1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

180 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống các thiết chế thuộc kiến trúc thượng tầng, pháp luật có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống GTVHTT tốt đẹp của dân tộc, nhằm b

Trang 1

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

Mã số: 62 38 01 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS TRƯƠNG HỒ HẢI

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả luận án

Hồ Thanh Hớn

Trang 4

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 6 1.1 Các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước 6 1.2 Tình hình nghiên cứu của tác giả nước ngoài 16 1.3 Đánh giá chung các công trình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục

nghiên cứu của luận án 20

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG GIỮ GÌN,

2.1 Khái niệm về vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa

2.2 Nội dung vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống 43 2.3 Các yếu tố ảnh hưởng vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy giá trị

2.4 Nghiên cứu kinh nghiệm về việc phát huy vai trò của pháp luật trong giữ

gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống một số nước và giá trị tham khảo

Chương 3: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG GIỮ GÌN,

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM 71 3.1 Vai trò của pháp luật trong thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về giữ

gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống 71 3.2 Vai trò của pháp luật trong việc tạo lập cơ sở pháp lý cho các chủ thể giữ gìn,

phát huy giá trị văn hóa truyền thống 80 3.3 Vai trò của pháp luật trong bảo đảm hiệu quả đối với việc giữ gìn, phát huy giá trị

3.4 Vai trò của pháp luật trong giáo dục nâng cao ý thức cho các chủ thể giữ gìn, phát

huy giá trị văn hóa truyền thống 107 3.5 Vai trò của pháp luật trong việc chuyển tải nội dung, bảo đảm thực hiện các cam kết

quốc tế liên quan đến giá trị văn hóa truyền thống mà Việt Nam là thành viên 111 3.6 Nguyên nhân những kết quả đạt được và những hạn chế về vai trò của pháp luật

trong giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam 115

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT

TRONG GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG Ở

4.1 Các quan điểm bảo đảm vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy giá trị văn

hóa truyền thống ở Việt Nam 124 4.2 Giải pháp bảo đảm vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa

truyền thống ở Việt Nam hiện nay 133

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại, giàu bản sắc dân tộc là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Chính sách này đòi hỏi phải có bước đi thích hợp với sự tham gia của nhiều phương tiện và nhiều thiết chế khác nhau như kinh tế, chính trị, đạo đức, pháp luật, nhà nước, các tổ chức xã hội bằng những phương thức và biện pháp khác nhau Trong hệ thống các thiết chế thuộc kiến trúc thượng tầng, pháp luật có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống (GTVHTT) tốt đẹp của dân tộc, nhằm bảo đảm thực hiện thành công các mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Để phát huy được vai trò đó, hệ thống pháp luật phải đồng bộ, hoàn chỉnh Từ đó pháp luật mới tạo lập được cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam vừa tiên tiến phù hợp các tiêu chuẩn, chuẩn mực mới, hiện đại nhưng cũng vừa phát huy hết các giá trị văn hóa đặc sắc vốn có nhằm đáp ứng yêu cầu giữ vững giá trị cốt lõi của dân tộc đồng thời tiếp thu

có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại

Hệ thống pháp luật Việt Nam bước đầu đã thể chế hóa các quan điểm của Đảng

về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại, giàu bản sắc dân tộc; tạo được hành lang pháp lý cơ bản cho các hoạt động giữ gìn, phát huy GTVHTT góp phần giáo dục nâng cao ý thức cho con người cũng như góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa Tuy nhiên, vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT vẫn còn nhiều hạn chế Cụ thể, pháp luật chưa chưa kịp thời thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về giữ gìn và phát huy các GTVHTT; chưa bảo đảm hành lang pháp lý vững chắc cho các chủ thể trong các hoạt động giữ gìn, phát huy giá trị ấy Pháp luật chưa trở thành một công cụ bảo đảm hiệu quả đối với việc giữ gìn, phát huy những giá trị ấy dẫn đến những hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về văn hóa Bên cạnh đó, pháp luật cũng chưa làm tốt vai trò giáo dục nâng cao ý thức con người đối với việc giữ gìn, phát huy giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa, con người Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay Từ đó đã ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại, giàu bản sắc dân tộc và không phát huy được các GTVHTT trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội

Trang 6

Trên thực tế, ở một số địa phương hiện nay, có tình trạng lễ hội văn hóa truyền thống được tổ chức tràn lan, gây lãng phí về thời gian và kinh phí, mất trật từ an toàn

xã hội, gây bức xúc trong nhân dân, thậm chí, một số lễ hội bị thương mại hóa Việc lợi dụng các hoạt động văn hóa truyền thống nhằm trục lợi và đáp ứng các lợi ích cục bộ ở các địa phương ngày càng phổ biến Thực trạng này đòi hỏi cần tăng cường vai trò của nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm phát huy và bảo đảm tính hiệu quả vai trò của pháp luật trong việc giữ gìn, phát huy các GTVHTT Cần phải có lộ trình và bước đi thích hợp để phát huy vai trò của pháp luật trong việc điều tiết các quan hệ xã hội bảo đảm cho các hoạt động văn hóa ngày càng lành mạnh, phát huy tối đa các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc trong đời sống tinh thần của cộng đồng dân

cư Qua đó góp phần xây dựng xã hội văn hóa, văn minh, dân chủ và hiện đại

Trên bình diện quốc tế, việc gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN và hội nhập quốc tế ngày càng sâu hơn trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội đỏi hỏi pháp luật

về văn hóa trong điều kiện này phải tiên tiến, hiện đại bảo đảm sự tương thích với hệ thống pháp luật các quốc gia khác, phù hợp với luật pháp quốc tế và nội dung của các điều ước quốc tế có liên quan Ngoài ra, pháp luật cũng phải bảo đảm giữ vững các giá trị cốt lõi của văn hóa truyền thống đã làm nên cốt cách, bản sắc, tâm hồn người Việt trong suốt chiều dài lịch sử mà trong quá trình phát triển cần phải giữ vững Trong điều kiện đó hệ thống pháp luật phải có vai trò chuyển tải nội dung, bảo đảm củng cố, thực hiện các cam kết quốc tế về văn hóa mà Việt Nam tham gia

Từ thực trạng và yêu cầu trên đây, nhiệm vụ nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn vai trò của pháp luật về văn hóa nói chung và vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống nói riêng có tính

cấp thiết Chính vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam hiện nay” làm Luận án

tiến sĩ luật học, chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án

Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn vai trò pháp luật trong giữ gìn phát huy GTVHTT, Luận án đề xuất quan điểm và các giải pháp bảo đảm phát huy vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay

Trang 7

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án có các nhiệm vụ sau:

- Tổng quan các công trình khoa học đã được công bố liên quan đến vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT, từ đó chỉ ra những vấn đề đã được nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam Cụ thể, phân tích làm rõ khái niệm, đặc trưng, nội dung, các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam; đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm về vai trò của pháp luật đối với giá trị truyền thống một số quốc gia trên thế giới và rút ra giá trị tham khảo cho Việt Nam

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng vai trò của pháp luật để làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến thực trạng vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT

- Đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy các GTVHTT ở Việt Nam dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án

Là đề tài thuộc chuyên ngành lý luận về nhà nước và pháp luật, nên việc nghiên cứu không đi vào nghiên cứu vai trò của một ngành luật cụ thể, mà luận án chỉ tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi:

- Về nội dung: Thông qua nghiên cứu, phân tích hệ thống pháp luật thực định có

liên quan nhằm đánh giá vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam, bao gồm cả các quy định pháp luật cụ thể và kết quả thực thi các quy định đó đối thực tiễn một số nội dung trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam

- Về không gian: Để có dữ liệu phong phú và toàn diện, đề tài xác định phạm vi

nghiên cứu trên toàn quốc

- Về thời gian: Luận án nghiên cứu thời gian từ năm 1986 đến nay

Trang 8

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Về cơ sở lý luận

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nội dung đề tài Hệ thống quan điểm của Học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật nói chung và lý luận về vai trò của pháp luật nói riêng, các quan điểm chỉ đạo của Đảng ta hiện nay về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, về hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như các quan điểm về xây dựng và thực hiện pháp luật trong thời kỳ mới

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, hệ thống; quy nạp, diễn dịch, cụ thể:

Ở Chương 1: Sử dụng phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, tổng hợp

các tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố để khảo cứu các kết quả liên quan đến đề tài; từ đó chỉ ra những vấn đề tiếp tục nghiên cứu của luận án

Ở Chương 2: Sử dụng phương pháp pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp quy

nạp, diễn dịch để nghiên cứu, phân tích, luận giải các khái niệm, phạm trù có tính lý luận về vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy các GTVHTT

Ở Chương 3: Sử dụng phương pháp khảo sát văn bản, thống kê, đối chiếu, so

sánh, luận án phân tích đánh giá thực trạng với những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng về vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay

Ở Chương 4: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp - diễn dịch để

luận giải và đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay

5 Đóng góp mới trong của luận án

Luận án là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện cả phương diện

lý luận lẫn thực tiễn về vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam nên có những đóng góp mới như sau:

- Luận giải, đưa ra được khái niệm và xác định được nội dung vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam; đồng thời xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò đó của pháp luật

- Luận án chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam

Trang 9

- Luận án đề xuất được các quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay

- Luận án đã luận chứng được sự tác động, ảnh hưởng của những khuôn khổ và quy tắc pháp lý trong thực hiện các mục tiêu về giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa khoa học

+ Về mặt lý luận: Kết quả của luận án làm sáng tỏ thêm vấn đề lý luận về vai trò

của pháp luật nói chung, vai trò của pháp luật về giữ gìn, phát huy GTVHTT nói riêng

và làm phong phú thêm kho tàng lý luận chung về nhà nước và pháp luật

+ Về mặt thực tiễn:

- Kết quả đề tài góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho các cơ quan, tổ chức

và cá nhân về việc giữ gìn, phát huy GTVHTT trong quá trình thực hiện các mục tiêu

về kinh tế xã hội

- Kết quả của đề tài là tài liệu cung cấp luận cứ khoa học giúp các cơ quan và tổ chức những cơ sở để hoạch định chủ trương, chính sách, pháp luật hợp lý nhằm xây dựng nền văn hóa

- Đề tài có giá trị tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy ở các đơn vị đào tạo chuyên ngành liên quan và có giá trị tham khảo cho nhưng ai quan tâm đến lĩnh vực này

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung

luận án được kết cấu làm 4 chương, 15 tiết

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

Nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố cho thấy đến nay đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến những nội dung liên quan đến đề tài luận án Những công trình đó được các tác giả trong nước và ngoài nước nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau và được đề cập đến những vấn đề sau:

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ TRONG NƯỚC 1.1.1 Nhóm công trình liên quan đến văn hóa truyền thống và giá trị văn hóa truyền thống

- Công trình Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay của Phan

Huy Lê, Vũ Minh Giang [111] Ở công trình này, nhiều vấn đề được các tác giả tập trung nghiên cứu như truyền thống yêu nước, truyền thống dân chủ của Việt Nam, con người Việt Nam ở thế kỷ XIX qua con mắt người nước ngoài; biểu hiện của giá trị truyền thống Việt Nam qua ca dao, tục ngữ, qua tư liệu hương ước và sự biến đổi cấu trúc cộng đồng làng quê Việt, trong đó đáng chú ý có bài nghiên cứu về con người Việt Nam hiện tại trong mối liên hệ với các giá trị và phản giá trị của truyền thống Trên cơ

sở số liệu do điều tra xã hội học cung cấp các tác giả đã đưa ra những nhận định của mình về những vấn đề có liên quan đến con người Việt Nam hiện tại với các giá trị truyền thống

- Sách về giá trị văn hoá tinh thần Việt Nam của tập thể tác giả [149] Trong

công trình này các tác giả khẳng định những tính cách dân tộc, những giá trị tinh thần như lòng yêu nước, thương người là truyền thống vô cùng quý báu của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam Qua đó, đặt vấn đề phải kế thừa và phát huy những giá trị tinh thần này trong việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam

- Trong cuốn Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam của Trần Văn

Giàu [70], tác giả đã đưa ra những kiến giải sâu sắc về các giá trị truyền thống đặc thù của dân tộc Việt Nam và đã khái quát cơ bản về các khái niệm giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, ảnh hưởng của lịch sử đối với việc phát triển các giá trị truyền thống Tác giả cũng đã tập trung phân tích các đức tính tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

Trang 11

bao gồm: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa; các phạm trù được trình bày một cách có hệ thống và khoa học với ý nghĩa giống như một

“bảng giá trị tinh thần” của người Việt Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh trong bảng giá trị tinh thần, yêu nước là giá trị đầu tiên và quan trọng nhất, là thước đo tiêu chuẩn cho mọi thước đo trong cuộc sống của con người

- Sách Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa,

hiện đại hóa của Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức và Hồ Sĩ Quý [30] Trong

công trình này các tác giả đã đề cập mấy vấn đề về giá trị, giá trị truyền thống, giá trị văn hóa truyền thống và sự chuyển biến của chúng sang hiện đại Cuốn sách cũng đã đề cập đến vấn đề khai thác, giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống trong quá trình phát triển đất nước hiện nay

- Sách Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa của

Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên [31] Cuốn sách đề cập đến vai trò của giá trị truyền thống trong sự phát triển văn hóa Việt Nam trong quá khứ, cũng như trong sự phát triển nền văn hóa mới Việt Nam Qua công trình này, các tác giả muốn đề cập đến thách thức của toàn cầu hóa đối với việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Trên cơ sở đánh giá thực trạng các giá trị truyền thống Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa, tác giả đưa ra các giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống Việt Nam

- Sách Bản sắc văn hóa Việt Nam của Phan Ngọc [134] Cuốn sách đã cung cấp

những khái niệm cơ bản của văn hóa học với những cách tiếp cận riêng của tác giả trong nghiên cứu văn hóa Qua việc khảo sát một số vấn đề cụ thể trong văn hóa Việt Nam, tác giả đề xuất một số giải pháp để bảo vệ văn hóa Việt Nam trong quá trình giao lưu hội nhập cũng như cách phát huy văn hóa trong cuộc tiếp xúc văn hóa hiện nay

- Sách Đại cương về văn hóa Việt Nam của Phạm Việt Thái, Đào Ngọc Tuấn

[152] Cuốn sách này các tác giả tập trung tiến hành hệ thống hóa một số khái niệm và phương pháp cơ bản của văn hóa học như làm rõ việc định vị và kết cấu văn hóa Việt Nam, các yếu tố tinh thần của văn hóa Các tác giả cũng đã xác đinh được thực trạng văn hóa Việt Nam trong mối quan hệ tương tác với văn hóa bên ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa

- Tác giả Ngô Đức Thịnh có nhiều công trình về văn hóa và giá trị văn hóa

truyền thống Việt Nam, trong số đó tiêu biểu có quyển sách Những giá trị văn hóa

truyền thống Việt Nam [171] Ở công trình này, tác giả xây dựng lý thuyết nghiên cứu

Trang 12

giá trị và hệ giá trị tổng quát văn hóa truyền thống Việt Nam và nghiên cứu các giá trị văn hóa thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống dân tộc như trong thích ứng, khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên; trong đời sống vật chất và tinh thần của con người; trong giao lưu văn hóa; trong đấu tranh chống ngoại xâm Còn

quyển Giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống và biến đổi [172], tác giả đã thống kê,

phân tích những giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc cũng như của mỗi vùng Qua đó khẳng định rằng, khi bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập và toàn cầu hóa, hệ GTVHTT cũng có nhiều biến đổi để phù hợp với tình hình mới, nhưng dù ở bất cứ giai đoạn nào của lịch thì các GTVHTT của dân tộc vẫn giữ nguyên vị trí đứng đầu trong quan niệm của người dân, đó là tinh hoa của dân tộc

- Tác giả Nguyễn Văn Dân có quyển sách Văn hóa và phát triển trong bối cảnh

toàn cầu hóa của [37] Ở công trình này tác giả tập trung làm rõ một số vấn đề như

khái niệm về văn hóa; bản sắc văn hóa và bản sắc dân tộc; toàn cầu hóa văn hóa và đa dạng văn hóa; toàn cầu hóa văn hóa và văn hóa toàn cầu; toàn cầu hóa và xung đột văn hóa; vai trò của văn hóa trong đổi với phát triển bền vững, trong bối cảnh toàn cầu hóa

và một số vấn đề cơ sở văn hóa của phát triển bền vững

1.1.2 Nhóm công trình liên quan đến giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống

- Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam- mấy vấn đề lý luận và thực tiễn của Thành Duy [44] Ở công trình này tác giả khẳng định mối quan hệ

giữa bản sắc dân tộc với hiện đại hóa văn hóa Việt Nam là mối quan hệ biện chứng, phát triển, nghĩa là hiện đại hóa chỉ có thể thành công nếu bản sắc dân tộc được coi trọng như một động lực Đồng thời khẳng định bản sắc dân tộc của văn hóa cũng chỉ có thể được phát huy trong một đất nước được hiện đại hóa, do đó phát triển kinh tế và văn hóa phải đồng bộ với nhau, chú trọng phát triển văn hóa làm nền tảng tinh thần của xã hội

- Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường

ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Duy Bắc [11] Công trình này đã xây dựng được hệ

thống lý luận cơ bản về văn hóa, giá trị văn hóa và biến đổi giá trị văn hóa Công trình cũng đã chỉ ra thực trạng biến đổi các giá trị văn hóa, phát triển văn hóa ở nước ta trong điều kiện hiện nay

- Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập của Ngô Đức Thịnh [169] Cuốn sách đề cập đến hệ giá trị tổng

Trang 13

quát truyền thống Việt Nam, ngoài nghiên cứu hệ giá trị tổng quát, cuốn sách còn phân tích các giá trị văn hóa thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội của dân tộc Tác giả đã lựa chọn ra năm giá trị hàng đầu và tiêu biểu của dân tộc Việt Nam trong tổng số 19 giá trị văn hóa đã đưa ra để khảo sát, đó là: Chủ nghĩa yêu nước; tính cộng đồng (làng xóm, vùng miền, dân tộc); cần cù, chịu khó; hiếu học, khát vọng học; gắn bó huyết thống và làng bản Bên cạnh đó, tác giả còn nhìn nhận vấn đề hệ giá trị văn hóa một cách hệ thống và đặc biệt là đặt nó trong bối cảnh văn hóa Việt Nam đã và đang hội nhập với văn hóa khu vực và toàn nhân loại Qua việc đánh giá thực trạng biến đổi hệ giá trị văn hóa truyền thống hiện nay, tác giả đặt vấn đề bảo tồn, làm giàu

và phát huy GTVHTT trong đổi mới và hội nhập

- Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay của

Phạm Thanh Hà [74] Theo tác giả, giữ gìn bản sắc dân tộc không có nghĩa là giữ lại tất cả những gì của quá khứ, mà phải giữ gìn một cách hợp lý, chúng ta phải chủ động hội nhập trên cơ sở lựa chọn cái tốt đẹp của dân tộc mình và dân tộc khác, đồng thời phải mạnh dạn vứt bỏ cái lạc hậu, cái không phù hợp Do đó, đối với việc định hướng

và giải pháp nhằm giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, tác giả nhấn mạnh muốn giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam thì việc giữ gìn phải được thực hiện thường xuyên, đồng bộ và cần có sự quan tâm của mọi cấp, ngành, địa phương

- Các giá trị văn hóa Việt Nam- Từ truyền thống đến hiện đại của Đỗ Huy [92]

Cuốn sách nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về các chuẩn mực, các giá trị văn hóa và lịch sử văn hóa Việt Nam trên góc nhìn giá trị học Từ đó tác giả đặt vấn đề

kế thừa các giá trị văn hóa và định hướng xây dựng những giá trị của nền văn hóa mới cũng như hướng phát triển các giá trị văn hóa Việt Nam

- Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của Trần Ngọc

Thêm [162] Sách là công trình tập hợp các bài viết tập trung làm rõ giá trị học và hệ giá trị trong các nền văn hóa trong đó bàn về cơ sở lý luận cùng kinh nghiệm nghiên

cứu và xây dựng hệ giá trị ở nhiều quốc gia (Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đức, )

xác định hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và hệ giá trị Việt Nam trên các bình diện, các vùng miền

- Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai

của Trần Ngọc Thêm [163] Cuốn sách được tác giả tập trung vào các khái niệm học thuật, các phương pháp, công cụ lý thuyết về các giá trị văn hóa chung Cuốn sách cũng

Trang 14

chỉ rõ phẩm chất tốt đẹp của người Việt Nam như: tính mực thước, lạc quan, vui vẻ, yêu đời, lòng biết ơn, trọng thể diện, trọng nữ Đồng thời cuốn sách cũng bàn về

"Những biến động của hệ giá trị Việt Nam truyền thống trong giai đoạn hiện đại", theo

đó trước những thay đổi nhanh chóng, mạnh mẽ của không gian, thời gian, bối cảnh xã hội, tốc độ thay đổi của nền kinh tế đã khiến cho nhiều tính cách "xấu xí" của người Việt bộc lộ rõ rệt

Ngoài ra, sách cũng nói về "Con đường đi đến hệ giá trị Việt Nam mới", đề cao vai trò của văn hóa trong mục tiêu phát triển bền vững đất nước Theo đó, văn hóa dân tộc được tác giả khẳng định chính là được hình thành nên từ văn hóa của mỗi cá nhân, sau đó nới rộng ra gia đình, cộng đồng, xã hội; các yếu tố như chính trị, kinh tế, giáo dục đều giữ vai trò trong việc nhào nặn, định hình nền văn hóa

- Quản lý nhà nước và vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di

sản văn hóa phi vật thể của tác giả Nguyễn Thị Hiền [79] Công trình này tác giả khẳng

định để bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, việc nâng cao vai trò chủ động, tích cực của cộng đồng cùng với vai trò định hướng, đề ra các chính sách của nhà nước là hướng đi đúng, cần triển khai tốt trong thực tế Tuy nhiên, định hướng này chưa được thực hiện tốt trong thực tiễn Các địa phương trong chỉ đạo, quản lý về

di sản văn hóa chưa thống nhất và còn chồng chéo Qua đánh giá thực trạng quản lý nhà nước và vai trò của cộng đồng trong bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể thông qua một vài trường hợp nghiên cứu di sản văn hóa tiêu biểu, tác giả đề xuất một số phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và vai trò của cộng đồng trong bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam

- Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong việc xây

dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay của Võ Văn Thắng [158] Công trình này tác giả đã

làm rõ vai trò và phân tích, đánh giá thực trạng của việc kế thừa, phát huy các GTVHTT của dân tộc trong xây dựng lối sống ở nước ta thời gian qua, đồng thời đề xuất một số phương hướng và giải pháp kế thừa, phát huy tốt hơn các GTVHTT để xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay

- Toàn cầu hóa và vấn đề kế thừa một số giá trị truyền thống của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay của Mai Thị Quý [145] Luận án được tác giả tập trung

làm rõ các vấn đề về giá trị truyền thống, đánh giá thực trạng các giá trị truyền thống và khẳng định sự cần thiết phải kế thừa các giá trị truyền thống dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

Trang 15

- Tác giả Huỳnh Thanh Quang với công trình luận án tiến sĩ triết học Phát huy giá trị văn hóa khơmer vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay [140] đã tập trung phân tích làm sáng tỏ các

giá trị văn hóa khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long và việc phát huy các giá trị đó trong việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc Tác giả đã làm sáng tỏ những vấn đề đặt

ra hiện nay về việc phát huy các giá trị văn hóa khơmer ở vùng này, đồng thời đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm phát huy các giá trị văn hóa khơmer trong việc phát huy khối đại đoàn kết ở vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay

- Kế thừa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Gia- Rai ở tỉnh Gia

Lai trong môi trường văn hóa đương đại của tác giả Lê Văn Liêm [113] Công trình

này tác giả đã làm rõ tầm quan trọng của vai trò kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong xây dựng môi trường văn hóa của dân tộc Gia- Rai ở tỉnh Gia Lai trong điều kiện mới Qua đó xác định nội dung, phương hướng giải pháp cơ bản bảo đảm kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống nhằm xây dựng đời sống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Gia- Rai trong môi trường văn hóa đương đại

- Giá trị đạo đức truyền thống với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt

Nam hiện nay của tác giả Ngô Thị Thu Ngà [130] Công trình tác giả đã đánh giá vai

trò của các giá trị đạo đức truyền thống và thực trạng phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm phát huy tốt các giá trị đạo đức truyền thống trong giai đoạn hiện nay

- Kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng nhân cách con người

Việt Nam hiện nay của tác giả Cao Thu Hằng [76] Công trình này tác giả khẳng định

các giá trị đạo đức truyền thống có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hiện nay Từ việc phân tích và luận giải về giá trị đạo đức truyền thống cũng như nhân cách và tính tất yếu của việc kế thừa các giá trị của đạo đức truyền thống, tác giả đưa ra các giải pháp trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay sao cho hiệu quả hơn

- Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa

các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay của Hoàng Thị Hương [98]

Công trình này tác giả tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta Qua việc đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giữ gìn và phát

Trang 16

huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, công trình đã đưa ra một

số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc

- Di sản văn hóa người Việt ở thành phố Hồ Chí Minh và vấn đề bảo tồn, phát

huy trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Hồ Văn Tường [190] Công trình

này tác giả trình bày khái quát về đất và người thành phố Hồ Chí Minh; đặc điểm di sản văn hóa vật thể của người Việt tại thành phố Hồ Chí Minh qua các công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu Qua đó, tác giả đặt ra vấn đề bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa của người Việt ở thành phố Hồ Chí Minh qua các công trình nghệ thuật tiêu biểu trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

- Phát triển bền vững với việc giữ gìn giá trị truyền thống các dân tộc thiểu số

bản địa tỉnh Đăk Nông trong giai đoạn hiện nay của Bùi Thi Hòa [86] Tác giả luận án

đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và đánh giá trực tiễn của phát triển bền vững và mối quan hệ giữa phát triển bền vững với việc giữ gìn giá trị truyền thống các dân tộc thiểu số bản địa ở Đắk Nông Qua đó, công trình luận chứng các phương hướng, giải pháp giữ gìn các giá trị truyền thống các dân tộc thiểu số ở ĐăkNông đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững hiện nay trên địa bàn tỉnh

- Công trình Hoạt động giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên hiện

nay của tác giả Lê Cao Thắng [159] đã nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về giá

trị, GTVHTT của dân tộc và đánh giá thực trạng về giáo dục các GTVHTT cho sinh viên trên địa bàn Hà Nội Từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục GTVHTT cho thanh niên nhằm xây dựng đội ngũ thanh niên phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống Qua đó góp phần vào việc thực hiện chiến lược con người, phát triển giáo dục- đào tạo, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại, giàu bản sắc dân tộc

1.1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến vai trò của pháp luật và vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống

1.1.3.1 Nhóm các công trình có liên quan đến vai trò của pháp luật

Tác giả Đào Trí Úc ở công trình Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật

[193] đã làm rõ tại sao phải hình thành lối sống theo pháp luật Qua đó, công trình khẳng định tầm quan trọng của pháp luật trong đời sống xã hội Công trình đã gợi

mở những vấn đề về tăng cường vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội và đề

Trang 17

xuất các giải pháp xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật cho các tầng lớp nhân dân trong cộng đồng dân cư

- Đổi mới, hoàn thiện pháp luật trong phòng chống văn hóa độc hại và tệ nạn

xã hội ở nước ta hiện nay của Đỗ Văn Bích [12] Công trình này tác giả làm rõ các

quan niệm về mối liên hệ giữa văn hóa độc hại và tệ nạn xã hội, đồng thời khẳng định

sự cần thiết dùng pháp luật để phòng chống văn hóa độc hại để góp phần giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam Từ đó công trình xác định vai trò, nội dung điều chỉnh bằng pháp luật cũng như đề xuất phương hướng, giải pháp đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong phòng, chống văn hóa độc hại và tệ nạn xã hội

- Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật về trật tự an toàn xã hội trong

hoạt động của lực lượng cảnh sát nhân dân ở nước ta hiện nay của tác giả Lê Thế

Tiệm [178] Ở công trình này tác giả đã tập trung làm rõ những phạm trù cơ bản của quản lý nhà nước bằng pháp luật về trật tự an toàn xã hội, về vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội nói chung và trong hoạt động của lực lượng cảnh sát nhân dân Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về trật tự

an toàn xã hội, tác giả đề xuất những phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật về trật tự an toàn xã hội trong hoạt động của lực lượng cảnh sát nhân dân

- Tăng cường đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội bằng pháp luật ở Việt Nam

hiện nay của Phan Đình Khánh [106] Luận án này được tác giả tập trung nghiên cứu

cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội bằng pháp luật trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam Tác giả tập trung làm rõ vai trò và phương tiện của pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội Từ đó khẳng định pháp luật có vai trò quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội Trên

cơ sở đó luận án đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội bằng pháp luật ở Việt Nam

- Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động bảo hiểm xã

hội ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Kim Thái [156] Qua công trình này tác giả

khẳng định vai trò quan trọng của pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước, do đó cần phải tăng cường hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động bảo hiểm xã hội ở Việt Nam Trên cơ sở đánh giá thực trạng về quản lý nhà nước đối với

Trang 18

bảo hiểm xã hội, luận án đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với bảo hiểm xã hội nhằm phát huy vai trò của pháp luật trong quản

lý nhà nước trong đó có quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội

1.1.3.2 Nhóm các công trình có liên quan đến vai trò của pháp luật trong các lĩnh vực cụ thể

- Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội của tác giả Nguyễn Minh Đoan

[62] Công trình này tác giả khẳng định pháp luật là công cụ điều chỉnh các mối quan

hệ xã hội và đời sống cộng đồng, là sản phẩm của sự phát triển xã hội vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan Từ khẳng định đó tác giả tập trung phân tích mối liên hệ, vai trò, những tác động qua lại giữa pháp luật với nhà nước, với kinh tế, chính trị, với đường lối, chính sách của Đảng, với dân chủ, đạo đức, tập tục, tôn giáo, với điều lệ, văn kiện của tổ chức xã hội, với hương ước và với dư luận xã hội Qua đó có thể thấy rằng pháp luật không chỉ là công cụ quản lý xã hội cần thiết, mà còn rất quan trọng và hiệu quả Tuy vậy, qua công trình này tác giả cũng khẳng định pháp luật không phải là chìa khóa vạn năng, nó có mối liên hệ mật thiết với các công cụ khác, các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, đạo đức, tập quán, tôn giáo… và chỉ đạt được hiệu quả cao nhất khi có sự phối hợp nhịp nhàng, hỗ trợ giữa pháp luật với các công cụ đó

- Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách của tác giả

Nguyễn Đình Đặng Lục [118] Tác giả đã nêu lên vai trò của nhà trường, xã hội và gia đình trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của người chưa thành niên Qua đó khẳng định đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên có liên quan đến

ý thức pháp luật để từ đó rút ra những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác giáo dục pháp luật đối với thế hệ công dân tương lai của đất nước Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho những người chưa thành niên với mục đích giúp người chưa thành niên có nhận thức tốt, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, bạn bè, cộng đồng và xã hội; có được

kỹ năng sống, cách ứng xử có văn hóa để thành công trong cuộc sống và đóng góp cho sự phát triển của xã hội

- Vai trò của pháp luật trong cuộc đấu tranh chống lợi dụng nhân quyền bảo vệ

an ninh quốc gia ở nước ta hiện nay của Nguyễn Quang Thiện [166] Luận án đã được

tác giả xây dựng cơ sở lý luận nhằm phát huy vai trò của pháp luật trong cuộc đấu tranh chống lợi dụng nhân quyền, bảo vệ an ninh quốc gia, chống diễn biến hòa bình của chủ

Trang 19

nghĩa đế quốc Trên cơ sở đó, tác giả luận chứng đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật trong đấu tranh lợi dụng nhân quyền nhằm bạo vệ an ninh quốc gia ở nước ta

- Tác giả Đỗ Ngọc Thịnh trong luận án Vai trò của pháp luật trong quá trình

chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường

[168] đã nghiên cứu một cách có hệ thống và tổng quát vai trò của pháp luật trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế nước ta Qua đó khẳng định vai trò của pháp luật đối với sự phát triển kinh tế, đồng thời làm sáng tỏ nguyên nhân pháp luật mất vai trò hoặc trở nên hình thức trong kinh tế kế hoạch hóa tập trung- bao cấp trước đây ở Việt Nam Trên cơ sở luận chứng về cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò cụ thể của pháp luật trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế thị trường, tác giả đề xuất những kiến nghị về các phương hướng hoàn thiện pháp luật trong việc tăng cường vai trò của pháp luật trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Tác giả Vũ Anh Tuấn trong luận án tiến sĩ luật học Vai trò của pháp luật trong

việc bảo đảm công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay [189] đã xây dựng cơ sở lý luận

và điều kiện để khẳng định vai trò quan trọng của pháp luật trong việc đảm bảo công bằng xã hội trong việc tiếp cận và hưởng thụ những thành quả của quá trình phát triển,

đó là mục tiêu mà trong quá trình quản lý nhà nước luôn hướng tới Qua việc đánh giá thực trạng pháp luật về vấn đề bảo đảm công bằng xã hội ở Việt Nam, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của pháp luật trong việc bản đảm công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay

- Luận án tiến sĩ luật học Vai trò của pháp luật đối với sự phát triển bền vững ở

nước ta trong giai đoạn hiện nay của tác giả Võ Hãi Long [115] đã xây dựng những

luận cứ khoa học và thực tiễn, tìm kiếm giải pháp hữu ích cho việc phát huy vai trò của pháp luật đối với sự phát triển bền vững ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

- Vai trò của pháp luật trong việc xây dựng đạo đức cho cán bộ lãnh đạo chính

trị ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Thu Hường [100] được tác giả nghiên cứu

dưới góc độ triết học những vấn đề lý luận chung về vai trò của pháp luật trong việc xây dựng đạo đức cho người cán bộ lãnh đạo chính trị Qua việc đánh giá thực trạng đạo đức cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay, luận án đã luận chứng các quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tốt vai trò của pháp luật trong việc xây dựng đạo đức cho người cán bộ lãnh đạo chính trị ở Việt Nam hiện nay

Trang 20

- Các bài viết liên quan đến vai trò của pháp luật như: Vai trò của pháp luật

trong việc tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ, công chức ở nước ta của tác giả Nguyễn

Quốc Hiệp, tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 02 năm 2007; Vai trò của pháp luật đối

với việc hình thành và phát triển ý thức đạo đức ở nước ta hiện nay của tác giả Lê Thị

Tuyết Ba, tạp chí triết học số 10 năm 2006; Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của pháp

luật trong việc bảo vệ con người của tác giả Tống Đức Thảo, tạp chí Cộng sản, số 02

năm 2005; Vai trò của pháp luật quản lí chất thải nguy hiểm ở Việt Nam của tác giả Vũ Thị Duyên Thuỷ, tạp chí luật học, số 03 năm 2009; Bàn về khái niệm, vị trí, vai trò của

pháp luật về đặc xá của tác giả Nguyễn Ngọc Anh, tạp chí tòa án nhân dân, số 13 năm

2007; Mấy ý kiến về hoạt động khuyến mại và Vai trò của pháp luật ở Việt Nam hiện

nay của tác giả Trần Dũng Hải, tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 06 năm 2008; Vai trò của pháp luật với vấn đề thực hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện nay của tác giả

Lê Xuân Huy, tạp chí Lịch sử Đảng, số 11 năm 2007; Vai trò của pháp luật về đạo đức

Việt Nam của tác giả Lê Đinh Mùi, Niên giám khoa học 2011-2014 - Học viện Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh (tập 5)

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ NƯỚC NGOÀI

- Quyển sách Anthropological Perspectives on Intangible Cultural Heritage

[Cách tiếp cận nhân học tới di sản văn hóa phi vật thể] của tác giả Arizpe, Lourdes

[205] Cuốn sách như là một cẩm nang liên quan đến khái niệm, quan điểm, nội dung, tinh thần của Công ước 2003 của UNESCO về Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể Cuốn sách cũng phân tích vai trò của nhà nước và cộng đồng xã hội trong việc nhận diện di sản văn hóa phi vật thể và đề ra chính sách cùng bảo vệ, giữ gìn và phát triển giá trị di sản

- Cuốn sách Indigenous Heritage and Intellectual Property: Genetic Resourcer,

Traditional Knowledge and Folklore [Di sản văn hóa bản địa và quyền sở hữu trí tuệ: Nguồn lực phát sinh, trí thức truyền thống và văn hóa dân gian] [210], do Lewinskin

Von Silke làm chủ biên đã phân tích sâu về quyền của những tộc người bản địa, các nguồn lực địa phương trong sáng tạo, duy trì các loại hình văn hóa truyền thống, trong

đó nhấn mạnh quyền của các dân tộc bản địa về di sản văn hóa còn được pháp luật của các quốc gia bảo vệ

- Blake, Janet có các công trình tiêu biểu như Commentary on the 2003

UNESCO Convention on the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage [Nhận xét về Công ước 2003 của UNESCO về bảo vệ văn hóa phi vật thể] [206] Công trình

này tác giả đã cung cấp một phần chung giới thiệu về Công ước 2003 và lịch sử phát

Trang 21

triển của nó, đồng thời tác giả cũng phân tích kỹ các điều khoản của Công ước xem như là tư liệu quý giá giải thích về khái niệm, nội dung, quan điểm và tinh thần của

Công ước Còn ở công trình Safeguarding Intangible Cultural Heritage- Challenges

and Approaches [Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể- Thách thức và cách tiếp cận]

[207], tác giả đã tập hợp các bài viết từ các ngành khoa học khác nhau như nhân học,

luật pháp, lịch sử và những ngành liên quan khác đến lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể Qua công trình này, tác giả muốn khẳng định việc bảo vệ di sản văn hóa là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia, các nhà nghiên cứu cũng như những người thực hành trên thế giới và cũng còn nhiều cách hiểu, quan niệm khác nhau Do đó, theo tác giả cần có sự quan tâm sâu sắc hơn và chia sẽ những ý tưởng, trải nghiệm để thực

sự có chính sách về bảo vệ giá trị di sản phù hợp và hiệu quả hơn

- Heritage Management in Korea and Japan The Politics of Antiquity and

identily [Quản lý di sản ở Hàn Quốc và Nhật Bản Chính trị hóa về cổ tục và bản sắc] của Hyung II Pai [209] Ở công trình này, tác giả đã phân tích di sản văn hóa

phi vật thể như là tài sản quốc gia với các lăng mộ của triều đình, kiến trúc Phật giáo, cung điện và kho tàng nghệ thuật ở Hàn Quốc và Nhật Bản đã thu hút các học giả, nhà sưu tầm, những người bảo tồn và hàng triệu khách du lịch Đó cũng là dấu mốc mang tính biểu tượng của bản sắc văn hóa Công trình đã chỉ ra nhiều vấn đề

về quản lý di sản, luật di sản và sự can thiệp, hỗ trợ của nhà nước vào lĩnh vực di sản ở Hàn Quốc và Nhật Bản

- Intangible Heritage [Di sản phi vật thể], của Smith, Laurajane, Natsuko

Akagawa [213] Cuốn sách này đưa ra phân tích về các tác động và hậu quả của ý tưởng “di sản phi vật thể” đối với các cuộc tranh luận chính trị và học thuật quốc tế về

ý nghĩa và bản chất của di sản văn hóa và các quy trình quản lý được phát triển để bảo

vệ nó Công trình đã cung cấp dữ liệu theo nhiều cách khác nhau về di sản văn hóa phi vật thể đã được xác định và quản lý trong cả bối cảnh quốc gia và quốc tế với mục đích tạo thuận lợi cho cuộc tranh luận quốc tế về ý nghĩa, bản chất và giá trị của di sản văn hóa phi vật thể

- On Intangible Heritage Safeguarding Governance: An Asia- Pacific Context

[Quản trị bảo vệ di sản phi vật thể: Bối cảnh Châu Á- Thái Bình Dương] của

Seong-Yong Park [212] Cuốn sách này bao gồm quản lý di sản văn hóa phi vật thể thông qua bối cảnh châu Á - Thái Bình Dương, đề cập đến sự phát triển mang tính lịch sử của các công cụ quốc tế hướng dẫn chính sách văn hóa phi vật thể Đây là công trình quan

Trang 22

trọng trực tiếp hướng tới việc quản lý di sản văn hóa phi vật thể Với việc xem xét Công ước 2003 về bảo vệ sự phát triển của di sản văn hóa phi vật thể, công trình này cung cấp một sự hiểu biết về lý do tại sao Công ước này phải ra đời, cách thức phát triển và áp dụng nó trong các tình huống khác nhau cũng như việc cần có những phương thức quản lý, bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị

- Quyển sách Safeguarding Intangible Cultural Heritage [Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể] do Stefano, Michelle L., Peter Davis, Gerard Corsane làm chủ biên

[214] Cuốn sách này cung cấp một loạt các quan điểm quốc tế về những vấn đề di sản văn hóa phi vật thể, khám phá cách tiếp cận toàn diện và tích hợp để bảo vệ văn hóa phi vật thể Các tác giả chứng minh rằng các phương pháp và thái độ thay thế thường xuyên tồn tại ở cấp địa phương có thể là cách hiệu quả nhất để bảo vệ văn hóa phi vật thể Các quan điểm quản lý được thể hiện trong sách không chỉ từ phía nhà nước mà còn từ những quyền lực tạo nên; và từ các nhà chuyên môn và những người thực hành Cuốn sách đề xuất một quan điểm trong quản lý di sản bao gồm nhiều quyền lực của cả nhà nước, cộng đồng

- Boswell, Rosabelle với công trình Challenges to Identifying and Managing

Intangible Cultural Heritage in Mauritius, Zanzibar and Seychelles [Thách thức nhận diện và quản lý di sản văn hóa phi vật thể ở Mauritius, Zanzibar and Seychelles] [208]

Cuốn sách đã cung cấp một cuộc thảo luận sơ bộ về các yếu tố thách thức việc quản lý

di sản văn hóa phi vật thể trong các cộng đồng châu Phi của Zanzibar, Mauritius và Seychelles Tác giả cho rằng, quản lý di sản thiếu sự chỉ đạo, quan tâm của chính phủ

và không có sự đầu tư về nguồn lực, vật lực và tài lực thì di sản ít được trao truyền và phát huy hiệu quả Từ đó kết luận rằng cần có nhiều nguồn tài trợ và sự chú ý hơn cho việc quản lý di sản ở châu Phi và cộng đồng người di cư của nó Vì rằng, nếu không có

sự quan tâm của chính phủ kịp thời cũng như việc khuyến khích cộng đồng thực hành

di sản thì di sản sẽ bị kiệt quệ và khó có thể khôi phục lại được

- Lewis, J, với công trình Designing a Cultural Polity [Phác thảo về chính sách

văn hóa] [211], đã đưa ra định hướng chung về chính sách văn hóa và sự phát huy

quyền lực nhà nước trong quản lý di sản văn hóa Đồng thời, làm rõ vai trò của người dân trong việc tham gia vào việc hoạch định và trực tiếp thực hiện các chính sách

- Đánh giá về Công ước 2003 ở Hàn Quốc của Dawnhee Yim [36] Ở công

trình này tác giả nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước và yếu tố cộng đồng trong việc

Trang 23

bảo vệ và phát triển các giá trị văn hóa phi vật thể Để thực hiện chương trình bảo tồn

di sản văn hóa phi vật thể, cơ sở pháp lý quan trọng vẫn là đạo Luật Bảo vệ di sản văn hóa do Chính phủ Hàn Quốc thông qua năm 1962 Theo đó các cơ quan quản lý của nhà nước về văn hóa như Ủy ban quản lý di sản văn hóa đóng vai trò quan trọng trong thực hiện các chương trình này Tác giả khẳng định ở Hàn Quốc, bất kỳ hình thức di sản văn hóa phi vật thể nào được công nhận là di sản phi vật thể quốc gia, thì di sản nhân văn sống phải truyền tải di sản phi vật thể đó cho thế hệ tương lai, bao gồm cả hình thức và khuôn mẫu của nó phải được giữ gìn mà không có bất kỳ sự thay đổi nào; người học không phải trả bất cứ khoản tiền cho việc đào tạo này Còn các nghệ nhân được nhà nước hỗ trợ các chế độ và lương bỗng hàng tháng Hàn Quốc cũng quan tâm đến việc phục hồi, xây dựng các làng văn hóa truyền thống, các nhà hát trình diễn nhằm quảng bá hình ảnh đất nước thông qua di sản và thu hút khách du lịch

- Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và vấn đề quản lý ở Miến Điện của Sanwin

[147] khẳng định chính sách nhất quán của Chính phủ Myanmar luôn coi văn hóa có giá trị to lớn trong việc giữ gìn truyền thống và tinh thần dân tộc Do đó, người dân Myanmar luôn được định hướng tới việc bảo tồn và quảng bá văn hóa Myanmar Chính phủ luôn chú trọng đến công tác giảng dạy và nghiên cứu các giá trị văn hóa phi vật thể, hoạt động hợp tác quốc tế trong và ngoài khối Asean nhằm bảo đảm thực hiện

có hiệu quả các cam kết quốc tế theo Công ước 2003 về Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể được quan tâm và thúc đẩy mở rộng mạng lưới và trao đổi chuyên môn Vai trò của các tổ chức đoàn thể cũng được chú trọng như Hiệp hội nghệ sĩ và Nghệ nhân Myanmar, Hội sân khấu Myanmar đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực văn hóa

- Suy ngẫm về việc thực hiện Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ở

Mexico: 10 năm trải nghiệm và thử thách của Elady Quiroz [66] Tác giả khẳng

định ở Mexico các cộng đồng có quyền tự trị để bảo vệ và phát huy môi trường sống và toàn vẹn đất đai của mình Họ cũng có một số luật đặc thù về các lĩnh vực

di sản văn hóa phi vật thể như Luật chung về phát triển xã hội, Luật về ngôn ngữ của các dân tộc bản địa Theo tác giả Sau khi Mexico phê chuẩn Công ước Bảo tồn

di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện công ước này bắt đầu được quan tâm rộng rãi hơn cả trong các lĩnh vực học thuật và thể chế trong môi trương văn hóa Hiến pháp nước này xác định Công ước hay các Điều ước quốc tế phù hợp với các điều khoản và mục tiêu của Hiến pháp do Tổng thống và Thượng viện phê chuẩn, thì có tính chất của Luật tối cao Từ nguyên tắc

Trang 24

Hiến pháp này cho thấy đó là một nghĩa vụ đối với chính phủ Mexico để thực hiện các hành động cho phép thực hiện đầy đủ mọi quy tắc và nghĩa vụ được quy định trong Công ước Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể

- Khi cái vô hình gặp cái hữu hình: 10 năm thực hiện việc bảo tồn và phát huy

di sản văn hóa phi vật thể: kinh nghiệm, bài học của Nigeria và định hướng toàn cầu trong tương lai của Augustus B Ajibola [5] Tác giả cho rằng Nigeria có một kho tàng

di sản văn hóa phi vật thể vô cùng phong phú trên tất cả các lĩnh vực khác nhau như truyền thống truyền miệng và các loại hình biểu hiện văn hóa, bao gồm ngôn ngữ như

là một phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể Tác giả khẳng định Chính phủ Nigeria xác định tầm quan trọng của mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển, cụ thể di sản văn hóa phi vật thể như là sự bảo đảm cho sự phát triển bền vững Nhà nước đã cho triển khai chương trình tư liệu hóa các di sản văn hóa phi vật thể và đã thiết lập một hệ thống kho báu nhân văn sống

1.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1.3.1 Đánh giá chung

Một là, các công trình nghiên cứu về văn hóa truyền thống đều rất sâu sắc

nhưng được nghiên cứu dưới góc độ ngành khoa học khác không thuộc khoa học pháp

lý, nên mục đích, nhiệm vụ đặt ra và kết quả đạt được không đánh giá được thực trạng pháp luật với tư cách là công cụ tạo lập cơ sở pháp lý cho các chủ thể và bảo đảm hiệu quả giữ gìn, phát huy các GTVHTT ở Việt Nam

Các khái niệm về văn hóa, giá trị, GTVHTT, bản sắc văn hóa được các tác giả nhìn nhận hết sức đa dạng với nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, các khái niệm này được xem là những cứ liệu quan trọng qua đó giúp tác giả luận án xác định các khái niệm công cụ có liên quan đến những vấn đề lý luận GTVHTT dưới góc độ lý luận chung về pháp luật Đồng thời các quan điểm, giải pháp về bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc là căn cứ quan trọng để thông qua đó luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay

Hai là, các công trình nghiên cứu về vấn đề liên quan đến vai trò của pháp

luật trên một số lĩnh vực của đời sống xã hội, trong một số công trình các tác giả đã tập trung, khai thác, làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn về những lĩnh vực cụ thể liên quan đến pháp luật về văn hóa, cung cấp những thông tin có giá trị cho luận án để

Trang 25

thực hiện khảo cứu và đánh giá thực trạng về vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy các GTVHTT Một số kết quả nghiên cứu sẽ gợi mở, cung cấp thông tin,

sự kiện để tác giả luận án tham khảo làm luận cứ khoa học cho đề tài luận án Tuy nhiên, các công trình này không trực tiếp đề cập các vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của pháp luật đối với văn hóa và trong việc giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay

Ba là, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của pháp luật nhưng

vấn đề vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam chưa được nghiên cứu một cách có chiều sâu dưới cấp độ là luận án tiến sĩ, đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước hay sách chuyên khảo

Bốn là, về lý luận và thực tiễn nêu trên mới chỉ đề cập đến những mặt, những vấn

đề cụ thể mà chưa nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ, có tính hệ thống trong tất cả các đề tài, công trình đã công bố liên quan đến pháp luật về văn hóa Không những chưa

có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và sâu sắc về vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam mà còn chưa có một công trình nào đưa ra được những giải pháp khả thi để bảo đảm nâng cao hiệu quả pháp luật với tư cách là công cụ nhằm giữ gìn, phát huy tốt nhất GTVHTT ở Việt Nam

Từ những đánh giá trên có thể kết luận rằng, trong luận án này ngoài nội dung

về văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống phải kế thừa các công trình nghiên cứu về văn hóa dưới góc độ văn hóa, chính trị, triết học; những vấn đề lý luận về vai trò của pháp luật nói chung có thể kế thừa một phần từ những công trình khác như các khái niệm công cụ tiếp cận vấn đề dưới góc độ khoa học pháp lý; phương pháp đánh giá thực trạng vai trò của pháp luật, thì những nội dung về cơ sở lý luận, thực trạng vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam; các quan điểm, giải pháp thể hiện sự đóng góp mới của đề tài cho vấn đề nghiên cứu

Với nhận định như vậy, có thể khẳng định đề tài luận án “Vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam hiện nay” hoàn toàn

mới, không trùng lặp với bất cứ công trình khoa học nào đã công bố

Để đạt được mục tiêu của luận án là nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT dưới góc độ của chuyên ngành lý luận và lịch sử về nhà nước và pháp luật, luận án kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học nêu trên và tiếp tục làm rõ một số vấn đề

Trang 26

1.3.2 Những vấn đề đặt ra đề tài cần tiếp tục nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây đã gợi mở, cung cấp thông tin, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề trong nhiều nội dung của luận án Tuy nhiên, nhiều vấn đề liên quan đến vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT chưa được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện, có tính hệ thống Do vậy, luận án

tiếp tục nghiên cứu những nội dung sau:

Về mặt lý luận: các vấn đề tiếp tục nghiên cứu, giải quyết gồm: xây dựng khái

niệm, phân tích đặc trưng, làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật với văn hóa và các hiện tượng khác; xây dựng cơ sở lý luận về nội dung vai trò của pháp luật trong giữ gìn và phát huy GTVHTT; nghiên cứu có chọn lọc việc phát huy vai trò của pháp luật đối với GTVHTT ở một số nước và chỉ ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam

Về mặt thực tiễn, các vấn đề tiếp tục nghiên cứu, giải quyết gồm: phân tích,

đánh giá toàn diện, có hệ thống thực trạng vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy các GTVHTT ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, luận án đề xuất các quan điểm và các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy các GTVHTT ở Việt Nam hiện nay

1.3.3 Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu của luận án

- Giả thuyết của luận án: Luận án luận chứng rõ cơ sở lý luận về vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay

- Câu hỏi nghiên cứu của luận án:

+ GTVHTT có vai trò như thế nào trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước? Làm thế nào để giữ gìn, phát huy GTVHTT?

+ Pháp luật có mối quan hệ với văn hóa và các hiện tượng khác như thế nào? + Làm thế nào để phát huy vai trò của pháp luật trong việc đặt ra và thực hiện các mục tiêu về xây dựng và phát triển nền văn hóa? Pháp luật có vai trò thế nào trong giữ gìn, phát huy GTVHTT?

+ Thực tiễn vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam thời gian qua được thể hiện như thế nào? Nguyên nhân?

+ Làm gì để bảo đảm vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay?

Trang 27

Tiểu kết chương 1

Từ những kết quả nghiên cứu của các công trình trên cho thấy đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố liên quan đến đề tài luận án Những công trình này liên quan đến các nhóm vấn đề cơ bản sau:

Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến đến văn hóa chủ yếu đi sâu vào các khái niệm về giá trị, GTVHTT được các tác giả nhìn nhận hết sức đa dạng với nhiều góc độ khác nhau Đồng thời, tác giả các công trình cũng đưa ra các quan điểm, giải pháp về bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống ở Việt Nam hiện nay

Liên quan đến vai trò của pháp luật, các tác giả đã nêu các công trình đều nghiên cứu về vấn đề liên quan đến vai trò của pháp luật pháp luật nói chung Trong một số công trình các tác giả đã tập trung, khai thác, làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn

về những lĩnh vực cụ thể liên quan đến pháp luật về văn hóa, cung cấp những thông tin

có giá trị cho luận án để thực hiện khảo cứu và đánh giá thực trạng về vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy các GTVHTT Một số kết quả nghiên cứu sẽ gợi mở, cung cấp thông tin, sự kiện để ứng viên tham khảo làm luận cứ khoa học cho đề tài của mình Tuy nhiên, các công trình này không trực tiếp đề cập các vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của pháp luật đối với văn hóa và trong việc giữ gìn, phát huy GTVHTT

ở Việt Nam hiện nay

Tóm lại, các công trình khoa học được đề cập có liên quan đến đề tài, ở mức độ khác nhau đều liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống vấn đề vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy GTVHTT dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Mặc dù vậy các công trình khoa học đó là các tài liệu tham khảo có giá trị đối với việc nghiên cứu, giải quyết mục đích và nhiệm vụ của luận án

Trang 28

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG GIỮ GÌN,

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

2.1 KHÁI NIỆM VỀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG GIỮ GÌN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

2.1.1 Khái niệm giá trị văn hóa truyền thống và giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống

2.1.1.1 Khái niệm văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống

Khái niệm văn hóa rất phức tạp và đa nghĩa, hiện nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa như: văn hóa là trình độ phát triển vật chất và tinh thần của loài người; văn hóa là khái niệm có nội dung bao gồm khoa học, kỹ thuật, giáo dục, văn học, nghệ thuật; văn hóa là khái niệm chỉ lối sống, nếp sống, đạo dức xã hội Đã có rất nhiều nhà Nhân học, Dân tộc học đã đưa ra vô số định nghĩa, mà cho đến nay cũng chưa thể nào thống kê được Có thể nói “văn hóa là cái mà khi nhắc đến, ai cũng có thể hình dung ra được nó như thế nào nhưng lại không nói được chính xác nó là cái gì” [37, tr.11], có lẽ trong khoa học xã hội và nhân văn chưa có khái niệm nào phức tạp như là khái niệm văn hóa Năm 1988, khi phát động thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, ông Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO khi ấy đã đưa ra một định nghĩa có thể coi là định nghĩa của UNESCO cho văn hóa như sau: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [37, tr.18]

Ở Việt Nam, theo từ điển tiếng Việt phổ thông của Viện ngôn ngữ học thì văn hóa có năm nghĩa:

1 Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử (ví dụ: kho tàng văn hóa dân tộc, văn hóa phương đông, nền văn hóa cổ)

2 Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần- nói một cách tổng quát (ví dụ: phát triển văn hóa; công tác văn hóa, văn nghệ)

3 Tri thức kiến thức khoa học (ví dụ: Văn hóa học, trình độ văn hóa)

Trang 29

4 Trình độ cao trong sinh hoạt văn hóa xã hội, biểu hiện của văn minh (ví dụ: Sống có văn hóa, ăn nói thiếu văn hóa)

5 Nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau (ví dụ: Văn hóa Đông Sơn) [197, tr.1014]

Ông cha ta trước đây hay dùng khái niệm “văn hiến”, bao gồm các ý nghĩa: Xây dựng một quốc gia có điển chương chế độ, kỹ cương sách vở, văn chương nghệ thuật với những anh hùng hào kiệt Cùng với sự tiếp biến văn hóa, thuật ngữ “văn hóa” đã dần xâm nhập vào đời sống xã hội và được rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa quan tâm Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã khẳng định: “Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu”, học giả Đào Duy Anh trong cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” thì cho rằng văn hóa là chung cho tất cả các phương tiện sinh hoạt của loài người cho nên nói tới cách sinh hoạt của con người tức là văn hóa Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng quan niệm văn hóa theo các quan điểm trên Trong mục đọc sách ở phần cuối tập Nhật ký trong tù (1942- 1943), lần đầu tiên Hồ Chí Minh có nêu ra một định nghĩa về văn hóa như sau:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [124, tr.431]

Quan niệm trên về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thống kê các yếu tố cơ bản của đời sống tinh thần của con người, mà còn làm rõ bản chất, chức năng của văn hóa Người đã coi văn hóa là đời sống tinh thần, là thuộc về kiến trúc thượng tầng, để có sự phân biệt tương đối với các mặt khác của đời sống xã hội; văn hóa phải

đi tiên phong trong mọi nhiệm vụ bảo vệ và kiến thiết đất nước Do đó, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc vào tháng 11 năm 1946 Người khẳng định văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi

Theo Trần Ngọc Thêm thì khái niệm văn hoá bao giờ cũng có thể qui về hai cách hiểu chính: Theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng

Trang 30

Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng,

theo không gian hoặc theo thời gian… Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật…) Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…) Giới hạn theo không gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn…)

Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì do

con người sáng tạo ra [164]

Vẫn theo ông thì tuy có nhiều quan điểm khác nhau về văn hóa với những khuynh hướng khác nhau nhưng tựu trung lại các định nghĩa văn hoá đều chứa một nét nghĩa chung là “con người”, đều thừa nhận và khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa văn hóa với con người Văn hoá và con người là hai khái niệm không tách rời nhau, con người xuất hiện từ lúc nào thì văn hoá xuất hiện từ lúc ấy, con người là chủ thể sáng tạo ra văn hoá Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của mình, con người luôn sáng tạo không ngừng để làm nên các giá trị văn hoá Theo ông thì văn hóa có tính giá trị, do đó không phải cái gì do con người làm ra đều là văn hóa, mà chỉ có những gì

có giá trị mới thuộc về văn hoá

Còn theo Tiến sĩ Trần Thị Minh ở công trình “Phát triển văn hóa với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội”, tác giả cho rằng “Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất

và tinh thần do con người tạo ra nhằm mục đích phát triển bản thân con người và xã hội” [13, tr.22]

Theo giáo trình Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (dùng cho hệ cử nhân chính trị) thì nói đến văn hóa là

“nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực, bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội” [87, tr.12] Do đó, khái niệm văn hóa chứa đựng bản chất nhân văn, nhân bản và cơ sở của mọi hoạt động văn hóa là hướng đến cái chân, thiện, mỹ Từ đó khẳng định: Văn hóa là hoạt động tinh thần hướng tới việc sản xuất ra các giá trị chân, thiện, mỹ [87, tr.15]

Văn hóa là phương thức hoạt động của con người và sáng tạo là đặc điểm cơ bản của văn hóa, nó trở thành lực đẩy kích thích xã hội phát triển và hình thành cùng

Trang 31

lúc khi con người tạo thành quần thể xã hội Thường người ta chia văn hóa ra thành hai lĩnh vực: Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, “sự phân chia này cũng là cần thiết để

có cái nhìn toàn diện hơn đối với các hoạt động và các sản phẩm văn hóa” [87, tr15] Bên cạnh các sản phẩm tinh thần như các tác phẩm văn học - nghệ thuật, phong tục tập quán, lối sống còn có các sản phẩm vật chất như các công trình kiến trúc, di tích lịch sử… Tuy nhiên, sự phân chia đó cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi “cái gọi là văn hóa vật chất hay văn hóa vật thể thực ra là vật thể hóa các giá trị tinh thần” [87, tr.15] Cho nên, không có cái văn hóa thuần túy tinh thần nào mà lại không thấy qua một yếu tố vật chất để tồn tại và biểu hiện được

Nói chung văn hóa là một hiện tượng xã hội có phạm vi biểu hiện rất rộng

Vì thế theo GS Đặng Xuân Kỳ khi tìm hiểu về lĩnh vực này khẳng định từ trước tới nay đã có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa, chung quy lại có ba cách hiểu chính sau đây:

Thứ nhất, văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng nhất- đó là toàn bộ những giá

trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra để đáp ứng nhu cầu tồn tại

và phát triển của mình trong tiến trình đi lên của lịch sử Văn hóa là đặc trưng của toàn bộ cuộc sống của loài người Xây dựng văn hóa là xây dựng tất cả các mặt của đời sống xã hội và quan tâm đến trình độ phát triển của con người

Thứ hai, văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp - đó là những giá trị tinh thần, là

đời sống tinh thần của xã hội, như đạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật… Như vậy, văn hóa chỉ là một mặt, chứ không phải là toàn bộ đời sống xã hội loài người

Thứ ba, văn hóa còn được hiểu theo nghĩa hẹp nhất, thường dùng hàng ngày

- đó là trình độ học vấn của con người [109, tr155]

Từ các phân tích trên, có thể nói hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa Các quan niệm đó được nghiên cứu bởi các ngành khoa học khác nhau nhưng

có điểm chung là đều khẳng định văn hóa có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, văn hóa bao hàm sự kết tinh của quá trình tiến hóa loài người Tuy nhiên, trong

phạm vi luận án khái niệm văn hóa được hiểu “là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất

và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình” [172, tr.18]

Trang 32

Ngày nay, chúng ta đang xây dựng đất nước với một hành trang văn hóa chủ yếu do xã hội truyền thống để lại, xã hội ấy đã tích lũy được những giá trị văn hóa đạt tới đỉnh cao của xã hội văn minh nông nghiệp cổ truyền Song trong điều kiện khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ và đang đóng vai trò của lực lượng sản xuất trực tiếp như hiện nay thì văn hóa càng đóng một vai trò quan trọng trong việc đón nhận và

sử dụng kịp thời những thành tựu khoa học công nghệ để xây dựng kinh tế, văn hóa của đất nước trên nền tảng các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

Văn hóa truyền thống theo GS.TS Ngô Đức Thịnh là từ gốc Hán- Việt, do vậy

nó chịu ảnh hưởng về quan niệm của người Trung Hoa Ông lý giải rằng theo từ điển bách khoa toàn thư Trung Hoa- Từ Hải thì “truyền thống là sức mạnh của tập quán xã hội được lưu truyền lại từ lịch sử Nó tồn tại ở các lĩnh vực chế độ (chế độ xã hội), tư tưởng, văn hóa, đạo đức Truyền thống có tác động khống chế vô hình đến hành vi xã hội của con người truyền thống là biểu hiện tính kế thừa của lịch sử” [170, tr.20] Cũng theo ông thì từ điển bách khoa thư của Liên Xô cho rằng truyền thống đó là:

Những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội truyền thống từ đời này qua đời khác và được lưu giữ trong các xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong quá trình lâu dài, truyền thống được thể hiện trong chế định xã hội, chuẩn mực

và hành vi, các giá trị, tư tưởng, phong tục tập quán và lối sống… Truyền thống tác động khống chế đến mọi xã hội và tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội [170, tr.20]

Nhưng không phải tất cả những gì thuộc về văn hóa truyền thống thì đều phải giữ gìn, phát huy Chỉ những yếu tố bền vững, có giá trị thúc đẩy quá trình phát triển thì mới xem xét giữ gìn, phát huy nhằm tạo ra những động lực thúc đẩy thực hiện các mục tiêu về kinh tế, văn hóa, xã hội

Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định nền văn hóa chúng ta là nền văn hóa tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết không nói đến GTVHTT nhưng nói đến bản sắc dân tộc, theo đó bản sắc dân bao hàm tất cả các yếu tố thuộc văn hóa truyền thống, đó là:

Những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước

và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, y chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ

Trang 33

quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống [59, tr.304]

Do vậy khi nói đến văn hóa là nói đến giá trị Dưới góc độ văn hóa học “giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức…đều là sản phẩm của quá trình tư duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hóa” [170, tr.21]

Hiện nay, thuật ngữ giá trị được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học khác nhau như toán học, xã hội học, triết học, văn hóa học… và theo nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau J H Fichter, một nhà xã hội học hiện đại Mỹ, đã đưa ra một định nghĩa

và chuẩn xác về giá trị: “Theo cách mô tả của chúng ta có thể nói rằng, tất cả những gì

có lợi ích, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục đối với con người hoặc nhóm, đều là

“có một giá trị” [172, tr.21] GS,TS Nguyễn Văn Huyên thì cho rằng “giá trị là phạm trù người- chỉ con người xã hội mới có cái gọi là giá trị” [96, tr.84]

Còn theo GS,TS Trần Ngọc Thêm khi nói đến GTVHTT là nói đến hệ thống, thang, bảng giá trị của dân tộc Tất nhiên, các thang, bảng giá trị này phải mang tính trường tồn bền vững, nó phải là giá đỡ tinh thần nhìn về cội nguồn truyền thống hướng đến tương lai phát triển tốt đẹp hơn Truyền thống thì có cái tốt, cái xấu, nhưng khi chúng ta nói “giá trị truyền thống” thì như GS Trần Văn Giàu khẳng định ở đây chỉ có cái tốt mà thôi, bởi vì chỉ có cái gì tốt đẹp đều được gọi là giá trị Thậm chí, ông cũng nhắc nhở rằng: “không phải mỗi cái gì tốt đẹp thì mới được gọi là giá trị, mà phải là những cái phổ biến, cơ bản, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức luân lý, có cả tác dụng hướng dẫn sự nhận định và hướng dẫn sự hành động, thì mới được mang danh là giá trị truyền thống” [69, tr.50]

Trong tác phẩm “giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam- truyền thống và biến đổi” GS,TS Ngô Đức Thịnh cho rằng giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức…đều là sản phẩm của quá trình tư duy, sáng tạo tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lỗi nhất của văn hóa Theo ông giá trị văn hóa là hình thái ý thức, của đời sống tinh thần, tuy nhiên nó phản ánh và kết tinh những giá trị của cả đời sống vật chất

và đời sống văn hóa tinh thần của con người Do vậy, với quan niệm này có thể khẳng định GTVHTT là yếu tố cốt lỗi của văn hóa tinh thần Ông cho rằng các nhà xã hội học Việt Nam, trong quan niệm về giá trị đã khẳng định rõ hơn yếu tố chủ thể qua nhận thức, tình cảm và hành vi của chủ thể

Trang 34

Từ những nhận định trên ông đã đi đến kết luận về giá trị như sau:

Giá trị là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về bất

cứ một hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái đó là cần, là tốt, là hay, là đẹp, nói theo cách các nhà triết học phương Tây một thời, đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người Một khi những nhận thức giá trị ấy

đã hình thành và định hình thì nó chi phối cách suy nghĩ, niềm tin, hành vi, tình cảm của con người [172, tr.22]

Theo ông nói đến giá trị thì có giá trị cá nhân và giá trị xã hội, từ đó ông lý giải: Giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định Giá trị văn hóa hướng đến những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp (chân, thiện, mỹ),

từ đó bồi đắp và nâng cao bản chất Người Giá trị văn hóa luôn ẩn tàng trong bản sắc văn hóa, di sản văn hóa, biểu tượng, chuẩn mực văn hóa Chính vì vậy mà văn hóa thông qua hệ giá trị của nó góp phần điều tiết sự phát triển xã hội [172, tr.23]

Khi nói đến truyền thống là nói đến “những truyền thống đã được thừa nhận, đánh giá, thẩm định nghiêm ngặt của thời gian, nó được lựa chọn, thừa nhận của cộng đồng qua những giai đoạn lịch sử” [158, tr.21] Như vậy, giá trị truyền thống là những cái tốt đẹp, có vai trò tích cực trong hiện tại, do đó khi nói đến GTVHTT là “nói đến những giá trị tốt đẹp tiêu biểu cho một nền văn hóa được chắt lọc, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Cho nên nói đến GTVHTT cũng là nói đến những giá trị văn hóa được hình thành và phát triển trong quá trình dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc,

nó có tính di truyền xã hội” [158, tr.22]

Trên cơ cở phân tích các tài liệu có liên quan trên, có thể khẳng định rằng khi nói đến GTVHTT Việt Nam là nói đến hệ giá trị tốt đẹp đã được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và hệ giá trị đó là:

(1) Lòng yêu nước

Đây là giá trị phổ quát xuyên suốt tạo nên bản sắc văn hóa người Việt trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Theo GS Trần Văn Giàu thì “tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam” [69, tr.100] Yêu nước đó là từ tình yêu gia đình, dòng tộc, làng xóm đến tình yêu quê

Trang 35

hương, xứ sở, đất nước và được nâng lên thành một thứ chủ nghĩa- chủ nghĩa yêu nước; trở thành “cái trục chính của ý thức hệ Việt Nam, nó sản sinh và tích hợp các giá trị tiêu biểu của Việt Nam” [172, tr.76]

(2) Tinh thần đoàn kết dân tộc

Tinh thần đoàn kết dân tộc gắn liền với chủ nghĩa yêu nước trong quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đây là nét đặc sắc tạo nên sự gắn bó keo sơn của cộng đồng các dân tộc Việt Nam qua các cuộc đấu tranh giữ nước và mỡ mang bờ cỏi, nó đã trở thành chân lí, là truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam

(3) Tính nhân đạo, khoan dung, yêu thương con người người

Được bắt nguồn từ lòng yêu nước, tính cộng đồng, đoàn kết dân tộc, từ đó được kết tinh thành sự khoan dung độ lượng, yêu thương con người, yêu thương đồng loại

Đó là giá trị đạo đức lớn, có nét đẹp riêng, hình thành nên hệ giá trị văn hoá đặc sắc Việt Nam

(4) Quan niệm về giá trị chân- thiện- mỹ

Đó là tôn trọng lý lẽ, sự công bằng, bảo vệ lẽ phải, tôn trọng kỷ cương; các giá trị thuần phong mỹ tục của người Việt; giá trị về đạo đức, nhân cách, phẩm giá con người được đề cao

(5) Các loại hình di sản văn hóa phi vật thể

Các di sản về tiếng nói, chữ viết trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; các

làng nghề truyền thống; phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống; các loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống

Từ những luận giải trên, có thể hiểu GTVHTT là những yếu tố tinh thần có giá

trị bền vững, tốt đẹp tiêu biểu cho nền văn hóa của dân tộc, có tác dụng tích cực thúc đẩy sự phát triển của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử cũng như hiện tại có vai trò góp phần thúc đẩy đạt được các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội trong tương lai

2.1.1.2 Khái niệm giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống

Giữ gìn, phát huy GTVHTT là nội dung cốt lõi, yêu cầu bắt buộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa hiện nay, đồng thời phải luôn gắn chặt với quá trình hội nhập, tiếp nhận các giá trị của văn hóa đương đại Qua đó, sẽ thúc đẩy thực hiện thành công các mục tiêu về xây dựng, phát triển nền văn hóa và làm giàu đẹp thêm giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc

Giữ gìn theo Từ điển Tiếng Việt đó là: “Giữ cho được nguyên vẹn, không bị

mất mát, tổn hại (nói khái quát); giữ được ý tứ, thận trọng và đúng mực, tránh sơ suất trong cử chỉ, nói năng” [197, tr.360]

Trang 36

Từ đó có thể khẳng định giữ gìn GTVHTT là việc lưu giữ lại, truyền lại, kế thừa lại những yếu tố tích cực của văn hóa truyền thống để trở thành nền tảng, tiền đề cho xây dựng và phát triển nền văn hóa mới tiên tiến, hiện đại Như vậy, việc giữ gìn GTVHTT ở đây không phải là quay về cái cũ, quá khứ mà là việc chắc lọc, có bổ sung

và phát triển các giá trị tích cực của văn hóa truyền thống, đồng thời loại bỏ các yếu tố lạc hậu, lỗi thời không còn phù hợp

Phát huy theo Từ điển Tiếng Việt là “làm cho cái hay, cái tốt tiếp tục có tác

dụng và nảy nở thêm” [197, tr.701]

Theo tiến sĩ Lê Văn Liêm: “phát huy không chỉ là việc bảo tồn mà còn là sự mở rộng, bổ sung hoặc sự hoàn thiện và nâng cao về chất những đặc điểm, đặc tính vốn có trong sự vật và hiện tượng dẫn đến một trạng thái mới về chất” [113, tr.16]

Phát huy GTVHTT là việc trên cơ sở những yếu tố tích cực được truyền lại, giữ lại và các chủ thể liên quan phải nhân rộng, điển hình hóa, phổ biến nhằm thúc đẩy tạo dựng các mối quan hệ tốt đẹp Việc phát huy có tác dụng góp phần phát triển các mối quan hệ kinh tế, xã hội tốt đẹp và bền vững hơn; đồng thời, thúc đẩy thực hiện thành công các mục tiêu về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại, giàu bản sắc dân tộc

Như vậy giữ gìn và phát huy là khái niệm bổ sung cho nhau, không thể tách rời nhau, không thể chỉ giữ gìn mà không phát huy và ngược lại không thể phát huy nếu không làm tốt việc giữ gìn Do vậy, có thể khẳng định đây là cụm từ (giữ gìn, phát huy) cần thiết phải sử dụng trong hoạt động liên quan đến việc thực hiện các mục tiêu xây dựng nền văn hóa

Từ các lý giải trên có thể khẳng định: Giữ gìn, phát huy GTVHTT là quá trình lưu

giữ, kế thừa, chọn lọc và phát triển các GTVHTT làm cho các giá trị đó ngày đặc sắc hơn, hoàn thiện hơn đồng thời phát huy tính tích cực của văn hóa truyền thống trong quá trình xây dựng và thực hiện các mục tiêu về văn hóa, kinh tế, xã hội

Để giữ gìn các giá trị tốt đẹp đó cũng như phát huy tính tích cực của nó cần phải

có sự tham gia của nhiều thiết chế khác nhau trong hệ thống kiến trúc thượng tầng như văn hóa, chính trị, pháp lý, đạo đức, tôn giáo, phong tục, tập quán Trong hệ thống các thiết chế đó, pháp luật có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện thành công các mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Vì giữa pháp luật và văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ lẫn nhau, cho nên để sử dụng hiệu quả vai trò của pháp luật trong thực hiện mục tiêu về giữ gìn, phát huy GTVHTT cần phải hiễu rõ mối quan hệ giữa pháp

Trang 37

luật với văn hóa với các hiện tượng khác để thấy được vị trí, vai trò, tầm quan trọng, sự cần thiết bảo đảm vai trò của pháp luật đối với giá trị văn hóa truyền thống

2.1.2 Mối quan hệ giữa pháp luật với văn hóa và các hiện tượng khác trong việc giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống

Pháp luật và văn hóa có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia, là những công cụ nhà nước sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu

đề ra trong quá trình thực hiện chức năng quản lý Lý luận và thực tiễn đã chứng minh pháp luật và văn hóa có mối quan hệ gắn bó, khăng khít và tương hỗ lẫn nhau Thông qua mối quan hệ giữa chúng sẽ tạo ra hệ thống giá trị văn hóa và pháp lý nhằm hướng đến việc thúc đẩy và bảo đảm các mối quan hệ xã hội ngày càng tốt đẹp hơn Giữa pháp luật và văn hóa tác động qua lại, bổ sung cho nhau Sự tác động đó được thể hiện

ở các khía cạnh sau:

Pháp luật và văn hóa đều là tổng hợp quy tắc, các chuẩn mực hành vi xử sự của các chủ thể khác nhau khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội cụ thể, việc khẳng định giá trị các quy tắc, chuẩn mực trên được thực hiện trong từng giai đoạn khác nhau Những quy tắc, chuẩn mực của văn hóa mang tính tự nguyện xuất phát từ lương tâm, trách nhiệm của con người đối với cộng đồng xã hội, ngoài phạm vi đã được chuẩn mực hóa, nó còn tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau Do vậy nó sẽ hỗ trợ cho pháp luật những vấn đề, những lĩnh vực mà pháp luật không thể hoặc chưa thể (vì các lý do khác nhau) điều chỉnh Về vấn đề này, các GTVHTT đóng vai trò quan trọng trong việc bỗ khuyết những hạn chế của pháp luật đối với việc điều chỉnh hành vi con người trong các quan hệ xã hội Những quy tắc, chuẩn mực pháp luật thường mang tính phổ cập và là những chuẩn mực tối thiểu cho mọi người phải thực hiện đồng thời nó được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước Do đó, các GTVHTT một khi được nhà nước thể chế hóa thành các quy tắc, chuẩn mực chung thì sẽ mang tính bắt buộc đối với mọi chủ thể khác nhau trong xã hội có nghĩa vụ bảo vệ và phát huy Sự tồn tại giữa pháp luật và văn hóa là song song nhau, không phụ thuộc lẫn nhau mà cũng không loại trừ nhau, trái lại còn hỗ trợ và bổ sung cho nhau phát huy hiệu quả hơn vì có cùng một mục đích là làm cho các quan hệ xã hội trật tự hơn, tốt đẹp hơn và phát triển theo những định hướng đã được xác lập Vì vậy, không nên tuyệt đối hóa vai trò của pháp luật hoặc bỏ qua hay đánh giá thấp các giá trị văn hóa trong xây dựng và phát triển xã hội Từ đó cho thấy một hệ thống pháp luật toàn diện, đồng bộ, phù hợp và bảo đảm tính thống nhất là điều kiện tiên quyết để bảo đảm hiệu lực thi hành cũng như phát huy

Trang 38

tác dụng đối với việc giữ gìn, phát huy các GTVHTT của dân tộc Ngược lại, nếu một

hệ thống pháp luật trở nên lỗi thời, lạc hậu hoặc hiệu lực thi hành kém hiệu quả rất khó

để giữ gìn và phát huy các giá trị tích cực của văn hóa truyền thống Đồng thời, đó cũng là mãnh đất màu mỡ để các hiện tượng tiêu cực thuộc yếu tố truyền thống trỗi dậy

và thống lĩnh đời sống tinh thần của xã hội

Pháp luật góp phần giữ gìn, phát huy các giá trị tích cực của văn hóa truyền thống phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội Trong mối quan hệ này pháp luật thúc đẩy các giá trị văn hóa phát triển và phát huy tác dụng Bởi trong hệ thống các GTVHTT thì những giá trị mang quy tắc phổ biến, phù hợp với sự tiến bộ và phát triển đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam được nhà nước ghi nhận

và bảo vệ thông qua việc hình thành hệ thống các văn bản nhằm bảo đảm hiện thực hóa chúng Bên cạnh đó, pháp luật cũng loại trừ dần những yếu tố thuộc về văn hóa nhưng

đã cũ kỹ, lỗi thời, lạc hậu không còn phù hợp với chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước bằng việc đặt ra các quy định thay thế hoặc cấm đoán việc thực hiện những hành vi nhất định Có thể nói với một hệ thống pháp luật không phù hợp, lạc hậu, không chứa đựng các giá trị xã hội phổ biến, đi ngược các giá trị truyền thống sẽ cản trở việc thực hiện các chính sách của nhà nước về văn hóa

và từ đó sẽ tác động tiêu cực đến việc giữa gìn, phát huy GTVHTT của dân tộc

Pháp luật không phải là ở chỗ “đẩy nhanh hay níu lại các quá trình khách quan của xã hội một cách duy ý chí theo chủ ý của nhà làm luật, mà khi nhu cầu khách quan của xã hội đã chín muồi thì đó chính là chân lý, là khuôn mẫu, là mô hình cần phải được pháp luật quy phạm hóa” [100, tr.46] Về vấn đề này C Mác viết: “Nhà làm luật không làm ra luật, không sáng chế ra luật lệ mà chỉ hình thức hóa chúng” và giải thích thêm: “Nhà lập pháp phải coi mình như là nhà khoa học tự nhiên Ông ta không làm ra pháp luật, ông ta không phát minh ra chúng, mà chỉ nêu chúng lên; ông ta biểu hiện những quy luật nội tại của mối quan hệ tinh thần thành những đạo luật thành văn có ý thức” [24, tr.128] Như vậy, có thể khẳng định rằng việc luật hóa các giá trị văn hóa đó là việc ghi nhận lại thực tế khách quan đặt ra mà đòi hỏi nhà nước cần phải thực hiện trong quá trình thực hiện các chức năng của mình Bên cạnh việc luật hóa các quy tắc, chuẩn mực thuộc GTVHTT, làm cho chúng phát huy yếu tố tích cực, có sức sống trong đời sống xã hội hiện đại, pháp luật còn thông qua các giá trị đó hình thành và phát triển những giá trị văn hóa mới tiên tiến, hiện đại Do đó, đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và được tổ chức

Trang 39

thực hiện nghiêm minh, triệt để nhằm hướng đến mục tiêu trên Một khi tính bắt buộc được công dân tự giác thực hiện một cách đầy đủ và chính xác thì pháp luật sẽ tác động

có hiệu quả tới việc giữ gìn, phát huy GTVHTT Từ đó sẽ góp phần tích cực thúc đẩy hình thành các giá trị văn hóa mới, tiên tiến, phù hợp hơn trong xã hội hiện đại

Sự tác động của pháp luật đến văn hóa còn được thể hiện ở chỗ pháp luật sẽ giúp định hướng hành vi của con người theo những yêu cầu khác nhau từ phía xã hội, qua đó cũng góp phần hạn chế các xung đột trong các mối quan hệ xã hội Thực tiễn đã chứng minh trong xã hội văn minh hiện đại, việc tuân theo pháp luật không điều kiện đã trở thành những chuẩn mực văn hóa của con người như văn hóa kinh doanh, văn hóa giao thông, văn hóa giáo dục, văn hóa công sở, văn hóa pháp lý, văn hóa từ chức Ngược lại pháp luật cũng tác động tiêu cực tới các giá trị văn hóa khi việc tuân theo pháp luật hoặc thực thi pháp luật cứng nhắc, bỏ qua những yêu cầu

về văn hóa dễ dẫn đến độc tài, độc đoán Điều này thể hiện rất rõ ở các kiểu pháp luật mang bản chất giai cấp bốc lột thống trị khi chúng muốn sử dụng pháp luật là công cụ để bốc lột, đàn áp giai cấp bị trị nhằm đoạt lấy những lợi ích cục bộ, cá nhân dẫn đến mất dân chủ, nhân quyền, chà đạp lên các GTVHTT tốt đẹp mà con người đã tạo ra Có thể khẳng định giữa pháp luật và văn hóa có quan hệ chặt chẽ với nhau trong việc xác định và thực hiện các mục tiêu văn hóa cụ thể, trong việc hình thành các thiết chế văn hóa cũng như các hành vi văn hóa của các chủ thể khác nhau trong xã hội Từ mối quan hệ này pháp luật khẳng định vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện đại, giàu bản sắc dân tộc

Giữa pháp luật và văn hóa đều có điểm tương đồng - đều là yếu tố thuộc kiến trúc tượng tầng, cho nên cùng chịu sự tác động của yếu tố chính trị và chịu sự quy định bởi các điều kiện về kinh tế, xã hội trong quá trình tồn tại và phát triển Do đó, một nền chính trị tốt với một hệ quan điểm tiến bộ cùng với nền kinh tế phát triển

và các điều kiện xã hội tốt đẹp sẽ bảo đảm được một hệ thống pháp luật hoàn thiện,

đó cũng là điều kiện tiên quyết cho hệ thống các giá trị văn hóa tốt đẹp hình thành

và cùng với pháp luật xác lập nên hệ thống các chuẩn mực điều chỉnh các quan hệ

xã hội Như vậy, mối quan hệ mật thiết giữa pháp luật với văn hóa cho thấy văn hóa- vốn dĩ tồn tại trong mọi mặt của đời sống xã hội nhưng vẫn cần tới pháp luật như là phương tiện bảo đảm hiệu quả để thể hiện nội dung, mục đích, yêu cầu, phổ biến các giá trị của mình trong đời sống xã hội Mặt khác, các giá trị văn hóa phải trở thành

Trang 40

nguyên tắc, mục tiêu của pháp luật khi đóng vai trò là quy tắc chung, phổ biến cho cách

xử sự của mọi thành viên khác nhau trong xã hội Có thể khẳng định rằng, những quan

hệ giữa pháp luật và văn hóa được phân tích như trên là tiền đề cơ bản để pháp luật thể hiện vai trò của mình trong giữ gìn, phát huy GTVHTT ở Việt Nam hiện nay

Ngoài ra, pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với đạo đức và các phong tục, tập quán trong quá trình giữ gìn, phát huy các GTVHTT của dân tộc Không khó để nhận thấy rằng các quy tắc đạo đức được hình thành trong quá trình giáo dục của cá nhân và qua hoạt động thực tiễn Quy tắc đạo đức chi phối, định hướng hành vi của mỗi cá nhân, cộng đồng trong việc giữ gìn, phát huy các GTVHTT Các hành vi ứng xử của cá nhân, cộng đồng trong giữ gìn, phát huy các GTVHTT phải phù hợp với chuẩn mực, tiến bộ xã hội Trong khi đó, pháp luật cũng quy định quy tắc xử sự của hành vi các chủ thể khi tham gia hoạt động giữ gìn, phát huy các GTVHTT nhưng các quy tắc ấy được pháp lý hóa bởi nhà nước với những quyền và nghĩa vụ cụ thể, rõ ràng hơn Như vậy, pháp luật và đạo đức có thể tạo ra những tương tác thuận chiều, những hợp lực trong quá trình bảo vệ, phát triển các GTVHTT Trong trường hợp này, đạo đức sẽ là môi trường, yếu tố tác động, bảo đảm để thực thi có hiệu quả các nội dung quy định của pháp luật về giữ gìn, phát huy các GTVHTT Do đó, nhà nước khi ban hành quy định pháp luật hoặc triển khai tổ chức thực hiện pháp luật cần chú ý khái thác những nhân tố hợp lý trong các quy tắc đạo đức để phát huy hiệu quả vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy các GTVHTT tốt đẹp của dân tộc

Riêng những phong tục, tập quán là những quy tắc ứng xử của cộng đồng, được thực hiện một cách tự giác và trở thành thói quen Trong khi đó, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành, hoặc thừa nhận Khác với phong tục, tập quán, quy định của pháp luật có tính bắt buộc, phổ biến, áp dụng cho tất cả mọi chủ thể trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Pháp luật có phạm vi điều chỉnh rộng lớn, có hiệu lực

cả không gian và thời gian trong khi phong tục, tập quán điều chỉnh phạm vi hẹp hơn Mặc dù vậy, cả pháp luật và phong tục, tập quán có quan hệ chặt chẽ với nhau và chúng đều là phương tiện điều chỉnh hành vi con người, tạo lập và thúc đẩy các quan

hệ xã hội phát triển ổn định Trong việc giữ gìn, phát huy các GTVHTT, pháp luật ghi nhận, củng cố, bảo vệ những phong tục, tập quán được coi là những GTVHTT, hoặc phong tục, tập quán đó cũng thực hiện sứ mệnh bảo vệ và giữ gìn các GTVHTT tốt đẹp của dân tộc Ngược lại, pháp luật hạn chế, loại bỏ dần những phong tục, tập quán cản trở hoặc gây khó khăn cho việc lưu giữ, bảo vệ, phát triển các GTVHTT Phong tục,

Ngày đăng: 12/06/2019, 22:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w