hồi ký chân dung văn học còn là món ăn tinh thần rất bổ ích với độc giả Một số hồi ký chân dung nổi tiếng như : Cát
b ụi chân ai, Những gương mặt (Tô Hoài), Mười chín chân dung nhà văn cùng
th ời (Vũ Bằng), Viết về bạn bè – Tập chân dung văn nghệ sĩ (Bùi Ngọc Tấn), Mười khuôn mặt văn nghệ (Tạ Tỵ), Văn thi sĩ tiền chiến (Nguyễn Vỹ)…Với
sự lớn mạnh của đội ngũ sáng tác, thể tài hồi ký chân dung văn học đang ngàycàng phát triển
1.2.1.3 H ồi ký văn chương hỗn hợp
Hồi ký văn học hỗn hợp là thể loại hồi ký mà ở đó hiện diện cả hai loại hình tượng trung tâm là tác giả nhà văn và các đồng nghiệp đương thời Đây
là loại hồi ký được các nhà văn yêu thích khai thác Bởi vì, viết hồi ký, người
viết không chỉ muốn nói về mình mà còn muốn dựng lên cả một bức tranh đa
diện, nhiều chiều về hiện thực Các tác phẩm như Những năm tháng ấy (Vũ
Ngọc Phan), Bốn mươi năm nói láo (Vũ Bằng), Nhớ lại một thời (Tố Hữu)
…có sự kết hợp của hồi ký – tự truyện và hồi ký – chân dung, được xếp vào
tiểu loại hồi ký văn chương hỗn hợp Trong những tác phẩm ấy, nhà vănkhông chỉ kể cho bạn đọc nghe về đời tư của mình, mà còn kể về nhiều cây bút đương thời – những người có quan hệ thân thiết với tác giả
Vương Trí Nhàn từng cho rằng : trước mọi sự việc mỗi người đều có cách phản ứng riêng của mình, người nọ làm nền cho người kia để trong sự so sánh, mỗi người đều hiện ra sắc nét hơn Mọi đường đi tới bản thân đều điqua kẻ khác Vì vậy, viết hồi ký, nhà văn không viết cho riêng mình mà còn
viết cho cả những người thân sơ đã cùng mình chia sẻ những ấm lạnh cuả đời
Những nghệ sĩ đương thời được đưa vào hồi ký phần lớn đều là những người
bạn thân thiết với tác giả, đã cùng tác giả trải nhiều biến cố, ghi dấu nhiều kỉ
niệm và có ít nhiều ảnh hưởng đến cuộc đời sự nghiệp của người viết Vì vậy,
Trang 38những thông tin được mang đến, những chân dung được dựng lên đều mang giá trị tin cậy rất cao
Hồi ký văn chương hỗn hợp mang tính nghệ thuật cao, không đơnthuần là việc ghi chép, tường thuật mà hướng tới việc xây dựng và khắc họa hình tượng bằng ngôn ngữ giàu tính tạo hình Phần viết về các bạn văn đương
thời của Vũ Ngọc Phan trong hồi ký văn học Những năm tháng ấy đã cho
Hồi ký văn học là một bộ phận quan trọng của hồi ký, có nội dung tái
hiện đời sống xã hội, đời sống văn chương trên nền bối cảnh của một giai đoạn lịch sử cùng với nhiều mối quan hệ phong phú, mang đến cho người đọc
những xúc cảm thẩm mĩ đặc biệt Dù viết về một giai đoạn trong quá khứ, nhưng điểm rơi của hồi ký là ở hiện tại, giá trị của nó không chỉ thuộc về một
thời mà có ý nghĩa lâu dài Với lối viết đa dạng, thể hiện sự độc đáo của cái tôi tác giả, kết cấu linh hoạt, hồi ký văn học vẫn toát lên tinh thần tôn trọng sự
thật, đảm bảo những đặc trưng của hồi ký nói chung Sự phân chia hồi ký văn
học thành ba loại nói trên chỉ mang tính chất tương đối, cũng giống như sự tương đối của những tác phẩm văn chương nghệ thuật thực sự Khi tiếp cận
một tác phẩm hồi ký văn học, người đọc cũng cần lưu ý điều này
Trang 39CHƯƠNG 2 : ĐẶC SẮC HỒI KÝ VĂN HỌC CỦA ĐẶNG THAI MAI,
VŨ NGỌC PHAN – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
2.1 Đặc sắc nội dung hồi ký – tự truyện của Đặng Thai Mai
Nhà văn Đặng Thai Mai dự định viết cuốn hồi ký về cuộc đời mình cũng từ khá lâu trước khi ông mất Nhưng với rất nhiều thận trọng, cộng thêm
vấn đề sức khỏe nên tiến độ viết rất chậm Ngày 6/7/1984 nhà văn ngừng tay
viết thì đến ngày 9/7 năm ấy ông nhập viện Ông định chia cuốn Hồi ký của mình thành ba phần: Phần I : Thời kỳ thanh thiếu niên (từ thời thơ ấu cho đến
ngày tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm năm 1928); Phần II : Bước vào đời (Từ khi nhà văn bắt đầu đi dạy học đến Cách mạng tháng Tám); Phần III : Từ
Cách m ạng tháng Tám (Những hoạt động của nhà văn từ Cách mạng tháng
Tám đến cuối đời) Nhưng đáng tiếc, cho đến khi nhà văn trút hơi thởi cuối cùng thì phần đầu của cuốn hồi ký mới chỉ gần hoàn thành Tuy vậy, nó vẫn
có giá trị hết sức lớn lao trong việc dựng lại một giai đoạn lịch sử đã qua cũngnhư gửi gắm những lời nhắn nhủ cho các thế hệ sau Tác phẩm được in lần đầu tiên tại NXB Tác phẩm mới Hội Nhà văn Việt Nam năm 1985 và in lần 2
ở NXB Văn nghệ TP HCM năm 2001 Với giá trị to lớn ở cả phương diện nội dung lẫn nghệ thuật, tác phẩm đã được trao giải A giải thưởng của hội nhà văn Việt Nam năm 1986 Khi soi chiếu vào đặc trưng kiểu loại, chúng tôi xếp
cuốn hồi ký vào dạng thức hồi ký - tự truyện bởi nội dung của cuốn hồi ký
chủ yếu xoanh quanh cuộc đời của tác giả (ở giai đoạn tuổi trẻ) với một phong
cách thâm tr ầm, uyên bác, hóm hỉnh
2.1.1 Th ời niên thiếu trên quê hương Lương Điền và những kí ức xúc động về người thân
Cuốn hồi kỳ được bắt đầu với thời điểm tác giả khi ấy còn là một cậu
bé sáu tuổi được mẹ thông báo sẽ rời Phù Xá, tạm biệt mẹ và em gái để đến
sống với ông bà nội ở làng Lương Điền (huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ
Trang 40An) Tại đây, cậu bé Đặng Thai Mai sẽ trải qua thời niên thiếu của mình giữa
những biến động của xã hội dưới sự yêu thương, dạy dỗ của ông bà nội Cùng
với những tháng ngày hồn nhiên của tuổi thơ là những kí ức xúc động về người thân trong gia đình Là hình ảnh người cha bị tù đày vì tham gia phongtrào Duy Tân, là chú Tú Hai xuất dương sang Xiêm vì việc nước, là ông nội nhiều lần bị bọn mật thám làm phiền, đến cuối đời còn bị bỏ tù, là bà nội luôn
vững chãi trong cơn sóng gió của gia đình và dân tộc Tất cả các thành viên trong gia đình đều là những tấm gương yêu nước lớn, góp phần không nhỏ vào các phong trào đấu tranh khi ấy của chí sĩ Nghệ An Làng Lương Điền, quê nội tác giả là một miền đất “khỉ ho cò gáy” nhưng nổi tiếng là gan góc, dũng cảm Bao năm nay nhiều cụ già trong làng vẫn dõng dạc nhắc với con cháu : “Tây lấy hết nước Nam rồi mới lấy được tỉnh Nghệ! và Tây lấy hết được tỉnh Nghệ thì mới lấy được làng Lương Điền” [40, tr.113] Sống nhiều đời trên mảnh đất này nên truyền thống quê hương đã ngấm vào truyền thống gia đình
Người đầu tiên được nhắc tới là người cha – ông phó bảng Đặng Nguyên Cẩn Tác giả không có nhiều thời gian sống cùng cha mình nhưngtình cảm và ấn tượng dành cho cha thì vô cùng sâu sắc Niềm day dứt lớn trong cuộc đời nhà văn là đã không nhớ trọn vẹn ba bài thơ tứ tuyệt mà cha
viết lúc ông chào đời và không giữ được cuốn hồi ký của cha Cha ông vốn
vất vả về đường thê tử, phải lấy vợ đến lần thứ năm mới sinh được đứa con trai, đích tôn cho dòng họ Khi con trai ra đời, cha ông đã đặt tên cho con là Mai với ý nghĩa chỉ cây mơ, cây mai, loài cây có “cốt cách” mà ông thích.Ngoài ra tên Mai còn là tên của nhà thơ, nhà lí luận Viên Mai của Trung Quốc – tác giả mà ông mê nhất Chỉ từ việc đặt tên cũng cho thấy ông đã dồn tình
cảm và hy vọng vào đứa con trai này nhiều như thế nào Khi bị tù ở Hà Tĩnh,
bị giam trong buồng giam chật chội “tối om và hôi hám” [40, tr 51] khiến