1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm xây dựng tại công ty TNHH xây dựng và thương mại hoàng an

67 338 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 568,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằngtiền của toàn bộ hao phí về vật chất và lao động mà các doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất sản phẩm trong một thời

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH –HĐH nhằm xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN.Nền kinh tế Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới với nhiều cơ hội và tháchthức Nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, đa hình thức sở hữulàm cho tình hình cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt hơn Các doanh nghiệpmuốn thắng thế trong cạnh tranh và đạt được mục tiêu của mình thì phải tiếnhành nghiên cứu thị trường để sản phẩm sản xuất ra có đủ chất lượng với giá cảhợp lý

Trong xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt cùng với sự khan hiếm của cácnguồn lực, việc giảm chi phí kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm là nhucầu bức thiết của bất cứ đơn vị, tổ chức cá nhân sản xuất kinh doanh nào Cácdoanh nghiệp nhà nước, tư nhân, hộ gia đình kinh doanh, hợp tác xã, các doanhnghiệp nước ngoài hay liên doanh đều coi đó là nhiệm vụ chiến lược để tồn tại

và phát triển cho dù mục đích của mỗi loại hình doanh nghiệp có khác nhaungoài mục đích chung trên là lợi nhuận Đối với doanh nghiệp nhà nước, trướcđây trong thời kỳ bao cấp , hoàn toàn sản xuất theo mệnh lệnh, kế hoạch nhànước rót xuống Sau đại hội VI của đảng (1986) và tiếp tục hoàn thiện, phát triểnđường lối đổi mới trong các đại hội VII và VIII, doanh nghiệp nhà nước ngàycàng được tự chủ hơn Do đó với các doanh nghiệp này việc giảm chi phí kinhdoanh không ngoài mục đích tăng lợi nhuận ( với doanh nghiệp nhà nước sảnxuất kinh doanh), mang lại sản phẩm rẻ có chất lượng tốt cho mọi người (vớidoanh nghiệp nhà nước công ích) và tiết kiệm chống lãng phí và sử dụng hiệuquả nguồn lực cuả quốc gia

Còn với loại hình doanh nghiệp khác, quản lý được tốt các chi phí cũngđều là tiền đề của hạ giá thành sản phẩm Nó tạo điều kiện cho doanh nghiệp cho

Trang 2

doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh về giá Doanh nghiệp nào có mứcgiá hợp lý sẽ bán được nhiều hơn và từ đó thu hồi vốn nhanh và tăng lợi nhuận.Mặt khác nó giúp doanh nghiệp kiểm soát được các nguồn lực của mình để sửdụng có hiệu quả

Như vậy có thể nói, với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh luôn phảinghĩ đến phương trình kinh tế cơ bản nhất, đơn giản nhất nhưng cũng không dễgiải Đó là : Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí

Để tăng lợi nhuận thì hoặc là tăng doanh thu hoặc giảm chi phí hoặc mứctăng doanh thu phải lớn hơn mức tăng chi phí Trong đó việc giảm chi phí vẫnđược coi là linh hồn, nhân tố chất lượng của phương trình này

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý chi phí sản xuất và

hạ giá thành sản phẩm đối với các doanh nghiệp nói chung và đối với Công tyTNHH xây dựng và thương mại Hoàng An nói riêng Bằng những kiến thức đãhọc ở nhà trường và nhờ sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo: Phạm Văn Dũng,

cùng các cô chú trong Công ty em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm xây dựng tại Công ty TNHH Xây Dựng và Thương Mại Hoàng An”.

Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được trình

bày trong 3 chương:

Chương I : Lý luận chung về chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm

trong doanh nghiệp

Chương II : Thực trạng công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành

sản phẩm ở Công ty TNHH xây dựng và thương mại Hoàng An

Chương III : Một số biện pháp tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm

xây dựng tại Công ty TNHH xây dựng và thương mại Hoàng An

Do trình độ lý luận và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên bài viết của

em chắc chắn còn nhiều thiếu sót, hạn chế Em rất mong nhận được sự đóng góp

Trang 3

của các thầy cô giáo, và các cô chú trong Công ty để bài viết của em được hoànchỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Hà nội, ngày 27 tháng 02 năm 2006

Sinh viên

Nguyễn Hồng Vân

Trang 4

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI PHÍ KINH DOANH VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp 1.1.1 Chi phí kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp

a Khái niệm

Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của một doanh nghiệp là tạo ranhững sản phẩm nhất định và tiêu thụ những sản phẩm đó trên thị trường nhằmthu được lợi nhuận Nhưng bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt độngsản xuất kinh doanh thì cũng đều phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định

Các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trước hết là các chi phí cho việcsản xuất sản phẩm Trong khi tiến hành sản xuất, các doanh nghiệp phải tiêu haocác vật tư như: Nguyên vật liệu, hao mòn máy móc, thiết bị, các công cụ dụng

Trang 5

Như vậy, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng

tiền của toàn bộ hao phí về vật chất và lao động mà các doanh nghiệp phải bỏ

ra để sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định Các chi phí này phát sinh

có tính chất thường xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm nên gọi

là chi phí sản xuất của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp ngoài việc sản xuất, chế biến còn phải tổ chức tiêu thụ sảnphẩm Trong quá trình này doanh nghiệp cũng phải bỏ ra những khoản chi phínhất định như: Chi phí về bao gói sản phẩm, chi phí vận chuyển, bảo quản.Ngoài ra để giới thiệu rộng rãi sản phẩm cho người tiêu dùng, cũng như đểhướng dẫn người tiêu dùng hoặc thăm dò khảo sát thị trường nhằm đề ra nhữngquyết định có tính chất tối ưu đối với việc sản xuất thì doanh nghiệp cũng phải

bỏ ra các chi phí về nghiên cứu, tiếp thị, quảng cáo, giới thiệu hay bảo hành sảnphẩm

Ngoài những chi phí sản xuất và chi phí sinh hoạt, trong quá trình hoạtđộng của doanh nghiệp còn bỏ ra những khoản chi phí phục vụ cho những hoạtđộng của bộ máy quản lý doanh nghiệp có liên quan đến quá trình kinh doanh

Như vậy, nhìn từ góc độ doanh nghiệp, có thể thấy chi phí sản xuất kinhdoanh của một doanh nghiệp là toàn bộ chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sảnphẩm, chi phí quản lý doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động sản xuất kinhdoanh và các khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định

Để đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh tốt đòi hỏi doanh nghiệpcần phải có doanh thu từ hoạt động kinh doanh bù đắp, trang trải được toàn bộchi phí kinh doanh và thu được lợi nhuận cao Điều này cho thấy không phảikhoản mục chi phí nào cũng được đưa vào chi phí hoạt động mà chúng ta phảixét đến tính chất, đặc điểm của nó

Trang 6

Chi phí kinh doanh là một chỉ tiêu quan trọng Qua xem xét chỉ tiêu này cóthể đánh giá được trình độ quản lý kinh doanh, tình hình sử dụng vốn, tiết kiệmchi phí của doanh nghiệp Chi phí kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận

mà lợi nhuận là mục tiêu kinh doanh, mục đích cuối cùng của mỗi doanh nghiệp

Vì vậy, các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến vấn đề quản lý chi phí, bởi lẽmỗi đồng chi phí không hợp lý đều làm tăng giá thành sản phẩm, giảm lợi nhuậncủa doanh nghiệp Do đó hạ thấp chi phí kinh doanh là một điều kiện để doanhnghiệp đạt được mục tiêu của mình và đảm bảo cho sự tồn tại và đi lên củadoanh nghiệp

b Đặc điểm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp

Mỗi doanh nghiệp kinh doanh khác nhau thì đối tượng tập hợp chi phísản xuất là khác nhau Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi giới hạn mà chiphí cần tập hợp nhằm phục vụ cho việc thông tin kiểm tra chi phí và tính giáthành sản phẩm

Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất cần thiết cho công táchạch toán kế toán chi phí sản xuất sao cho phù hợp với đặc điểm tình hìnhhoạt động sản xuất, đặc điểm quy trình sản phẩm và đáp ứng yêu cầu quản lýchi phí của doanh nghiệp Từ khâu ghi chép ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chứctài khoản và mở sổ chi tiết đều phải theo đúng đối tượng kế toán chi phí đãxác định

Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong ngành sản xuấtnói chung và trong kinh doanh xây lắp nói riêng thường căn cứ vào:

- Đặc điểm quy trình công nghệ của việc sản xuất sản phẩm (việc sảnxuất sản phẩm là giản đơn hay phức tạp, liên tục hay song song)

- Loại hình sản xuất sản phẩm ( sản xuất đơn chiếc hay hàng loạt)

- Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Đặc điểm tổ chưc bộ máy quản lý (hay yêu cầu quản lý )

- Đơn vị tính giá thành trong doanh nghiệp

Tổ chức sản xuất là quá trình sản xuất thi công của các doanh nghiệp

Trang 7

kế toán chi phí sản xuất thường được xác định là từng công trình, bộ phận thicông hay đơn đặt hàng

Trên thực tế, các doanh nghiệp xây lắp hiện nay thường tập hợp chi phítheo công trình hoặc hạng mục công trình

Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cầnthiết và quan trọng của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất Có xác địnhđúng đối tượng hạch toán, tập hợp chính xác các khoản chi phí phát sinh phùhợp với đặc điểm tổ chức và sản xuất của doanh nghiệp mới giúp cho tổ chứctốt công tác chi phí

1.1.1.2 Phân loại chi phí kinh doanh của doanh nghiệp

Chi phí phải trả trong năm tài chính bao gồm nhiều khoản chi phí Các chiphí này khác nhau về nội dung kinh doanh, tính chất của chi phí, vai trò của nótrong việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ Để tạo điều kiện cho công tác quản lý vàhạch toán chi phí tính giá thành sản phẩm từ đó tính đúng kết quả từng loại hoạtđộng kinh doanh thì việc phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo các tiêuthức là rất cần thiết

Để phân loại chi phí sản xuất người ta có rất nhiều tiêu thức khác nhaunhưng về mặt cơ bản người ta dùng ba tiêu thức chủ yếu:

Một là, phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo nội dung, tính chất kinh tế

Theo cách phân loại này chi phí chia thành các yếu tố khác nhau, mỗi yếu

tố chi phí chỉ bao gồm những chi phí cùng một nội dung kính tế không phân biệtchi phí đó phát sinh từ lĩnh vực nào Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành 5 loại:

• Chi phí vật tư mua ngoài là toàn bộ giá trị vật tư mua ngoài dùng vàohoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí nguyên vật liệuchính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế…

• Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương là toàn bộ các khoảntiền lương, tiền công doanh nghiệp phải trả cho những người tham gia vào hoạt

Trang 8

động sản xuất kinh doanh; các khoản chi phí trích nộp theo lương như chi phíBHXH, BHYT, KPCĐ mà doanh nghiệp phải nộp trong kỳ.

• Chi phí khấu hao tài sản cố định là toàn bộ số tiền khấu hao các loại tài sản cố định trích trong kỳ

• Chi phí dịch vụ mua ngoài là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải trảcho các dịch vụ đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ do cácđơn vị khác ở bên ngoài cung cấp như: dịch vụ điện, nước…

• Chi phí khác bằng tiền là các khoản chi phí bằng tiền ngoài các khoản

đã nêu trên

Phân loại các chi phí của doanh nghiệp thành các yếu tố chi phí như trên

có ý nghĩa lớn trong quản lý chi phí Nó cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loạichi phí để phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất theoyếu tố ở Bảng thuyết minh báo cáo tài chính, cung cấp tài liệu tham khảo để lập

dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương, tínhtoán nhu cầu vốn đầu tư cho kỳ sau

Hai là, phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng của chi phí

Cách phân loại này dựa vào mục đích công dụng của chi phí nơi phát sinhchi phí và nơi gánh chịu chi phí để phân chia chi phí sản xuất thành các khoảnmục khác nhau Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất được chiathành:

• Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí về nguyên vật liệu,nhiên liệu, dụng cụ sản xuất trực tiếp dùng vào việc chế tạo sản phẩm hàng hóadịch vụ

• Chi phí nhân công trực tiếp là toàn bộ các khoản tiền lương, tiền công,các khoản phụ cấp có tính chất lương, các khoản chi BHXH, BHYT, KPCĐ củanhân công trực tiếp sản xuất trong doanh nghiệp

Trang 9

• Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí được sử dụng ở các phânxưởng, bộ phận kinh doanh như: Tiền lương và phụ cấp lương của quản đốc,nhân viên phân xưởng, chi phí tài sản cố định thuộc phạm vi phân xưởng, chi phívât liệu, công cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền phát sinh

ỏ phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất

• Chi phí bán hàng bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêuthụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ như: Chi phí tiền lương, phụ cấp trả lương chocông nhân bán hàng, tiếp thị, vận chuyển, bảo quản, các chi phí khấu haophương tiện vận tải, chi phí vật liệu, bao bì, các chi phí dịch vụ mua ngoài, cácchi phí bằng tiền khác (như: Bảo hành sản phẩm, quảng cáo)

• Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí cho bộ máy quản lýdoanh nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp như:Khấu hao tài sản cố định phục vụ cho bộ máy quản lý, chi phí công cụ dụng cụ,các chi phí khác phát sinh trong phạm vi toàn doanh nghiệp (như: Tiền lương vàcác khoản phụ cấp lương trả cho Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhân viên cácphòng ban quản lý), chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, các khoản thuế, lệ phí,bảo hiểm, chi phí dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng doanh nghiệp Các khoảnchi phí dự phòng giảm gía hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, công tácphí, các chi phí giao dịch, đối ngoại…

Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có thể tập hợp chi phí và tínhgía thành cho từng loại sản phẩm, quản lý chi phí tại địa điểm phát sinh để khaithác khả năng hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

Ba là, phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với quy mô sản xuất kinh doanh

Theo cách phân loại này chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpđược chia thành hai loại: Chi phí cố định và chi phí biến đổi

Trang 10

• Chi phí cố định: Là các chi phí không thay đổi (hoặc thay đổi khôngđáng kể) theo sự thay đổi quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thuộcloại chi phí này bao gồm: Chi phí khấu hao tài sản cố định (theo thời gian); chiphí tiền lương trả cho cán bộ, nhân viên quản lý, chuyên gia, lãi tiền vay phải trả,chi phí cho thuê tài chính, văn phòng.

• Chi phí biến đổi: Là các chi phí thay đổi trực tiếp theo sự thay đổicủa quy mô sản xuất Thuộc loại chi phí này bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu,chi phí tiền lương công nhân trực tiếp, chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí dịch

vụ được cung cấp (như: Tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại…)

Do đặc điểm của từng loại chi phí nêu trên khi quy mô sản xuất kinhdoanh càng tăng thì chi phí cố định tính cho một đơn vị sản phẩm hàng hoá,dịch vụ càng giảm Riêng đối với chi phí biến đổi, việc tăng hoặc giảm haykhông thay đổi khi tính chi phí này cho một đơn vị sản phẩm còn phụ thuộc vàotương quan biến đổi giữa quy mô sản xuất kinh doanh và tổng chi phí biến đổicủa doanh nghiệp

Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được xu hướng biến đổicủa từng loại chi phí theo quy mô kinh doanh, từ đó doanh nghiệp có thể xácđịnh được sản lượng hoà vốn cũng như quy mô kinh doanh hợp lý để đạt đượchiệu quả cao nhất

1.1.2.Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

1.1.2.1 Khái niệm và ý nghĩa của giá thành sản phẩm

Trong sản xuất kinh doanh chí phí mới là mặt thứ nhất thể hiện sự hao phí

đã chi ra Để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, chi phíphải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt thứ hai cũng là mặt cơbản trong quá trình sản xuất Đó là, kết quả sản xuất thu được biểu hiện dướihình thái tiền tệ, quan hệ so sánh đó đã hình thành nên chỉ tiêu “Giá thành sảnphẩm”

Trang 11

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm hay một khối lượng sản phẩm nhất định.

Có nhiều loại doanh nghiệp sản xuất ra cùng sản phẩm nhưng do trình độquản lý khác nhau, giá thành sản phẩm đó sẽ khác nhau Chính vì vậy mà giáthành sản phẩm mang tính cá biệt đối với từng doanh nghiệp

Trong công tác quản lý các hoạt động kinh doanh, giá thành sản phẩm cómột ý nghĩa hết sức quan trọng thể hiện trên các mặt sau:

• Giá thành là thước đo mức hao phí về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,

là căn cứ để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh Muốn lựa chọn sản xuất mộtloại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp cần phải nắm bắt được nhu cầu thị trường,gía cả thị trường và mức hao phí sản xuất loại sản phẩm đó Trên cơ sở như vậymới xác định được hiệu quả sản xuất loại sản phẩm đó để lựa chọn và quyết địnhkhối lượng sản xuất tối ưu

• Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soáttình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, xem xét hiệu quả các biện pháp tổchức, kỹ thuật Thông qua tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh nghiệp

có thể xem xét tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản phẩm, phát hiện và tìm racác nguyên nhân dẫn đến phát sinh chi phí không hợp lý để có biện pháp loại trừ

• Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựngchính sách giá cả đối với từng loại sản phẩm, tạo cho doanh nghiệp có đủ sứccạnh tranh trên thị trường

1.1.2.2 Các loại giá thành sản phẩm

Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có thể phân biệt giá thànhsản xuất sản phẩm và giá thành toàn bộ

Giá thành sản xuất của sản phẩm và dịch vụ bao gồm:

• Chi phí vật tư trực tiếp

Trang 12

• Chi phí nhân công trực tiếp

• Chi phí sản xuất chung Giá thành toàn bộ sản phẩm đã tiêu thụ gồm toàn bộ chi phí liên quan đến quá trình sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm nhất định gồm:

•Giá thành sản xuất của sản phẩm

•Chi phí bán hàng

•Chi phí quản lý doanh nghiệpĐứng trên góc độ kế hoạch hoá, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp còn được chia thành:

• Giá thành kế hoạch: Việc xác định gía thành kế hoạch được xâydựng trước khi bước vào chu kỳ sản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thành kế hoạchđược tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và được xem là mục tiêu phấn đấucủa doanh nghiệp, là cơ sở để phân tích, đánh gía tình hình thực hiện kế hoạchgiá thành, kế hoạch hạ gía thành của doanh nghiệp

• Giá thành định mức: Được thực hiện trước khi tiến hành sảnxuất chế tạo sản phẩm Giá thành định mức được tính trên cơ sở các chi phí hiệnhành và chi phí đơn vị sản phẩm Nó là công cụ quản lý định mức của doanhnghiệp, là thước đo chính xác để xác định hiệu quả sử dụng tài sản, vật tư, laođộng trong sản xuất giúp cho việc đánh gía đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹthuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nhằmnâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

• Giá thành thực tế: Được xác định khi quá trình sản xuất, chế tạosản phẩm đã hoàn thành và được xác định trên cơ sở lượng chi phí sản xuất thực

tế đã phát sinh trong kỳ Giá thực tế phản ánh tổng hợp kết quả phấn đấu củadoanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm Nó là cơ sở đểxác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là căn cứ để

Trang 13

xây dựng giá thành kế hoạch cho kỳ sau, đảm bảo cho giá thành kế hoạch ngàycàng sát thực và hợp lý

1.1.2.3 Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp

*Phương pháp thứ nhất: Phương pháp tính giá thành giản đơn :

Phương pháp tính giá thành giản đơn còn gọi là phương pháp tính trực tiếpphương pháp này áp dụng thích hợp với những sản phẩm, công việc có quy trìnhcông nghệ sản xuất giản đơn khép kín, tổ chức sản xuất nhiều, chu kỳ sản xuấtngắn và xen kẽ liên tục, đối tượng tính giá thành tương ứng phù hợp với đốitượng kế toán tập hợp CPSX, kỳ tính giá thành định kỳ hàng tháng (quý) phùhợp với kỳ báo cáo Ví dụ tính giá thành sản phẩm điện, nước, bánh kẹo, thanquặng, kim loại

Trường hợp cuối kỳ có nhiều sản phẩm dở dang & không ổn định, cần tổchức đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo phương pháp thích hợp Trên cơ

sở số liệu CPSX đã tập hợp trong kỳ & chi phí của sản phẩm dở dang đã xácđịnh, tính giá thành sản phẩm hoàn thành cho từng khoản mục chi phí theo côngthức:

Z = C + Dđk - Dck

Giá thành đơn vị sản phẩm tính như sau: z=

Trong đó:

Z, z: Tổng giá thành đơn vị sản phẩm, lao vụ sản xuất thực tế

C: Tổng chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ theo từng đối tượng

Dđk, Dck: Chi phí của sản phẩm dở dang đầu kỳ & cuối kỳ

Q: Sản lượng sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành

Trường hợp cuối kỳ không có sản phẩm dở dang hoặc có nhưng ít & ổn địnhnên không cần tính chi phí của sản phẩm dở thì tổng chi phí sản xuất đã tập hợptrong kỳ cũng đồng thời là tổng giá thành sản phẩm hoàn thành: Z = C

Z

Q

Trang 14

*Phương pháp thứ hai: Phương pháp hệ số:

Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo hệ số áp dụng đối với những

DN trong cùng một quy trình công nghệ sản xuất, cùng sử dụng một loại nguyênliệu, vật liệu, nhưng kết quả sản xuất thu được nhiều loại sản phẩm khác nhaunhư DN sản xuất hoá chất, công nghiệp hoá dầu, công nghiệp nuôi ong Khi đóđối tượng tập hợp CPSX là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, còn đối tượngtính giá thành là từng loại sản phẩm hoàn thành

Theo phương pháp này muốn tính được giá thành cho từng loại sản phẩmphải căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ thuật để xác định cho mỗi loại sản phẩm một hệ sốtính giá thành, trong đó lấy loại sản phẩm có hệ số bằng 1 làm sản phẩm tiêuchuẩn Căn cứ vào sản lượng thực tế hoàn thành của từng loại sản phẩm & hệ sốtính giá thành quy ước cho từng loại sản phẩm để quy đổi sản lượng thực tế rasản lượng tiêu chuẩn (sản phẩm có hệ số bằng1)

Gọi Hi là hệ số tính giá thành quy ước của sản phẩm i

Qi là sản lượng sản xuất thực tế của sản phẩm i

Tính quy đổi sản lượng thực tế ra sản lượng tiêu chuẩn

Trang 15

*Phương pháp thứ ba: Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ.

Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo tỷ lệ áp dụng thích hợp đối vớidoanh nghiệp mà cùng một quy trình công nghệ sản xuất, kết quả sản xuất đượcnhóm sản phẩm cùng loại, với nhiều chủng loại phẩm cất, quy cách khác nhaunhư sản xuất nhóm ống nước với nhiều kích thước đường kính & độ dài khácnhau, sản xuất quần áo dệt kim với nhiều cỡ số khác nhau, sản xuất chè hươngvới nhiều phẩm cấp khác nhau

Trong trường hợp này, đối tượng tập hợp CPSX là toàn bộ quy trình côngnghệ sản xuất của nhóm sản phẩm, còn đối tượng tính giá thành sẽ là từng quycách sản phẩm trong nhóm sản phẩm đó Để tính giá thành thực tế cho từng quycách của sản phẩm có thể áp dụng phương pháp tính hệ số hoặc phương pháp tỷlệ

Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp tỷ lệ phải căn cứ vào tiêuchuẩn phân bổ hợp lý và chi phí sản xuất đã tập hợp để tính ra tỷ lệ tính giáthành Tiêu chuẩn phân bổ thường là giá thành kế hoạch hoặc giá thành địnhmức Sau đó tính giá thành cho từng thứ sản phẩm

Sản phẩm chính còn thu được sản phẩm phụ Ví dụ nhà máy đường cung mộtqui trình công nghệ ngoài sản phẩm chính là đương kính, còn thu được sản phẩmphụ là rỉ đường; nông trường chăn nuôi lợn thịt thì ngoài sản phẩm chính là sảnlượng lợn thịt, còn có sản phẩm phụ là phân bón

Trong qui trình sản xuất, kêt quả sản xuất thu được sản phẩm đủ tiêu chuẩnchất lượng qui định, còn có sản phẩm hỏng không sửa chữa được, mà các khoảnthiệt hại này không được tính cho sản phẩm hoàn thành

Trang 16

Đối với các phân xưởng sản xuất phụ có cung cấp sản phẩm hoặc lao vụ lẫncho nhau, cần loại trừ ra khỏi giá thành của sản phẩm, lao vụ phục vụ cho sảnxuất chính hoặc bán ra ngoài.

Trong các trường hợp này, đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ qui trình côngnghệ sản xuất, còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm chính, sản phẩm hoànthành và sản phẩm lao vụ phục vụ cho các bộ phận không phải là sản xuất phụ Muốn tính được giá thành của các đối tượng tính giá thành, phải lấy tổng chiphí sản xuất đã được tập hợp loại trừ chi phí của sản phẩm phụ, chi phí thiệt hạisản phẩm hỏng không được tính trong giá thành sản phẩm, chi phí phục vụ lẫnnhau trong nội bộ các phân xưởng sản xuất phụ Công thức tính giá thành củasản phẩm là:

Z = C + Dđk - Dck - Clt

Trong đó:

Z: Là tổng giá thành của đối tượng tính giá thành

C: Là tổng chi phí sản xuất đã tổng hợp

Dđk và Dck: Là chi phí sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ

Clt: Là chi phí cần loại trừ ra khỏi tổng giá thành của các đối tượng tínhgiá thành

Để đơn giản tính toán chi phí loại trừ (Clt) thường được tính như sau:

Đối với sản phẩm phụ có thể tính giá thành theo giá thành kế hoạch hoặc cóthể lấy giá bán phụ trừ lợi nhuận định mức

Đối với sản phẩm hỏng tính theo giá thành thực tế như đối với sản phẩm hoànthành hoặc căn cứ vào quyết định xử lý của lãnh đạo

Đối với sản phẩm hoặc lao vụ sản xuất phụ cung cấp lẫn nhau có thể tínhtheo giá thành đơn vị kế hoạch, hoặc tính theo chi phí ban đầu

*Phương pháp thứ tư: Phương pháp cộng chi phí:

Trang 17

Phương pháp cộng chi phí áp dụng đối với doanh nghiệp có qui trình côngnghệ phức tạp, quá trình chế biến sản phẩm qua nhiều bộ phận sản xuất (bướcchế biến) có sản phẩm dở dang như: Doanh khai thác, dệt, nhuộm, cơ khí, chếtạo, may măc.

Đối tượng hạch toán chi phí là qui trình công nghệ của từng giai đoạn( từng bước chế biến)

Đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành ở các bước chế biến giáthành sản phẩm hoàn thành ở bước cuối cùng là tổng chi phí đã phát sinh ở cácbước chế biến và tính như sau:

Nếu gọi C1, C2 Cn là chi phí tổng hợp được ở giai đoạn sản xuất

Z = Dđk + C1 + C2 + + Cn - Dck

z = z/Qtp

*Phương pháp thứ năm: Phương pháp tính giá thành liên hợp:

Là kết hợp nhiều phương pháp tính giá thành khác nhau như kết hợp phương

pháp trực tiếp, phương pháp hệ số, phương pháp tỷ lệ, phương pháp cộng chiphí, phương phương pháp tính giá thành liên hợp áp dụng đối với doanh nghiệpsản xuất hoá chất, dệt kim, đóng giầy, may mặc

*Phương pháp thứ sáu: Phương pháp tính giá thành theo định mức:

Ap dụng: Doanh nghiệp xây dựng được định mức kinh tế kỹ thuật hoànchỉnh

ztt= zđm± chênh lệch do thay đổi định mức ± chênh lệch thoát ly định mức

1.2 Chi phí quản lý kinh doanh và giá thành sản phẩm

1.2.1 Sự cần thiết phải quản lý chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

Trong công tác quản trị doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm là hai chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn được các nhà quản lý quan tâm vì

Trang 18

chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là chỉ tiêu phản ánh hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp.

Thông qua những thông tin về chỉ tiêu chi phí sản xuất kinh doanh do bộphận kế toán cung cấp, những người quản lý doanh nghiệp nắm được chi phí sảnxuất của từng bộ phận, từng khoản mục, từng loại sản phẩm, lao vụ cũng nhưtoàn bộ hoạt động kinh doanh của toàn bộ doanh nghiệp Qua đó để đánh giáphân tích tình hình thực hiện các định mức chi phí và dự toán chi phí, tình hìnhthực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm để có quyết định quản lý phù hợp

Còn về chỉ tiêu giá thành, đây là thước đo hao phí sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm, là căn cứ xác định hiệu quả kinh doanh Để quyết định sản xuất một loạisản phẩm nào đó, doanh nghiệp cần nắm được nhu cầu thị trường, giá cả và mứchao phí sản xuất tiêu thụ sản phẩm đó Trên cơ sở như vậy mới xác định đượchiệu quả của sản phẩm đó và quyết định khối lượng sản xuất để đạt được lợinhuận tối đa Thông qua tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh nghiệp cóthể xem xét tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản xuất, tác động đến hiệu quảthực hiện các biện pháp kỹ thuật sản xuất Phát hiện và tìm ra các nguyên nhândẫn đến các chi phí phát sinh không hợp lý để có biện pháp loại trừ Giá thành làcăn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng và thực hiện chính sách giá cả đốivới từng sản phẩm

1.2.2 Nội dung công tác quản lý chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm

Để quản lý tốt chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm thì công tác hạchtoán kế toán phải được đặt lên hàng đầu Hạch toán kế toán là một bộ phận cấuthành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính có vai trò tíchcực trong việc quản lý điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế Để đảm bảophát huy tác dụng của công cụ kế toán đối với doanh nghiệp cần thiết phải có sựtính đúng, tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành Đây cũng là điều kiện cho việc

Trang 19

phân tích đánh giá, tổ chức quản lý và sản xuất hợp lý nâng cao hiệu quả quản trịđảm bảo cho sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp.

Riêng đối với ngành XDCB việc hạch toán đúng chi phí sản xuất và tính

đủ giá thành càng trở nên quan trọng và có tính quyết định bởi sự tác động củanhững đặc điểm như giá cả biến động trong những thời điểm khác nhau của xâydựng, nhu cầu công nhân khác nhau, nhu cầu xây dựng cơ bản không như nhau.Thông qua chỉ tiêu giá thành ta có thể xác định được kết quả của quá trình sảnxuất kinh doanh, thúc đẩy sự sáng tạo, tìm tòi phương án giải quyết công việc cóhiệu quả

Để phát huy hết vai trò của mình, việc tổ chức hạch toán kinh tế chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm phải đạt được những yêu cầu:

- Phản ánh kịp thời, chính xác toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong quátrình sản xuất Tính toán chính xác, phân bổ kịp thời giá thành xây lắp theo đốitượng tính giá thành

- Phân bổ hợp lý các chi phí sản xuất theo từng khoản mục vào các đốitượng tập hợp chi phí, áp dụng phương pháp tính giá thành thích hợp

- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức về chi phí vật liệu, lao động

sử dụng máy, kiểm tra dự toán chi phí gián tiếp, phát hiện kịp thời các khoảnmục chi phí chênh lệch ngoài định mức, ngoài kế hoạch, đề ra các biện phápngăn ngừa kịp thời

- Kiểm tra việc thực hiện giá thành theo từng khoản mục chi phí, theo từnghạng mục công trình, vạch ra các khả năng tiềm tàng và đề ra các biện pháp hạgiá thành sản phẩm

- Thông qua ghi chép, phản ánh tính toán để đánh giá có hiệu quả sản xuấtkinh doanh của từng doanh nghiệp Kịp thời lập báo cáo kế toán về chi phí và lậpgiá thành theo quy định của cơ quan chủ quản cấp trên

Trang 20

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm

Với các yêu cầu trên, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm bao gồm các chỉ tiêu sau:

- Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, lựa chọn phương pháptập hợp chi phí sản xuất và phân bổ chi phí sản xuất thích hợp

- Xác định đúng đối tượng tính giá thành và lựa chọn phương pháp tínhgiá thành thích hợp

- Xây dựng quy tắc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của doanhnghiệp Quy định trình tự công việc, phân bổ chi phí cho từng đối tượng, từngsản phẩm chi tiết

1.3 Tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm

1.3.1 Ý nghĩa của giảm chi phí kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường

Cơ chế thị trường hình thành và phát triển ở Việt Nam đã đẩy các doanhnghiệp từ chỗ được bao cấp hoàn toàn sang việc hạch toán độc lập lời ăn lỗ chịutheo đúng quy luật của thị trường Từ chỗ chỉ lo làm kế hoạch không phải lođầu vào, đầu ra cũng không phải trả lời câu hỏi sản xuất kinh doanh cái gì? Nhưthế nào? Cho ai? các doanh nghiệp hiện nay đã phải trả lời câu hỏi này và phảixem xét, phận tích đánh giá vấn đề này một cách kỹ lưỡng Muốn tồn tại và pháttriển trong cơ chế thị trường với sự cạnh tranh quyết liệt thì doanh nghiệp phải

tự khẳng định mình Cơ chế thị trường khó bán hơn mua thì sự cạnh tranh quyếtliệt để bán được hàng là điều tất yếu Để có sức mạnh cạnh tranh trên thị trườngdoanh ngiệp cần đổi mới, cải tiến sản xuất kinh doanh, mở rộng nâng cấp trangthiết bị cũ, tổ chức lại bộ máy quản lý cũ và điều quan trọng hơn là doanh nghiệpcần có hạch toán thu chi một cách chính xác và có các quyết định đúng đắn kịpthời Để đạt được các điều kiện trên doanh nghiệp cần phải có các thông tin kinh

tế cần thiết Thông tin kinh tế này có hai loại:

+Thông tin phục vụ bên ngoài

Trang 21

+ Thông tin phục vụ bên trong

Các thông tin phục vụ bên ngoài chủ yếu phục vụ các cơ quan quản lý vĩ

mô của nhà nước, cơ quan chủ quản do đó mang tính bắt buộc thống nhất kiểmtra được, Ngoài ra các thông tin kinh tế phuc vụ cho nhiều đối tượng khác nhau:bạn hàng , khách hàng… Tuy nhiên các doanh nghiệp cũng phải hiểu biết hết sức

rõ ràng về bản thân mình thì mới có các quyết định đúng đắn Về bản chất thìhoạt động quản trị chi phí kinh doanh là quá trình chuẩn bị và ra các quyết địnhquản trị do vậy bộ máy quản trị cần nắm rõ các thông tin hết sức quan trọng ảnhhưởng trực tiếp tới các quyết định quản trị

Như vậy, có thể nói thông tin bên trong đặc biệt quan trọng hay quản trịchi phí kinh doanh là công cụ chủ yếu cung cấp thông tin kinh tế bên trong bộmáy quản trị doanh nghiệp làm cơ sở cho việc ra quyết định quản trị nên nó trởthành một công cụ chủ yếu không thể thiếu của quản trị doanh nghiệp Quản trị

là quan trọng do vậy khi ra quyết định mà quản trị phải đảm bảo tính chính xác

và có hiệu quả của quyết định đề ra

Muốn làm được điều đó cần phải tính đến các vấn đề chi phí kinh doanh

mà bản chất nó là mô tả các quá trình có ý nghĩa kinh tế diễn ra trong kinhdoanh

Trong điều kiện có nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động trong một lĩnh vựcthì doanh nghiệp ngoài việc cạnh tranh với nhau bằng chất lượng còn cạnh tranh

cả về giá cả mà đấu thầu trong xây dựng là một điển hình Vấn đề đặt ra cho cácdoanh nghiệp là phải giảm tối đa các khoản chi phí để hạ giá thành mà vẫn đảmbảo được chất lượng để có thể cạnh tranh, tồn tại và đứng vững trên thị trường

Muốn chiến thắng trong cạnh tranh, một vấn đề quan trọng mà bất cứdoanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nào cũng phải quan tâm là giảm chi phísản xuất Hạ thấp chi phí không những chứng tỏ hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp mà còn là nguồn tích luỹ chủ yếu cho nền kinh tế Con đường duy nhất

để doanh nghiệp đứng vững trong nền kinh tế thị trường là phải thường xuyêncải tiến mẫu mã cho phù hợp với thị hiếu của thị trường, nâng cao chất lượng sảnphẩm và hạ được giá thành Đối với các doanh nghiệp sản xuất, hạ giá thành là

Trang 22

con đường cơ bản để tăng doanh lợi, nó cũng là tiền đề để tăng sức cạnh tranhcủa doanh nghiệp trên thị trường kể cả trong và ngoài nước, góp phần cải thiệnđời sống vật chất cho người lao động Ta có thể thấy ý nghĩa cụ thể của việc hạgiá thành là:

• Hạ giá thành sẽ trực tiếp làm tăng lợi nhuận, nếu giá thành sản phẩmthấp so với giá bán trên thị trường thì doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuậntrên một đơn vị sản phẩm càng cao Mặt khác, gía thành sản phẩm thấp thì doanhnghiệp có thể hạ được giá bán nhờ đó mà tăng khối lượng tiêu thụ, thu đượcnhiều lợi nhuận

• Hạ giá thành là cơ sở cho doanh nghiệp giảm bớt lượng vốn lưu động

đã sử dụng vào sản xuất, khi hạ giá thành sản phẩm tức là doanh nghiệp đã tiếtkiệm được chi phí về nguyên vật liệu, chi phí tiền lương, chi phí quản lý Nghĩa

là với khối lượng sản xuất như cũ doanh nghiệp chỉ cần một lượng vôn ít hơn.Trong điều kiện đó doanh nghiệp có thể rút bớt vốn lưu động trong sản xuất hoặc

mở rộng tăng thêm khối lượng sản phẩm tiêu thụ

Việc hạ giá thành sản phẩm được thực hiện thông qua hai chỉ tiêu: mức hạgía thành và tỷ lệ hạ giá thành Khi xem xét việc hạ giá thành sản phẩm cần kếthợp cả hai chỉ tiêu này và chỉ xem xét cho những sản phẩm so sánh được

Trang 23

Mz: Mức hạ giá thành sản phẩm hàng hóa so sánh được

Zi0: Giá thành đơn vị kỳ báo cáo

Zi1: Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ kế hoạch

Si1: Số lượng sản phẩm kỳ kế hoạch

Tz: Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm so sánh được

Như vậy, trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, việc tiết kiệm chi phí hạ giá

thành sản phẩm của các ngành nghề sẽ mang lại sự tiết kiệm lao động xã hội Nó

sẽ làm tăng tổng số lợi nhuận của các doanh nghiệp đồng thời cũng làm tăngngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp Chính vì vậy tiếtkiệm chi phí trong sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm không chỉ làvấn đề quan tâm của các nhà sản xuất mà nó còn là mối quan tâm của từngngành và toàn xã hội

1.3.2 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

Để quản lý chi phí sản xuất kinh doanh, các nhà quản lý không chỉ cầnphải nắm vững nội dung, bản chất và kết cấu của các khoản mục trong chi phísản xuất kinh doanh mà còn phải thấy được các nhân tố tác động đến chi phí sảnxuất kinh doanh Có nhiều nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến chi phí,song có thể quy lại một số nhân tố chủ yếu sau:

a Nhân tố tiến bộ khoa học và công nghệ

Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹthuật và công nghệ sản xuất, các máy móc thiết bị, phương pháp công nghệ hiệnđại được sử dụng ngày càng nhiều tạo nên khả năng lớn cho việc tiết kiệm chiphí lao động sống và lao động vật hoá trong quá trình sản xuất Vì vậy, cácdoanh nghiệp nào nắm bắt và ứng dụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào sản xuât sẽ có được nhiều lợi thế trong cạnh tranh, tiết kiệm đượcchi phí sản xuất, hạ gía thành và nâng cao chất lượng sản phẩm

Trang 24

b Nhân tố tổ chức quản lý sản xuất, quản lý tài chính của doanh nghiệp

Nếu trình độ trang bị kỹ thuật hiện đại mà quản lý lại không tốt thì chi phíkhông có xu hướng giảm mà còn có xu hướng tăng lên Do vậy, phải tổ chứcquản lý chi phí sản xuất sao cho hợp lý, bố trí các khâu sản xuất ăn khớp vớinhau sẽ hạn chế sự lãng phí nguyên vật liệu, năng lượng điện lực Mặt khác, tổchức lao động khoa học sẽ tạo ra sự kết hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lýloại trừ được tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờ máy, thúc đẩy việc nângcao năng suất lao động dẫn đến giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm Đặc biệt

bộ máy quản lý phải là những người có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý,năng lực sáng tạo sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được phương án sản xuấttối ưu làm cho lượng chi phí bỏ ra hợp lý nhất; phân công bố trí lao động đúngngành, đúng năng lực lao động sẽ làm tăng năng suất lao động, tăng hiệu quảkinh tế góp phần tích cực vào việc hạ giá thành sản phẩm

Việc phát huy đầy đủ vai trò của quản lý tài chính cũng ảnh hưởng rất lớntới khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm Việc tổ chức đầy đủvốn, đảm bảo kịp thời với chi phí sử dụng vốn thấp nhất sẽ tạo điều kiện chodoanh nghiệp tận dụng được các cơ hội kinh doanh có hiệu quả Việc phân phối,

sử dụng hợp lý, tăng cường kiểm tra giám sát sử dụng vốn sẽ tạo điều kiện sửdụng vốn kinh doanh tiết kiệm và có hiệu quả cao, bảo toàn và phát triển đượcvốn kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó có tác động đến việc tiết kiệm chi phísản xuất góp phần tích cực hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

c Nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

Trong nhiều trường hợp, điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh củatừng doanh nghiệp khó khăn hay thuận lợi cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năngtiết kiệm chi phí và hạ giá thành

Trang 25

Chẳng hạn đối với các doanh nghiệp khai thác, nguồn tài nguyên cũng nhưđiều kiện khai thác có ảnh hưởng quan trọng tới khả năng tiết kiệm chi phí và hạgiá thành Nguồn tài nguyên phong phú, điều kiện khai thác thuận lợi thì chi phíkhai thác sẽ thấp và ngược lại.

d Chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm ảnh hưởng nhiều đến chi phí kinh doanh Do đặcđiểm của các sản phẩm xây dựng là làm theo đơn đặt hàng là chủ yếu do đó đòihỏi những người tiến hành sản xuất phải nâng cao chất lượng sản phẩm nhằmđáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng đồng thời tránh được những sai sót có thểphải phá đi làm lại vừa gây lãng phí vừa gây tốn kể cả thời gian và tiền bạc Đểlàm tốt việc này đòi hỏi những nhà quản lí không ngừng cải tiến, áp dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật, tăng cường công tác quản lý con người nhằm hạ thấp chi phí,nâng cao chất lưọng sản phẩm , đáp ứng yêu cầu của khách hàng Như vậy có thểthấy chất lượng sản phẩm ảnh hưỏng không nhỏ đến việc hạ thấp chi phí và giảmgiá thành sản phẩm

e Nhân tố giá cả

Thị trường không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán mà nó cònthể hiện quan hệ hàng hoá và tiền tệ Do thị trường được coi là môi trường kinhdoanh Nó là nơi tập trung đầy đủ nhất những gì mà con người đã và sẽ cần đápứng cung cầu về hàng hoá và thị trường còn là yếu tố quan trọng nhất trực tiếpquyết định đến giá cả Mà đặc biệt là giá cả thị trường nó lại có ảnh hưởng trựctiếp đến chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm Khi giá cả thị trường tăng lênlàm chi phí kinh doanh cũng tăng theo dẫn đến giá thành sản phẩm cũng tăng.Ngược lại, khi giá cả thị trường giảm xuống sẽ là điều kiện hạ thấp chi phí kinhdoanh do đó giá thành sản phẩm cũng giảm Trong điều kiện thị trường luôn biếnđộng, giá cả hàng hoá tiêu thụ cũng biến động theo Sự thay đổi của giá cả hànghoá sẽ làn ảnh hưởng đến chỉ tiêu tỷ suất chi phí vì nó ảnh hưởng đến doanh số

Trang 26

bán Sự ảnh hưởng của giá cả hàng hoá tiêu thụ đến tỉ suất chi phí là một nhân tốkhách quan do sự điều tiết của thị trường Việc xác định mức độ ảnh hưởng củagiá đến tổng mức phí và tỉ suất phí được thực hiện trên cơ sỏ tính toán chi tiết.

Tóm lại, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý chi phí sản xuất

và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp Mỗi nhân tố có phạm vi và mức độtác động khác nhau, làm sao hạn chế ảnh hưởng tiêu cực, phát huy tích cực nhằm

có biện pháp tăng cường quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm

Trang 27

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI PHÍ KINH DOANH VÀ GIÁ

Tên viết tắt: HOANG AN C& TCO., LTD

Trụ sở chính: Số 10, ngõ 358/55/20, phố Bùi Xương Trạch, Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Công ty Hoàng An C& TCO., LTD thành lập ngày 16/ 09/ 2003 theo

quyết định số 10457/QĐ-TC với tên “Công ty TNHH XD và TM Hoàng An”,

giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0102009898 cấp ngày 16/ 09/ 2003 tại

sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội Công ty được thành lập trên cơ sở tựnguyện cùng góp vốn của các thành viên là các ông Nguyễn Ngọc Lương,Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Ngọc Tuấn, được tổ chức và hoạt động theo quyđịnh của Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá

X kỳ họp thứ V thông qua ngày 10/ 02/ 1999

Trang 28

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động của công ty

Là một doanh nghiệp mới được thành lập, dù còn rất mới nhưng công tyluôn đi đầu trong công tác đổi mới phương pháp kinh doanh, phong cách phục

vụ khách hàng, nghiên cứu khai thác triệt để khả năng và tiềm lực sẵn có để mởrộng thị trường, tìm kiếm và thiết lập các mối quan hệ hợp tác lâu dài với cácbạn hàng trong và ngoài nước Với phương châm “ Đơn vị giỏi một nghề, Công

ty đa ngành nghề”, Công ty TNHH XD và TM Hoàng An luôn đổi mới đáp ứngmọi nhu cầu của khách hàng

Công ty hoạt động kinh doanh trên các lĩnh vực:

 Khảo sát thiết kế thi công xây dựng nền móng các công trình dân dụng vàcông nghiệp

 Buôn bán vật liệu xây dựng, nguyên vật liệu, thiết bị, linh kiện phục vụcho ngành nông nghiệp và công nghiệp

 Xây dựng công trình giao thông thuỷ lợi

 Sản xuất bao bì, in bao bì

 Trang trí nội, ngoại thất công trình

 Vận tải hàng hoá và vận chuyển hành khách ( bao gồm cả vận chuyểnkhách du lịch )

 Buôn bán, lắp đặt hệ thống thang máy, hệ thống máy điều hoà không khí

 Dịch vụ kỹ thuật: Sửa chữa, bảo dưỡng, bảo hành, bảo trì, cung cấp linhkiện, thiết bị phụ tùng thay thế của hệ thống thang máy, hệ thống máy điềuhoà không khí

 Buôn bán linh kiện điện, điện tử, điện lạnh, giấy và vật tư ngành giấy, máymóc thiết bị đồng bộ và phụ tùng thay thế phục vụ cho ngành xây dựng,

Trang 29

 Sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy

 Sản xuất vật liệu xây dựng

 Xuất nhập khẩu các mặt hàng Công ty kinh doanh

Đặc điểm hoạt động của công ty

• Công ty căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ và các chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước và căn cứ vào nhu cầu thị trường để chủ động đề ra kế hoạch sản xuất kinh doanh và triển khai thực hiện kế hoạch có hiệu quả

• Trên cơ sở các luận chứng kinh tế kỹ thuật, dự án đầu tư, Công ty tổ chứcnhận thầu xây lắp các công trình dân dụng công nghiệp

• Tổ chức quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả tiền vốn, vật tư trangthiết bị, lực lượng lao động… đạt hiệu quả tốt nhất

2.1.3 Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, tổ chức công tác quản lý

kế toán

Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh

Để tăng cường bộ máy quản lý có hiệu lực, đảm bảo quản lý chặt chẽ trêntất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, bộ máy quản lý của công tyđược tổ chức theo mô hình trực tiếp tham mưu với cấp trên Việc quản lý củacông ty do Giám đốc của công ty trực tiếp điều hành bao gồm các phòng ban vàcác đội sản xuất Số cán bộ nhân viên thuộc cơ quan công ty hiện nay có khoảng

từ 20 đến 25 người, công ty hiện đang thực hiện chính sách ưu tiên những cán bộ

có năng lực quản lý và có sức khoẻ bố trí điều hành các dự án trọng điểm

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY

Ban Giám đốc

Phó giám

đốc 1

Phó giám đốc 2

Phó giám đốc 3 chicccchính

Phòng

tổ

Phòng thiết bị

Phòng tài chính

Phòng kinh

Phòng kinh tế

Trang 30

Cơ cấu bộ máy quản lý công ty như sau:

Ban Giám đốc: Là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công

ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến liên quan đến mục đích, quyền lợi củacông ty

Phó giám đốc 1: Là người phụ trách về kỹ thuật sản xuất và xây dựng,

trực tiếp theo dõi các phòng vật tư, kế hoạch, kỹ thuật thiết bị

Phó giám đốc 2: Là người làm công tác tham mưu cho giám đốc về hoạt

động sản xuất kinh doanh, trực tiếp theo dõi phòng tài chính- kế toán, phòngkinh doanh

Phó giám đốc 3: Là người điều hành nội chính phụ trách đời sống vật chất

cho cán bộ công nhân viên, trực tiếp theo dõi các phòng tổ chức cán bộ và laođộng, phòng hành chính bảo vệ

Nhiệm vụ các phòng ban

Phòng tổ chức hành chính: Đảm nhiệm công tác quản lý lao động, theo

dõi thi đua, công tác văn thư, tiếp khách, bảo vệ tài sản Ngoài ra còn làm côngtác tuyển dụng lao động, quản lý theo dõi bổ sung nhân viên của toàn công ty

Trang 31

Phòng tài chính – kế toán: Có nhiệm vụ hạch toán tài vụ cũng như quá

trình sản xuất kinh doanh của công ty Tổ chức thực hiện việc ghi chép, xử lý,cung cấp số liệu về tình hình kinh tế, tài chính, phân phối và giám sát vốn, giámsát và hướng dẫn nghiệp vụ đối với những người làm công tác kế toán trongcông ty Xây dựng kế hoạch sản xuất, giá thành kế hoạch của sản phẩm, ký kếthợp đồng sản xuất, quyết toán sản lượng, tham gia đề xuất với giám đốc các quychế quản lý kinh tế áp dụng nội bộ

Phòng thiết bị kỹ thuật: Phụ trách vấn đề xây dựng và quản lý các quy

trình trong sản xuất, nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới đưa vào sản xuất, tổchức hướng dẫn nhằm nâng cao tay nghề cho công nhân, tăng khả năng nghiệp

vụ cho các kỹ thuật viên Ngoài ra còn có nhiệm vụ cung cấp nguyên vật liệu choquá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, điều hành mọi phương tiện thiết bị đượcgiao cho toàn công ty

Phòng kinh doanh:Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh trước, trong

và sau khi sản xuất, thiết lập mối quan hệ với các cấp, lập toàn bộ hồ sơ dự toáncông trình, định giá và lập phiếu giá thanh toán, làm tham mưu bảo đảm tínhpháp lý của mọi hoạt động kinh tế, kiểm tra bản vẽ thiết kế, tổng hợp khối lượngcông trình, bám sát kế hoạch, tiến độ, biện pháp thi công và tham gia nghiệmthu

Như vậy, mỗi phòng ban trong công ty đều có chức năng nhiệm vụ riêngnhưng giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ dưới sự điều hành của ban giám đốccông ty nhằm đạt lợi ích cao nhất cho công ty

Về tổ chức sản xuất kinh doanh

Công ty TNHH xây dựng và thương mại Hoàng An là đơn vị thi công xâylắp nên việc tổ chức sản xuất phải chịu ảnh hưởng trực tiếp đặc điểm của ngành

Trang 32

xây dựng cơ bản Sản phẩm của công ty chủ yếu là các công trình dân dụng Sảnxuất mang tính chất đơn chiếc, thời gian sản xuất dài Hoạt động xây lắp tiếnhành ngoài trời chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, ảnh hưởng đến việcquản lý tài sản, vật tư, máy móc dễ bị hư hỏng và ảnh hưởng đến tiến độ thicông Do vậy, vấn đề sinh hoạt cho người công nhân và an ninh cho người laođộng cũng như phương tiện máy móc rất được công ty quan tâm Để phù hợp vớiđiều kiện xây dựng và đảm bảo ổn định cho hoạt động sản xuất kinh doanh, công

ty tổ chức bộ máy quản lý sản xuất ngày càng gọn nhẹ mà vẫn mang lại hiệu quảcao

Hiện nay, việc tổ chức sản xuất thành các đội sản xuất một cách hợp lýgiúp cho công ty trong việc quản lý lao động và phân công lao động của công tythành nhiều vị trí khác nhau với nhiều công trình khác nhau có hiệu quả Cơ cấusản xuất của công ty gồm các đội sản xuất mỗi đội sản xuất có đội trưởng quản lý

Ngoài các đội này còn có đội xe cơ giới có nhiệm vụ bảo dưỡng phục hồi các loại xe, máy, đảm bảo vận chuyển vật liệu, máy móc thiết bị đến nơi cần thiết, phục vụ trực tiếp cho quá trình thi công xây dựng sản xuất có hiệu quả

Về tổ chức lao động

Xuất phát từ đặc điểm của ngành Xây dựng cơ bản, mỗi công trình cónhững đặc điểm khác nhau Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, đơn vịxây lắp phải di chuyển vật tư, lao động theo mặt bằng và vị trí thi công mà vị tríthi công thường rải rác khắp nơi cách xa trụ sở công ty Do vậy, số lao độngtrong công ty thường thay đổi theo khối lượng công việc mà công ty nhận thầu

Tổ chức công tác kế toán của Công ty

Công ty tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình một phòng kế toán trungtâm của công ty, bao gồm các bộ phận cơ cấu phù hợp với các khâu công việc,các phần hành kế toán, thực hiện toàn bộ công tác kế toán của công ty Phòng Tàichính – kế toán của công ty thu nhận, kiểm tra sơ bộ chứng từ phản ánh các

Trang 33

nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến hoạt động của tổ, đội và gửi nhữngchứng từ kế toán đó về để hạch toán và xử lý Từ đó, đưa ra các thông tin tàichính, kế toán tổng hợp, chi tiết đáp ứng yêu cầu quản lý của công ty.

Tất cả các phần hành kế toán trong công ty đều tuân thủ chung một hệthống kế toán đã ban hành theo QĐ1864/1998/QĐ-BTC ngày 16/12/1998 và cácchuẩn mực kế toán đã được ban hành

Hình thức sổ kế toán tại công ty: Hình thức kế toán được Công ty áp

dụng là hình thức “Chứng từ ghi sổ” Công ty nộp thuế GTGT theo phương phápkhấu trừ

Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán: Phòng Tài chính – Kế toán của công ty có

3 người, đảm nhiệm các phần hành kế toán khác nhau:

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY

Kế toán trưởng: Chịu trách nhiệm tổ chức bộ máy kế toán đơn giản, gọn

nhẹ phù hợp với yêu cầu quản lý, hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra công việc do kếtoán viên thực hiện và chịu trách nhiệm trước ban giám đốc và cấp trên về thôngtin tài chính kế toán

Kế toán tổng hợp: tổng hợp chi phí, tính giá thành và xác định kết quả

Kế toán vật tư, TSCĐ

Kế toán thanh toán

Kế toán vốn bằng tiền

Kế toán thanh toán tiền lương

Thủ quỹ

Ngày đăng: 12/06/2019, 23:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w