Sự ra đời của luật thuế giá trị gia tăng được xem làmột bước ngoặt có tính đột phá trong công tác quản lý thu thuế và đã thể hiệnđược sự mạnh dạn, đương lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu , kết quả trong luận văn là trung thực và xuất phát từ tình hình thực tế
của đơn vị thực tập
Tác giả luận văn
Trịnh Nhật Huy
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 2GTGT : Giá trị gia tăngTTĐB : Tiêu thụ đặc biệtNSNN : Ngân sách nhà nướcXHCN : Xã hội chủ nghĩaTNHH : Trách nhiệm hữu hạnWTO : Tổ chức thương mại Thế giớiNNT : Người nộp thuế
KT –XH : Kinh tế – Xã hộiHĐND : Hội đồng nhân dânUBND : Ủy ban nhân dânĐKT : Đăng ký thuếMST : Mã số thuếNQD : Ngoài quốc doanh
ĐKKD : Đăng ký kinh doanhSKH & ĐT : Sở Kế hoạch và Đầu tưTNCN : Thu nhập cá nhânCQSDĐ : Chuyển quyền sử dụng đất
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Báo cáo tổng kết công tác thuế năm 2010 và năm 2011 – Cục thuế tỉnh
Quảng Ninh
Trang 32 Giáo trình Quản lý thuế của Học Viện Tài Chính- NXB Tài chính- 2010
3 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ban hành ngày 29/11/2005
4 Thông tư 06/2012/TT- BTC ngày 11/01/2012 hướng dẫn Luật thuế GTGT
và các văn bản pháp luật liên quan
5 Website:
www.gdt.gov.vn
www.google.com.vn
MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU 7 CHƯƠNG 1 10
Trang 4MỘT SỐ NHẬN THỨC CHUNG VỀ DN NQD VÀ QUẢN LÝ THUẾ
GTGT VỚI DN NQD 10
1.1 Một số nhận thức chung về DNNQD 10
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của DNNQD 10
1.1.2 Vị trí, vai trò của DNNQD 12
1.1.3 Xu hướng phát triển của DNNQD 14
1.2 Quản lý thuế GTGT với DNNQD 15
1.2.1 Khái quát chung về thuế GTGT 15
1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế GTGT 15
1.2.1.2 Nội dung cơ bản của thuế GTGT 16
1.2.2 Quy trình quản lý thu thuế GTGT đối với các DN NQD 18
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý thu thuế GTGT đối với DN NQD 20
1.3 Ý nghĩa việc quản lý thu thuế GTGT từ các DN NQD 22
CHƯƠNG 2 24
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT ĐỐI VỚI CÁC DN NQD TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 24
TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH QUẢNG NINH 24
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội và thực trạng phát triển của các doanh nghiệp NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 24
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh 24
2.2 Thực trạng hoạt động quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 27
2.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy thu thuế tại Cục thuế tỉnh Quảng Ninh 27
2.2.2 Kết quả thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp NQD trên địa bàn trong những năm gần đây 30
2.2.3 Quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp NQD ở Quảng Ninh 32
2.2.3.1 Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT 32
2.2.3.2 Quản lý người nộp thuế 36
2.2.3.3 Công tác quản lý kê khai 40
Trang 52.2.3.4 Công tác quản lý hóa đơn, chứng từ 43
2.2.3.5 Công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế GTGT 47
2.2.3.6 Công tác xử lý hoàn thuế GTGT 50
2.2.3.7 Công tác thanh tra, kiểm tra thuế GTGT 53
CHƯƠNG 3 58
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DN NQD TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH .58
3.1 Mục tiêu hoạt động quản lý thu thuế GTGT trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 58
3.2 Một số giải pháp tăng cường hoạt động quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 60
3.2.1 Một số giải pháp cụ thể 60
3.2.1.1 Tăng cường và nâng cao công tác tuyên truyền hỗ trợ từ cấp cục đến cấp chi cục 60
3.2.1.2 Tăng cường quản lý các doanh nghiệp NQD 61
3.2.1.3 Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác quản lý hóa đơn chứng từ .62
3.2.1.4 Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế các doanh nghiệp NQD một cách có hiệu quả 64
3.2.1.5 Nâng cao hiệu quả công tác xử lý hoàn thuế 66
3.2.1.6 Nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra 67
3.2.1.7 Tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ chức thu thuế theo hướng nâng cao năng lực làm việc, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện tại tất cả các khâu của qui trình quản lý thu thuế GTGT phù hợp với mô hình quản lý theo chức năng 68
3.2.2 Một số giải pháp khác 70
3.2.2.1 Tăng cường ứng dụng tin học trong công tác quản lý thu thuế 70
3.2.2.2 Phối hợp với các cơ quan hữu quan trong công tác quản lý thu thuế .71
3.3 Đề xuất với Tổng cục thuế 72
3.3.1 Đề xuất về sửa đổi và bổ sung luật thuế GTGT 72
3.3.2 Đề xuất về việc quản lý hóa đơn chứng từ 75
Trang 6KẾT LUẬN 77
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, là công cụ quan trọng
để phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, làvấn đề đại cục của mỗi quốc gia, đặc biệt trong tiến trình hội nhập quốc tế Nhậnthức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện cải cách thuếbước I (1990-1995) và cải cách thuế bước II (1996 đến nay) Điểm nổi bật trongcuộc cải cách thuế bước II là thay thế luật thuế doanh thu bằng luật thuế giá trịgia tăng được thông qua tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá IX, có hiệu lực thi
Trang 7hành từ ngày 01/01/1999 Sự ra đời của luật thuế giá trị gia tăng được xem làmột bước ngoặt có tính đột phá trong công tác quản lý thu thuế và đã thể hiệnđược sự mạnh dạn, đương lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong công cuộcxây dựng, đổi mới và phát triển đất nước.
Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) đã đi vàocuộc sống, phát huy tác dụng tích cực trên các mặt của đời sống kinh tế - xã hộinhư: khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh; khuyến khích xuất khẩu vàđầu tư; thúc đẩy hạch toán kinh doanh của các doanh nghiệp; tạo nguồn thu lớn
và ổn định cho NSNN; tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế;góp phần tăng cường quản lý hoạt động SXKD của doanh nghiệp nói chung vàquản lý thuế nói riêng Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, Luật thuếGTGT cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập như hệ thống thuế chưa đồng bộ vàthường xuyên chỉnh sửa đã tạo nhiều kẽ hở cho NNT có cơ hội luồn lách, trốnlậu thuế Đó chính là những nguyên nhân gây thất thoát một phần lớn NSNN.Những hạn chế đó cần phải có những biện pháp khắc phục để thuế GTGT pháthuy hết vai trò của nó trong việc tạo lập nguồn thu cho NSNN và thúc đẩy sảnxuất kinh doanh phát triển cũng như trên các mặt của đời sống kinh tế - xã hội
Những năm gần đây, số lượng các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tănggấp nhiều lần đặc biệt là các DNNQD đã tạo số thu lớn cho NSNN Tuy nhiên,đây cũng là lĩnh vực thất thu lớn và gian lận thuế diễn ra khá phổ biến Điển hình
là thuế giá trị gia tăng trong đó: Tình trạng sử dụng hoá đơn giả, khai khống hoáđơn đầu vào để xin hoàn thuế, ghi giá trên hoá đơn thấp hơn giá thực tế đang làvấn đề mang tính thời sự hiện nay Để khắc phục được những hạn chế trên thìcần thiết phải tăng cường công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với loạihình doanh nghiệp này
Trang 8Trong thời gian thực tập tại Cục thuế Quảng Ninh, em nhận thấy việcquản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp NQD tại địa bàn còn nhiều vấn
đề nổi cộm cần giải quyết Trong khi đó, đây lại là khu vực đóng góp một phầnkhông nhỏ số thu thuế GTGT của tỉnh Kể từ khi luật doanh nghiệp ra đời, tỉnhQuảng Ninh đã có hơn 6000 doanh nghiệp NQD được thành lập Là một sinhviên chuyên ngành Thuế của Học Viện Tài Chính, xuất phát từ tầm quan trọngcủa thuế và yêu cầu quản lý thuế đối với các doanh nghiệp NQD, trong quá trìnhthực tập tại Cục thuế tỉnh Quảng Ninh với sự giúp đỡ của cô giáo và các cô, chú,anh, chị công tác tại Cục, em đã nghiên cứu và tìm hiểu để đi đến lựa chọn đề
tài: Một số giải pháp tăng cường quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duyvật lịch sử để tiếp cận và giải quyết vấn đề Phương pháp này được thực hiện bởicác kỹ thuật, hệ thống hoá, khảo sát, thu thập số liệu và tình hình thực tế, phântích, luận giải và suy đoán
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệpNQD - lý luận và thực tiễn
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với cácDNNQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2009-2011
4 Kết cấu luận văn
Trang 9Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày theo 3 chươngnhư sau:
Chương 1: Một số nhận thức chung về doanh nghiệp ngoài quốc doanh và
quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý thu thuế GTGT đối với các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường hoạt động quản lý thu thuế
GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnhQuảng Ninh
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ NHẬN THỨC CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1.1 Một số nhận thức chung về DNNQD
Trang 101.1.1 Khái niệm, đặc điểm của DNNQD
Khái niệm DNNQD
Doanh nghiệp NQD là một bộ phận của thành phần kinh tế ngoài quốcdoanh Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta(Đại hội đảng IX) thông qua các chính sách, chiến lược phát triển cụ thể, tạonhững biến đổi lớn trong nền kinh tế xã hội Đối với các doanh nghiệp NQDtrong quá trình đổi mới, Nhà nước ta đã ban hành các chính sách kinh tế nhằmtạo điều kiện cho thành phần kinh tế về lĩnh vực này phát triển như: việc banhành Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp…
Để đi sâu tìm hiểu về doanh nghệp NQD trước hết ta phải tìm hiểu khái
niệm doanh nghiệp : “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài
sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (Trích điều 3-
Luật Doanh nghiệp năm 2005)
Qua đó, ta có thể hiểu doanh nghiệp NQD là hình thức doanh nghiệp màtoàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người laođộng, chủ doanh nghiệp hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệmtoàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thứcphân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh (No State Enterprise) được xác định:
“gồm các doanh nghiệp vốn trong nước, mà nguồn vốn thuộc sở hữu tập thể, tưnhân của một người hoặc nhóm người hoặc sở hữu Nhà nước nhưng chiếm 50%vốn điều lệ trở xuống Doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanhgồm: các hợp tác xã, các doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn
Trang 11tư nhân, các công ty hợp danh, các công ty cổ phần tư nhân, các công ty có vốnNhà nước từ 50% vốn điều lệ trở xuống.”
Đặc điểm của DNNQD
Có thể thấy rằng, các doanh nghiệp dù là thuộc khu vực ngoài quốc doanhhay Nhà nước đều lấy lợi nhuận là mục tiêu, là thước đo hiệu quả của hoạt độngSXKD, cùng hoạt động theo cơ chế thị trường có sự hướng dẫn của Nhà nướccùng tồn tại và cạnh tranh trong môi trường pháp lý Tuy nhiên, xét về góc độquản lý, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý thuế, có những đặc điểm riêng của cácdoanh nghiệp ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế, thường là những tháchthức nhiều hơn là những thuận lợi
Thứ nhất là đặc điểm về sở hữu: Đây là đặc điểm khác biệt nhất, đối với
doanh nghiệp NQD toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhânhoặc sở hữu của Nhà nước nhưng mức độ sở hữu nhỏ hơn 50% tổng vốn điều lệ.Chủ doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu SXKD chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạtđộng sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợinhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, do vậy họ luôn tìm mọi cách để
có thể đạt được lợi nhuận cao nhất, kể cả việc trốn lậu thuế
Thứ hai là đặc điểm về trình độ văn hoá, trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ: So với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước và kinh
tế đầu tư nước ngoài thì phần lớn những người chủ các doanh nghiệp NQD cótrình độ văn hoá chưa cao, chưa được đào tạo chính quy về các nghiệp vụ quản
lý, trình độ chuyên môn chủ yếu là tự học hoặc theo kinh nghiệm Vì vậy, nhìnchung hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp NQD còn thấp, số đông các doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ có mục đích chính là
Trang 12mua đi, bán lại để kiếm chênh lệch giá; còn một số lượng nhỏ hoạt động ở lĩnhvực sản xuất thì trình độ công nghệ thấp, trình độ quản lý không cao, do đó năngsuất lao động và chất lượng hàng hoá đạt được là không cao.
Thứ ba là đặc điểm về ý thức tuân thủ pháp luật: Xuất phát từ trình độ còn
hạn chế nêu trên, cho nên phần lớn các chủ doanh nghiệp có trình độ nhận thức
về pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng là rất thấp, biểu hiện rõ nhất
là số đông các cơ sở kinh doanh không lập và giữ sổ sách kế toán theo quy định
Thứ tư là đặc điểm về số lượng đối tượng: Số lượng các cơ sở kinh doanh
rất lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh ở tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế,nhưng chủ yếu tập trung vào kinh doanh thương mại, dịch vụ, xây dựng, giaothông… đặc biệt là dịch vụ Hiện nay ở Việt Nam, thị trường chứng khoán và thịtrường tài chính dang phát triển mạnh do đó các doanh nghiệp NQD cũng bắtđầu xâm nhập vào thị trường này với sự xuất hiện của các ngân hàng cổ phần tưnhân ra đời và hoạt động có hiệu quả
Trang 13Các danh nghiệp NQD có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân,điều này được thể hiện trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, các doanh nghiệp NQD góp phần tạo ra nhiều sản phẩm cho xã
hội, đây là một nhân tố quan trọng làm gia tăng GDP của quốc gia Nó góp phầnthúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ hơn
Thứ hai, xét trong mối quan hệ với kinh tế quốc dân thì kinh tế NQD là
một thực thể tồn tại vừa cạnh tranh vừa hợp tác Nó như là nhân tố xúc tác quantrọng cho sự phát triển kinh tế nói chung và sự tồn tại, phát triển của kinh tế quốcdoanh nói riêng Doanh nghiệp NQD với số lượng ngày càng gia tăng đã trởthành đơn vị dịch vụ trung gian, xử lý tiêu thụ sản phẩm hoặc tham gia vào sảnxuất gia công một phần, môt khâu trong quá trình kinh doanh của các doanhnghiệp quốc doanh
Thứ ba, trong việc thực hiện nghĩa vụ với NSNN, khu vực kinh tế NQD
đóng vai trò khá quan trọng Hiện nay với tổng số khoảng 266.000 doanh nghiệpNQD, hàng năm kinh tế NQD nộp vào NSNN trên 45.000 tỷ đồng chiếm 19% sốthu trong nước Hàng hóa của các doanh nghiệp NQD rất phong phú, đa dạng,luôn thay đổi để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng
Thứ tư, doanh nghiệp NQD cũng góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho
người lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp giúp nên kinh tế phát triển ổn đinh Từ đó
hỗ trợ công tác giữ gìn ổn định trật tự xã hội, đẩy lùi tệ nạn xã hội
Tóm lại, doanh nghiệp NQD đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, tuynhiên cũng cần thấy rằng sự phát triển của các doanh nghiệp này cũng còn cónhững hạn chế nhất định, điều này ít nhiều cũng gây ra những khó khăn khôngnhỏ trong công tác quản lý thuế Nhà nước nói chung và quản lý thuế GTGT nóiriêng
Trang 141.1.3 Xu hướng phát triển của DNNQD
Các doanh nghiệp NQD hiện nay phát triển ngày càng nhiều và có xuhướng tăng cả về chất và lượng Nếu như năm 1991 cả nước chỉ có 414 doanhnghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần thì đến hết năm
2002 đã có gần xấp xỉ 50.000 doanh nghiệp NQD, và đến nay thì con số đó đãtăng lên rất nhiều lần Các doanh nghiệp NQD hoạt động trên nhiều lĩnh vựckhác nhau, trải rộng trên địa bàn cả nước Do vốn ít nên thương có khả năngthành lập các doanh nghiệp nhỏ và vừa và tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực thươngmại, dịch vụ là lớn nhất trong khu vực kinh tế NQD
Nét nổi bật của doanh nghiệp NQD trong thời gian gần đây là ngày càngphát triển về chiều sâu và chiều rông, có xu hướng gia tăng vào lĩnh vực sản xuấtsản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, có khả năng cạnh tranh tốt và ít thôngdụng lao động Không chỉ tăng về số lượng và phong phú, đa dạng về ngànhnghê, trong tình hình sản xuất kinh doanh có sự cạnh tranh khốc liệt, để tồn tại
và phát triển, nhìn chung khả năng đổi mới trang thiết bị và công nghệ trongnhững năm qua được các doanh nghiệp NQD chú trọng nhằm nâng cao năng lựccạnh tranh cho sản phẩm
Trong những năm gần đây, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ vớinhiều quốc gia trên thế giới đã tạo điều kiện không nhỏ cho sự phát triển của các
DN NQD trên cả nước Các DN đã bắt đầu đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tìmkiếm thị trường trong và ngoài nước Nhiều cuộc tham quan, khảo sát đã được tổchức tạo điều kiện cho chủ DN tiếp cận với thị trường và công nghệ hiện đại củacác nước tiên tiến Cũng qua những chuyến khảo sát, tham gia hội chợ, nhiều
DN Việt Nam đã ký được hợp đồng liên doanh, liên kết tiêu thụ sản phẩm vớicác DN nước ngoài
Trang 15Tuy nhiên, sự phát triển ồ ạt của các doanh nghiệp NQD cũng đã sớm bộc
lộ ra nhiều khiếm khuyết Vì vậy việc xây dựng các chính sách, biện pháp quản
lý để giúp doanh nghiệp NQD phát triển là một yêu cầu vô cùng cấp bách, khôngnhỏ góp phần tăng thu ngân sách mà còn thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phầnđưa hình ảnh Viêt Nam ra thế giới
1.2 Quản lý thuế GTGT với DNNQD
1.2.1 Khái quát chung về thuế GTGT
1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm thuế GTGT
Khái niệm thuế GTGT
Hiện nay, khái niệm thuế GTGT có nhiều cách tiếp cận khác nhau, mỗimột khái niệm đưa ra đều được nhìn nhận trên một góc độ, một khía cạnh nào đócủa thuế GTGT Thuế GTGT là một trong những loại thuế gián thu điều tiết mộtphần vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Mọi tổ chức, cá nhânthông qua việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ thực hiện nghĩa vụ thuế với ngân
sách Nhà nước Về cơ bản có thể hiểu: “Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá
trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ.”
Đặc điểm thuế GTGT
Thuế GTGT ở Việt Nam có những đặc điểm nổi bật sau:
- Thuế GTGT là loại thuế có tính chất gián thu: đối tượng nộp thuế
GTGT là người bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ, còn người chịu thuế là ngườitiêu dùng hàng hoá, dịch vụ, bởi vì thuế GTGT ẩn trong giá bán ra của hàng hoá,
Trang 16dịch vụ Nói cách khác Nhà nước gián tiếp thu khoản thuế này của người tiêudùng thông qua người bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ.
- Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn sản xuất kinh doanh Thuế
GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm phát sinh ở từng giai đoạn luânchuyển Tổng số thuế thu được ở các giai đoạn đúng bằng số thuế tính theo giábán cho người tiêu dùng cuối cùng
- Thuế GTGT có tính trung lập cao Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng
bởi kết quả sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, không phải là yếu tố chiphí mà chỉ đơn thuần là một khoản được cộng thêm vào giá bán của người cungcấp hàng hoá, dịch vụ Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức vàphân chia các chu trình kinh tế: tổng số thuế ở các giai đoạn khớp với số thuếtính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng, bất kể số giai đoạn là nhiều hay ít
- Thuế GTGT có tính lũy thoái so với thu nhập.
- Thuế GTGT có tính lãnh thổ: thể hiện nguyên tắc đánh thuế theo điểm
đến, thuế GTGT chỉ đánh vào các hàng hoá, dịch vụ được tiêu dùng trong phạm
vi lãnh thổ một quốc gia
1.2.1.2 Nội dung cơ bản của thuế GTGT
Luật thuế GTGT được Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 11 thông qua ngày10/05/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01//1999, thay thế cho thuế doanhthu trước đây Kể từ bắt đầu áp dụng cho đến nay đã có nhiều sửa đổi bổ sungcho phù hợp với tình hình thực tế Ngày 03/6/2008 Quốc hội khóa XII kỳ họpthứ 3 đã thông qua Luật thuế GTGT và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009.Nội dung cơ bản của thuế GTGT hiện hành bao gồm:
Phạm vi áp dụng
Trang 17 Đối tượng chịu thuế GTGT:
Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinhdoanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức,
cá nhân ở nước ngoài), trừ 25 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng khôngchịu thuế
Đối tượng không chịu thuế GTGT:
Bao gồm 25 nhóm hàng hóa, dịch vụ được quy định tại Luật thuế GTGT.Tuy nhiên, theo thông tư 06/2012/ TT- BTC lại quy định chi tiết gồm 26 nhómhàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT
Người nộp thuế GTGT:
Là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuếGTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh(gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ
từ nước ngoài chịu thuế GTGT (gọi là người nhập khẩu)
Thuế suất: Mức thuế suất GTGT được quy định tại điều 8, có 3 mứcthuế suất áp dụng là 0%, 5%, 10%
- Mức thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu
- Mức thuế suất 5%: áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu
Trang 18- Mức thuế suất 10%: áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không thuộctrường hợp áp dụng thuế suất 0%, 5%.
Phương pháp tính thuế
Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT được tính theo một trong hai phươngpháp: phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT.Phương pháp khấu trừ được áp dụng cho những CSKD thực hiện đầy đủ các quyđịnh về hạch toán kế toán, hóa đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phươngpháp khấu trừ Trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theophương pháp khấu trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quýthì cơ sở phải hạch toán riêng hoạt động kinh doanh này để tính trực tiếp trênGTGT
Quy định về hóa đơn chứng từ
Các cơ sở kinh doanh khi mua, bán hàng hóa, dịch vụ phải thực hiện chế
độ hóa đơn chứng từ theo quy đinh của pháp luật
Quy định về hoàn thuế
Hoàn thuế là một thuộc tính ưu việt của thuế GTGT Theo quy định hiện hành có
6 trường hợp được hoàn thuế đối với hoạt động của các DN NQD
1.2.2 Quy trình quản lý thu thuế GTGT đối với các DN NQD
Quy trình quản lý đăng ký thuế
Công tác quản lý đăng ký thuế có vai trò giúp NNT thực hiện các quy định
về đăng ký thuế của Luật Quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luậthướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế Ngoài ra công tác quản lý đăng ký thuếcòn giúp cán bộ thuế nắm rõ số lượng, loại hình DN tồn tại trên địa bàn từ đóđưa ra những biện pháp quản lý phù hợp Quy trình này hiện hành được ban
Trang 19hành kèm theo Quyết định 443/QĐ-TCT ngày 29/04/2009 của Tổng cục trưởngTổng cục Thuế
Quy trình xử lý kê khai và kế toán thuế
Quản lý kê khai thuế là công tác hết sức quan trọng, nhằm có thể quản lýchặt chẽ việc nộp tờ khai, kê khai thuế của các DN NQD; tránh tình trạng nộp tờkhai hoặc kê khai sai số thuế phải nộp gây thất thu cho NSNN Công tác này cầnđược đặc biệt chú trọng nhất là trong giai đoạn thực hiện cơ chế NNT tự tính, tự
kê khai, tự nộp hiện nay Công tác quản lý kê khai được quy định trong quyếtđịnh số 422 QĐ/TCT quy trình quản lý kê khai thuế, nộp thuế, kế toán thuế
Quy trình miễn giảm thuế
Miễn giảm thuế đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý thu thuếGTGT, quy trình này được ban hành nhằm xác định rõ trách nhiệm của cơ quanthuế và NNT trong quá trình thực hiện và xác định số thuế được miễn, giảm theocác quy định của pháp luật thuế và Luật quản lý thuế Quy trình này hiện hànhđược ban hành kèm theo Quyết định số 598/QĐ-TCT của Tổng cục trưởng Tổngcục Thuế
Quy trình giải quyết hoàn thuế
Hoàn thuế là một thuộc tính ưu việt của thuế GTGT Quy trình giải quyếthoàn thuế nhằm hướng dẫn NNT thực hiện đúng các thủ tục hành chính và cácqui định của pháp luật thuế, Luật Quản lý thuế về hoàn thuế; Cơ quan thuế thựchiện kiểm tra hồ sơ theo trình tự và nội dung quy định Quy trình này hiện hànhđược ban hành kèm theo Quyết định số 490/QĐ-TCT của Tổng cục trưởng Tổngcục Thuế
Quy trình kiểm tra
Trang 20Công tác kiểm tra thuế nhằm mục đích tăng cường kiểm tra, giám sát hồ
sơ khai thuế của NNT nhằm chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế; ngănchặn và xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm thuế Bên cạnh đó, kiểm trathuế giúp nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của NNT trong việc thựchiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế Quy trình kiểm tra thuế được ban hànhkèm theo Quyết định số 528/ QĐ- TCT của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế
Quy trình thanh tra thuế
Công tác thanh tra thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các tổchức, cá nhân có hành vi gian lận, trốn thuế Quy trình thanh tra thuế được banhành kèm theo Quyết định số 460/ QĐ- TCT của Tổng cục trưởng Tổng cụcThuế
Quy trình tuyên truyền, hỗ trợ NNT
Tuyên truyền hỗ trợ NNT là công tác quan trọng nhằm nâng cao ý thứcchấp hành, tuân thủ pháp luật thuế của các DN Công tác tuyên truyền được tiếnhành nhằm cập nhật những chính sách thuế TNDN cho các DN, giúp các DNnắm rõ luật để thực hiện đúng luật Công tác hỗ trợ được tiến hành đồng thời vớicông tác tuyên truyền để hướng dẫn, giải đáp các thắc mắc của các DN trong quátrình thực hiện; tránh hiện tượng hiểu sai, hiểu mở hồ dẫn đến thực hiện sai cácquy định của pháp luật thuế GTGT Đi kèm với công tác quyên truyền hỗ trợ cóquy trình tuyên truyền hỗ trợ được ban hành theo quyết định số 1788 QĐ/ TCT
và quy trình tuyên truyền hỗ trợ theo cơ chế một cửa
Quy trình quản lý nợ thuế
Công tác quản lý nợ thuế nhằm đảo bảo tính tuân thủ pháp luật của các tổchức, cá nhân trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp các loại thuế, các khoản thukhác vào Ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật Quy trình quản lý thu
Trang 21nợ thuế được ban hành kèm theo Quyết định số: 477/ QĐ- TCT của Tổng cụctrưởng Tổng cục Thuế.
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý thu thuế GTGT đối với DN NQD
Luật thuế GTGT ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc cải cách
cơ chế quản lý kinh tế tài chính đặc biệt là chính sách thuế của Nhà nước Sauhơn 10 năm thực hiện, luật thuế GTGT đã góp phần to lớn vào sự phát triển kinh
tế của đất nước: khuyến khích đầu tư nước ngoài, mở rộng khuyến khích và pháttriển xuất khẩu thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, tạo nguồn thu ổn định vàngày càng tăng của NSNN Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được trongquá trình thực hiện đã phát sinh nhiều vướng mắc làm giảm hiệu ứng tích cựccủa thuế GTGT Các doanh nghiệp đã lợi dụng kẻ hở trong luật thuế để chiếmđoạt tiền của Nhà nước lên tới con số hàng nghìn tỷ đồng Công tác quản lý thugặp không ít những khó khăn Có thể đề cập đến những nhân tố ảnh hưởng đếncông tác quản lý thuế GTGT đối với loại hình DN này là:
Thứ nhất là hệ thống chính sách, các văn bản thiếu tính đồng bộ, thốngnhất Ban hành quá nhiều văn bản thi hành luật nhưng lại chưa sát thực tế, còn
sơ hở, chưa lường hết các phát sinh có thể xảy ra khi thực hiện đã gây khó khăncho cán bộ quản lý cũng như các đối tượng nộp thuế
Thứ hai xuất phát từ thực trạng phát triển kinh tế nước ta, những năm gầnđây đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn là nước nghèo nàn, lạc hậu, trình
độ dân trí còn chưa cao, do đó việc tiếp thu các luật thuế mới hạn chế, người dânchưa có thói quen lấy hóa đơn khi mua hàng trong khi hóa đơn chứng từ là mộttrong những điều kiện tiên quyết thực hiện thành công sắc thuế này
Trang 22Thứ ba là từ trình độ quản lý thu thuế GTGT của các cán bộ còn thấp thậmchí có những cán bộ thuế chưa biết đọc quyết toán thuế của doanh nghiệp, chưabiết tính khấu hao, chưa biết tính tiền lương lỗ, lãi Việc phân bố trình độ củacán bộ thuế chưa đồng bộ trong cả nước.
Thứ tư là các cơ sở kinh doanh chưa có ý thức chấp hành pháp luật nóichung và tính tự giác trong kê khai nộp thuế Họ luôn quan niệm rằng đóng thuếcho Nhà nước là lấy tiền túi ra để nộp, là khoản làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận,
do đó họ tìm mọi cách để trốn, tránh thuế kiếm lợi
Thứ năm là xuất phát từ đặc điểm của các DN NQD ở nước ta hiện nay quy
mô vốn và lao động nhỏ, kinh doanh mang tính thời vụ, nhỏ lẻ khó kiểm tra đãgây khó khăn cho các cán bộ thuế trong công tác quản lý thu
Tóm lại, thuế GTGT chỉ có thể được quản lý một cách chặt chẽ khi cácnhân tố trên được điều chỉnh theo hướng hoàn thiện hơn
1.3 Ý nghĩa việc quản lý thu thuế GTGT từ các DN NQD
Xuất phát từ tầm quan trọng của thuế GTGT
Thuế GTGT cùng với thuế TNDN là hai sắc thuế đang giữ vai trò chủ đạotrong hệ thống thuế của nền kinh tế quốc dân, nhất là trong thời gian này, ViệtNam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại Thế giới – WTOcùng với việc cam kết thực hiện lộ trình cắt giảm hàng rào thuế quan nhằm tạo ramột môi trường kinh tế thương mại cạnh tranh công bằng hơn Thuế XNK là sắcthuế chiếm tỉ trọng lớn trong kế hoạch thu NSNN thời gian qua, việc cắt giảmhàng loạt các mức thuế suất thuế nhập khẩu theo lộ trình sẽ ảnh hưởng lớn đếnnguồn thu của NSNN Vì vậy, để đảm bảo kế hoạch chi tiêu của Chính phủ, các
cơ quan thuế phải tăng cường quản lý sắc thuế GTGT để củng cố thêm nguồnthu cho NSNN
Trang 23 Xuất phát từ thực trạng quản lý thuế GTGT hiện nay còn nhiều tồn tại,bất cập, gây thất thu lớn.
Từ khi ra đời cho đến nay thuế GTGT đã chiếm vị trí quan trọng trong hệthống thuế nước ta Thuế GTGT là loại thuế gián thu, người tiêu dùng là ngườichiụ thuế nhưng người bán lại là người nộp thuế Vai trò của nó là điều tiết thunhập, đảm bảo công bằng xã hội, tạo nguồn thu cho NSNN Từ khi áp dụng Luậtthuế GTGT cho đến nay đã đem lại những thành công nhất định, tuy nhiên nócũng sớm bộc lộ những hạn chế, những khiếm khuyết, những điểm bất cập.Chính điều này vô hình chung đã tạo cơ hội cho một số doanh nghiệp tìm cáchtrốn tránh, lách luật nhằm mưu lợi riêng, gây mất ổn định cho nền kinh tế, mà sốđối tượng lợi dụng những kẽ hở này lại tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệpNQD Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các thủ đoạn trốn tránh thuế củacác doanh nghiệp cũng ngày càng tinh vi, nhiều thủ đoạn hơn
Mặt khác, dù một hệ thống thuế có cơ cấu hợp lý, có tính khả thi caonhưng quản lý kém sẽ không thể phát huy được hiệu quả Vì thế các nhà quản lýthuế có vai trò đặc biệt quan trọng Cải cách thuế theo hướng hiện đại hóa côngtác quản lý sẽ giảm khối lượng công việc của các nhà quản lý song thay vào đócác cán bộ thuế cần có kiến thức nghiệp vụ chuyên môn vững vàng, có tâm huyếtvới nghề và phải biết lắng nghe thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của các NNT và
cố gắng hoàn thiện bản thân mình
Do đặc thù của các doanh nghiệp NQD “dễ” thành lập và cũng “biến mất” dễ dàng nên việc quản lý thu thuế các đối tượng này cũng rất khó khăn,phức tạp Việc ban hành luật là điều cần thiết, song việc thi hành luật lại càngquan trọng và khó khăn hơn Thực tiễn cho thấy việc chấp hành pháp luật nói
Trang 24chung và luật thuế nói riêng còn bộc lộ nhiều yếu kém vì nhiều lý do, đặc biệt là
ở khu vực kinh tế NQD, trong khu vực kinh tế này sự thất thu là rất lớn
Qua đó, có thể nói sự tăng cường công tác quản lý thu thuế GTGT đối vớicác doanh nghiệp NQD là hết sức cần thiết để góp phần tăng thu cho NSNN, tạo
ra môi trường cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh giữa các thành phần kinh tế,phát huy vai trò định hướng điều tiết của Nhà nước đối với các doanh nghiệpnày, nâng cao uy tín của Nhà nước trước nhân dân và cuối cùng là làm cho sắcthuế GTGT phát huy được tác dụng của nó, không chỉ là công cụ đắc lực củaNhà nước trong việc quản lý nền kinh tế mà còn góp phần thúc đẩy sản xuất pháttriển vững mạnh
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH QUẢNG NINH
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội và thực trạng phát triển của các doanh nghiệp NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh là miền đất ở cực Đông Bắc của Tổ quốc trên miền đất khádài từ Móng Cái tới Đông Triều theo đường bộ gần 300 km Địa hình rất phongphú, trước mặt là biển, sau lưng là núi, xen lẫn những dải đồng bằng, trung dunhỏ hẹp; dân số trên một triệu người chia thành 14 đơn vị hành chính QuảngNinh nổi tiếng vì vừa có nhiều khoáng sản quý hiếm trong đó có trữ lượng than
Trang 25lớn có chất lượng, lại có nhiều thắng cảnh như Vịnh Hạ Long đã được UNESCOcông nhận là di sản thiên nhiên thế giới, Yên Tử, Tuần Châu, Trà Cổ, hình thànhmột quần thể du lịch hấp dẫn Quảng Ninh có hơn 250 km bờ biển, có đườngbiên giới giáp Trung Quốc với cửa khẩu quốc tế Móng Cái có lực lượng hànghoá xuất, nhập khẩu lớn Quảng Ninh là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phíabắc gồm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh với tiềm năng thế mạnh về khai tháctài nguyên khoáng sản, kinh tế biển, du lịch, thương mại Với những lợi thế đó,Quảng Ninh có hàng ngàn doanh nghiệp NQD, đặc biết phát triển trong các lĩnhvực sản xuất, khai thác tài nguyên, xuất nhập khẩu và dịch vụ du lịch Đây lànhững điều kiện thuận lợi để đảm bảo tạo nguồn thu ngân sách, đáp ứng nhu cầuchi tiêu của ngân sách địa phương
Trong những năm gần đây, trình độ dân trí và mức sống dân cư trong tỉnhQuảng Ninh không ngừng được nâng cao góp phần tác động đến việc hình thành
và phát triển của các DN, ngày càng nhiều DN NQD với quy mô vừa và lớn rađời hơn Với dân cư khá đông, nhiều khu vực tập trung nhiều lao động đã gópphần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội, tạo điều kiện cho các DN có thểtìm kiếm được nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu quản lý, điềuhành hoạt động của doanh nghiệp
2.1.2 Thực trạng doanh nghiệp NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Năm 2011 Quảng Ninh là tỉnh đứng thứ 5 trong cả nước về thu ngân sách.Trong những năm gần đây tỉnh luôn có hoạt động sản xuất kinh doanh duy trì ổnđịnh và đang từng bước phát triển về nhiều mặt kinh tế, xã hội, chính trị Để đạtđược những kết quả đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của các doanhnghiệp NQD trên địa bàn tỉnh Đó là do có sự thuận lợi về điều kiện tư nhiên,kinh tế -xã hội và chính sách có nhiều thay đổi, nhất là đối với loại hình doanh
Trang 26nghiệp NQD được áp dụng theo luật doanh nghiệp 2005 Nó đã gỡ bỏ nhiều thủtục rườm rà, xóa bỏ cơ chế cũ, lạc hậu, thay vào đó là những thủ tục hành chínhđơn giản, tạo động lực phát triển các doanh nghiệp nói chung và các doanhnghiệp ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng phát triển nhanh chóng cả về số lượng vàchất lượng với ngành nghề kinh doanh phong phú và đa dạng bao gồm: sản xuất,xây dựng, vận tải, dịch vụ thương mại.
Bảng 2.1: Số lượng doanh nghiệp NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Đơn vị: Doanh nghiệp
[Nguồn: Báo cáo tình hình quản lý NNT].
Qua bảng số liệu ta thấy trong những năm vừa qua ( 2009, 2010, 2011), sốlượng các doanh nghiệp NQD tăng trưởng nhanh và đều đặn ( năm 2010 tăng
1485 doanh nghiệp, năm 2011 tăng 645 doanh nghiệp) Điều đó chứng tỏ tình
Trang 27hình phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh khá tốt và ổn định đã thu hút được sốlượng các doanh nghiệp mới thành lập trên địa bàn Các doanh nghiệp mới hìnhthành chủ yếu là công ty cổ phần, công ty TNHH và một số ít là công ty tư nhân
và công ty hợp danh Nếu như DN tư nhân có xu hướng giảm thì ngược lại công
ty cổ phần và công ty TNHH NQD lại tăng mạnh mẽ ( Năm 2010 số công ty cổphần tăng 501, công ty TNHH tăng 981 Năm 2011 số công ty cổ phân tăng 262 ,công ty TNHH tăng 404) Sự thay đổi này xuất phát một phần từ xu hướng pháttriển của các DN, khi mà ngày càng có nhiều công ty trung bình và lớn hiện nay.Nếu như công ty cổ phần và TNHH có ưu điểm là tính minh bạch rõ ràng, linhđộng trong việc huy động thêm vốn kinh doanh từ bên ngoài đặc biệt là công ty
cổ phần thì DN tư nhân nếu muốn tăng vốn thì chỉ có thể tự mình tăng vốn củamình
Bên cạnh sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng thì vấn đề ý thức chấp hànhluật thuế GTGT của một số DN NQD là rất đáng nói, số lượng DN thực tế nộpthuế, kê khai ít hơn so với số lượng DN NQD đang kinh doanh trên địa bàn,nhiều DN còn chưa có bộ phận kế toán chuyên trách, không chấp hành nghiêmchỉnh chế độ hóa đơn chứng từ…Những vấn đề này đã đặt ra thách thức khôngnhỏ cho các cán bộ thuế trong công tác quản lý thu thuế GTGT đối với các DNNQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Không chỉ phát triển về số lượng, số thuế thu từ khu vực doanh nghiệpNQD trên địa bàn tỉnh cũng ngày càng tăng đóng góp một phần không nhỏ vàonguồn thu NSNN nói chung và của tỉnh Quảng Ninh nói riêng
2.2 Thực trạng hoạt động quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Trang 282.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy thu thuế tại Cục thuế tỉnh Quảng Ninh
Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế được thànhlập theo Quyết định số 314/TC/QĐ-TCCB ngày 21/8/1990 của Bộ Tài chính Địachỉ số 423 Lê Thánh Tông, Phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long, tỉnh QuảngNinh; Điện thoại 0333 - 626.634 Hiện nay, toàn ngành có 779 cán bộ công chức
ở 15 đơn vị gồm 14 Chi cục thuế huyện, thị xã, thành phố và cơ quan Cục thuế
Cục Thuế là cơ quan đầu não của ngành thuế Quảng Ninh, có nhiệm vụ chỉđạo nghiệp vụ trong toàn ngành thuế và trực tiếp quản lý thu thuế, phí, lệ phí vàcác khoản thu khác đối với một số người nộp thuế được phân cấp quản lý Với 149công chức, trong đó có 110 công chức có trình độ đại học (chiếm 74%), được chiathành 14 phòng ban
Đến nay, các tập thể, cá nhân trong ngành Thuế Quảng Ninh đã được tặngthưởng 15 Huân chương Lao động (các hạng); 02 Cờ thi đua, 36 Bằng khen củaChính phủ và nhiều Cờ, kỷ niệm chương, Bằng khen, Giấy khen khác
Trịnh Nhật Huy - Lớp CQ 46/02.02
Ban lãnh đạo Cục Thuế
Trang 29nợ và cưỡng chế thuế
Phòng thanh Tra thuế
số 1,2
Phòng kiểm tra thuế số 1,2,3
Phòng quản lý thuế thu nhập
cá nhân
Phòng tổng hợp- Nghiệp vụ-Dự toán
Phòng kiểm tra nội bộ
Phòng tổ chức cán bộ
Phòng hành chính quản trị-Tài vụ-ấn chỉ
Phòng Tin học
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Cục thuế Quảng Ninh
Bộ phận lãnh đạo (gồm 04 lãnh đạo)
Cục trưởng: Ông Trần Văn Ninh
Phó cục trưởng: Ông Nguyễn Văn Bột
Phó cục trưởng: Ông Mai Chiến Thắng
Phó cục trưởng: Bà Nguyễn Thúy Hương
Nhiệm vụ của từng phòng
Nhiệm vụ cụ thể của từng phòng được quy định tại Quyết định số
502/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế
- Phòng Tuyên truyền và Hỗ trợ người nộp thuế: Giúp Cục trưởng Cục thuế
tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách, pháp luật thuế, hỗ trợ người
nộp thuế trong phạm vi Cục thuế quản lý
- Phòng kê khai và kế toán Thuế: Giúp Cục trưởng cục thuế tổ chức thực
hiện công tác đăng ký thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế
trong phạm vi Cục thuế quản lý
Trang 30- Phòng quản lý nợ và cưỡng chế thuế: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chứcthực hiện công tác quản lý nợ thuế, đôn đốc thu tiền thuế nợ và cưỡng chế thu tiềnthuế nợ, tiền phạt trong phạm vi quản lý.
- Phòng Kiểm tra Thuế số 1,2,3: Giúp Cục trưởng Cục thuế kiểm tra, giámsát kê khai thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu đối với người nộp thuếthuộc phạm vi quản lý tực tiếp của Cục thuế
- Phòng Thanh tra Thuế số 1,2: Giúp Cục trưởng Cục thuế triển khai thựchiện công tác thanh tra người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế; giảiquyết tố cáo về hành vi trốn lậu thuế, gian lận thuế liên quan đến người nộp thuếthuộc phạm vi Cục thuế quản lý
- Phòng Tổng hợp, nghiệp vụ và dự toán: Giúp Cục trưởng Cục thuế trongviệc chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế; xâydựng và thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước thuộc phạm vi Cục thuế quảnlý
- Phòng Quản lý Thuế thu nhập cá nhân: : Giúp Cục trưởng Cục thuế tổchức, chỉ đạo triển khai quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với các cá nhân có thunhập thuộc diện phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luậtthuộc phạm vi Cục thuế quản lý
- Phòng Kiểm tra nội bộ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo, triểnkhai thực hiện công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của cơquan thuế, công chức thuế; giải quyết khiếu nại (bao gồm cả khiếu nại các quyếtđịnh xử lý về thuế của cơ quan thuế và khiếu nại liên quan trong nội bộ cơ quanthuế, công chức thuế), tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sựliêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế trong phạm vi quản lý của Cụctrưởng Cục thuế
Trang 31- Phòng Tin học: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức quản lý và vận hành
hệ thống trang thiết bị tin học ngành thuế; triển khai các phần mềm ứng dụng tinhọc phục vụ công tác quản lý thuế và hỗ trợ hướng dẫn, đào tạo cán bộ thuếtrong việc sử dụng ứng dụng tin học trong công tác quản lý
- Phòng Tổ chức cán bộ: Giúp Cục trưởng Cục thuế tổ chức chỉ đạo, triểnkhai thực hiện về công tác tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, biên chế, tiền lương,đào tạo cán bộ và thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong nội bộ Cục thuế
- Phòng Hành chính, Quản trị, Tài Vụ, ấn chỉ: Giúp Cục trưởng Cục thuế
tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện các công tác hành chính, văn thư, lưu trữ;công tác quản lý tài chính, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, quản trị, quản lý ấnchỉ thuế trong toàn Cục thuế
2.2.2 Kết quả thu thuế GTGT từ các doanh nghiệp NQD trên địa bàn trong những năm gần đây
Quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một lĩnhvực khó và nhạy cảm Mặc dù vậy, trong những năm qua số thu từ các doanhnghiệp NQD đều cho kết quả khả quan, số thu năm sau cao hơn năm trước Kếtquả được thực hiện qua bảng số liệu 2.3:
Bảng 2.3 : Tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Trang 32Cộng 481.537 640.791 756.187
[Nguồn: Báo cáo tổng hợp thu nội địa các năm.]
Qua bảng số liệu ta thấy số thu thuế GTGT của các doanh nghiệp NQDđều có sự gia tăng qua các năm (năm 2010 so với năm 2009 tăng 33,7%, năm
2011 so với năm 2010 tăng 19%) Kết quả này có được xuất phát từ nhiềunguyên nhân khác nhau trong đó đặc biệt phải kể tới công tác thu thuế tại Cụcthuế tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua đã được nâng lên đáng kể, bên cạnh đó
là do số lượng các DN NQD ngày càng tăng lên không ngừng cả về quy mô và
Bảng số 2.4 : Tình hình thực hiện thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp
NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Trang 33NQD/Tổng thu thuế GTGT
toàn cục (%)
[Nguồn: Báo cáo tổng hợp thu nội địa các năm.]
Mặc dù tỷ trọng số thu thuế GTGT từ các DN NQD trong tổng số thuếGTGT đã có sự giảm sút qua các năm 2009 đến năm 2011, nhưng sự giảm sútnày nguyên nhân chủ yếu là do số thu GTGT của toàn ngành trong những nămvừa qua tăng khá nhanh Bên cạnh đó là sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu đã ảnh hướng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của hệ thống các
DN nói chung và các DN NQD nói riêng
2.2.3 Quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp NQD ở Quảng Ninh 2.2.3.1 Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT
Mục tiêu của quản lý thuế trong xã hội hiện đại là tăng tính tuân thủ tựnguyện của thuế chứ không phải đưa ra những hình thức xử phạt các đối tượngtrốn và tránh thuế Để thực hiện mục tiêu này, cơ quan thuế không chỉ có nhiệm
vụ theo dõi, giám sát, kiểm tra, đôn đốc đối tượng nộp thuế thực hiện nghĩa vụthuế mà còn có trách nhiệm tạo ra những điều kiện tốt nhất để NNT tự giác, chủđộng thực hiện nghĩa vụ thuế của mình Với mục tiêu trên, vai trò của công táctuyên truyền, hỗ trợ NNT là hết sức quan trọng
- Đối với công tác tuyên truyền NNT:
Cục thuế tỉnh Quảng Ninh không ngừng kiện toàn bộ máy chuyên tráchcũng như cơ sở vật chất để giúp NNT tìm hiểu luật, tiếp nhận các chính sáchthuế mới một cách dễ dàng Cục đã chú trọng đổi mới, đa dạng hóa các hìnhthức, phương tiện tuyên truyền, tâp trung hướng dẫn NNT về các nội dung: khaithuế GTGT, Nghị định 51/NĐ- CP và Thông tư số 153/2010/TT- BTC quy định
về hóa đơn bán hàng hóa cung ứng dịch vụ; khai thuế qua mạng…
Trang 34Bảng 2.6: Kết quả công tác tuyên truyền Cục thuế Quảng Ninh
[Nguồn: Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ công tác thuế các năm]
Với những hình thức tuyên truyền phổ biến nêu trên, 100% các DN, NNT
đã được tiếp cận với chính sách thuế, ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuếngày càng được nâng cao
- Đối với công tác hỗ trợ NNT:
Trong những năm gần đây, tại Cục thuế Quảng Ninh công tác hỗ trợ đốivới NNT nói chung và các DN NQD nói riêng đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể Vớimục tiêu duy trì thực hiện cơ chế “một cửa” đối với các hoạt động hướng dẫn,tiếp nhận, xử lý hồ sơ thuế tạo thuận lợi, giảm chi phí tiết kiệm thời gian đi lạicủa NNT…Cục thuế đã giải quyết được những nhu cầu cấp thiết, những khókhăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật thuế của NNT
Bảng 2.5: Kết quả hỗ trợ NNT Cục thuế tỉnh Quảng Ninh
Đv: lượt
Trang 35[Nguồn: Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ công tác thuế các năm.]
Qua bảng tổng hợp trên, ta thấy mức độ hỗ trợ của Cục thuế đối với các
DN ngày càng tăng Không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ trực tiếp tại cơ quan thuế
mà Cục tiến hành hỗ trợ qua các hình thức khác như qua mạng và điện thoại.Bên cạnh đó, thời gian vừa qua Cục đã tiến hành phối hợp với Sở Tư pháp vớimục đích hỗ trợ pháp lý cho các DN, tổ chức thành công hội nghị Ngày pháp luậtTài chính năm 2011
Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan công tác tuyên truyền và hỗ trợNNT Cục thuế tỉnh Quảng Ninh vẫn còn một số hạn chế như sau:
- Công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNT mới chỉ nâng cao thêm một bước,chưa đáp ứng tốt yêu cầu của công tác quản lý thuế Việc tuyên truyền còn chungchung, vẫn theo lối “truyền thống”, nội dung chưa phong phú đa dạng nhất là đốivới các doanh nghiệp mới thành lập, ngành thuế chưa tiến hành thăm dò để biếtdoanh nghiệp cần gì, thiếu gì để đề ra giải pháp hỗ trợ phù hợp
- Hình thức tuyên truyên, hỗ trợ NNT mà Cục đã triển khai trong thời gianqua là không thiếu, nhưng vấn đề chất lượng, ý thức phục vụ NNT của một sốcán bộ còn chưa tốt
Loại hình hỗ trợ Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Trang 36- Việc tư vấn, hỗ trợ qua điện thoại tuy nhanh chóng, tiết kiệm thời gian,chi phí đi lại nhưng lãnh đạo Cục thuế khó có thể nắm bắt được chất lượng côngviệc, ý thức phục vụ của cán bộ dưới quyền Hình thức tuyên truyền hỗ trợ bằngvăn bản hoặc đến trực tiếp cơ quan thuế không được nhiều NNT lựa chọn vì gửivăn bản thì phải chờ đợi vài ngày, trong khi đến trực tiếp cơ quan thuế phần vìngại gặp cán bộ thuế, phần vì sợ người khác biết những hạn chế của trình độ bảnthân
Nguyên nhân của những tồn tại trong công tác tuyên truyền và hỗ trợ NNTtại Cục thuế tỉnh Quảng Ninh có thể đề cập đến :
- Cục thuế chưa thật chú trọng công tác điều tra nhu cầu của xã hội vàNNT để có biện pháp tuyên truyền hỗ trợ phù hợp, thiếu sự phân loại NNT để ápdụng các hình thức tuyên truyền hỗ trợ thực thi pháp luật thuế phù hợp với từngnhóm NNT
- Chưa tập trung nâng cao chỉ tiêu chất lượng công tác hỗ trợ; kỹ nănggiao tiếp cho các cán bộ thuế
- Trình độ và ý thức của NNT còn nhiều hạn chế Nhiều doanh nghiệp, đặcbiệt là một số DN NQD còn chữa lắm rõ pháp luật thuế nhưng còn chưa có ýthức trong việc tìm hiểu
2.2.3.2 Quản lý người nộp thuế
Muốn thu được thuế thì trước hết cần phải quản lý được đối tượng nộpthuế Do vậy, công tác quản lý đối tượng nộp thuế là công việc đầu tiên trong cảquá trình thu thuế và có ý nghĩa quyết định đến số thu vào NSNN cũng như đếnviệc kiểm tra, thanh tra sau này Công tác cấp mã số thuế tại Cục thuế tỉnh
Trang 37Quảng Ninh được thực hiện theo đúng quy trình quy định của Luật thuế, các vănbản hướng dẫn của Bộ Tài chính, Tổng cục thuế, Cục thuế, kịp thời, chính xác.
Số lượng doanh nghiệp NQD ngày càng tăng là một thách thức đòi hỏi cán bộthuế cần phải có những phương pháp quản lý khoa học và hợp lý Cục thuế tỉnhQuảng Ninh đã thực hiện khá tốt công tác quản lý các doanh nghiệp NQD trênđịa bàn trong những năm gần đây
Để quản lý tốt đối tượng nộp thuế, lãnh đạo Cục, đặc biệt là phòng kiểmtra thuế căn cứ vào số doanh nghiệp được cấp đăng ký kinh doanh, doanh nghiệpđược cấp mã số thuế để đối chiếu, quản lý chặt chẽ các doanh nghiệp, mở sổ theodõi tình hình biến động của các doanh nghiệp mang tính liên tục hàng tuần( Xem bảng 2.6 trang 36)
Bảng 2.6 : Tình hình quản lý số lượng doanh nghiệp NQD
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Đơn vị tính: đơn vị
Loại hình
doanh nghiệp
Đanghoạt
Tạm nghỉ kinhdoanh có công
Doanhnghiệp bỏ
Doanh nghiệpkhông đăng ký
Trang 38[Nguồn: Báo cáo tình hình quản lý NNT].
Thông qua bảng số liệu trên, ta thấy Cục đã có nhiều biện pháp quản lýcác doanh nghiệp NQD Căn cứ hồ sơ cấp mã từ phòng kê khai và kế toán thuếchuyển đến, căn cứ phân loại và phân cấp quản lý Cục thuế tiến hành phân cấpquản lý theo địa bàn cho các chi cục thuế quản lý và văn phòng Cục thực hiệnquản lý một số doanh nghiệp đặc thù và doanh nghiệp lớn Cục chỉ đạo các chicục thuế giao các đội kê khai thực hiện kiểm soát chặt chẽ kê khai thuế củadoanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng trên địa bàn được phân cấp Chi cục quản
lý Tổ chức nhiều đợt thanh tra bất thường tới trụ sở hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, từ đó có thể nhận biết được doanh nghiệp hoạt độngthực sự hay tạo doanh nghiệp ảo để mua hóa đơn khống Qua đó đưa ra được cácbiện pháp xử lý các trường hợp cụ thể:
Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động, cơ quan thuế thường xuyêntheo dõi tình hình hoạt động của doanh nghiệp, số thuế các doanh nghiệp nàynộp vào NSNN
Đối với các doanh nghiệp tạm nghỉ kinh doanh, có công văn thì cán bộquản lý căn cứ vào công văn xin tạm nghỉ kinh doanh của doanh nghiệp để vào
sổ theo dõi, từ đó xác định thời gian xin tạm nghỉ hoạt động và có đề ra phương
án thu hồi hóa đơn của doanh nghiệp
Trang 39Đối với các doanh nghiệp nghỉ kinh doanh không có công văn đến cơ quanthuế thì khi cán bộ quản lý phát hiện cán bộ sẽ viết giấy mời đến kê khai và xửphạt hành chính đối với các doanh nghiệp đó Tuy nhiên cũng có trường hợp sau
ba lần gửi giấy mời tới doanh nghiệp này mà không đến cơ quan thuế để kê khai,đối với trường hợp này đội quản lý doanh nghiệp tại Chi cục sẽ cử cán bộ quản
lý của đội đến địa phương mà doanh nghiệp đăng ký trụ sở kinh doanh kết hợpvới địa phương lập biên bản tình trạng doanh nghiệp có trên địa bàn có haykhông tồn tại Nếu doanh nghiệp có tồn tại tại địa phương thì lập biên bản và xửphạt hành chính, còn không tồn tại thì lập biên bản và đóng mã số thuế củadoanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp bỏ trốn đây là trường hợp doanh nghiệp tồn tạikhông có trụ sở rõ ràng, khi xác minh gặp trường hợp này trên địa bàn quản lýthì cán bộ lập biên bản doanh nghiệp không tồn tại để đóng mã số thuế
Đối với doanh nghiệp không đăng ký thuế, không xin cấp mã số thuế khicán bộ phát hiện sẽ tiến hành xử phạt hành chính và hướng dẫn doanh nghiệplàm thủ tục đăng ký thuế
Để thực hiện tốt công tác quản lý NNT, Cục thuế đã tăng cường phối hợpvới các cơ quan tổ chức khác như công an, chính quyền địa phương tại địa bàncủa các DN Trên cơ sở đó, hai bên thường xuyên trao đổi thông tin nhằm thuthập tình hình về DN cũng như kiểm soát được các DN một cách chặt chẽ
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong công tác quản lý NNT vẫn còntồn tại những hạn chế nhất định tại Cục thuế tỉnh Quảng Ninh:
- Sự phối, kết hợp của các ngành, các cơ quan quản lý chưa đồng bộ, chưatốt Mặc dù hiện này với cơ chế một cửa liên thông, DN được cấp đồng thời cảgiấy phép kinh doanh và mã số thuế tuy nhiên do việc cấp giấy phép kinh doanh
Trang 40của các cơ quan có thẩm quyền như Sở kế hoạch đầu tư, UBND tỉnh không gắnliền với việc kê khai thuế nên xảy ra tình trạng có doanh nghiệp thành lập đã lâu
mà thực tế không kinh doanh, nhưng cơ quan chức năng cũng không kiểm tra, xử
lý thu hồi giấy phép kinh doanh
- Số lượng các DN NQD ngày càng tăng nhanh, trong khi số lượng cán bộThuế còn mỏng khiến khối lượng công việc ngày càng gia tăng Hơn nữa, cơ sởvật chất, việc áp dụng tin học vào công tác quản lý NNT tuy đã được áp dụng từlâu nhưng vẫn còn chưa được hoàn thiện
Những hạn chế trên tồn tại là do những nguyên nhân chính sau:
- Sự thông thoáng trong việc thành lập DN, chính sự thông thoáng đó màtốc độ thành lập DN tăng lên đáng kể nhưng chất lượng DN còn nhiều hạn chế
Có những DN được thành lập nhưng giám đốc DN không hiểu về Luật doanhnghiệp nên khi hoạt động không có kế toán nên hàng năm không có báo cáo tàichính đã gây ra không ít khó khăn trong công tác quản lý thu của cán bộ thuế.Cũng chính sự thông thoáng của Luật doanh nghiệp mà không ít những DN kêkhai thiếu trung thực về nhân thân sau đăng ký dinh doanh đã biến mất, khônghoạt động đúng địa điểm
- Công tác quản lý NNT bằng hệ thống thông tin tại Cục thuế còn hạn chế,chưa thật sự được chú trọng Vấn đề này đỏi hỏi sự quan tâm và biện pháp khắcphục kịp thời của các cấp lãnh đạo, có như vậy công tác quản lý NNT nói chung
và các DN NQD nói riêng chặt chẽ, thường xuyên hơn
- Ngoài ra, một nguyên nhân quan trọng khác ảnh hưởng đến công tácquản lý NNT đó là ý thức tuân thủ pháp luật thuế của các DN Lợi dụng việc dễdàng trong việc thành lập, nhiều DN NQD thành lập sau một thời gian mà không
hề có hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc nghỉ kinh doanh mà không thông báo