1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lí luận về giá trị thặng dư và ứng dụng của nó vào thực tiễn sản xuất kinh doanh ở Việt Nam

14 361 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 94,5 KB
File đính kèm ung-dung-gia-tri-thang-du-sxkd.rar (18 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Trong quyển I của bộ tư bản có tựa đề là “Về tư bản”, C.Mác đã trình bày một cách khoa học hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị tư bản mà trước đó, chưa ai có thể làm được. Một trong số các học thuyết được nêu ra là thuyết giá trị thặng dư, nhờ có nó mà toàn bộ bí mật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa được vạch trần, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu ra một cách chính xác, mà trong đó hai phương pháp sản xuất chính là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được áp dụng rộng rãi nhất nhằm tạo ra tư bản để tích luỹ và tái mở rộng sản xuất, đưa xã hội tư bản ngày càng phát triển. Hai phương pháp này đã được đưa vào ứng dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nước ta đang trong thời kì đổi mới, để phù hợp với những vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại và phát triển các học thuyết đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư. Đó là lí do em chọn đề tài: “Lí luận về giá trị thặng dư và ứng dụng của nó vào thực tiễn sản xuất kinh doanh ở Việt Nam” Mục đích nghiên cứu - Phân tích lý luận giá trị thặng dư - Nghiên cứu ứng dụng của lí luận thặng dư vào thực tiễn sản xuất kinh doanh ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu - Giá tri thặng dư được nghiên cứu thông qua các phạm trù sau: Sự chuyển hoá tiền tệ thành tư bản Hàng hoá sức lao động Bản chất giá trị thặng dư - Việt Nam ứng dung lí luận thăng dư vào thực tiễn sản xuất kinh doanh thông qua hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và tuyệt đối.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Trong quyển I của bộ tư bản có tựa đề là “Về tư bản”, C.Mác đã trình bày một cách khoa học hệ thống các phạm trù kinh tế chính trị tư bản mà trước đó, chưa ai có thể làm được Một trong số các học thuyết được nêu ra là thuyết giá trị thặng dư, nhờ có nó mà toàn bộ bí mật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa được vạch trần, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu ra một cách chính xác, mà trong đó hai phương pháp sản xuất chính là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được áp dụng rộng rãi nhất nhằm tạo ra tư bản

để tích luỹ và tái mở rộng sản xuất, đưa xã hội tư bản ngày càng phát triển Hai phương pháp này đã được đưa vào ứng dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới trong

đó có Việt Nam Nước ta đang trong thời kì đổi mới, để phù hợp với những vấn

đề mà thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại và phát triển các học thuyết đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư Đó là lí do em chọn đề tài: “Lí luận về giá trị thặng dư và ứng dụng của nó vào thực tiễn sản xuất kinh doanh ở Việt Nam”

Mục đích nghiên cứu

- Phân tích lý luận giá trị thặng dư

- Nghiên cứu ứng dụng của lí luận thặng dư vào thực tiễn sản xuất kinh doanh ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu

- Giá tri thặng dư được nghiên cứu thông qua các phạm trù sau:

Sự chuyển hoá tiền tệ thành tư bản

Hàng hoá sức lao động

Bản chất giá trị thặng dư

- Việt Nam ứng dung lí luận thăng dư vào thực tiễn sản xuất kinh doanh thông qua hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và tuyệt đối

Trang 2

NỘI DUNG 1.Lý luận về giá trị thặng dư

Trước Mác, ngay cả những nhà kinh tế tư bản lỗi lạc như D.Ricardo cũng không giải thích được vì sao trao đổi hàng hoá theo đúng quy luật giá trị mà nhà

tư bản vẫn thu được lợi nhuận Học thuyết về giá trị thặng dư ra đời là một trong những phát kiến lớn nhất mà Mác đã đóng góp cho nhân loại

1.1 Bản chất của giá trị thặng dư

Tiền tệ ra đời là kết quả lâu dài và tất yếu của quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá đồng thời tìên tệ cũng là khởi điểm của tư bản Nhưng bản thân tiền tệ không phải là tư bản Tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định, khi chúng được sử dụng để bóc lột sức lao động của người khác

Tiền được coi là tiền thông thườg thì vận đông theo công thức sau H-T-H nghĩa là sự chuyển hoá của hàng hoá thành tiền, rồi tiền lại chuyển hoá thành hàng hoá Còn tiền với tư cách là tư bản thì vận động theo công thức T-H-T tức

là sự chuyển hoá của tiền thành hàng hoá rồi hàng hoá lại chuyển hoá ngược lại thành tiền Bất cứ biến động nào vận động theo công thức T-H-T đều chuyển hoá thành tư bản

Mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu nên hàng hoá trao đổi phải có giá trị sử dụng khác nhau Sự vận động sẽ kết thúc ở giai đoạn hai khi những người trao đổi có được giá trị sử dụng mà người đó cần đến Còn mục đích lưu thông tư bản không phải là giá trị sử dụng

mà là giá trị, hơn nữa là giá trị tăng thêm Vì vậy số tiền thu về bằng số tiền ứng

ra thì sự vận động trở nên vô nghĩa Do vậy mà số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra nên công thức vận động đầy đủ của tư bản là T-H-T’ trong đó T’= T + ∆T Số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra Cac Mac gọi là giá trị thặng dư

Trang 3

Vậy có phải lưu thông đã làm cho tiền tăng thêm và do đó mà hình thành giá trị thặng dư hay không? các nhà kinh tế học tư sản đã cho rằng sự tăng thêm

đó là do lưu thông hàng hoá sinh ra Nhưng sự quả quyết của các nhà tư sản đều không có căn cứ

Trong lưu thông hàng hoá được thay đổi ngang giá thì chỉ có sự thay hình thái giá trị, còn tổng số giá trị cũng như phần giá trị thuộc về mỗi bên trao đổi là không đổi

Theo quan điểm của Cac Mac thì trong xã hội tư bản không có bất kỳ một nhà tư bản nào chỉ đóng vai trò người bán sản phẩm mà lại không phải là người mua các yếu tố sản xuất Vì vậy khi anh ta bán hàng hoá cao hơn giá trị vốn của

nó thì khi mua các yếu tố sản xuất ở đầu vào các nhà tư bản khác cũng bán cao hơn giá trị và như vậy cái được lợi khi bán sẽ bù cho cái thiệt hại khi mua Cuối cùng vẫn không tìm thấy nguồn gốc sinh ra ∆T

Nếu hàng hoá được bán thấp hơn giá trị thì số tiền mà người đó sẽ được lợi khi là người mua cũng chính là số tiền mà người đó sẽ mất đi khi là người bán Như vậy, việc sinh ra ∆T không thể là kết quả của việc mua hàng thấp hơn giá trị của nó Giả định có một số người nhờ mánh khoé mà chuyên mua được rẻ bán được đắt thì như Cac Mac nói điều đó chỉ có thể là giải thích được sự làm giầu của những thương nhân cá biệt chứ không thể giải thích được sự làm giầu của toàn bộ giai cấp các nhà tư bản Bởi vì tổng số giá trị trước lúc trao đổi cũng như trong và sau khi trao đổi không thay đổi mà chỉ có phần giá trị nằm trong tay mỗi bên trao đổi là thay đổi

Như vậy, nếu người ta thay đổi những vật ngang giá thì không sinh ra giá trị thặng dư và nếu người ta trao đổi những vật không ngang giá thì cũng không sinh ra giá trị thặng dư Lưu thông không tạo ra giá trị mới

Trang 4

Nhưng nếu người có tiền không tiếp xúc gì với lưu thông tức là đứng ngoài lưu thông thì không thể làm cho tiền của mình lớn lên được

“vậy thì tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông”

Sự chuyển hoá của tiền thành tư bản, không thể phát sinh từ bản thân số tiền đó Trong việc mua bán hàng hoá tiền chỉ là phương tiện lưu thông để thực hiện giá cả hàng hoá, nên trước sau giá trị của nó vẫn không thay đổi Sự chuyển hoá đó xảy ra trong quá trình vận động của tư bản Do đó hàng hoá tao ra giá trị thặng dư phải là một thứ hàng hoá đặc biệt mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính

là nguồn gốc sinh ra giá trị Thứ hàng hoá đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường

Không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá, mà sức lao động chỉ biến thành hàng hoá trong điều kiện lịch sử nhất định Cac Mác đã nhấn mạnh sức lao động chỉ trở thành hàng hoá khi có đủ hai điều kiện sau:

Một là người lao động phải tự do về thân thể, phải làm chủ được sức lao động của mình và có quyền đem bán cho người khác

Hai là người lao động phải tước hết tư liệu tư liệu sản xuất để trở thành người

vô sản và bắt buộc phải bán sức lao động, vì không còn cách nào khác để sinh sống

Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hoá Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện quyết định để biến thành tư bản

Cũng như những hàng hoá khác, hàng hoá sức lao động có hai thuộc tính

là giá trị và giá trị sử dụng

Giá trị hàng hoá sức lao động do thời gian lao động cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động Giá trị hàng hoá sức lao động là giá trị của tư liệu sinh

Trang 5

hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân, vợ con anh ta, những yếu tố tinh thần, dân tộc, tôn giáo của những người công nhân, những chi phí đào tạo người công nhân

Giá trị hàng hoá sức lao động giống giá trị hàng hoá thông thường ở chỗ:

nó phản ánh một lượng lao động hao phí nhất định để tạo ra nó Nhưng giữa chúng ta có sự khác nhau căn bản, giá trị hàng hoá hàng hoá thông thường biểu thị hao phí lao động trực tiếp để sản xuất hàng hoá nhưng hàng hoá sức lao động lại là sự hao phí lao động gián tiếp thông qua việc sản xuất ra những vật phẩm tiêu dùng để nuôi sống người công nhân Hàng hoá sức lao động ngoài yếu tố vật chất nó còn có yếu tố tinh thần lịch sử, dân tộc, yếu tố gia đình và truyền thống nghề nghiệp mà hàng hoá thông thường đó không có

Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động của người công nhân Quá trình

đó là quá trình sản xuất ra hàng hoá, đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị hàng hoá sức lao động Phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt Như vậy giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động có tính chất đặc biệt là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó

Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng mà

là giá trị, hơn không phải là giá trị đơn thuần mà là giá trị thặng dư

Nhà tư bản muốn sản xuất ra 1 giá trị sử dụng có một giá trị trao đổi nghĩa

là một hàng hoá Hơn nữa, nhà tư bản muốn sản xuất ra một hàng hoá có giá trị lớn hơn tổng giá trị những tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động mà tư bản đó

bỏ ra để mua, nghĩa là muốn sản xuất ra một giá trị thặng dư

Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa các quá trình sả xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư C Mac

Trang 6

viết: “Với tư cách là sự thống nhất giữa hai quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá; với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá”

Quá trình lao động với tư cách là quá trình tư bản tiêu dùng sức lao động

có hai đặc trưng:

Một là, người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản

Hai là, sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản, chứ không phải của người công nhân

C.Mac đã lấy ví dụ về việc sản xuất của nước Anh làm đối tượng nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư Để nghiên cứu, Mac đã sử dụng phương pháp giả định khoa học thông qua giải quyết chặt chẽ tiến hành nghiên cứu: không xét đến ngoại thương, giá cả thống nhất với giá trị, toàn bộ giá trị tư liệu sản đem tiêu dùng chuyển hết một lần giá trị sản phẩm và chỉ nghiên cứu trong nền kinh tế sản xuất giản đơn

Một là, nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư chúng ta nhận thấy mâu thuẫn của công thức chung của tư bản đã được giải quyết Việc chuyển hoá tiền thành tư bản diễn ra trong lĩnh vực lưu thông và đồng thời không diễn ra trong lĩnh vực đó Chỉ có trong lưu thông nhà tư bản mới mua được một thứ hàng hoá đặc biệt, đó là hàng hoá sức lao động Sau đó nhà tư bản sử dụng hàng hoá đó trong sản xuất, tức là ngoài lĩnh vực lưu thông để sản xuất giá trị thặng

dư cho nhà tư bản Do đó tiền của nhà tư bản mới biến thành tư bản

Hai là, phân tích giá trị sản phẩm được sản xuất, chúng ta thấy có hai phần:

Trang 7

Giá trị những tư liệu sản xuất nhờ lao động cụ thể của người công nhân

mà được bảo tồn và di chuyển vào giá trị của sản phẩm mới gọi là giá trị cũ

Giá trị do lao động trừu tượng của người công nhân tạo ra trong quá trình lao động gọi là giá trị mới, phần giá trị mới này lớn hơn giá trị sức lao động, nó bằng giá trị sức lao động cộng thêm giá trị thặng dư

Ba là, ngày lao động của người công nhân trong xí nghiệp tư bản được chia thành hai phần: Một phần gọi là thời gian lao động cần thiết Phần thời gian còn lại là thời gian lao động thặng dư: trong thời gian lao động thặng dư người công nhân tạo một lượng giá trị lớn hơn giá trị sức lao động hay tiền lương nhà

tư bản đã trả cho mình, đó là giá trị thặng dư và bộ phận này thuộc về nhà tư bản (nhà tư bản chiếm đoạt)

Từ đó mà C.Mac đã đi đến khái niệm về giá trị thặng dư:

Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra bên ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị tư bản chiếm đoạt.

1.2 Phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi kỹ thuật còn thấp thì phương pháp chủ yếu mà các nhà tư bản thường dùng để tăng giá trị thặng dư đó là kéo dài ngày lao động của công nhân, trong điều kiện thời gian lao động là tất yếu không thay đổi

Giả sử thời gian lao động là 8 giờ trong đó 4 giờ là thời gian lao động cần thiết và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư khi đó trình độ bóc lột của nhà tư bản là 100% Giá trị ngày lao động kéo dài thêm 2 giờ trong khi thời gian lao động cần thiết không đổi thì thời gian lao động thặng dư tăng lên một cách tuyệt đối, vì thế giá trị thặng dư cũng tăng lên, trình độ bóc lột tăng lên đạt 200% (m’=200%)

Trang 8

Các nhà tư bản tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động và phương pháp bóc lột này đem lại hiệu quả rất cao cho các nhà tư bản Nhưng dưới chủ nghĩa

tư bản mặc dù sức lao động của công nhân là hàng hoá, nhưng nó tồn tại trong

cơ thể sống con người vì vậy mà người công nhân cần có thời gian để ăn ngủ nghỉ ngơi giải trí để phục hồi sức khoẻ nhằm tái sản xuất sức lao động Mặt khác, sức lao động là thứ hàng hoá đặc biệt vì vậy ngoài yếu tố vật chất người công nhân đòi hỏi phải có thời gian cho nhu cầu sinh hoạt về tinh thần, vật chất, tôn giáo của mình Như vậy, về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hạn thời gian lao động tất yếu, nhưng không thể vượt qua giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động

Vì thời gian lao động quá dài, do vậy mà đã dẫn đến phong trào giai cấp

vô sản đấu tranh đòi giai cấp tư sản phải rút ngắn thời gian lao động trong ngày Chính vì vậy mà giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mới tinh vi hơn, đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối

Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Để khắc phục những vấn đề mà phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối gặp phải thì nhà tư bản đã áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối vào sản xuất Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân Mặt khác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kĩ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, bó lột giá trị thặng dư tương đối Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động xã hội, nhờ đó tăng thời gian lao động thăng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động vẫn như cũ Vì giá trị sức lao động được quyết định bởi các tư liệu tiêu dùng và dịch vụ để sản xuất, tái sản xuất sức

Trang 9

lao động, nên muốn hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người lao động Điều đó chỉ được thực hiện bằng cách tăng năng suất lao động xã hội cho các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt

và dịch vụ

Giả sử ngày lao động là 8 giờ, nó được chia ra 4 giờ là thời gian lao động tất yếu, 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó tỷ suất giá trị thặng dư là 100% Nhưng khi máy móc được thay đổi, ngày lao động không thay đổi, thời gian lao động tất yếu của người công nhân chỉ còn lại là 3 giờ, thời gian lao động thặng dư đã tăng lên là 5 giờ, vì vậy tỷ suất thặng dư đã tăng lên là 166% (Đồng nghĩa với trình độ bóc lột tăng lên)

Sự ra đời và phát triển và sử dụng rộng rãi máy móc đã làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng Máy móc có ưu thế tuyệt đối so với các công cụ thủ công, vì công cụ thủ công là công cụ lao động do con người trực tiếp sử dụng bằng sức lao động nên bị hạn chế bởi khả năng sinh lý của con người, nhưng khi lao động bằng máy móc sẽ không gặp phải những hạn chế đó Vì thế, việc sử dụng máy móc làm năng suất lao động tăng lên rất cao, làm giảm giá trị

tư liệu sinh hoạt, làm hạ thấp giá trị hàng hoá sức lao động, rút ngắn thời gian lao động tất yếu kéo dài thời gian lao động thặng dư, giúp nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư hơn Phương pháp giá trị thặng dư tương đối ngày càng được nâng cao do các cuộc cách mạng khoa học, đặc biệt cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển với tốc độ vũ bão, đem lại sự phát triển chưa từng có trong lịch sử loài người, nó khác với cuộc cách mạng khoa học là dẫn đến sự hình thành các nguyên lý công nghệ sản xuất mới, chứ không đơn thuần về công

cụ sản xuất như cách mạng khoa học, do đó dẫn đến sự tăng trưởng cao, đưa xã hội loài người bước sang một nền văn minh mới - nền văn minh trí tuệ

Trang 10

Một dạng của giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư siêu ngạch, đây

là cái đích hướng tới của các nhà tư bản Giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư thu được do áp dụng công nghệ mới làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của nó Xét trong từng trường hợp giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nó sẽ bị mất đi khi công nghệ đó đã được phổ biến rộng rãi, nhưng xét theo phạm vi toàn xã hội thì đây một hiện tượng thường xuyên Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là kì vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kĩ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, làm cho năng suất xã hội tăng lên nhanh chóng C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng

dư tương đối, vì giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động

2 Vận dụng lý luận giá trị thặng dư tương đối vào hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay

2.1 Sự cần thiết phải nhận thức lại và phát triển lý luận giá trị thặng dư trong thời đại hiện nay

Mặc dù những tư tưởng, nội dung và phương pháp nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư của Mác, về cơ bản, còn giá trị trong thời đại ngày nay, tuy nhiên vẫn cần được nhận thức lại và phát triển Ngày nay điều kiện lịch sử đã có nhiều thay đổi khác xa so với điều kiện lịch sử của những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, chứ chưa nói đến thế kỷ 19 mà Mác đã nghiên cứu Do vậy, để tránh mắc sai lầm mang tính giáo điều, rập khuôn, duy ý trí, một số kết luận của Mác trong điều kiện lịch sử cũ lại dựa trên phương pháp giả định gắn với mục đích nghiên cứu CNTB cổ điển không nên hiểu và vận dụng nguyên si Hơn nữa, đọc

và hiểu đúng nội dung lý luận giá trị thặng dư trong bộ “Tư bản” là việc không phải ai cũng làm được Vì vậy mà phải có sự nghiên cứu cụ thể để rút ra những kết luận mới cho những trường hợp cụ thể

Ngày đăng: 12/06/2019, 18:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w