bảo vệ quyền lợi trẻ em theo pháp luật hình sự việt namx
Trang 1MỤC LỤC
A LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục đề tài 2
B PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI TRẺ EM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 4
1.1 Khái niệm trẻ em 4
1.2 Nguyên tắc xử lý tội phạm là trẻ em theo pháp luật hình sự 8
1.3 Những quy định của pháp luật hình sự với vấn đề bảo vệ quyền lợi trẻ em 10
1.3.1 Trẻ em là người bị hại 10
1.3.2 Trẻ em là người pham tội 12
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI TRẺ EM 16
2.1 Tình hình tội phạm xâm hại trẻ em và tội phạm do trẻ em thực hiện tại địa bàn thành phố Quảng Ngãi tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến 2012 16
2.1.1 Tình hình trẻ em bị xâm hại 16
2.1.2 Tình hình trẻ em phạm tội 19
2.2 Thực tiễn xét xử 21
2.2.1 Kết quả đạt được 21
2.2.2 Vướng mắc và tồn tại trong hoạt động xét xử với vấn đề bảo vệ quyền lợi trẻ em 22
2.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền lợi trẻ em trong lĩnh vực hình sự 25
C PHẦN KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 2A LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề bảo vệ quyền lợi trẻ em luôn luôn được coi là một trong những chínhsách hàng đầu của quốc gia Từ ngày phê chuẩn công ước quốc tế về quyền trẻ emvào năm 1990 Chính phủ Việt Nam đã sửa đổi và ban hành một số luật và chínhsách để thực hiện ở Việt Nam như: luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; luậtlao động, luật bình đẳng giới,luật tố tụng hình sự, luật tố tụng dân sự và một số vănbản dưới luật về bảo vệ quyền lợi trẻ em như: chỉ thị 1408/CT_TTg ngày 01/9/2009của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chương trình ngăn chặn và giải quyếttình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao độngnặng nhọc, trong điều kiện độc hại nguy hiểm giai đoạn 2004_2010 Các vấn đề vềtrẻ em còn được đưa vào chương trình phát triển kinh tế xã hội 2006_2010.Mặc dù
đã đạt được một số thành tựu to lớn trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em,nhưng chúng ta vẫn còn những bất cập, hạn chế và thách thức nhất định liên quanđến việc thực hiện hoá đầy đủ và nâng cao không ngừng khả năng được thụ hưởngquyền con người của trẻ em.Xã hội ngày càng phát triển thì vấn đề này lại càngđược quan tâm hơn, song hiện nay tình trạng trẻ em phạm tội cũng như trẻ em bịxâm phạm càng ngày càng gia tăng và có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn, mức
độ trẻ hoá tội phạm tăng nhanh đột biến Mặt khác tình trạng trẻ em bị lạm dụngtình dục ngày càng phổ biến, hơn nữa vấn đề giáo dục trẻ em còn thiếu thống nhất,chưa đáp ứng được nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi trẻ em.Chính vì thế, bảo vệ quyềnlợi trẻ em là vấn đề bức xúc, cần thiết hiện nay.Thực tiễn khi nhìn lại việc bảo vệquyền lợi trẻ em tại địa bàn thành phố Quảng Ngãi tỉnh Quảng Ngãi chúng ta sẽcàng nhận thấy vấn đề này một cách khách quan hơn, bảo vệ quyền lợi trẻ em ở đâycòn bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập cần phải được khắc phục với những biện phápphù hợp điều kiện kinh tế xã hội ở Quảng Ngãi nhằm bảo vệ quyền lợi trẻ em đượctốt hơn.Xuất phát từ những lý do trên,nhằm đáp ứng được tính cấp thiết, thực tế đòihỏi hiện nay và mong muốn đóng góp một phần công sức bé nhỏ của mình vào việcđưa ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả vấn đề bảo vệ quyền lợi trẻ em nóichung và trẻ em ở tỉnh Quảng Ngãi nói riêng thì tôi đã mạnh dạn chọn đề tài cho
Trang 3niên luận của mình là :”bảo vệ quyền lợi trẻ em theo pháp luật hình sự Việt Nam”kính mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến cho bài viết này để trong thời
gian tới tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hơn nữa
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là bảo vệ quyền lợi trẻ em theo pháp luật hình
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề tài nhằm nắm được những lý luận chung về bảo vệ quyền lợitrẻ em, thực trạng bảo vệ quyền lợi trẻ em tại địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Nghiên cứu đề tài với mục đích khẳng định vai trò hết sức quan trọng của hệthống pháp luật nói chung cũng như pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng, từ đónhận thấy được những ưu điểm và hạn chế của việc bảo vệ quyền lợi trẻ em để đưa
ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng bảo vệ quyền lợi trẻ em đápứng nhu cầu hoàn thiện pháp luật góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh,
bộ luật hình sự 1999, bộ luật tố tụng hình sự 2003 và các văn bản pháp luật có liênquan.Trên cơ sở đó sử dụng các phương pháp phân tích đánh giá , tổng hợp, sosánh, giải thích , chứng minh các vấn đề được đưa ra
5 Bố cục đề tài
Ngoài mục lục, chuyên mục tài liệu tham khảo đề tài được chuyển tài trong 3phần sau:
Trang 4A Lời nói đầu
Trang 5B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI TRẺ EM
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
lý, về hệ thống hình phạt và các biện pháp khác
Theo công ước về quyền trẻ em:”trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa
là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em có quyđịnh tuổi thành niên sớm hơn”
Pháp luật Việt Nam chưa có các quy định thống nhất về khái niệm trẻ emtrong từng ngành luật cụ thể Theo luật bảo vệ ,chăm sóc và giáo dục trẻ em 2005của Việt Nam:” trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.Theo bộ luật dân sự 2005 thì trẻ em là những người dưới 15 tuổi Theo pháp luậtliên bang của Hoa kỳ thì “trẻ em là người dưới 18 tuổi”
Nhìn chung mỗi nước có qui định khác nhau về độ tuổi để được coi là trẻ em.Việc qui định độ tuổi ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển về thể chất, tâm sinh
lý của trẻ em ở mỗi quốc gia Do đó có những quốc gia qui định độ tuổi thành niênsớm hơn hoặc trể hơn 18 tuổi như được xác định trong công ước về quyền trẻ em.Tuy độ tuổi được coi là trẻ em ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung trẻ
em ở tất cả các quốc gia đều có các đặc điểm sau:
- Thể chất và trí tuệ chưa trưởng thành.
- Cần có sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội cả về mặt
pháp lý
Trang 6Ngoài ra trong các qui phạm pháp luật Việt Nam còn xuất hiện các khái niệm
“người thành niên”, “người chưa thành niên” Như vậy vấn đề đặt ra là phân biệtgiữa các khái niệm trên và khái niệm “trẻ em”
Theo pháp luật Việt Nam:
- Người thành niên: là người trên 18 tuổi
- Người chưa thành niên: là người dưới 18 tuổi
Như vậy khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm về trẻ em,người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ 16 tuổi đến 18 tuổiViệt Nam dưới 16 tuổi Theo bộ luật hình sự 1999 thì người từ đủ 16 tuổi trở lênphải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưngchưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cốhoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Ngoài ra một số ngành luật khác cũng quy định nhằm bảo vệ quyền lợi trẻ
em như sau:
Hiến Pháp năm 1992
Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, đánh dấu một mốc quan trọngtrong việc xác định một cách rõ ràng, toàn diện các quyền cơ bản của công dân,thừa nhận vấn đề quyền con người, trong đó có quyền trẻ em
Hiến pháp 1992 đã thể hiện có tính nguyên tắc sự cam kết của Nhà nước ViệtNam trong thực thi Công ước của liên hợp quốc về quyền trẻ em, là cơ sở quan trọng
để hình thành hệ thống pháp luật trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Cụ thểnhư: quyền được sống, tồn tại, được chăm sóc, nuôi dưỡng (Điều 40, 63); quyền đượcgiáo dục (Điều 35); trẻ em thiệt thòi, trẻ em tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựacũng được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện giúp đở (Điều 59, Điều 67)
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004
Được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực từ ngày01/01/2005 (thay Luật BVCS&GDTE năm 1991) Theo Luật, trẻ em là công dândưới 16 tuổi, mọi trẻ em không phân biệt đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục,
đó là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, các cơ quan nhà nước và công dân, cácquyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện, mọi hành vi xâm hại trẻ em đều
bị nghiêm trị Luật BVCS&GDTE đã quy định 10 nhóm hành vi bị nghiêm cấm liên
Trang 7quan đến bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em như: Cha mẹ bỏ rơi con; dụ dỗ lôikéo trẻ em đi lang thang; lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi; dụ dỗ, lừa dối, épbuộc trẻ em mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý; lôi kéotrẻ em đánh bạc; bán, cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá, chất kích thích khác
có hại cho sức khoẻ; dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt độngmại dâm; xâm hại tình dục trẻ em; Lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc trẻ em mua bán, sửdụng văn hoá phẩm độc hại; Lạm dụng lao động trẻ em Luật năm 2004 đã bổ sungđầy đủ hơn các quyền và bổn phận của trẻ em, theo đó, trẻ em là công dân nên trẻ
em có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật ViệtNam và Công ước Quốc tế về quyền trẻ em Luật đã quy định trẻ em có 10 quyền
cơ bản là: quyền được khai sinh và có quốc tịch; quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng;quyền được sống chung với cha mẹ; quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thânthể, nhân phẩm và danh dự; quyền được chăm sóc sức khoẻ; quyền được học tập;quyền vui chơi giải trí, hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch;quyền được phát triển năng khiếu; quyền có tài sản; quyền được tiếp cận thông tin,bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội
Bên cạnh những quyền nói trên, pháp luật cũng quy định trẻ em có bổn phận:yêu quý, kính trọng, hiếu thảo với ông bà cha mẹ, kính trọng thầy giáo, cô giáo, lễphép với người lớn, thương yêu em nhỏ, đoàn kết với bạn bè, giúp đỡ người giàyếu, người khuyết tật, tàn tật, người gặp hoàn cảnh khó khăn theo khả năng củamình; chăm chỉ học tập, giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, thực hiện trật tự côngcộng và an toàn giao thông, giữ gìn của công, tôn trọng tài sản của người khác, bảo
vệ môi trường; yêu lao động, giúp đỡ gia đình làm những việc vừa sức mình; sốngkhiêm tốn, trung thực và có đạo đức, tôn trọng pháp luật, tuân theo nội quy của nhàtrường; thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, tôn trọng giữ gìn bản sắcvăn hoá dân tộc; yêu quê hương đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng bảo vệ
tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đoàn kết quốc tế
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần xây dựng, củng cố gia đình ViệtNam XHCN, giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc;Luật còn là công cụ để xác định mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đặc
Trang 8biệt là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con như: cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôinấng, giáo dục con cái; cha mẹ không được hành hạ con cái, không được đối xử tàn
tệ với con nuôi, con riêng; nghiêm cấm việc vứt bỏ hoặc giết hại trẻ em mới đẻ vàngười gây ra việc ấy phải chịu trách nhiệm hình sự Cha mẹ có nghĩa vụ thươngyêu, nuôi dưỡng, giáo dục con, chăm lo việc học tập và sự phát triển lành mạnh củacon về thể chất, trí tuệ, đạo đức; cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con;cha mẹ phải làm gương tốt cho con về mọi mặt, phối hợp chặt chẽ với nhà trường
và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con; cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con
đã thành niên mà không có khả năng lao động để tự nuôi mình; các con có nghĩa vụ
và quyền ngang nhau trong gia đình; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôidưỡng cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo của cha mẹ
Bộ Luật Dân sự 2005
Quy định nhiều nội dung liên quan đến các quyền của trẻ em, trong đó có cácquyền về nhân thân, quyền về tài sản như: Trong trường hợp người từ đủ 15 tuổiđến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mìnhxác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đạidiện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Điều 20); Cá nhânkhi sinh ra có quyền được khai sinh (Điều 29); cá nhân có quyền có quốc tịch Việccông nhận, thay đổi, nhập quốc tịch, thôi quốc tịch Việt Nam được thực hiện theoquy định của pháp luật về quốc tịch (Điều 45);
Bộ Luật Lao động liên quan đến trẻ em
Bộ Luật Lao động năm 1994, qua các lần sửa đổi, bổ sung một số điều vào cácnăm 2002-2006-2007 quy định nhiều nội dung liên quan đến lao động trẻ em như:
Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp
đồng lao động Nơi có sử dụng người lao động chưa thành niên phải lập sổ theo dõiriêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm trasức khoẻ định kỳ và xuất trình khi thanh tra viên lao động yêu cầu Nghiêm cấmlạm dụng sức lao động của ngườichưa thành niên (Điều 119); cấm nhận trẻ em chưa
đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do Bộ LĐTB&XH quy định(Điều 120); cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặngnhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại (Điều 121)
Trang 91.2 Nguyên tắc xử lý tội phạm là trẻ em theo pháp luật hình sự
Về chính sách hình sự áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội đã xácđịnh: Người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạmtội Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạmrất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Người từ đủ 16 tuổitrở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm Việc xử lý người chưa thành niênphạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh
và trở thành công dân có ích cho xã hội
Trong điều tra, truy tố, xet xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tínhchất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ratội phạm( khoản 1 điều 69 BLHS)
Khi người chưa thành niên phạm tội , các cơ quan tư pháp phải xác định tínhchất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Có như vậy mới giúp
họ nhận thức ra được lỗi lầm và sửa chửa để trở thành công dân có ích cho xã hộitrong tương lai Tính bền vững của ý thức phạm tội trong những trường hợp ngườichưa thành niên phạm tội rất khác nhau Nó ảnh hưởng đến sự lưa chọn các biệnpháp xử lý áp dụng đối với họ Các cơ quan tư pháp còn cần làm rõ nguyên nhân vàđiều kiện gây ra tội phạm Những nguyên nhân và điều kiện phạm tội có thể xuấtphát từ môi trường xã hội hoặc từ chính bản thân người chưa thành niên phạm tội
Từ đó có các biện pháp cụ thể đấu tranh ngăn ngừa hiện tượng phạm tội ở ngườichưa thành niên
Người chưa thành niên có thể được miễn TNHS nếu người đó phạm tội ítnghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ
và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục
Người chưa thành niên được miễn TNHS khi thoả mãn bốn điều kiện sau:
- Tội phạm thực hiện là tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng
- Chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn
- Được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát giáo dục
Việc truy cứu TNHS người chưa thanh niên phạm tội và áp dụng hinh phạt đốivới họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất
Trang 10của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm ở đây là nhân thân và yêu cầu của việcphòng ngừa tội phạm Nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối vớingười chưa thành niên phạm tội thì toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp
là giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng
Nguyên tắc này cho thấy việc xử lý người chưa thành niên phạm tội thể hiệntính nhân đạo sâu sắc Không phải mọi trường hợp người chưa thành niên phạm tộiđều bị truy cứu TNHS Việc truy cứu TNHS chỉ đặt ra khi nó thực sự cần thiết vàxuất phát từ yêu cầu phòng ngừa tội phạm Kể cả khi người chưa thành niên phạmtội và bị truy cứu TNHS thì họ vẫn có khả năng không bị áp dụng hình phạt.Thayvào vị trí của hình phạt họ có thể được áp dụng các biên pháp tư pháp này đủ tácdụng cải tạo họ thành công dân có ích cho xã hội
Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niênphạm tội Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạmtội Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên ở độ tuổi từ đủ 14tuổi đến dưới 16 tuổi Khi xử phạt tù có thời hạn, toà án cho người chưa thành niênphạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối người đã thành niêntương ứng
Tử hình và tù chung thân là những hình phạt có tính nghiêm khắc cao, chỉ ápdụng trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Việc xử lý người chưathành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, cải tạo họ Do đó, không áp dụng cáchình phạt đặc biệt nghiêm khắc này đối với họ
Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế ápdụng các hình phạt tù Nếu bị xử phạt tù có thời hạn thì mức áp dụng phải thấp hơn
so với người thành niên phạm tội tương ứng
Thể hiện nội dung nhân đạo, điều 69 BLHS quy định: “không áp dụng các hìnhphạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội” Trong trường hợp người chưathành niên phạm tội tương đương với người đã thành niên (điều 74 BLHS)
Cuối cùng là án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ
16 tuổi không được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm
Trang 111.3 Những quy định của pháp luật hình sự với vấn đề bảo vệ quyền lợi trẻ em
1.3.1 Trẻ em là người bị hại
Luật hình sự quy định về vấn đề bảo vệ quyền lợi trẻ em thông qua hai khíacạnh là bảo vệ quyền lợi trẻ em khỏi sự xâm phạm của tội phạm và quy định chế tài
xử lý đối với trẻ em phạm tội
Phạm tội đối với trẻ em là tình tiết có tính chất nguy hiểm cho xã hội Tình tiết
đó không những được quy định là tình tiết tăng nặng TNHS tại điều 48 BLHS
1999, buộc các toà án xem xét khi quyết định hình phạt mà còn là dấu hiệu định tộidanh và dấu hiệu định khung hình phạt của nhiều tội danh được quy định trongBLHS Ví dụ như tình tiết hiếp dâm trẻ em là dấu hiệu định tội “hiếp dâm trẻ em”được quy định tại điều 112 bộ luật hình sự 1999,còn tình tiết phạm tội đối với trẻ
em là dấu hiệu tăng nặng của tội “đe doạ giết người” được quy định tại điều 103 bộluật hình sự 1999, tình tiết người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủmười ba tuổi đến dưới mười sáu tuổi là đấu hiệu định khung tăng nặng của tội giaocấu với trẻ em được quy định tại khoản 1 điều 115 bộ luật hình sự 1999 với tình tiếtnày thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm Và còn nhiều tội khác nữa cũng quyđịnh điều này
Tội giết người(điều 93 BLHS 1999) bổ sung tình tiết định khung tăng nặngTNHS”giết trẻ em” Tội giết con mới đẻ điều 94, nạn nhân là đứa trẻ mới đẻ theohướng dẫn tại NQ 04/86 trẻ mới đẻ là người sinh ra trong vòng 7 ngày.BLHS 1985quy định” tội đe doạ giết người” chỉ có khung cơ bản,không có khung tăng nặngTNHS, không có sự phân biệt đối tượng đe doạ là người lớn hay trẻ em và điều 108BLHS 1985 quy định”người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ người bị đe doạ
lo sợ rằng việc đe doạ sẽ được thực hiện,thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 1năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm Hiện tại để khắc phục sự bất hợp lý nàytại điều 103 BLHS 1999 quy định hai khung hình phạt.Nếu có tình tiết đe doạ giếtngười là trẻ em thì sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm
Điều 110 quy định tôị hành hạ người khác mà người đó là trẻ em thì bị tù từ 1năm đến 3 năm.Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em(điều 120 BLHS1999) được quy định tai chương 12 các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhânphẩm, danh dự của con người.Theo BLHS 1985 thi tội này được quy định tại
Trang 12chương 5 “các tội xâm phạm đến chế độ hôn nhân và gia đình và các tội đối vớingười chưa thành niên” Điều này thể hiện vấn đề bảo vệ quyền lợi trẻ em ngàycàng được nâng lên một tầm quan trọng hơn.
Như vậy BLHS 1999 ban hành đã thể chế hoá đường lối xử lý nhân đạo củađảng va nhà nước đối với người phạm tội đặc biệt là đối người chưa thành niênphạm tội, thể hiện rõ số lượng hình phạt tử hình trong các tội danh đã giảmxuống.Từ ngày 10/05/1997 trong BLHS 1985 có thêm tội mới là” tội hiếp dâm trẻem” được quy định tại điều 112 BLHS 1999 quy định tại điều 112 như sau: ngườinào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15năm.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thị bị phạt từ 12 năm:
a) Có tính chất loạn luân;
b) Làm nạn nhân có thai;
c) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỉ lệ thương tật từ 31% đến 60%; d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; e) Tái phạm nguy hiểm;
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù 20 năm, tù chungthân hoặc tử hình:
a) Có tổ chức;
b) Nhiều người hiếp một người;
c) Phạm tội nhiều lần;
d) Đối với nhiều người;
e) Gây tổn hại sức khoẻ của nạn nhân mà tỉ lệ thương tật từ 61% trở lên;
f) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
g) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;
Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ
em và phạm tội bị phat tù từ 12 năm đến 20 năm,tù chung thân hoặc tử hình
Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặclàm một công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.Từ đó cho ta thấy nếu người phạmtội thực hiện tội phạm đối với người chưa thành niên thi sẽ bị xử lý ở mức hình phatcao nhất Cũng theo quy định tại điều 114 BLHS 1999 thì đã thay cụm từ “ ngườichưa thành niên” thành cụm từ “trẻ em” nhằm nhấn mạnh đối tượng được bảo vệ là
Trang 13trẻ em ngày càng được đảng và nhà nước quan tâm hơn Ngoài ra vấn đề bảo vệquyền lợi trẻ em còn được BLHS 1999 quy định tại điều 252 là tội dụ dỗ,ép buộchoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp, điều 254 tội chứa mại dâm, điều
255 tội môi giới mại dâm Là những tội khi có tình tiết phạm tội đối với trẻ em thìđều là những tình tiết tăng nặng.Điều 228 BLHS 1999 quy định về tội vi phạm quyđịnh về lao động trẻ em.Những quy định nay nhằm bảo vệ quyền lợi trẻ em mộtcách tốt nhất trên mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội để trẻ em được phát triển mộtcách toàn diện nhất về thể chất và trí tuệ
Nhằm làm rõ hơn thái độ của nhà nước trong việc bảo vệ trẻ em trước sự xâmhại của tội phạm BLHS quy định tại chương 18”các tội phạm về ma tuý”,BLHS,nhà làm luật coi việc”sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc buôn bán ma tuý chotrẻ em như một tình tiết định khung tăng nặng của điều 194, điểm đ khoản 3điều,điểm c khoản 2 của điều 197,điểm c khoản 2 điều 198 và điều 200 So vớiBLHS 1985 thì BLHS 1999 đã có sữa đổi tình tiết định khung tăng nặng hình phạt”
sử dụng người chưa thành niên phạm tội” thành “sử dụng trẻ em vào việc phamtội”.Thể hiện thái độ bảo vệ đặc biệt đối với trẻ em.Điều này được thể hiện cụ thểhơn tại điểm đ khoản 2 điều 134,điều 151,điều 152
Các tình tiết tăng nặng TNHS có tình tiết phạm tội với trẻ em được quy địnhtại khoản 1 điểm h điều 48 BLHS 1999 Như vậy phạm tội đối với trẻ em là mộttình tiết tăng nặng TNHS được quy định cụ thể chặt chẽ ,thống nhất quan điểm bảo
vệ quyền lợi trẻ em về phương diên pháp lý
1.3.2 Trẻ em là người pham tội
Song song với vấn đề trẻ em bị tội phạm xâm hại thì hiện nay trẻ em là ngườithực hiện tội phạm ngày càng gia tăng và có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hộingày càng cao.Do đó BLHS 1999 đã quy định những chế tài để xử lý người chưathành niên phạm tội phù hợp với đặc điểm sinh lý của họ.Như chúng ta đã biết việc
xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo duc, giúp đỡ họ sữa chữasai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội
Vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em thành người lớn Chính vì vậy,tâm lý lứa tuổi “chuyển tiếp” này có tác động rất lớn đến hành vi của các em Vớimong muốn trở thành người lớn, trẻ vị thành niên thường có biểu hiện học làm theo
Trang 14cách cư xử của người lớn Chính vì vậy, những hành vi sai trái của người lớn hoặcnhững mặt trái (tiêu cực) của xã hội, phim ảnh, mạng internet đã tác động khôngnhỏ đến hành vi của trẻ vị thành niên và không ít trẻ đã sớm trở thành tội phạm.Theo số liệu thống kê, trong những năm trước đây, tội phạm lứa tuổi vị thànhniên ở nước ta chỉ tập trung vào nhóm tội “trộm cắp tài sản”, “gây rối trật tự côngcộng”, “cố ý gây thương tích” thỉnh thoảng mới xảy ra vụ án “giết người” Thếnhưng, từ năm 2000 đến nay, tội phạm ở lứa tuổi này có sự thay đổi rõ nét, bộc lộnhiều lo ngại cho xã hội Khi đề cập đến vấn đề này, nhiều thẩm phán cho rằng:
“Đó là nhóm tội phạm có nhiều thay đổi rất phức tạp, rất táo bạo và liều lĩnh” Đúngvậy, dù mới 17 tuổi nhưng Lê Văn Luyện (ngụ ở Bắc Giang) dám liều lĩnh đột nhậpvào tiệm vàng Ngọc Bích vào rạng sáng 24-8-2011, cắt hệ thống camera, cắtchuông báo động, sát hại ba người và cướp số vàng trị giá hơn 1,27 tỷ đồng Đây là
“tội ác dã man chưa từng có” - như lời bình luận của nhiều độc giả trên mạnginternet khi nói về hành vi của đối tượng 17 tuổi này Với tội ác đó, lẽ ra Luyện sẽ
bị xử phạt ở mức cao nhất là tử hình nhưng vì chính sách nhân đạo của pháp luậtnước ta, người chưa thành niên phạm tội chỉ xử phạt ở mức cao nhất là 18 năm tù và
vì thế ngày 11-1-2012 TAND tỉnh Bắc Giang đã xử phạt Luyện 18 năm tù về các tội
“giết người”, “cướp tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Táo bạo không kém, dù mới 15 tuổi, nhưng Hồ Thị Mỹ Dung và Ký Thị NgọcNhung (cùng ngụ ở TPHCM) đã dựng màn kịch để cướp tài sản của những “đại gia”ham vui Dung và Nhung lên kế hoạch: Dung mua thuốc ngủ và Nhung gọi điệnthoại cho “đại gia” tên Dũng hẹn gặp nhau ở nhà trọ Hiệp Thủy (Q.Tân Bình,TPHCM) để “quan hệ” với Nhung Lợi dụng sơ hở của anh Dũng, Nhung sẽ bỏthuốc ngủ vào ly nước cho anh Dũng uống Sau khi uống thuốc, anh Dũng ngủ say,Dung sẽ vào phòng cùng Nhung cướp tiền, điện thoại di động và chiếc xe SH củaanh Dũng Thực hiện “kịch bản” này, Nhung “dụ” được anh Dũng đến nhà trọ HiệpThủy Thế nhưng, khi đến nhà trọ, anh Dũng thấy Nhung còn nhỏ tuổi nên đã bỏ đi,
“kế hoạch” cướp không thành Ngay sau đó, Dung và Nhung rủ thêm đồng bọncùng bàn bạc, “dụ” anh Huỳnh Tử Tuấn đến nhà trọ để “quan hệ” với Dung, cònNhung và đồng bọn sẽ xông vào khống chế Tuấn để cướp tài sản Trước những lời
dụ dỗ ngon ngọt của Dung, anh Tuấn sập bẫy Biết mình bị “gài”, anh Tuấn chống
Trang 15trả tìm đường thoát khỏi phòng trọ, nhưng đã bị Dung và đồng bọn đâm thiệt mạng.Trả giá cho hành vi ấy, ngày 21-9-2011 TAND TPHCM đã xử phạt Hồ Thị MỹDung 12 năm tù về tội “giết người” và “cướp tài sản” khi bị cáo chỉ mới 15 tuổi.Đồng bọn của Dung cũng cùng lứa tuổi, bị tòa tuyên phạt từ 5 năm đến 15 năm tù
về các tội danh trên Điều đáng nói là, mặc dù chưa đến tuổi trưởng thành nhưngDung, Nhung và đồng bọn đã nghĩ ra những thủ đoạn phạm tội tinh quái, rất liềulĩnh và táo bạo
Có thể nói, tội phạm ở tuổi vị thành niên trong những năm gần đây rất đa dạng
và phức tạp Chưa đến 15 tuổi nhưng Phan Minh Trọng (ngụ ở Q6, TPHCM) dámcầm đầu nhóm bạn cùng lứa tuổi trèo trụ điện cắt dây điện chiếu sáng để bán phếliệu, hay như Nguyễn Văn Thạnh con của một “đại gia” ở Q.Gò Vấp dù cuộc sốngkhông thiếu thốn gì, nhưng Thạnh lại cầm đầu nhóm bạn con nhà giàu đi cướp giậttài sản Do nông nổi của tuổi mới lớn và do không hiểu biết pháp luật, nhiều trẻ vịthành niên đã sa vào con đường phạm tội như thế Thậm chí, các em thực hiện hành
vi phạm tội rất tinh vi và chuyên nghiệp Theo thống kê của ngành tòa án, số vụphạm tội ở lứa tuổi vị thành niên tuy ít hơn so với người đã trưởng thành nhưng ởnhóm tội nào cũng có Đó là thực trạng rất đáng báo động
Nếu như trước đây, nhiều trẻ em phạm tội khai nhận là do hoàn cảnh kinh tếgia đình khó khăn nên các em “lỡ bước” sa vào con đường trộm cắp, cướp giật hay một số trẻ vì nghe lời bạn xấu, bỏ nhà theo bạn đi lang thang bụi đời và khikhông còn tiền tiêu xài, các em nghĩ ra cách “mượn” xe của người thân đi cầm cố,hay rủ nhau đi trộm cắp, cướp giật tài sản, cướp tài sản để kiếm tiền phục vụ chonhững cuộc ăn chơi Thì nay, nhiều trẻ vị thành niên phạm tội xuất thân từ gia đìnhkhá giả, các em là những con cưng, được cha mẹ nuông chiều, cuộc sống no đủ Vìbạn bè rủ rê, vì chứng tỏ mình trước bạn bè, vì muốn làm như phim ảnh hay chỉđơn giản là “muốn đi cướp cho vui” - như một “cậu ấm” đã khai trước tòa, trẻ vịthành niên đã không ngần ngại thực hiện hành vi phạm tội
Nhiều bậc phụ huynh ra tòa với vai trò là “người giám hộ” cũng đổ lỗi chohoàn cảnh, họ cho rằng do khó khăn về kinh tế, do bận rộn với công việc mưu sinhnên cha mẹ không có thời gian quan tâm chăm sóc con cái, nên không biết con trẻnghĩ gì, cần gì và chỉ biết sự việc khi công an thông báo về gia đình Nhiều bậc