Sự thay đổi thành phần khí nhà kính trong khí quyển như là một nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu, làm thay đổi đặc điểm trong chu trình thủy văn.. 1.2 KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN 1.2.1 Khí tượ
Trang 31 PGS TS Hà Thanh Toàn - Trưởng ban
2 GS TS Nguyễn Thanh Phương - Phó Trưởng ban Thường trực
3 PGS TS Lê Việt Dũng - Phó Trưởng ban
4 PGS TS Lê Văn Khoa - Ủy viên Khoa học
5 PGS TS Bùi Văn Trịnh - Ủy viên Xuất bản
6 ThS Trần Thanh Điện - Ủy viên Biên tập kiêm Thư ký
BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN THỰC HIỆN BỞI
TRUNG TÂM HỌC LIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trần, Văn Tỷ
Tài nguyên nước Đồng bằng sông Cửu Long : Hiện trạng và giải pháp sử dụng bền vững / Trần Văn Tỷ, Trần Minh Thuận, Lê Anh Tuấn – Cần Thơ : Nxb Đại học Cần Thơ, 2016
228 tr : minh họa ; 24 cm
Sách có danh mục tài liệu tham khảo
ISBN: 9786049196836
1 Water resources 2 Quản lý tài nguyên nước 3 Tài nguyên dưới đất
I Nhan đề II Trần, Minh Thuận III Lê, Anh Tuấn
T600
Trang 4Ngày 31/3/2016 là ngày quan trọng, ghi nhận dấu mốc 50 năm hình thành và phát triển của Trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT) Từ khi thành lập đến nay, đặc biệt là trong hai thập niên gần đây, Trường đã có rất nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học thông qua các chương trình hợp tác trong nước và quốc tế Hàng chục nghìn công trình nghiên cứu của cán bộ, sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh của Trường đã được công
bố trong và ngoài nước dưới hình thức các bài báo khoa học, sách chuyên khảo, sách kỹ thuật, Trong đó, nhiều giải pháp công nghệ và kỹ thuật được ứng dụng hiệu quả, phục vụ cho sự phát triển của đất nước, đặc biệt
là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, để lại nhiều dấu ấn đối với cộng đồng.Nhằm ghi nhận những thành tựu khoa học nổi bật của Nhà trường trong những năm qua và chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày thành lập (31/3/1966 - 31/3/2016), Trường ĐHCT xuất bản chuỗi sách chuyên khảo thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội Với nội dung hàm chứa thông tin khoa học cao, dựa trên việc tổng hợp kết quả nghiên cứu của cán bộ, sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh của Trường, hy vọng rằng chuỗi sách này sẽ là nguồn tài liệu hữu ích cho độc giả trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
HÀ THANH TOÀN Hiệu trưởng
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC 1
Trần Văn Tỷ, Lê Anh Tuấn, Huỳnh Vương Thu Minh và Nguyễn Thanh Bình 1.1 CHU TRÌNH THỦY VĂN 1
1.2 KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN 2
1.2.1 Khí tượng thủy văn Việt Nam và các phân vùng 2
1.2.2 Khí tượng thủy văn ĐBSCL 4
1.3 TÀI NGUYÊN NƯỚC ĐBSCL 10
1.3.1 Tài nguyên nước mặt 10
1.3.2 Tài nguyên nước dưới đất 13
1.3.3 Tài nguyên nước mưa 20
1.4 QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC .21
1.4.1 Các văn bản quy phạm pháp luật 21
1.4.2 Tổ chức và thể chế 23
1.4.3 Hạn chế và thách thức 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
CHƯƠNG 2: QUẢN TRỊ TÀI NGUYÊN NƯỚC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 29
Huỳnh Vương Thu Minh và Nguyễn Thanh Bình 2.1 LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ TÀI NGUYÊN NƯỚC 29
2.1.1 Khái niệm 29
2.1.2 Khung lý thuyết phân tích quản trị tài nguyên nước 30
2.1.3 Quản lý tổng hợp tài nguyên nước 32
2.2 KHUNG PHÁP LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC 35
2.2.1 Công ước và luật quốc tế Việt Nam tham gia 35
2.2.2 Luật tài nguyên nước và các luật có liên quan 35
2.2.3 Văn bản dưới luật về quản lý tài nguyên nước 38
2.3 THỂ CHẾ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC 40
2.3.1 Khái niệm chính sách 40
2.3.2 Khái niệm thể chế và thể chế quản lý TNN ở Việt Nam 40
2.3.3 Những thách thức trong quản lý tài nguyên nước ở ĐBSCL 42
2.4 QUẢN TRỊ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở MỘT SỐ LĨNH VỰC 44
2.4.1 Cấp nước và vệ sinh môi trường 44
2.4.2 Nông nghiệp và thủy lợi 50
2.4.3 Khai thác và nuôi trồng thủy sản 54
2.4.4 Công nghiệp 57
2.4.5 Giao thông thủy nội địa 58
2.4.6 Thiên tai liên quan đến nước 61
Trang 7Trần Minh Thuận, Huỳnh Thị Cẩm Hồng, Huỳnh Văn Hiệp,
Trần Văn Tỷ và Huỳnh Vương Thu Minh
3.1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT
Ở ĐBSCL 67
3.1.1 Tầng chứa nước bề mặt gần 69
3.1.2 Tầng nước nước ngầm sâu hơn giới hạn 69
3.1.3 Nguồn nước và lưu lượng nước ngầm 70
3.2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NDĐ 73
3.2.1 Quá trình quản lý tài nguyên NDĐ 73
3.2.2 Hiện trạng quản lý tài nguyên NDĐ (từ khi Luật Tài nguyên nước ra đời năm 1998) 75
3.3 CÁC KIẾN THỨC CƠ BẢN LIÊN QUAN VÀ MỤC TIÊU CỦA VIỆC QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NDĐ 78
3.3.1 Các kiến thức cơ bản 79
3.3.2 Mục tiêu quản lý tài nguyên nước dưới đất 90
3.4 NỘI DUNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NDĐ 91
3.4.1 Các dữ liệu cần thiết cho việc xác định công suất khai thác bền vững 91
3.4.2 Quản lý sự phân bổ nguồn NDĐ và các tác động liên quan 92
3.4.3 Quản lý tối ưu việc khai thác và sử dụng NDĐ 97
3.4.4 Kế hoạch quản lý tài nguyên NDĐ 97
3.4.5 Các mô hình dùng trong quản lý tài nguyên NDĐ 99
3.5 THÁCH THỨC VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CỦA VIỆC QUẢN LÝ BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN NDĐ 104
3.5.1 Chế độ phân bổ NDĐ vượt quá giới hạn cho phép và thiếu hụt trữ lượng NDĐ 104
3.5.2 Sự hạ thấp/dâng cao mực nước và sự sụt lún mặt đất 105
3.5.3 Sự sụt lún mặt đất và sự xâm nhập mặn .111
3.5.4 Chất lượng NDĐ và sự ô nhiễm 116
3.5.5 Thiếu dữ liệu quan trắc/thiếu độ tin cậy và thiếu nguồn nhân lực quản lý 119
3.5.6 Các thách thức chủ yếu 119
3.5.7 Một số giải pháp chính 120
3.6 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VIỆC QUẢN LÝ BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN NDĐ TRONG TƯƠNG LAI .121
3.6.1 Chính sách phát triển quản lý bền vững tài nguyên NDĐ 121
3.6.2 Quản lý bền vững tài nguyên NDĐ phù hợp với sự biến đổi khí hậu .127
Trang 83.6.4 Thuế sử dụng NDĐ và nước thương phẩm .128
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
CHƯƠNG 4: QUY HOẠCH VÀ SỬ DỤNG NƯỚC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: HIỆN TRẠNG, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BỀN VỮNG 133
Lê Anh Tuấn 4.1 LƯỢC KHẢO LỊCH SỬ SỬ DỤNG NƯỚC Ở ĐBSCL ĐẾN NĂM 1995 133
4.1.1 Quá trình khai thác tài nguyên nước ĐBSCL trước năm 1930 133 4.1.2 Các công trình thủy nông và quy hoạch thủy lợi ở ĐBSCL trong giai đoạn 1930 - 1975 138
4.1.3 Các kế hoạch thủy lợi ở ĐBSCL giai đoạn 1975 – 1995 139
4.1.4 Dự án Master Plan cho ĐBSCL của Việt Nam – Hà Lan 141
4.2 CÁC QUY HOẠCH THỦY LỢI ĐBSCL SAU 1995 141
4.2.1 Định hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996- 2000 đối với việc phát triển thủy lợi, giao thông và xây dựng nông thôn ĐBSCL 142 4.2.2 Quy hoạch về kiểm soát và sử dụng nước lũ vùng ĐBSCL giai đoạn 1994 – 2010 143
4.2.3 Quy hoạch đê biển - đê cửa sông ĐBSCL 144
4.2.4 Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch thủy lợi Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020 145
4.2.5 Định hướng Chiến lược Phát triển thủy lợi Việt Nam 148
4.2.6 Quy hoạch tổng thể thủy lợi ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng 148
4.2.7 Kế hoạch Phát triển Đồng bằng (MDP) của chính phủ Hà Lan 149
4.3 CÁC THÁCH THỨC TRONG SỬ DỤNG NƯỚC Ở ĐBSCL 156
4.4 GIẢI PHÁP CHO AN NINH VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NƯỚC BỀN VỮNG Ở ĐBSCL .158
TÀI LIỆU THAM KHẢO 162
CHƯƠNG 5: CÔNG TRÌNH THỦY LỢI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 165
Lê Anh Tuấn và Trần Văn Tỷ 5.1 CÔNG TRÌNH THỦY LỢI Ở ĐBSCL .165
5.1.1 Công trình kênh, mương .165
5.1.2 Công trình trạm bơm 167
5.1.3 Công trình cống 170
Trang 95.2 MỘT SỐ DỰ ÁN THỦY LỢI LỚN Ở ĐBSCL 181
5.2.1 Tổng quan 181
5.2.2 Dự án ngọt hoá bán đảo Cà Mau/ Dự án Quản Lộ - Phụng Hiệp 182
5.2.3 Hệ thống thủy lợi Nam Măng Thít 185
5.2.4 Dự án thủy lợi Tứ giác Long Xuyên/ Dự án thoát lũ ra Biển Tây 187 5.2.5 Dự án Kiểm soát lũ Bắc Vàm Nao 189
5.2.6 Dự án cống đập Ba Lai 191
5.2.7 Dự án ngọt hoá Gò Công 192
5.2.8 Dự án Thủy lợi Ô Môn – Xà No 194
5.2.9 Dự án Thủy lợi Đồng Tháp Mười 194
5.2.10 Dự án thủy lợi tỉnh Sóc Trăng 196
5.3 CÁC DỰ ÁN DỰ KIẾN TRIỂN KHAI 204
5.3.1 Dự án đê biển ĐBSCL 204
5.3.2 Dự án phát triển thủy lợi thích nghi với biến đổi khí hậu 206
TÀI LIỆU THAM KHẢO 212
Trang 10Bảng 1.1: So sánh hiện trạng khai thác NDĐ với nhu cầu nước năm
2010 17
Bảng 2.1: So sánh luật tài nguyên nước (năm 1998 và 2012) 37
Bảng 2.2: Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 48
Bảng 2.3: Kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, tính đến năm 2013 49
Bảng 2.4: Biểu mức thu thủy lợi phí đối với đất trồng lúa ở các vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam (1.000 đồng/ha/vụ) 52
Bảng 2.5: Đóng góp của đồng bằng sông Cửu Long cho cả nước trong lĩnh vực thủy sản, số liệu năm 2013 55
Bảng 2.6: Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp không chứa kim loại nặng 58
Bảng 2.7: So sánh vận chuyển hành khách và hàng hóa bằng các phương tiện khác nhau giữa khu vực ĐBSCL và cả nước, số liệu năm 2009 59
Bảng 3.1: Lượng bổ cập của các tầng chứa NDĐ ở lưu vực ĐBSCL (m3/ngày) 80
Bảng 3.2: Trữ lượng của các tầng chứa NDĐ ở lưu vực ĐBSCL (´1.000 m3/ngày) 82
Bảng 3.3: Các tầng chứa nước được phát hiện 84
Bảng 3.4: Các tầng cách nước được phát hiện 84
Bảng 3.5: Trữ lượng tiềm năng khai thác nước dưới đất 85
Bảng 3.6: Trữ lượng tiềm năng khai thác nước dưới đất ĐBSCL 85
Bảng 3.7: Một thí dụ điển hình của quy hoạch phân bổ khai thác cho từng tầng chứa NDĐ đến năm 2015 của tỉnh Đồng Tháp 94
Bảng 3.8: Số lượng giếng khai thác (Nguồn: Nguyễn Tiến Tùng, 2010) 114
Bảng 3.9: Tổng lưu lượng khai thác nước dưới đất ĐBSCL (2010) (Nguồn: Nguyễn Tiến Tùng, 2010) 116
Bảng 5.1: Số lượng các trạm bơm điện vừa và nhỏ cần đầu tư xây dựng vùng ĐBSCL (Theo Quyết định số 1446/QĐ-TTg ngày 15 tháng 9 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ) 169
Bảng 5.2: Thống kê công trình thuỷ lợi chủ yếu ở vùng ĐBSCL 174
Bảng 5.3: Các vùng Dự án thủy lợi trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng 196
Trang 11Hình 1.1: Mô tả khái niệm về chu trình thủy văn toàn cầu 2
Hình 1.2: Bản đồ vị trí các trạm quan trắc khí tượng thủy văn ĐBSCL 5
Hình 1.3: Bản đồ đẳng trị mưa năm ĐBSCL 6
Hình 1.4: Cao trình đỉnh tại Châu Đốc và Long Xuyên (1998-2011) 7
Hình 1.5: Phân phối dòng chảy trong năm tại trạm (a) Tân Châu và (b) Châu Đốc 12
Hình 1.6: Trữ lượng NDĐ ở ĐBSCL 15
Hình 1.7: Lượng NDĐ khai thác và còn có thể khai thác ở ĐBSCL 16
Hình 1.8: Diễn biến động thái NDĐ tầng Pleistocene tại tỉnh Sóc Trăng 18 Hình 1.9: Chỉ số WPI (a) và năm thành phần của WPI (b) các huyện của tỉnh Sóc Trăng 19
Hình 2.1: Phân biệt chức năng quản trị và quản lý 29
Hình 2.2: Khung lý thuyết phân tích quản trị tài nguyên nước 31
Hình 2.3: Ba trụ cột của quản lý tổng hợp tài nguyên nước 33
Hình 2.4: Hệ thống thứ bậc của các văn bản pháp luật ở Việt Nam 39
Hình 2.5: Tổ chức bộ máy nhà nước về quản lý TNN giai đoạn 1995 - 2002 41
Hình 2.6: Tổ chức bộ máy nhà nước TNN trong giai đoạn 2002 - 2015 42
Hình 3.1: Mặt cắt ngang của ĐBSCL gồ ghề theo đường dẫn của sông Bassac 69
Hình 3.2: Bản đồ áp lực nước tầng Pleistocene thượng - trung trong mùa mưa 1995 70
Hình 3.3a: Quá trình bổ cập trong mùa lũ 71
Hình 3.3b: Nước trở về sông mùa khô 71
Hình 3.4: Bản đồ địa lý ĐBSCL chỉ ra rằng các đơn vị phù sa cổ Pleistocene (qp) lộ diện ra ở khu vực Đồng Tháp Mười và Kiên Giang 73
Hình 3.5: Bản đồ phân vùng triển vọng khai thác NDĐ tỉnh Sóc Trăng 78
Hình 3.6: Chu trình thủy văn 80
Hình 3.7: Sơ đồ minh họa các hướng bổ cập cho tầng Pleistocene - trên (qp2-3) 80
Hình 3.8: Mặt cắt ĐC-TV tuyến I-J cho thấy tầng Pleistocene - trên (qp2-3) lộ thiên 81
Hình 3.9: Sự cân bằng nước dưới đất 83
Hình 3.10: (a) Trạng thái cân bằng tự nhiên và (b) Ảnh hưởng của giếng bơm 89
Hình 3.11: Diễn biến hạ thấp mực nước ngầm tầng Qp2-3 tại khu công nghiệp Trà Nóc- Cần Thơ 96
Trang 12Hình 3.15: Bản đồ kết quả đường đồng mức cột áp NDĐ tầng
Pleistocene-trên của tỉnh Cần Thơ chạy cho hiện trạng năm
1997 được tính toán bởi mô hình vùng ĐBSCL với lưới sai phân 2 x 2 km Với lượng nhu cầu khai thác hiện tại khoảng 54.000m3/ngày, giá trị cột áp tính toán của NDĐ bị tác động nhỏ vào khoảng ít hơn 50cm tại tâm của phễu hạ thấp 100
Hình 3.16: Bản đồ kết quả đường đồng mức cột áp NDĐ tầng
Pleistocene-trên của Cần Thơ chạy cho kịch bản đến năm
2020 được tính toán bởi mô hình vùng ĐBSCL với lưới sai phân 2 x 2 km Với lượng khai thác cao 360.000 m3/ngày, giá trị cột áp NDĐ tính toán tại tâm phễu hạ thấp là -2m Và NDĐ được
bổ cập trở lại toàn bộ bởi nước thấm qua bờ sông Hậu 101
Hình 3.17: Phân bố các nguồn bổ cập (hệ thống kênh rạch) của tỉnh Cà
Mau và các vị trí giếng khai thác cùng các biên chung quanh diện tích mô hình 102
Hình 3.18: Các điều kiện biên của lưới mô hình thành phố Cà Mau 102 Hình 3.19: Mặt phân cách mặn nhạt tại các tầng Qp2-3 ,Qp1 và N22 đến
năm 2030 tại Cà Mau 102
Hình 3.20: Sơ đồ rào cho thấy các hướng xâm nhập mặn dự báo đến
năm 2030 tại Cà Mau 102
Hình 3.21: Kết quả mô hình dự báo hướng chảy và đường đồng mức
mực NDĐ của tầng Pleistocene-trên (Qp2-3) của Cần Thơ đến năm 2024 (cao trình mực NDĐ thấp nhất là -30m) 103
Hình 3.22: Đồ thị dao động mực nước giai đoạn 1995÷2010 của tầng
Holocene (qh) (Nguồn: Đoàn Văn Cánh và ctv., 2013) 106
Hình 3.23: Đồ thị quan hệ tầng chứa nước qp3 và lượng mưa thời kì
Hình 3.26: Đồ thị quan hệ tầng Pliocen giữa-trên ( n21 và n22) và lượng mưa
thời kì 1995-2010 (Nguồn: Đoàn Văn Cánh và ctv., 2013) 108
Hình 3.27: Đồ thị quan hệ tầng chứa nước Miocen trên (n13) và lượng mưa
thời kì 1995-2010 (Nguồn: Đoàn Văn Cánh và ctv., 2013) 108
Hình 3.28 (A) Tỷ lệ lớn nhất của giảm cột nước thủy lực (ví dụ hạ thấp)
giữa tầng chứa nước, nội suy từ quan sát dữ liệu giếng Vị trí giếng là được đánh dấu theo a, b, c (B) Tỷ lệ nén lún cơ bản, nội suy từ tính toán vị trí giếng Lún là một đặc tính của giảm cột nước và chiều dày sét Đường in đậm là được nội suy bên ngoài của khu vực dữ liệu bao phủ (C) Đường InSAR cơ bản của tỷ lệ thấp của lún mặt đất Dữ liệu JAXA, METI 2011
Trang 13Hình 3.29: Sơ đồ minh họa công thức của Terzaghi để tính lún do hạ
mực nước ngầm tại 2 tầng không áp và bán áp .110
Hình 3.30: Sơ đồ quan hệ giữa nước mặn và nhạt ở tầng không áp theo nguyên lý Ghyben-Herberzg (Nguồn Todd, 1967) .111
Hình 3.31: Phân bố nước mặn Tầng Holocene (qh) 112
Hình 3.32: Phân bổ nước mặn tầng Pleistocene- trên (qp3) .112
Hình 3.33: Phân bổ nước mặn tầng Pleistocene giữa –trên (qp23) 113
Hình 3.34: Phân bổ nước mặn tầng Pleistocene dưới (qp1) 113
Hình 3.35: Phân bổ nước mặn tầng Pliocene ( )1 2 n 113
Hình 3.36: Phân bổ nước mặn tầng dưới Pliocene giữa ( )2 2 n .113
Hình 3.37: Phân bổ nước mặn tầng Miocene trên ( )3 1 n 114
Hình 3.38: Tỷ lệ khai thác nước dưới đất mục đích sử dụng .115
Hình 3.39: Tỷ lệ khai thác nước trong theo các tầng chứa nước .115
Hình 3.40: Tỷ lệ khai thác nước dưới đất theo đơn vị hành chính tỉnh 115 Hình 4.1: Cảnh người dân đào kinh Chợ Gạo (1876) 136
Hình 4.2: Ảnh chụp Xáng II, thiết bị này đã từng thực hiện đào kinh Xà No .137
Hình 4.3: Bản đồ kế hoạch xây dựng kinh xáng Xà No nối Cần Thơ và Rạch Giá 137
Hình 4.4: Tiến trình hình thành một số kinh đào chính ở ĐBSCL từ 1700 – 1930 138
Hình 4.5: Các vị trí công trình thủy lợi chính ở ĐBSCL 147
Hình 4.6: Bốn (4) kịch bản phát triển cho vùng ĐBSCL 151
Hình 4.7: Các tác nhân tạo sức ép gây suy giảm tài nguyên nước ở ĐBSCL 158
Hình 4.8: Tháp phát triển bền vững trên nền tảng an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và an ninh xã hội cho vùng ĐBSCL 160
Hình 5.1: Quy định về đánh số ký hiệu kênh mương theo TCVN 4118:2012 166
Hình 5.2a: Bản đồ kênh trục chính ở ĐBSCL 166
Hình 5.2b: Một tuyến kênh đất ở Bạc Liêu 167
Hình 5.3: Trạm bơm ở xã Thuận Hưng, tỉnh Hậu Giang .168
Hình 5.4: Cống Bảo Định – Tiền Giang 170
Hình 5.5: Đê biển Bạc Liêu 171
Hình 5.6: Hiện trạng hệ thống kênh mương tại ĐBSCL 172
Hình 5.7: Bản đồ bốn vùng thủy lợi chính và 120 phân vùng tưới tại ĐBSCL 173
Hình 5.8: Các dự án thủy lợi lớn ở vùng ĐBSCL 182
Hình 5.9: Bản đồ hệ thống sông và kênh dẫn nước ở bán đảo Cà Mau 183 Hình 5.10: Mô hình canh tác lúa - tôm ở Bạc Liêu 184
Trang 14Hình 5.13: Một tuyến kênh trục trong hệ thống thủy lợi Nam Măng Thít 187
Hình 5.14: Bản đồ hệ thống thủy lợi vùng Tứ Giác Long Xuyên 188
Hình 5.15: Bản đồ Dự án Kiểm soát lũ Bắc Vàm Nao 190
Hình 5.16: Một cống kiểm soát nước trong dự án Bắc Vàm Nao 191
Hình 5.17: Cống đập Ba Lai – Bến Tre .192
Hình 5.18: Cống Xuân Hoà, kết nối với sông Tiền, thuộc Dự án ngọt hoá Gò Công 193
Hình 5.19: Cống Vàm Gồng có nhiệm vụ ngăn mặn trong Dự án ngọt hoá Gò Công 193
Hình 5.20: Bản đồ ranh giới Dự án tưới Ô Môn – Xà No 194
Hình 5.21: Bản đồ hệ thống thủy lợi Đồng Tháp Mười 195
Hình 5.22: Bản đồ hiện trạng 7 dự án thủy lợi tỉnh Sóc Trăng 197
Trang 15ADB Asian Development Bank
BĐKH-NBD Biến đổi khí hậu - nước biển dâng
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
CMIP5 Coupled Model Intercomparison Project 5
IUCN
IWRM International Union for Conservation of Nature Integrated Water Resources Management
QCVN 01:2009/BYT Quy chuẩn Việt Nam 01:2009/Bộ Y tế
TP HCM/TP Thành phố Hồ Chí Minh/Thành phố
UNICEF The United Nations Children's Fund
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC
Trần Văn Tỷ1, Lê Anh Tuấn2, Huỳnh Vương Thu Minh2
và Nguyễn Thanh Bình3
1.1 CHU TRÌNH THỦY VĂN
Nước trong tự nhiên không ngừng tuần hoàn do tác dụng của năng lượng mặt trời và trọng lực trái đất Nước trên mặt biển, đại dương, trên mặt sông, hồ ở mặt đất và từ trong sinh vật được mặt trời đốt nóng, không ngừng bốc hơi và phát tán vào khí quyển Hơi nước trong khí quyển tập trung thành các khối mây Khi gặp lạnh, hơi nước ngưng tụ thành mưa rơi xuống mặt biển, đại dương và mặt đất Một phần nước mưa bốc hơi trở lại khí quyển, một phần thấm xuống đất thành dòng chảy ngầm rồi đổ
ra sông biển, một phần khác chảy tràn trên mặt đất theo trọng lực rồi đổ
ra sông, biển Cứ như thế, nước từ trái đất bay vào khí quyển, rồi từ khí quyển đổ vào đất lại tạo ra một chu trình khép kín, hình thành vòng tuần
hoàn nước trong thiên nhiên, ta gọi đó là chu trình thủy văn (hydrological
cycle)
Một cách tổng quát, chu trình thủy văn là một khái niệm mô tả quá trình chuyển hoá dòng nước trong hệ thống nước tự nhiên, gồm sự chuyển động nước trên bề mặt, nước dưới đất và khí quyển (Hình 1.1) Hầu hết các loại nước đều tham gia vào vòng tuần hoàn trong chu trình thủy văn, chỉ trừ các loại nước ở trạng thái liên kết hóa học trong các tinh thể khoáng vật, nước nằm trong các tầng sâu của trái đất và nước ở trong các núi băng vĩnh cửu ở hai cực Sự thay đổi thành phần khí nhà kính trong khí quyển như là một nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu, làm thay đổi đặc điểm trong chu trình thủy văn Những biểu hiện thay đổi có thể bao gồm:
Trang 17Hình 1.1: Mô tả khái niệm về chu trình thủy văn toàn cầu
• Thay đổi nhiệt độ, áp suất không khí và tốc độ gió trong bầu khí quyển làm gia tăng bốc hơi tăng và giảm độ ẩm trong đất
• Thay đổi trong sự hình thành mây và gây mưa Thay đổi lượng mưa theo mùa, vị trí mưa, tần xuất và cường độ mưa
• Thay đổi sự cân bằng giữa tuyết và mưa
• Thay đổi trong quá trình tan chảy băng giá
• Thay đổi trong lớp phủ thực vật và quá trình sử dụng đất
• Thay đổi nhiệt độ và thể tích đại dương làm mực nước dâng
• Thay đổi diện tích và tính chất các khu đất ngập nước
• Thay đổi diện tích rừng và gia tăng nguy cơ cháy rừng, mất đất rừng
• Thay đổi trong tiêu thụ nước của quá trình tự nhiên và của con người
1.2 KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN
1.2.1 Khí tượng thủy văn Việt Nam và các phân vùng
Khí tượng - thủy văn là một trong các lĩnh vực của thủy văn học, nghiên cứu sự chuyển dịch nước và năng lượng giữa mặt đất và bề mặt
Trang 18sông suối với khí quyển thấp Việt Nam là thành viên chính thức của
Tổ chức Khí tượng thế giới từ năm 1975; thành viên của Ủy ban Bão năm
1979 Cùng với việc Việt Nam gia nhập Khối ASEAN, Khí tượng Thủy văn Việt Nam cũng trở thành thành viên chính thức của Tiểu ban Khí tượng và Vật lý địa cầu ASEAN (SCMG) vào năm 1995
Lãnh thổ Việt Nam vẫn tồn tại 2 miền khí hậu: Miền khí hậu phía Bắc (với 4 vùng khí hậu: Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ) và miền khí hậu phía Nam (với 3 vùng khí hậu: Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ) Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thuộc miền khí hậu Nam Bộ
Miền khí hậu phía Nam bao gồm Nam Bộ và Tây Nguyên có khí hậu
nhiệt đới cận xích đạo, hai mùa khô-ẩm với nhiệt độ quanh năm cao, với một mùa mưa và một mùa khô tương phản sâu sắc với mùa gió
Nguyên nhân cơ bản là khí hậu miền này đã nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của gió mùa cực đới Ở đây, một cơ chế gió mùa thuần nhất được thiết lập: gió mùa mùa Đông là Tín phong bán cầu Bắc, luồng không khí nhiệt đới hướng Đông Bắc tiêu biểu cho đới nội chí tuyến; gió mùa mùa
hạ là gió mùa Tây Nam chính thường của khu vực Đông Nam Á Ngoài ra, điều kiện vĩ độ thấp (8,300 – 150Bắc) của miền này cũng cần phải nói đến, chúng quy định một số nét đặc biệt trong biến trình năm của các yếu tố khí hậu; và đến tác dụng của dãy Trường Sơn đã khơi sâu thêm sự phân hóa mùa mưa ẩm đặc trưng cho khí hậu gió mùa Một số đặc điểm cơ bản của khí hậu Miền khí hậu phía Nam:
(a) Đặc điểm cơ bản đầu tiên của khí hậu Miền khí hậu phía Nam là
có một nền nhiệt độ cao và hầu như không thay đổi trong năm Do không
có sự can thiệp của nhân tố phi địa đới là gió mùa cực đới, nên tính chất nhiệt đới quy định bởi điều kiện bức xạ dồi dào của các vĩ độ nội chí tuyến được bảo toàn đầy đủ
(b) Một đặc điểm cơ bản khác của kiểu khí hậu Miền khí hậu phía Nam là sự phân hóa theo mùa sâu sắc trong chế độ mưa ẩm tiêu biểu cho khí hậu gió mùa Ở đây, hằng năm phân biệt rõ rệt một mùa khô trùng với mùa gió mùa mùa đông vốn là luồng tín phong ổn định, và một mùa mưa trùng với mùa gió mùa mùa hạ mang lại những khối không khí nhiệt đới, xích đạo nóng ẩm với những nhiễu động khí quyển thường xuyên Trong mùa mưa, từ khoảng tháng IV – V đến tháng X – XI tập trung đến 90% (hoặc hơn) lượng mưa toàn năm
Nhìn chung, khí hậu Miền khí hậu phía Nam ít biến động hơn hai Miền khí hậu phía Bắc và Đông Trường Sơn Điều đó được thể hiện rõ trong chế độ nhiệt Trong Miền khí hậu phía Nam, tuy khí hậu mang những nét cơ bản nói trên, song ở từng nơi cũng thể hiện những đặc điểm riêng
Trang 19Trước hết, hai vùng khí hậu có thể phân biệt rõ rệt sự khác nhau về nhiều mặt giữa vùng Tây Nguyên và vùng Đồng bằng Nam Bộ Vùng đồng bằng Nam Bộ có nền nhiệt độ cao hơn và đồng nhất trên toàn vùng, đồng thời
có khí hậu mang những nét của dạng xích đạo
1.2.2 Khí tượng thủy văn ĐBSCL
a) Đặc điểm khí tượng
Vùng ĐBSCL, nhiệt độ trung bình tháng trong toàn vùng thay đổi
từ 25,3-27,0oC, khá đều theo không gian và thời gian; số giờ nắng rất cao,
từ 2.200-2.400 giờ mỗi năm, trung bình 6-7 giờ mỗi ngày; lượng bốc hơi trung bình từ 1.000-1.300 mm; độ ẩm tương đối của không khí cao, từ 78-82; lượng mưa trung bình toàn ĐBSCL vào khoảng 1.600-1.800 mm, ven biển Tây có lượng mưa cao hơn (2.000-2.400 mm) và ven biển Đông
có lượng mưa thấp hơn (1.400-1.600 mm) Hình 1.2 thể hiện bản đồ vị trí các trạm quan trắc khí tượng thủy văn ĐBSCL (Deltares-Delta Allience-DWRPIS, 2011)
ĐBSCL nhìn chung rất ít bão Theo thống kê bão đổ bộ vào bờ Biển Đông trong gần 100 năm qua, chỉ khoảng 30% số trận bão là có ảnh hưởng đến vùng biển Nam Bộ, trong đó không quá 10% đổ bộ trực tiếp Trong
100 năm qua, 3 trận bão ảnh hưởng lớn đến ĐBSCL là trận bão khủng khiếp năm 1904, bão Linda năm 1997 và bão Durian năm 2006 (SIWRP, 2012) Hình 1.3 thể hiện bản đồ đẳng trị mưa năm ĐBSCL (IMHEN, 2010)
b) Đặc điểm thủy văn
Hàng năm, thông thường từ tháng VII, nước thượng nguồn dồn
về nhiều làm cho mực nước tại đầu nguồn sông Cửu Long (Tân Châu và Châu Đốc) tăng nhanh Khoảng từ nửa cuối tháng VII đến cuối tháng VIII, mực nước Tân Châu thường đạt trên mức 3,50 m và Châu Đốc trên 3,00m Mực nước lũ cao nhất năm thường xảy ra trong khoảng thời gian từ hạ tuần tháng IX đến trung tuần tháng X, với tần suất cao nhất vào thượng tuần tháng X Mực nước cao nhất tại Tân Châu 5,12 m (1961) và 5,06 m (2000), tại Châu Đốc 4,90 m (2000) Bên cạnh đó, năm lũ nhỏ (1998), mực nước đỉnh lũ Tân Châu 2,81 m và Châu Đốc 2,54 m Mực nước trung bình đỉnh lũ Tân Châu 4,13 m và Châu Đốc 3,62 m Chênh lệch mực nước đỉnh lũ nhiều năm Tân Châu 2,31 m và Châu Đốc 2,35 m Cường suất lũ lên và xuống thấp, trung bình 3-4 cm/ngày Những trận lũ lớn và xuất hiện sớm 10-12 cm/ngày (1984), cao nhất có thể đạt 20-30 cm/ngày (SIWRP, 2012)
Lũ ở ĐBSCL thông thường có dạng 1 đỉnh, đỉnh lũ thường xuất hiện vào khoảng cuối tháng IX đến nửa đầu tháng X Những năm lũ kép (2 đỉnh) thường là những năm lũ lớn (1961, 1978, 2000, 2001 và 2002), đỉnh phụ thường xuất hiện trong tháng VIII, hoặc đầu tháng IX, có khi xấp
xỉ với đỉnh chính tháng X Những năm lũ lớn, đỉnh thứ 2 thường xảy vào thời kỳ triều cường Biển Đông, do vậy, tình hình ngập lụt càng nghiêm
Trang 20trọng ở ĐBSCL Nếu căn cứ vào mực nước lũ tại Tân Châu để phân thành các nhóm năm lũ nhỏ (<3,5 m), lũ trung bình (3,6-4,4 m) và lũ lớn (>4,5 m) thì tần số xuất hiện năm lũ nhỏ là 21%, năm lũ trung bình là 46 % và năm lũ lớn là 33% (SIWRP, 2012) Quá trình diễn biến mực nước lũ tại Châu Đốc và Long Xuyên giai đoạn 1998-2011 được thể hiện trên Hình 1.4 (BĐ-I, II, III: lần lượt là mức báo động I, II và III).
Hình 1.2: Bản đồ vị trí các trạm quan trắc khí tượng thủy văn ĐBSCL
(Nguồn: Deltares-Delta Allience-DWRPIS, 2011)
MŨI CÀ MAU
Trang 21Hình 1.3: Bản đồ đẳng trị mưa năm ĐBSCL
(Nguồn: IMHEN, 2010)
MŨI CÀ MAU
Trang 22(Ghi chú: BĐ-I, BĐ-II, BĐ-III: lần lượt là mức báo động I, II và III)
Hình 1.4: Cao trình đỉnh tại Châu Đốc và Long Xuyên (1998-2011)
c) Diễn biến khí tượng - thủy văn ở ĐBSCL những năm gần đây
v Tình hình chung
Trong các thập niên gần đây, ĐBSCL đã và đang gánh chịu những tác động khá mạnh mẽ do biến đổi khí hậu, nước biển dâng gây nên, trong đó
lũ có những biến động ngày càng lớn giữa năm lũ lớn và lũ nhỏ, bão nhiều
và mạnh hơn, hạn hán nghiêm trọng hơn, cháy rừng, sạt lở bờ sông, tố lốc, triều cường xuất hiện ngày càng nguy hiểm hơn Chỉ tính trong 10 năm qua, ĐBSCL đã có (SIWRP, 2012 và IMHEN, 2010):
- Từ 2000 – 2002 là ba năm liên tiếp có lũ lớn, trong đó năm 2000 là
lũ lớn lịch sử Dãy tài liệu mực nước nhiều năm tại Tân Châu và Châu Đốc
từ 1924 đến nay cho thấy có 3 năm lũ lớn liên tiếp, trong đó trận lũ năm
2000 có điều khá đặc biệt (mặc dù trước đó đã có những nhóm năm lũ lớn nhưng trận lũ này vẫn lớn hơn) Tại Tân Châu, đỉnh lũ năm 2000 (5,06 m) chỉ đứng thứ 2 sau lũ 1961 (5,12 m), trong khi tổng lượng đạt đến 430 tỷ
m3, lớn hơn lũ 1961 chừng 15 tỷ m3
- Bảy năm liên tiếp, từ 2003 đến 2009, ĐBSCL có lũ dưới trung bình, trong đó tại Tân Châu năm 2006 có mực nước 4,00 m và năm 2008 chỉ đạt 3,65 m, thuộc năm cực nhỏ trong 70 gần đây Lũ dòng chính nhỏ, tổng lượng nhìn chung chỉ đạt 80 - 90% tổng lượng trung bình, kéo theo mực nước lũ trong nội đồng cũng rất thấp, một vài năm hầu như nội đồng đói
lũ (các năm 2003, 2008 và 2009, tổng lượng lũ chỉ đạt dưới 70% tổng lượng lũ trung bình)
Trang 23- Hai lần có bão lớn đổ bộ và ảnh hưởng đến ĐBSCL là bão Linda năm 1997 và bão Durian năm 2006 Theo thống kê, trong hơn 100 năm qua, ĐBSCL hứng chịu 3 trận bão đổ bộ trực tiếp, trong đó có trận bão năm 1904, cách bão Linda 93 năm, trong khi bão Durian chỉ cách bão Linda 9 năm
- Tám năm liền ĐBSCL gặp hạn, đặc biệt hạn kết hợp dòng chảy kiệt trên sông Mê Công và xâm nhập mặn sâu vào năm 2004 và 2008 Diễn biến hạn - mặn đầu năm 2010 cũng cho thấy có xu thế gần với năm 2004
- Tố lốc xuất hiện nhiều và gây hậu quả nghiêm trọng
- Cháy rừng xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt đợt cháy rừng Vườn Quốc gia U Minh Thượng vào năm 2002 mà ảnh hưởng của nó đến nay vẫn chưa được khắc phục
- Sạt lở bờ biển, bờ sông xảy ra với số lần, số vị trí và cường độ cao, như sạt lở ven biển Tiền Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và gần đây là biển phía Tây của tỉnh Cà Mau Sạt lở bờ sông, kênh cũng xảy ra với cường suất cao, ảnh hưởng nhất định đến ổn định kinh tế-xã hội của nhiều địa phương, như sạt lở bờ sông Tiền tại Tân Châu, Hồng Ngự, Sa Đéc, Vĩnh Long… sạt
lở trên sông Hậu tại Châu Đốc và trên QL91 thời gian gần đây…
- Nước biển có xu thế ngày càng dâng cao, theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tại Vũng Tàu (biển Đông), mực nước biển trung bình 50 năm qua đã tăng khoảng 12 cm Triều cường trên nền nước biển dâng ngày càng uy hiếp nghiêm trọng các vùng đất thấp, kể cả các thành phố ven biển ảnh hưởng triều như Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long…, (Hiroshi Takagi et al., 2014a, b)
v Diễn biến mực nước vùng ĐBSCL
- Tại Tân Châu - Châu Đốc: Mực nước trạm Châu Đốc khá nhạy cảm với diễn biến mực nước thượng lưu sông Mê Công Khảo sát diễn biến mực nước tại trạm từ 1978 - 2008 (30 năm) trên biểu đồ cho ta thấy diễn biến mực nước cao nhất hàng năm đường xu thế biến đổi trung bình tăng 1,5 cm/năm, trên biểu đồ diễn biến mực nước chân triều thấp nhất đường
xu thế biến đổi tăng 1,33 cm/năm và trên biểu đồ diễn biến mực nước trung bình năm đường xu thế biến đổi tăng 0,46 cm/năm
- Tại Cần Thơ: Tài liệu từ năm 1977 - 2008 (32 năm) cho thấy do ảnh hưởng bởi nước ngọt thượng lưu nên chân triều tại khu vực TP Cần Thơ được nâng lên cao, mùa kiệt biên độ còn từ 2,2-2,6 m (từ Thốt Nốt tới Cần Thơ), mùa lũ biên độ chỉ còn 1,1-1,8 m (từ Cần Thơ tới Thốt Nốt) Đây vẫn là điều kiện khá thuận lợi cho việc tiêu thoát nước (SIWRP, 2012)
Trang 24d) Tình hình biến đổi khí hậu - nước biển dâng
v Biến đổi khí hậu thượng lưu sông Mê Công
Hiện trên lưu vực Mê Công có nhiều nghiên cứu và dự báo về biến đổi khí hậu (BĐKH) Theo IPCC (Intergovernmental Panel on Climate Change - Tổ chức liên chính phủ về biến đổi khí hậu), đến 2030, trên lưu vực Mê Công, nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,79oC, lượng mưa trung bình tăng 200 mm (15,3%), chủ yếu vào mùa mưa Lượng mưa mùa khô tăng ở phía Bắc lưu vực và giảm ở phía Nam lưu vực (bao gồm hầu hết
hạ lưu vực Mê Công) Tổng lượng dòng chảy năm tăng 21% Lũ tăng trên tất cả các vùng trong lưu vực, đặc biệt gây tác động lớn đến phía hạ lưu dòng chính Mê Công Theo một nghiên cứu của chuyên gia Úc thuộc Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), đến 2050, tổng lượng dòng chảy xuống Kratie tăng khoảng 10% Một số nghiên cứu của các nước và tổ chức quốc
tế khác như IWMI (International Water Management Institute), Hà Lan… cho rằng đến sau năm 2070, lũ sông Mê Công có thể tăng thêm 30-40%
và dòng chảy kiệt giảm 20-30% Gần đây nhất, tháng 9/2009, Ủy hội sông
Mê Công đánh giá, do BĐKH, đến 2050, so với giai đoạn 1985-2000, trong khi dòng chảy lũ sẽ giảm 7-8% tại Stung Treng/Kratie thì dòng chảy kiệt lại tăng xấp xỉ 20% cũng tại hai vị trí này Tuy nhiên, đối với Tân Châu
và Châu Đốc (hai vị trí cửa ngõ vào ĐBSCL) thì Ủy hội Mê Công (MRC - Mekong River Commission) cho thấy mùa lũ tăng 1-2% và mùa kiệt tăng khoảng 10% (SIWRP, 2012 và IMHEN, 2010)
v Biến đổi khí hậu ở ĐBSCL
Theo “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng ở Việt Nam” của Bộ
Tài nguyên và Môi trường (tháng 6/2009), đối với vùng Nam bộ (trong đó
có ĐBSCL), ứng với mức theo kịch bản phát thảo trung bình thì nhiệt độ đến 2020 sẽ tăng 0,4oC, 2030 tăng 0,6oC và 2050 tăng 1,0oC Lượng mưa đến 2020 tăng 0,3%, năm 2030 tăng 0,4% và năm 2050 tăng 0,8% Đáng lưu ý, lượng mưa trong các tháng mùa khô và đầu mùa mưa (từ tháng XII năm trước đến tháng V năm sau) giảm 5,8% vào năm 2020, 8,5% vào năm 2030 và 15,6% vào năm 2050 Như vậy, tuy lượng mưa cả năm có xu thế tăng nhưng lượng mưa đầu mùa mưa giảm là nguy cơ thiếu hụt nước tưới cho sản xuất vụ Hè-Thu, khiến nhu cầu nước lấy từ sông kênh lớn hơn (SIWRP, 2012, IMHEN, 2010) Một số kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của BĐKH lên sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL như: ảnh hưởng của BĐKH lên năng suất lúa vùng đê bao khép kín An Giang (Nguyễn Thị
Mỹ Hạnh và ctv., 2012a, b), lên năng suất lúa và hoa màu vùng ven biển Vĩnh Châu, Sóc Trăng (Huynh Vuong Thu Minh et al., 2015); ảnh hưởng của BĐKH lên dòng chảy lũ ĐBSCL (Tri et al., 2012); đánh giá hiện trạng
hạn khí tượng và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên hạn hán ở ĐBSCL
Trang 25(Trần Văn Tỷ và ctv., 2015); đánh giá và lựa chọn mô hình khí hậu toàn
cầu GCMs (Global Climate Models) từ Coupled Model Intercomparison Project 5 (CMIP5) thích hợp cho khu vực ĐBSCL (Nguyễn Trung Tính và Trần Văn Tỷ, 2015)
v Nước biển dâng
Trong 50 năm qua, mực nước trung bình vùng biển Đông của
ĐBSCL tăng lên 12 cm Theo “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng
ở Việt Nam” của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), tháng 6/2009,
ứng với mức theo kịch bản phát thải trung bình, mực nước trung bình biển Đông vùng ĐBSCL tiếp tục tăng thêm 12 cm vào năm 2020, 17 cm vào năm 2030 và 30 cm vào năm 2050 (75 cm vào năm 2100) Bộ TN&MT kiến nghị các ngành và địa phương sử dụng kết quả theo kịch bản này để xây dựng chiến lược ứng phó với NBD Trong báo cáo trên, Bộ TN&MT
cũng đề xuất “Đến cuối năm 2010 sẽ hoàn thành việc cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam, đặc biệt là nước biển dâng, cho từng giai đoạn
từ 2010 đến 2100 Các kịch bản có đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn Đến năm 2015 tiếp tục cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam, đặc biệt là nước biển dâng” Tuy nhiên, hai vấn đề quan trọng cần lưu ý là trong kịch
bản trên đối với ĐBSCL mà báo chưa đề cập, đó là:
- Mực nước biển dâng chỉ mới công bố mực nước dâng trung bình, trong khi đỉnh và chân thủy triều mới là vấn đề quan trọng, quyết định hình thức và quy mô công trình ứng phó Đỉnh triều cường mới chính là nguyên nhân gây ngập lụt do triều ở ĐBSCL và thành phố Hồ Chí Minh Báo cáo chưa cho thấy nếu mực nước biển trung bình tăng lên 30 cm thì đỉnh triều và chân triều có tăng lên tương ứng hay không?
- Báo cáo cũng chỉ mới dựa vào sự gia tăng mực nước tại Hòn Dấu (Hải Phòng) và Vũng Tàu (Bà Rịa-Vũng Tàu) ở biển Đông để xây dựng kịch bản, trong khi ĐBSCL còn ảnh hưởng của triều biển Tây Liệu triều biển Tây có tăng như triều biển Đông?
1.3 TÀI NGUYÊN NƯỚC ĐBSCL
1.3.1 Tài nguyên nước mặt
a) Tổng quan về tài nguyên nước mặt ở Việt Nam
Ở nước ta, địa hình đồi núi chiếm đến 3/4 diện tích lãnh thổ, tập trung phần lớn ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc và miền Trung, phần diện tích còn lại là châu thổ và đồng bằng phù sa, chủ yếu là Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và ĐBSCL Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mặc dù lượng mưa trung bình nhiều năm trên toàn lãnh thổ vào khoảng 1.940 mm/năm nhưng do ảnh hưởng của địa hình đồi núi nên lượng mưa
Trang 26phân bố không đều trên cả nước và biến đổi mạnh theo thời gian, điều này
đã và đang tác động lớn đến trữ lượng và phân bố tài nguyên nước ở Việt Nam Nước ta có hơn 2.360 con sông với chiều dài từ 10 km trở lên, trong
đó có 109 sông chính Toàn quốc gồm 16 lưu vực sông với diện tích lưu vực lớn hơn 2.500 km2, 10/16 lưu vực có diện tích trên 10.000 km2 Tổng diện tích các lưu vực sông trên cả nước lên đến trên 1.167.000 km2, trong
đó, phần lưu vực nằm ngoài diện tích lãnh thổ chiếm đến 72%
c) Tài nguyên nước mặt ĐBSCL
ĐBSCL là phần cuối cùng của châu thổ sông Mê Công, địa hình vùng ĐBSCL thấp dần theo 2 hướng: từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Khí hậu vùng ĐBSCL mang tính nhiệt đới, nóng, ẩm với nền nhiệt cao và
ổn định theo 2 mùa: mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 (hơn 90% lượng mưa tập trung vào mùa mưa như các tháng 9, 10), mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Theo đó, mùa lũ ở ĐBSCL thường kéo dài khoảng 6 tháng (tháng 7 đến tháng 12) với diễn biến khá hiền hòa với biên độ tại Tân Châu, Châu Đốc từ 3,5 - 4,0 m và lên xuống với cường suất trung bình 5 - 7 cm/ngày và cao nhất cũng chỉ ở mức 20 - 30 cm/ngày Chế độ thủy văn, thủy lực ở ĐBSCL rất phức tạp, theo đó, chất lượng môi trường nước cũng đa dạng theo từng khu vực Chế độ ngập mặn và quá trình xâm nhập mặn ở ĐBSCL chịu sự chi phối của chế độ bán nhật triều không đều từ Biển Đông
đã ảnh hưởng đến khoảng 1,4 - 1,5 triệu ha đất Quá trình chuyển dịch cơ cấu sang nuôi tôm nước mặn cũng làm diễn biến xâm nhập mặn gia tăng nhanh chóng ở khu vực ĐBSCL (Tổng cục Môi trường, 2012)
Dòng chảy năm:
Mô đun dòng chảy năm trung bình thời kỳ nhiều năm biến đổi trong phạm vi từ dưới 10 l/s.km2 ở khu giữa sông Tiền - sông Hậu ở tỉnh Đồng Tháp - An Giang đến 30 l/s.km2 ở bán đảo Cà Mau Tổng lượng dòng chảy năm trung bình nhiều năm của ĐBSCL khoảng 500 km3, trong đó khoảng 23,0 km3 được hình thành trong ĐBSCL, 477 km3 từ trung thượng lưu sông Mê Công chảy vào ĐBSCL (IMHEN, 2010)
Mức bảo đảm nước bình quân trong 1 năm trên 1 km2 diện tích ở ĐBSCL đến 14.700.103 m3/km2 và cho 1 người là 31.560 m3/người (vào năm 2005) Tuy nhiên, đến 95,4% tổng lượng dòng chảy năm là từ trung thượng lưu đổ vào ĐBSCL, nên nếu chỉ tính lượng dòng chảy được hình thành ở ĐBSCL, thì mức bảo đảm nước bình quân trong 1 năm trên 1 km2diện tích khoảng 676.103 m3/km2 và cho 1 người là khoảng 1.450 m3/người - vào loại thấp so với các hệ thống sông khác ở Việt Nam Phân phối dòng chảy trong năm tại trạm Tân Châu và Châu Đốc (Hình 1.5a và b) (INHEN, 2010)
Trang 27(a) Tân Châu (b) Châu Đốc
Hình 1.5: Phân phối dòng chảy trong năm tại trạm (a) Tân Châu
và (b) Châu Đốc
(Nguồn: IMHEN, 2010)
Chất lượng nước sông:
Nhìn chung, chất lượng nước trên dòng chính có sự biến đổi theo mùa rõ rệt Hàm lượng các chất hòa tan trong mùa cạn cao hơn trong mùa
lũ Chất lượng nước lũ ở dọc biên giới còn tốt, không chua, hàm lượng các độc tố trong giới hạn cho phép; nhưng do phần lớn phù sa lắng đọng trên phần đồng bằng thuộc lãnh thổ Campuchia, nên khi chảy tràn qua biên giới vào ĐBSCL, hàm lượng phù sa trong nước lũ rất thấp, tháng cao nhất cũng không quá 200 g/m3 (IMHEN, 2010)
Trong vùng ngập lụt, diễn biến của chất lượng nước khá phức tạp
do bị chi phối bởi các yếu tố khí hậu, thủy văn và hoạt động của con người Hàm lượng các chất hòa tan chính như: Na, K, Ca2+, Mg2+, Fe2+, Al3+, SO42+, Cl-, HCO3- biến đổi theo mùa, mùa cạn cao hơn mùa lũ và nhìn chung vẫn nằm trong giới hạn cho phép Tuy nhiên, nước mặt ở ĐBSCL đã
bị ô nhiễm vi sinh cao với nồng độ Coliform trung bình khoảng 300.000 - 1.500.000 con/100ml, nguyên nhân chủ yếu là do các chất thải sinh hoạt, công nghiệp và thuốc trừ sâu được thải trực tiếp vào nguồn nước, không qua xử lý làm sạch (IMHEN, 2010)
Nước chua là một vấn đề lớn, nhất là ở vùng ngập lụt Nước chua chủ yếu phát sinh trong vùng đất phèn mà Đồng bằng sông Cửu Long có
Trang 28khoảng 1,6 triệu ha đất phèn Thời gian bị chua thường từ tháng V đến tháng VII, một số nơi đến tháng VIII, IX Riêng hai vùng ngập lụt Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên còn bị chua vào cuối mùa lũ, đầu mùa cạn, vào hai tháng XII- I Sự lan truyền của nước chua ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước và tác động xấu đến sản xuất và đời sống (IMHEN, 2010) Chế độ thủy văn ĐBSCL chịu ảnh hưởng mạnh của dòng chảy sông
Mê Công, thủy triều Biển Đông, vịnh Thái Lan và chế độ mưa nội vùng Do
có hai phía giáp biển nên vùng ven biển bị mặn xâm nhập mạnh, vào mùa khô mặn xâm nhập sâu vào nội đồng Nước sông ngòi, kênh rạch và trong đồng ở ven biển còn bị nhiễm mặn, nhất là vào mùa cạn, mặn xâm nhập sâu vào trong hệ thống sông ngòi kênh rạch và đồng ruộng; xâm nhập sâu nhất thường vào các tháng II - IV khi lượng nước từ thượng nguồn đổ về
ít (IMHEN, 2010)
Nhìn chung nước sông ngòi, kênh rạch trong ĐBSCL còn tốt, nhưng
đã và đang bị ô nhiễm với mức độ khác nhau bởi nước thải và chất thải không qua xử lý làm sạch từ các khu dân cư, các đô thị, khu công nghiệp, các tàu thuyền trên sông và việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học từ đồng ruộng Ngoài ra, nước mặt còn bị nhiễm chua phèn và bị nhiễm mặn
ở vùng ven biển (IMHEN, 2010)
1.3.2 Tài nguyên nước dưới đất
Nước là nguồn tài nguyên thiết yếu và quan trọng nhất của cuộc sống nhưng ngày càng trở nên khan hiếm Sự khan hiếm nước là một trong những vấn đề chính phải đối mặt của thế giới trong thế kỷ XXI Nhiều quốc gia đang phải đối mặt với thách thức do nhu cầu nước ngày càng gia tăng, trong khi nguồn cung lại hạn chế, hạn hán định kỳ, cạn kiệt và
ô nhiễm (UNDP, 2006) Nước dưới đất (NDĐ) tại Việt Nam khá phong phú với chất lượng tốt và phân bố rộng khắp nơi, tập trung vào một số tầng chứa nước chính Vấn đề đáng báo động là nguồn NDĐ của Việt Nam đã
và đang đối mặt với vấn đề xâm nhập mặn trên diện rộng, ô nhiễm vi sinh
và kim loại nặng nghiêm trọng do thiếu quy hoạch và không có kế hoạch bảo vệ nguồn nước (Cục Quản lý Tài nguyên nước, 2013) Trữ lượng khai thác tiềm năng là lượng NDĐ có thể khai thác được từ các tầng chứa nước trong một khoảng thời gian nhất định mà không biến đổi về lưu lượng, chất lượng và tác động không đáng kể đối với môi trường
ĐBSCL có chín tầng chứa nước trong các trầm tích lỗ hổng Các tầng chứa nước Miocene giữa trên (n12-3) và tầng chứa nước trong đá gốc chưa được nghiên cứu do vậy chưa có đủ thông tính để đánh giá Bảy tầng chứa nước còn lại bao gồm: Holocene (qh), Pleistocene trên (qp3), Pleistocene giữa - trên (qp2-3), Pleistocene dưới (qp1), Pliocene giữa (n22), Pliocene dưới (n21) và Miocene trên (n13) (Liên đoàn Điều tra và Quy hoạch Tài nguyên nước Miền Nam, 2013)
Trang 29Vùng ven biển ĐBSCL có nguồn NDĐ khá phong phú, chứa đựng trong các phức hệ Holocene, Pleistocene, Pliocene, Miocene, phức hệ lỗ hổng (cát) và các khe nứt (đá) Tuy nhiên, cũng như tình trạng chung của ĐBSCL, do nhiều vùng nước ngầm bị nhiễm mặn nên trữ lượng tốt bị hạn chế và sự phân bố nước có chất lượng tốt rất không đều Theo nghiên cứu của Liên đoàn địa chất 8, NDĐ ĐBSCL thuộc loại nước ngầm có nguồn bổ sung (IMHEN, 2010).
Nước ngầm tầng nông chứa trong tầng Holocene có mối liên quan mật thiết với nước mặn, chất lượng nước xấu vì bị nhiễm mặn, phèn và ô nhiễm vi sinh Tuy nhiên một số nơi như Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Trà Vinh
ở các giồng cát có thể khai thác được nước ngầm có chất lượng tốt sử dụng được cho sinh hoạt, tưới hoa màu
Nước ngầm tầng sâu chủ yếu chứa trong các phức hệ Pleistocene, Pliocene, Miocene và có sự phân bố rất phức tạp cả về diện cũng như chiều sâu Một cách tổng quát sự phân bố như sau:
• Khu vực ven biển và cửa sông thuộc các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre và một phần tỉnh Trà Vinh, nước ngầm các tầng gần mặt đất bị nhiễm mặn cao nên phải ở độ sâu trên 300m mới có thể khai thác được nước có chất lượng tốt Một số nơi như Bến Tre, Gò Công khai thác nước ngầm chất lượng tốt rất khó khăn
• Các khu vực phía Tây tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, các huyện Đầm Dơi, Ngọc Hiển, thị xã Cà Mau (tỉnh Cà Mau) khai thác nước ngầm khá thuận tiện, ở độ sâu khoảng 100 - 120m là có thể khai thác được nước ngầm chất lượng tốt
• Khu vực ven biển Tây từ Mũi Cà Mau đến Rạch Giá, việc khai thác nước ngầm cũng khá thuận tiện Nhìn chung ở độ sâu 120 -150m có thể khai thác được nước ngầm có chất lượng tốt Tuy nhiên, cũng có những nơi cục bộ ở độ sâu trên 200m vẫn chưa tìm thấy nước ngầm có chất lượng tốt
• Khu vực ven biển TGLX từ Hòn Đất đến Hà Tiên, việc khai thác nước ngầm ở đây khó khăn vì các tầng ngầm gần mặt đất bị nhiễm mặn cao
Theo kết quả điều tra của Liên đoàn Điều tra và Quy hoạch Tài nguyên nước Miền Nam (2013), trữ lượng NDĐ tại ĐBSCL khá phong phú tại tầng nông và sâu Tổng trữ lượng khai thác tiềm năng NDĐ nhạt là 22.512.989
m3/ngày Trong đó trữ lượng tĩnh trọng lực là 21.283.182 m3/ngày và trữ
Trang 30lượng tĩnh đàn hồi là 1.229.807 m3/ngày Trữ lượng an toàn là 4.502.598
m3/ngày Bạc Liêu, Long An và Đồng Tháp là các tỉnh có trữ lượng NDĐ lớn, từ 2.704.535 m3/ngày đến 3.403.710 m3/ngày Hầu hết các tỉnh nằm gần cửa sông chính bị ảnh hưởng bởi độ mặn; vì vậy trữ lượng NDĐ bị hạn chế (Nguyen Duy Du, 2007) Số lượng lỗ khoan khai thác, cũng như lượng NDĐ khai thác không đồng đều trên diện tích toàn vùng cũng như không đồng đều trong các tầng chứa nước Trữ lượng NDĐ (tiềm năng
và an toàn) các tỉnh ĐBSCL được trình bày trong Hình 1.6 Hình 1.7 thể hiện lượng NDĐ khai thác và còn có thể khai thác ở các tỉnh ĐBSCL Theo Hình 1.7, các tỉnh có lượng khai thác NDĐ lớn như Bạc Liêu (248.728 m3/ngày), Sóc Trăng (244.850 m3/ngày), và Trà Vinh (224.773 m3/ngày) Các tỉnh có lượng khai thác NDĐ thấp như Bến Tre (17.987 m3/ngày), Vĩnh Long (32.473 m3/ngày), và Hậu Giang (62.543 m3/ngày) (Liên đoàn Điều tra và Quy hoạch Tài nguyên nước Miền Nam, 2013, Huỳnh Văn Hiệp và Trần Văn Tỷ, 2012) Tổng lượng NDĐ còn lại có thể khai thác tại ĐBSCL là 2.596.815 m3/ngày Trong đó, Long An, Bạc Liêu và Đồng Tháp có thể xem
là các địa phương còn lượng khai thác khá nhiều (trên 400.000 m3/ngày) Bến Tre, An Giang và Vĩnh Long là các tỉnh còn lượng khai thác NDĐ thấp nhất (dưới 30.000 m3/ngày) Các tỉnh còn lại từ 100.000 m3/ngày đến 200.000 m3/ngày (Hình 1.7)
Hình 1.6: Trữ lượng NDĐ ở ĐBSCL
(Nguồn: Liên đoàn Điều tra và Quy hoạch Tài nguyên nước Miền Nam, 2013)
Trang 31Hình 1.7: Lượng NDĐ khai thác và còn có thể khai thác ở ĐBSCL
(Nguồn: Liên đoàn Điều tra và Quy hoạch Tài nguyên nước Miền Nam, 2013)
Nước dưới đất (NDĐ) được khai thác thông qua giếng đào, giếng khoan có quy mô hộ gia đình, hoặc giếng khoan có quy mô vừa và lớn (UNICEF, 1996) NDĐ được khai thác phục vụ chủ yếu cho nhu cầu sinh hoạt (801.730 m3/ngày, chiếm 41,68% tổng lượng NDĐ khai thác), sản xuất nông nghiệp (769.619 m3/ngày, chiếm 40,01% tổng lượng NDĐ khai thác), phục vụ ít hơn cho sản xuất công nghiệp (352.332 m3/ngày, chiếm 18,32% tổng lượng NDĐ khai thác) Ước tính, ĐBSCL có 465.000 giếng khoan vào năm 2007, với tổng lượng khai thác khoảng 1.229.000 m3/ngày Năm 2010, lượng khai thác NDĐ cho sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp toàn vùng ĐBSCL là 1.923.681 (m3/ngày), chỉ đáp ứng 2,03% tổng nhu cầu nước trên địa bàn (Bảng 1.1) (Liên đoàn Điều tra và Quy hoạch Tài nguyên nước Miền Nam, 2013)
Hiện nay, tầng qp2-3 được khai thác nhiều nhất và là tầng được đánh giá có trữ lượng khai thác rất lớn Tầng qp2-3 và qp1 có đến 60% giếng khai thác Tầng này cũng cung cấp nước cho hầu hết các dự án cấp nước sinh hoạt và công nghiệp Các giếng khoan tư nhân khai thác trong khu vực chủ yếu ở độ sâu từ 70 m đến 120 m; trong khi các giếng khoan của các nhà máy cung cấp nước sâu từ 100 m đến 250 m (Vo Thanh Danh, 2008)
Thời gian qua, do gia tăng khai thác NDĐ ở một số nơi đã làm cho mực nước NDĐ giảm đáng kể Mực nước NDĐ ở các tầng chứa nước tại Bạc Liêu (qp2-3, qp3, n13 và n22) có xu hướng giảm liên tục, so với cùng kỳ
10 năm trước, đã giảm từ 2,92 m đến 4,86 m, trong đó, tầng qp2-3 giảm đến 4,86 m (Sở TN&MT Bạc Liêu, 2012) Hình 1.8 thể hiện diễn biến động thái NDĐ tầng Pleistocene tại tỉnh Sóc Trăng
Trang 33Ghi chú: Năm 2004: không có số liệu quan trắc; G23A, G2, QST12, G25: tên trạm quan trắc; TPST: Thành phố Sóc Trắng, VC: Vĩnh Châu, MX: Mỹ Xuyên, TĐ: Trần Đề.
Hình 1.8: Diễn biến động thái NDĐ tầng Pleistocene tại tỉnh Sóc Trăng
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Sóc Trăng, 2012)
Trang 34Hộp 1.1: Hiện trạng tài nguyên NDĐ ở tỉnh Sóc Trăng
Theo Nguyễn Thị Thanh Duyên và ctv., (2014), tại Sóc Trăng, tài nguyên NDĐ được phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh, phân bố trong bảy tầng chứa nước chính, bao gồm: Holocene (qh), Pleistocene trên (qp3), Pleistocene giữa – trên (qp2-3), Pleistocene dưới (qp1), Pliocene giữa (n22), Pliocene dưới (n21) và Miocene trên (n13) Trữ lượng khai thác tiềm năng NDĐ nhạt tại Sóc Trăng được đánh giá là khá dồi dào với 3.052.378 m3/ngày Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng (Sở TN&MT Sóc Trăng, 20100), số lượng và mật độ công trình khai thác NDĐ ở Sóc Trăng ở mức cao (79.981 công trình, 24 giếng/km2); lưu lượng khai thác là 182.710 m3/ngày Ngoài ra, những năm gần đây chế độ khí tượng, thủy văn cũng như quá trình xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu – nước biển dâng đang diễn biến phức tạp (Sở TN&MT Sóc Trăng, 2010b) Những tác động trên có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến mực NDĐ tại Sóc Trăng đã hạ thấp đáng kể trong những năm trở lại đây (giai đoạn 2001-2012, trung bình 0,4 m/năm, tầng Pleistocene) (Sở TN&MT Sóc Trăng, 2010a) Nguyễn Thị Thanh Duyên và Trần Văn Tỷ, 2014) đã sử dụng chỉ số nghèo nước (WPI - Water Poverty Index) để đánh giá hiện trạng tài nguyên NDĐ cho tỉnh Sóc Trăng Kết quả thể hiện trên Hình 1.9 Kết quả cho thấy, Sóc Trăng có mức tình trạng nghèo nước trung bình thấp, cũng có nghĩa
là tỉnh Sóc Trăng đang trong tình trạng quản lý tài nguyên nước tốt
Hình 1.9: Chỉ số WPI (a) và năm thành phần của WPI (b) các huyện
của tỉnh Sóc Trăng
Trang 351.3.3 Tài nguyên nước mưa
Nguồn nước hiện nay đang dần khan hiếm và nhu cầu dùng nước
ở các quốc gia ngày càng cao Theo số liệu thống kê, lượng nước sử dụng
sẽ tăng 50% vào năm 2025 ở các nước đang phát triển và tăng 18% ở các nước phát triển (SIWI, 2012) Việc tìm kiếm, khai thác và quản lý tài nguyên nước bền vững là yêu cầu cấp bách cho sự phát triển của các quốc gia Trong bối cảnh đó, nước mưa là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá đối với con người Nếu nước mưa được thu gom và sử dụng hợp lý sẽ góp phần cải thiện tình trạng khan hiếm nước sạch cũng như đáp ứng được mục tiêu phát triển bền vững tài nguyên nước của các quốc gia
ĐBSCL có lượng mưa trung bình khoảng 1.800 mm, nhưng phân bố không đồng đều cả về không gian và thời gian Khu vực phía Tây có lượng mưa trung bình hàng năm từ với 2000 - 2400 mm, trong khi phía Đông
có lượng mưa trung bình từ 1600 - 1800 mm Các tỉnh trung tâm trải dài
từ Long Xuyên - Châu Đốc - Cần Thơ đến Trà Vinh - Cao Lãnh - Gò Công
có lượng mưa thấp nhất, với mức trung bình của 1200-1600 mm Khoảng 90% lượng mưa hàng năm được tập trung trong các tháng mùa mưa (mùa khô chỉ chiếm 10 %, với các tháng I, II , III đã gần như không có mưa) Trong mùa mưa, đôi khi mưa có thể diễn ra liên tục và kéo dài 3-5 ngày, với lượng mưa lớn, gây ra lũ lụt và làm gia tăng mực nước
Tại khu vực ĐBSCL, người dân trước đây thường có thói quen thu gom và sử dụng nước mưa Tuy nhiên, do mùa mưa chỉ kéo dài trong vài tháng và bị động về thời gian, vũ lượng các trận mưa cũng như các khó khăn trong việc chứa nước mưa đã làm mai một dần thói quen sử dụng nước mưa của người dân Ngoài ra, tâm lý lo ngại nước mưa bị ảnh hưởng bởi sự ô nhiễm không khí và các chất phóng xạ qua sự cố nhà máy hạt nhân tại Nhật năm 2010 cũng làm mất dần thói quen sử dụng nước mưa trong sinh hoạt hằng ngày của người dân
Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Diệp Anh Tuấn và ctv., (2014)
thực hiện tại thành phố Cần Thơ, đối với chất lượng nước mưa ngoài trời: pH của nước mưa (pH = 6,31) thấp hơn khoảng giá trị pH cho phép (6,5-8,5) của QCVN 01:2009/BYT Hàm lượng tổng Coliform trong nước mưa (53 MPN/100ml) cao hơn hàm lượng tổng Coliform cho phép (0 MPN/100ml) của quy chuẩn quy định về giới hạn các chỉ tiêu của chất lượng nước ăn uống (QCVN 01:2009/BYT), điều này cho thấy có sự hiện diện của vi sinh trong nước mưa Kết quả phân tích các chỉ tiêu của nước mưa thu gom ngoài trời cho thấy các chỉ tiêu phân tích (TDS, các chỉ tiêu kim loại nặng (Pb, Cu, Cd, Fe, Zn, Al), Nitrite, Nitrate, Sunfate) của nước mưa đều nằm trong khoảng cho phép của QCVN 02:2009/BYT, quy định
về giới hạn các chỉ tiêu chất lượng nước sinh hoạt Đặc biệt hàm lượng
Trang 36các chất phóng xạ α, β đều rất thấp (lần lượt là 0,002 và 0,02 pCi/l) so với giới hạn cho phép của QCVN 01:2009/BYT, điều này cho thấy nước mưa không bị nhiễm chất phóng xạ như lo ngại của nhiều người dân Ngoài ra, chỉ tiêu hợp chất đa vòng thơm (PAHs) cũng không phát hiện trong nước mưa.
Theo kết quả phân tích chất lượng các mẫu nước ở đầu trận mưa được thu gom từ các loại mái nhà (tole, fibro-cement và ngói), hàm lượng các chỉ tiêu kim loại nặng (Cu, Al, Pb, Cd) đều không phát hiện, ngoại trừ chỉ tiêu Fe và Zn có hàm lượng 1,8 mg/l và 0,21 mg/l trong nước mưa thu gom từ mái tole, điều này có thể được giải thích do chất lượng của mái tole
đã bị cũ Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ tiêu độ đục, TDS, SS, tổng Coliform giảm dần theo thời gian trận mưa
1.4 QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
1.4.1 Các văn bản quy phạm pháp luật
Nước là một tài nguyên quý giá luôn được nhà nước quan tâm và bảo vệ thông qua việc kiện toàn các văn bản quy phạm pháp luật, nhất
là kể từ thập niên 1990 khi Việt Nam thực hiện công cuộc cải cách kinh
tế, mở cửa thị trường, hợp tác với các quốc gia trên thế giới Nghiên cứu khung pháp lý về tài nguyên nước ở Việt Nam, Nguyễn Thị Phương Loan (2010), và Nguyễn Thị Phương Loan (2014) cho rằng hiện có hơn 20 luật liên quan đến quản lý tài nguyên nước và hơn 300 văn bản quy phạm pháp luật (dưới luật) hướng dẫn thi hành luật tài nguyên nước nhằm bảo
vệ và sử dụng nguồn tài nguyên này một cách hiệu quả và bền vững cho
sự phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của quốc gia Một số văn bản quy phạm pháp luật chính liên quan đến tài nguyên nước hiện hành bao gồm:
v Luật Tài nguyên nước: Đây là văn bản quan trọng và trực tiếp
nhất để quản lý tài nguyên nước Luật tài nguyên nước được Quốc hội khóa X thông qua lần đầu tiên vào ngày 20 tháng 5 năm 1998 (Luật số 08/1998/QH10) Sau hơn 10 năm áp dụng trong thực tiễn luật này đã mang lại nhiều kết quả quan trọng, tuy nhiên, luật cũng bộc lộ không ít những hạn chế, thách thức trong tình hình mới Do vậy, luật tài nguyên nước 1998 được thay thế bằng luật mới số 17/2012/QH13, Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 21 tháng 6 năm 2012 Luật tài nguyên nước
2012 gồm 10 Chương, 79 Điều, quy định khá toàn diện về quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra
v Luật Bảo vệ môi trường: thông qua lần đầu tiên năm 1993, lần
thứ hai năm 2005 số 52/2005/QH11 và lần gần đây nhất là ngày 23 tháng
6 năm 2014, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật Bảo vệ môi trường số
Trang 3755/2014/QH13 Luật Bảo vệ môi trường 2014 có nhiều Mục và Điều liên quan trực tiếp đến bảo vệ môi trường nước, kể cả nước sông; nước hồ, ao, kênh, mương, rạch; hồ chứa nước phục vụ mục đích thủy lợi và thủy điện; nước dưới đất; và bảo vệ môi trường biển và hải đảo
v Luật Đất đai: Quốc hội ban hành lần đầu tiên từ năm 1993, sau
đó được sửa đổi, bổ sung, thay thế nhiều lần qua các năm 1998, 2001,
2003, và 2013 Luật đất đai 2013 (số 45/2013/QH13) dành riêng Mục 2, Chương X, trong đó có nhiều Điều liên quan đến lĩnh vực tài nguyên đất sử dụng cho nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản như Điều 134 quy định về việc giữ đất trồng lúa không được chuyển sang mục đích khác kể cả nuôi trồng thủy sản hay làm muối; Điều 135-137 quy định về việc sử dụng đất rừng; Điều 138 về đất làm muối; Điều 139 về đất có mặt nước nuôi nội địa; Điều 140 về đất có mặt nước ven biển; Điều 141 về đất bãi bồi ven sông, ven biển
v Luật Giao thông đường thủy nội địa: được Quốc hội khóa XI thông
qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 (số 23/2004/QH11) Sau 10 năm, đến ngày 17 tháng 6 năm 2014 Quốc hội khóa XIII ban hành Luật số 48/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giao thông đường thủy nội địa số 23/2004/QH11 Theo đó, hoạt động giao thông đường thủy nội địa gồm hoạt động của người, phương tiện tham gia giao thông vận tải trên đường thủy nội địa; quy hoạch phát triển, xây dựng, khai thác, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa; tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ giao thông đường thủy nội địa và quản lý nhà nước về giao thông đường thủy nội địa Luật cũng quy định việc “quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa phải căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội, quy hoạch lưu vực sông, các quy hoạch khác có liên quan và nhiệm
vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh
v Luật Thủy sản: được thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003,
tại kỳ họp thứ IV, Quốc hội khóa XI, số 17/2003/QH11 Luật gồm có 10 Chương, 62 Điều, quy định về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản, và các quy định khác Nguyên tắc hoạt động thủy sản là bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ, tái tạo, và phát triển nguồn lợi thủy sản, tính đa dạng sinh học; bảo vệ môi trường và cảnh quan thiên nhiên Việc phát triển các lĩnh vực trong hoạt động thủy sản phải theo quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành thủy sản trong phạm
vi cả nước và của từng địa phương (Điều 4) Nhà nước có chính sách bảo đảm phát triển thủy sản bền vững; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản; bảo đảm tái tạo nguồn lợi thủy sản và phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác (Điều 5)
Trang 38v Một số luật và văn bản khác có liên quan: Luật Dầu khí, Luật
Khoáng sản, Luật Khoa học và công nghệ, Luật Xây dựng, Luật Hợp tác xã, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật Đa dạng sinh học, Luật Thuế tài nguyên, Pháp lệnh Khai thác và bảo
vệ công trình thủy lợi, Luật Phòng chống thiên tai
1.4.2 Tổ chức và thể chế
Sắp xếp tổ chức, thể chế để kiện toàn bộ máy quản lý sao cho hoạt động hiệu quả luôn được nhà nước, chính phủ và chính quyền các cấp quan tâm Trong lĩnh vực tài nguyên nước, việc cải cách thể chế diễn ra chủ yếu là tách chức năng quản lý tài nguyên ra khỏi chức năng sử dụng Việc thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2002 đã chuyển chức năng quản lý tài nguyên nước từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sang Bộ tài nguyên và Môi trường Theo Nghị định số 21/2013/NĐ-CP, ngày 04/3/2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì “Bộ Tài nguyên và Môi trường
là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp
và thống nhất về biển và hải đảo; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ“ Về cơ cấu tổ chức, Nghị
định này cũng nêu rõ Bộ Tài nguyên và Môi trường có 23 đơn vị, bao gồm
18 đơn vị hành chính giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước (trong đó có Cục Quản lý Tài nguyên nước) và 5 đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Bộ (trong đó có Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước) Ngoài Bộ Tài nguyên và Môi trường, còn nhiều Bộ khác cũng tham gia vào việc quản lý tài nguyên nước, tùy theo chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ quy định, chẳng hạn:
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: thực hiện chức năng quản lý nhà nước các ngành, lĩnh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, thủy lợi, phòng chống thiên tai, nông thôn mới, hạ tầng nông thôn (Nghị định số 199/2013/NĐ-CP)
- Bộ Công thương: lĩnh vực thủy điện, sử dụng nước khu công nghiệp
- Bộ Xây dựng: lĩnh vực cấp nước, vệ sinh môi trường đô thị
- Bộ Giao thông vận tải: lĩnh vực giao thông thủy nội địa
- Bộ Y tế: chất lượng nước uống và nước sinh hoạt
- Bộ Tài chính: ngân sách, thuế, phí
Theo cấu trúc bộ máy quản lý nhà nước thì cấp tỉnh sẽ có các Sở và cấp huyện có các Phòng tương ứng để giúp chính quyền địa phương quản
lý tài nguyên nước ở địa bàn mình quản lý, cũng như phối hợp với cấp cao hơn để công tác quản lý được chỉ đạo kịp thời và thống nhất từ trung ương đến địa phương
Trang 391.4.3 Hạn chế và thách thức
Mặc dù Quốc hội và Chính phủ nước ta luôn quan tâm đến việc hoàn thiện khung pháp lý và kiện toàn bộ máy quản lý từ trung ương đến địa phương trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước như đã đề cập, nhưng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế và thách thức phía trước cản trở việc khai thác bền vững nguồn tài nguyên quý giá này Từ những phân tích của Nguyễn Thị Phương Loan (2010), Waibel (2013) và Nguyen Thi Phuong Loan (2014), một số hạn chế và thách thức trong quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước:
- Nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng: dưới áp lực tăng dân số
và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các ngành nên nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, trong khi đó chất lượng nguồn nước đang có chiều hướng suy giảm
- Lệ thuộc nguồn nước quốc tế: mặc dù Việt Nam là một nước “giàu”
về tài nguyên nước, nhưng phần lớn lệ thuộc vào các lưu vực sông quốc
tế Việc phát triển thủy điện, thủy lợi và nhu cầu sử dụng nước tăng từ các quốc gia thượng nguồn là một thách thức lớn cho Việt Nam trong tương lai
- Biến đổi khí hậu: biến đổi khí hậu đã và đang xảy ra làm ảnh hưởng đến chu trình thủy văn Hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn, nước biển dâng và các thiên tai khác liên quan đến nước ngày càng xảy ra thường xuyên hơn, tác động tiêu cực lớn hơn, ảnh hưởng các hoạt động sản xuất
và sinh kế của người dân
- Liên kết, hợp tác kém: nước là tài nguyên có liên quan đến nhiều hoạt động kinh tế nên quản lý và sử dụng nước nằm ở nhiều cơ quan, ban ngành khác nhau, nhưng việc liên kết hợp tác giữa các ngành, cũng như giữa các địa phương và từ trung ương đến địa phương còn kém đã dẫn đến quy hoạch manh mún, quản lý cục bộ không hiệu quả
- Luật chồng chéo, chưa nghiêm: văn bản quy phạm pháp luật ngày càng nhiều nhưng còn trùng lắp, chồng chéo Bên cạnh đó, việc áp dụng luật cũng như các văn bản dưới luật ở nhiều nơi còn chưa nghiêm gây ảnh hưởng đến công tác quản lý chung và bảo vệ tài nguyên nước nói riêng
- Nguồn nhân lực hạn chế: nguồn nhân lực phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên nói chung và tài nguyên nước nói riêng còn nhiều hạn chế, nhất là ở cấp cơ sở, nhiều nơi không có cán bộ chuyên trách
- Đầu tư không cân xứng: Chính phủ đã chi nhiều ngân sách trong lĩnh vực quản lý và sử dụng tài nguyên nước, nhưng nhìn chung đầu tư còn nặng về sử dụng, trong khi đó ngân sách cho việc quản lý và bảo vệ tài nguyên nước chưa được quan tâm đúng mức
Trang 40Hộp 1.2: Hiện trạng quản lý tài nguyên NDĐ ở tỉnh Sóc Trăng
Môi trường (Bộ TNMT, 2008) Quyết định quy định về khu vực cấm và hạn chế xây dựng mới các công trình khai thác NDĐ (Điều 6-9, Chương 2), bảo vệ nguồn NDĐ trong kỹ thuật khoan, kiểm tra tại chỗ (Điều 10-13, Chương 3), bảo vệ nguồn NDĐ trong hoạt động khai thác (Điều 14-17, Chương 4) và bảo vệ nguồn NDĐ trong hoạt động xây dựng, khoáng chất và các hoạt động khác (Điều 18-20, Chương 5)
Trong thực tế, quá trình quản lý tài nguyên nước trong thời gian qua cho thấy vẫn còn một số tồn tại, bất cập, cụ thể là: các quy định về cấp phép tài nguyên nước (về điều kiện cấp giấy phép, quyền
và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép về tài nguyên nước) chưa chặt chẽ, chưa quy định đầy đủ, toàn diện một số nội dung rất quan trọng của quản lý tài nguyên nước như: quy hoạch tài nguyên nước; điều hoà, phân bổ nguồn nước một cách hợp lý,
sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; ngưỡng giới hạn khai thác NDĐ; thiếu các quy định, công cụ, biện pháp để tăng cường trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên NDĐ Do đó, tình trạng khai thác, sử dụng còn lãng phí, thiếu hiệu quả và không bền vững còn phổ biến (Bộ Tư Pháp, 2012).Nguyễn Thị Thanh Duyên và ctv., (2014) và Huỳnh Vương Thu Minh và ctv., (2014) nghiên cứu tại Sóc Trăng cho thấy, nguy cơ cạn kiệt NDĐ đang là vấn đề cần được quan tâm, nhất là đối với các vùng ven biển, đặc biệt là thị xã Vĩnh Châu – nơi mà NDĐ được sử dụng chính cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và cả nuôi trồng thủy sản Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng (2010), số lượng và mật độ công trình khai thác NDĐ ở Vĩnh Châu cao (12.257 công trình, 26 giếng/km2), chế độ khí tượng, thủy văn cũng như quá trình xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu – nước biển dâng diễn biến phức tạp Chính vì vậy, mực NDĐ tại Vĩnh Châu
đã hạ thấp đáng kể trong những năm trở lại đây (trung bình 0,5 m/năm), làm ảnh hưởng đến chất lượng và động thái của nguồn NDĐ Bên cạnh đó, quản lý khai thác tài nguyên thiên nhiên và sử dụng NDĐ còn nhiều bất cập trong quy hoạch tổng hợp khai thác NDĐ, quản lý cấp phép khai thác NDĐ và thực hiện chính sách, các quy định và quy phạm pháp luật trong việc quản lý tổng hợp tài nguyên NDĐ