Tài nguyên cây thuốc và tri thức sử dụng cây thuốc luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe trên thế giới nói chung và các nước đang phát triển nói riêng. Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào) có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với diện tích 236.800 km2, trong đó khoảng 47% là rừng núi, là một nước rất đa dạng và phong phú về tài nguyên thiên nhiên, rừng và các loại cây cỏ. Nhiều cây trong số đó đã xác định tên và được sử dụng để sản xuất thuốc để chữa bệnh. Nhưng cũng có nhiều loại cây chưa được biết đến, đang được người dân sử dụng làm thuốc với nhiều tên gọi khác nhau [25]. Huyện Phu cụt, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào là một tỉnh ở phía đông bắc quốc gia, là một khu vực có diện tích phần lớn là đồi núi. Xiêng Khoảng nói chung và Phu cụt nói riêng là khu vực không chỉ nổi tiếng với nhiều danh thắng đẹp ở Lào, mà còn được biết đến với sự đa dạng sinh học cao, có một khu bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia (NBCA) là Nam Et-Phou Louey, và KBTTN Dongsouth – Donglong [28], [30]. Do nhu cầu sử dụng cây thuốc dựa trên nền tảng Y học truyền thống ngày càng tăng, thảm thực vật hiện đang bị khai thác và suy giảm đa dạng, trong khi nguồn tài nguyên này chưa được nghiên cứu đầy đủ. Việc khảo sát, điều tra tài nguyên cây thuốc tại bản Sai Pua, huyện Phu cụt, tỉnh Xiêng Khoảng là một yêu cầu bức thiết và quan trọng. Nhằm góp phần kiểm kê tài nguyên cây thuốc của quốc gia, tìm hiểu và thu thập, phân tích dữ liệu để xác định cây thuốc có khả năng sản xuất thuốc, đáp ứng nhu cầu của xã hội cũng như bảo vệ những cây thuốc quý hiếm có nguy cơ bị đe doạ, đề tài “Điều tra tài nguyên cây thuốc ở bản Sai Pua, huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng” được thực hiện với các mục tiêu sau: 1. Xác định đa dạng sinh học cây thuốc ở bản Sai Pua, huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng 2. Xác định tri thức sử dụng cây thuốc của người dân bản địa ở bản Sai Pua, huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng.
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
THUSUONG VO
ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC
Ở BẢN SAI PUA, HUYỆN PHU CỤT,
TỈNH XIÊNG KHOẢNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Trang 2ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC
Ở BẢN SAI PUA, HUYỆN PHU CỤT,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới Đảng và Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Lào và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tạo điều kiện cho em được học tập tại
Trường ĐH Dược Hà Nội và có điều kiện tham gia nghiên cứu khoa học, thực hiện đề tài này trong suốt thời gian vừa qua
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo Trường
Đại học Dược Hà Nội đã dìu dắt em suốt 5 năm học tập và nghiên cứu khoa học tại trường Đặc
biệt là các thầy cô và các chị kỹ thuật viên của Bộ môn Thực vật đã luôn quan tâm và tạo điều
kiện cho em trong quá trình thực hiện khóa luận
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS TS Trần
Văn Ơn, người thầy đã trực tiếp giao cho em đề tài này, định hướng, tận tình chỉ bảo và hỗ trợ em
trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Những kinh nghiệm, bài học quý giá cùng những tư duy nghiên cứu mà thầy đã truyền cho em sẽ luôn luôn là hành trang không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu khoa học tại trường và công tác sau này
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS Nghiêm Đức Trọng, một người thầy nhiệt tình, đam
mê với thức vật, người đã hỗ trợ em về mặt chuyên môn rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài
Em xin gửi lời biết ơn tới thầy ThS Lê Thiên Kim, người thầy rất đáng quý và rất nhiệt tình
đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình thực nghiệm Thầy là người đã truyền cho em rất nhiều kỹ năng, kinh nghiệm và tư duy nghiên cứu khoa học trong toàn bộ thời gian em thực hiện đề tài này
Cảm ơn bạn Phạm Việt Hùng đã đi cùng tôi trong chuyến điều tra và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực địa Cảm ơn bạn Bùi Thị Phượng đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình làm
khóa luận
Cảm ơn các anh, chị, em làm nghiên cứu khoa học tại bộ môn Thực vật đã giúp đỡ tận tình
em trong những lúc khó khăn và làm cho em có cảm giác như một gia đình
Cuối cùng, con xin cảm ơn Bố (Võ Đại Khóa) và Bố Mẹ Nuôi ( ພ ໍ່ສີວອນ, ແມໍ່ວຽງສະຫວັນ) là
những người sinh thành, dưỡng dục, luôn luôn quan tâm và động viên con hàng ngày, nhất là trong suốt thời gian xa nhà, học tập và thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Thusuong Vo
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 1 TỔNG QUAN 2
1.1.NƯỚCCỘNGHÒADÂNCHỦNHÂNDÂNLÀO 2
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 2
1.1.2 Điều kiện kinh tế và xã hội 2
1.1.3 Hệ thực vật, tài nguyên cây thuốc và tri thức sử dụng cây thuốc của CHDCND Lào 4
1.2.BẢNSAIPUA,HUYỆNPHUCỤT,TỈNHXIÊNGKHOẢNG 4
1.2.1 Tỉnh Xiêng Khoảng 4
1.2.2 Huyện Phu Cụt (Phou Kout) 6
1.2.3 Bản Sai Pua 7
PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.1.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 9
2.2.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
2.2.1 Điều tra tính đa dạng sinh học cây thuốc 9
2.2.2 Tư liệu hóa tri thức sử dụng cây thuốc 10
2.2.3 Thu mẫu và làm tiêu bản thực vật 10
2.2.4 Xác định tên khoa học cây thuốc 10
2.2.5 Xử lý số liệu 10
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12
3.1.TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC Ở BẢN SAI PUA, HUYỆN PHU CỤT, TỈNH XIÊNG KHOẢNG 12
3.1.1 Tính đa dạng sinh học cây thuốc ở bản Sai Pua 12
3.1.2 Thảm thực vật và phân bố cây thuốc ở bản Sai Pua 17
3.2.TRI THỨC SỬ DỤNG CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG Ở KHU VỰC BẢN SAI PUA 20 3.2.1 Danh mục các bệnh, chứng có thể chữa trị bằng cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua 20
3.2.3 Bộ phận sử dụng của cây thuốc 23
3.2.4 Cách sử dụng cây làm thuốc 24
Trang 53.2.5 Cách thức tiếp nhận – lưu truyền lại tri thức và hoạt động khai thác, sử
dụng cây cỏ làm thuốc 25
BÀN LUẬN 29
4.1.CÂY THUỐC Ở KHU VỰC BẢN SAI PUA (PHU CỤT) 29
4.1.1 Sự đa dạng của cây thuốc và phương pháp nghiên cứu 29
4.1.2 Phân bố của thảm thực vật và đa dạng theo dạng sống của cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua 31
4.1.3 Tri thức sử dụng cây thuốc 31
4.1.4 Tiềm năng, giá trị của cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua 32
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Viết đầy đủ
B Botanischer Garten und Botanisches Museum Berlin-Dahlem, Freien
Universität Berlin (Vườn thực vật và Bảo tàng thực vật Berlin - Dahlem, Freie Đại học Berlin)
CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (Food and
Agriculture Organization) GEF Quỹ Môi trường toàn cầu (Global Environment Facility)
GPS Global Positioning System (Hệ thống Định vị Toàn cầu)
HN Herbarium code: Herbarium of Vietnam Academy of Science and
Technology (Phòng tiêu bản - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật) HNIP The herbarium of Hanoi University of Pharmacy (Phòng tiêu bản Trường
Đại học Dược Hà Nội) HNU Phòng tiêu bản - Khoa Sinh học - Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học
Quốc gia Hà Nội IPNI The International Plant Names Index (Danh mục tên thực vật quốc tế)
K Herbarium, Royal Botanic Gardens, Kew (Phòng tiêu bản thực vật, Vườn
bách thảo Hoàng gia, Kew) KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
KIP Key important person (Người cung cấp tin quan trọng)
NY Herbarium, New York Botanical Gardens (Phòng tiêu bản thực vật, Vườn
bách thảo New York)
P, PC Herbier Muséum Paris - Muséum National d’Histoire Naturelle (Phòng
tiêu bản thực vật bảo tàng Paris - Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia) TAI Herbarium of National Taiwan University (Phòng tiêu bản đại học Quốc
Gia Đài Loan) UNDP Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (United Nations Development
Programme)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 3.1 Sự phân bố cây thuốc trong các ngành thực vật ở bản Sai Pua, huyện Phu Cụt
(Xiêng Khoảng) 13 Bảng 3.2 Danh mục các họ cây thuốc có số lượng loài lớn (xếp theo thứ tự tên khoa học)
14 Bảng 3.3 Danh mục các chi có từ 3 loài cây thuốc trở lên (xếp theo thứ tự tên khoa học)
15 Bảng 3.4 Danh mục các dạng sống của cây thuốc ở bản Sai Pua, huyện Phu Cụt (Xiêng
Khoảng) 16 Bảng 3.5 Một số cây thuốc ở bản Sai Pua có phân bố sinh thái rộng 19 Bảng 3.6 Danh mục các nhóm bệnh, chứng bệnh, nhóm thuốc sử dụng cây thuốc khu vực
bản Sai Pua 21 Bảng 3.7 Danh mục các bộ phận dùng của cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua 23 Bảng 3.8 Danh mục các cách dùng thuốc ở bản Sai Pua, huyện Phu Cụt (Xiêng Khoảng)
25 Bảng 4.1 So sánh hệ cây thuốc ở bản Sai Pua với hệ cây thuốc của nước CHDCND Lào
[25] 29 Bảng 4.2 So sánh số loài cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua với số loài tại hai khu bảo tồn
thiên nhiên Houai Nhang và Somsavat 29
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Cơ cấu GDP kinh tế huyện Phu Cụt 3
Hình 1.2 Bản đồ địa lý tỉnh Xiêng Khoảng, lào 5
Hình 1.3 Cánh đồng chum tại Phonsavan, Xiêng khoảng, Lào 6
Hình 1.4 Vị trí huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng 7
Hình 3.1 Phân bố số lượng họ cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua theo số loài 13
Hình 3.2 Phân bố số lượng chi cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua theo số loài 15
Hình 3.3 Mức độ đa dạng cây thuốc theo loại thảm thực vật 17
Hình 3.4 Một số hình ảnh phỏng vấn và thu mẫu tại các thảm thực vật ở bản Sai Pua, huyện Phu Cụt 18
Hình 3.5 Một số hình ảnh về hoạt động buôn bán dược liệu tại chợ tỉnh Xiêng Khoảng 28
Hình 4.1 Đường cong loài 30
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên cây thuốc và tri thức sử dụng cây thuốc luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe trên thế giới nói chung và các nước đang phát triển nói riêng Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào)
có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với diện tích 236.800 km2, trong đó khoảng 47% là rừng núi, là một nước rất đa dạng và phong phú về tài nguyên thiên nhiên, rừng và các loại cây cỏ Nhiều cây trong số đó đã xác định tên và được sử dụng để sản xuất thuốc để chữa bệnh Nhưng cũng có nhiều loại cây chưa được biết đến, đang được người dân sử dụng làm thuốc với nhiều tên gọi khác nhau [25]
Huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng, nước CHDCND Lào là một tỉnh ở phía đông bắc quốc gia, là một khu vực có diện tích phần lớn là đồi núi Xiêng Khoảng nói chung và Phu Cụt nói riêng là khu vực không chỉ nổi tiếng với nhiều danh thắng đẹp ở Lào, mà còn được biết đến với sự đa dạng sinh học cao, có một khu bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia (NBCA) là Nam Et-Phou Louey, và KBTTN Dongsouth – Donglong [28], [30] Do nhu cầu sử dụng cây thuốc dựa trên nền tảng Y học truyền thống ngày càng tăng, thảm thực vật hiện đang bị khai thác và suy giảm đa dạng, trong khi nguồn tài nguyên này chưa được nghiên cứu đầy đủ Việc khảo sát, điều tra tài nguyên cây thuốc tại bản Sai Pua, huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng là một yêu cầu bức thiết và quan trọng
Nhằm góp phần kiểm kê tài nguyên cây thuốc của quốc gia, tìm hiểu và thu thập, phân tích dữ liệu để xác định cây thuốc có khả năng sản xuất thuốc, đáp ứng nhu cầu của xã hội cũng như bảo vệ những cây thuốc quý hiếm có nguy cơ bị đe doạ,
đề tài “Điều tra tài nguyên cây thuốc ở bản Sai Pua, huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng
Khoảng” được thực hiện với các mục tiêu sau:
1 Xác định đa dạng sinh học cây thuốc ở bản Sai Pua, huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng
2 Xác định tri thức sử dụng cây thuốc của người dân bản địa ở bản Sai Pua, huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng
Trang 10PHẦN 1 TỔNG QUAN
1.1 NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào là một quốc gia không giáp biển duy nhất tại vùng Đông Nam Á, có diện tích 236.800 km2 Địa thế phần lớn đất nước Lào có nhiều núi non bao phủ bởi rừng xanh với đỉnh cao nhất là Phou Bia (2.817 m) Diện tích còn lại là bình nguyên và cao nguyên Sông Mê Kông chảy dọc gần hết biên giới phía Tây, giáp giới với Thái Lan, trong khi đó dãy Trường Sơn chạy dọc theo biên giới phía Đông giáp với Việt Nam [35]
Vùng cao nguyên phía Bắc của Lào là khu vực núi đồi lởm chởm với độ cao phần lớn vào khoảng 500 đến 2.000 m so với mặt nước biển, nhưng cũng có những khu vực thấp dọc theo lưu vực sông Có một vài ngọn núi cao trên 2.000 m nằm ở phía nam đất nước ở một khu vực được biết đến với tên là cao nguyên Xiêng Khoảng Phần lớn trừ cực đông của cao nguyên phía Bắc nằm trong phạm vi lưu vực của sông Mê kông [18] Dãy núi Trường Sơn (tên tiếng Lào là Saiphou Louang) nằm ở phía nam của cao nguyên phía Bắc là đường biên giới tự nhiên của Lào với Việt Nam Những ngọn núi ở đây cao từ 500 – 2.000 m so với mặt nước biển, mặc dù có những đỉnh cao hơn 2.000 m hoặc thấp hơn 500 m Hầu hết dãy núi Trường Sơn ở Lào nằm bên dòng chảy của sông Mê kông Dãy núi này như một hàng rào chắn mưa sang phía Đông ngoại trừ ở một số vùng núi thấp Những vùng này chịu ảnh hưởng rất lớn của gió mùa Đông Bắc và hình thành nên những khu rừng ẩm thấp [18] CNDCND Lào có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10,
và mùa khô vào những tháng còn lại trong năm Lượng mưa hàng năm vào khoảng 1.500 đến 2.500 mm, cao nguyên Bolaven có lượng mưa hàng năm trung bình khoảng 3.500 mm
và khu vực xung quanh Xavannakhet và một phần phía Bắc chỉ nhận lượng mưa khoảng 1.500 mm một năm Sự thay đổi lượng mưa trong năm dẫn đến chu kì tuần hoàn của sự khô hạn ở các vùng trong năm [18]
1.1.2 Điều kiện kinh tế và xã hội
Về dân cư, theo điều tra năm 2018, dân số của Lào là 6.961.210 người Mặc dù mật
độ dân cư thấp (28 người/km2) nhưng mật độ dân cư ở vùng canh tác nông nghiệp xấp xỉ
Trang 11bằng mật độ trung bình của thế giới [18] Trung bình hằng năm dân số tăng khoảng 2,5%,
là một trong những nước có tốc độ tăng dân số nhanh nhất châu Á Dân cư ở đây ngoài người Lào theo nghĩa hẹp, nước CHDCND Lào còn là nơi sinh sống của nhiều sắc tộc khác nhau như: Lào Sủng, bao gồm các dân tộc thuộc ngữ hệ Mông - Dao và Tạng - Miến, như H’Mông (Mèo), Dao (Yao, Miền), Lô lô, Hà nhì, sinh sống trên những rẻo cao, đỉnh núi cao từ 1.000 m trở lên ở Bắc Lào, thuộc các tỉnh Xiêng Khoảng, Luông Pha Băng, Sầm Nưa và Bắc Viêng Chăn; Người Lào Thơng, gồm hơn 20 dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Môn – Khơme như Khơ mú, Khơ bít, Phoọng, Puộc, Kạ tang, Pa kô, Tà ôi, Lạ vên, Lạ ve, Xẹc, Nha hớn, Ka tu, A lắc, Các dân tộc này sinh sống rải rác ở các địa bàn từ Bắc vào Nam, tại các miền rừng, triền núi, cao nguyên, dọc theo các con sông, con suối nhỏ Ngoài ra còn một ít người là gốc Việt Nam, chủ yếu ở các thành thị [12]
Về kinh tế, mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao nhưng Lào vẫn còn là một đất
nước với cơ sở hạ tầng lạc hậu Thu nhập bình quân đầu người là 2.353,15/người/năm theo ước tính của Ngân hàng thế giới số liệu 2016 [17] Sản phẩm nông nghiệp chiếm khoảng một nửa tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và sử dụng 80% lực lượng lao động
Bên cạnh diện tích nông nghiệp, Lào còn rất giàu tài nguyên thiên nhiên rừng, khoáng sản và thủy năng (Ngân hàng Thế giới, 2016) Tuy vậy, nền kinh tế vẫn tiếp tục nhận được
sự trợ giúp của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và các nguồn quốc tế khác cũng như từ đầu tư nước ngoài trong chế biến sản phẩm nông nghiệp và khai khoáng
Hình 1.1 Cơ cấu GDP kinh tế huyện Phu Cụt
Dịch vụ 43%
Nông nghiệp 37%
Khác 20%
Trang 121.1.3 Hệ thực vật, tài nguyên cây thuốc và tri thức sử dụng cây thuốc của CHDCND Lào
Với diện tích rừng phủ xanh lớn, nước CHDCND Lào là một quốc gia rất đa dạng và phong phú về tài nguyên thiên nhiên, rừng và các loại cây cỏ, trong đó nhiều loài quý hiếm
có giá trị cả về kinh tế và phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học [35]
Theo thống kê, hiện tại Lào có khoảng 8.250 loài thực vật Thống kê của Trung tâm nghiên cứu Dược liệu Lào, hiện tại đã ghi nhận 1.113 loài cây thuốc trong đó 813 loài từ nguồn tư liệu đã in ấn và 300 loài từ các cuộc phỏng vấn thực địa do Trung tâm tiến hành điều tra thực vật dân tộc học về cây thuốc tại 12 tỉnh của Lào [19] Số liệu thống kệ khác của On Vilay (Trung tâm nghiên cứu Dược liệu Lào, 2008), Lào có 1.152 loài cây thuốc Nhiều cây trong số loài nói trên đã biết tên và được sử dụng để sản xuất ra thuốc để chữa bệnh Nguồn tài nguyên này đang đóng góp một phần quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân các bộ tộc Lào từ nhiều đời nay Tuy nhiên cũng còn có nhiều loại cây chưa được biệt đến, đang được người dân sử dụng làm thuốc với nhiều tên gọi khác nhau
Với lịch sử lâu đời, người dân CHDCND Lào có kinh nghiệm và nhu cầu sử dụng cây thuốc để chăm sóc sức khỏe ban đầu dựa trên nền tảng các nền Y học truyền thống Mặc
dù đã có một số điều tra cơ bản về tài nguyên cây thuốc tại Lào, nhưng vẫn còn rất nhiều tri thức cần được nghiên cứu và tư liệu hóa để bảo tồn và phát triển
1.2 BẢN SAI PUA, HUYỆN PHU CỤT, TỈNH XIÊNG KHOẢNG
1.2.1 Tỉnh Xiêng Khoảng
Tỉnh Xiang Khouang (tiếng Lào: ຊຽງຂວາງ, nghĩa là "Thành phố phía chân trời", tiếng
Việt: Xiêng Khoảng) là một tỉnh của Lào Về địa lý, tỉnh nằm trên Cao nguyên Xiêng
Khoảng, thuộc khu vực đông bắc của quốc gia, trước đây là thủ phủ của Muang Phuan (Muang Phouan/Xieng Khouang), hiện nay thuộc tỉnh là Phonsavan Tỉnh nằm giáp Houaphan về phía đông bắc, giáp Nghệ An về phía đông, giáp Bolikhamsai về phía đông nam và giáp thủ đô Vientiane (Viêng Chăn) về phía tây nam Nằm cách thủ đo Viêng Chăn
435 km, được nối liền với thủ đô Viêng Chăn bởi các tuyến đường quốc lộ số 3, 7 hoặc tuyến đường ngắn hơn qua Borikhamxay Ngoài ra, để phục vụ nhu cầu du lịch còn có
Trang 13những chuyến bay hàng ngày từ Viêng Chăn đi Xiêng Khoảng và Luoang Phrabang (Luông
Pha Băng) Thủ phủ của Xiêng Khoảng là thị xã Phonsavan (Hình 1.2)
Hình 1.2 Bản đồ địa lý tỉnh Xiêng Khoảng, Lào
Về lịch sử, thời kỳ giữa năm 500 TCN đến 500 SCN, cao nguyên Xiêng Khoảng là
trung tâm buôn bán chính của một vùng rộng lớn thuộc khu vực Nam Á (bao gồm cả Việt Nam, Samrong – Camphuchia và cao nguyên Khorat – Thái Lan) Thời kỳ chiến tranh, Xiêng Khoảng chịu tàn phá nặng nề từ quân xâm lược từ Trung Quốc, sau đó là các cuộc chiến tranh xâm lược của người Pháp, Mỹ
Về đất đai, với địa hình địa thế thuận lợi, Xiêng Khoảng là khu vực có diện tích đất
bằng phẳng lớn thứ hai ở Lào chỉ sau khu vực triền sông Mê Công Đặc trưng địa lý ở đây
là những ngọn đồi và đồng cỏ độ cao vừa phải (khoảng 1000 m so với mực nước biển) Đây cũng là nơi có ngọn núi cao nhất của Lào là Phou Bia, nằm ở phía nam cao nguyên Xiêng Khoảng, và khu du lịch nổi tiếng cánh đồng Chum (Plain of Jars) của Lào (Hình 1.3) Tỉnh Xiêng Khoảng chia thành 8 khu vực địa lý (Muang hay huyện) là Muang Pek (ເມືອງແປກ), Muang Kham (ເມືອງຄ າ), Muang Nong Het (ເມືອງໜອງແຮດ), Muang Khoune (ເມືອງຄູ ນ), Muang Mok May (ເມືອງໝອກໃໝໍ່), Muang Phou Kout (hay Phu Cụt)
Trang 14(ເມືອງພູ ກູດ), Muang Phaxay (ເມືອງຜາໄຊ), Muang Thatom (ເມືອງທໍ່າໂທມ) với thủ phủ là thị
xã Phonsavan Với tổng diện tích là 15.880 km2, dân số năm 2015 theo điều tra dân số của tỉnh là 244.684 người [30]
Hình 1.3 Cánh đồng Chum tại Phonsavan, Xiêng Khoảng, Lào
1.2.2 Huyện Phu Cụt (Phou Kout)
Huyện Phu Cụt nằm ở phía tây bắc tỉnh Xiêng Khoảng Phía tây và tây bắc tiếp giáp tỉnh Luông Pha Băng, phía Bắc giáp tỉnh Huaphan, phía đông tiếp giáp huyện Kham và huyện Pek, phía nam tiếp giáp huyện Pha xây và một phần nhỏ tỉnh Saysomboune Địa hình chủ yếu ở đây là đồi núi thấp trên cao nguyên Về khí hậu, nhiệt độ trung bình năm ở đây
là 19,8oC, nhiệt độ cao nhất là 30,1oC, nhiệt độ thấp nhất là 12,7oC, lượng mưa trung bình
1.354,6 mm/năm
Về nông nghiệp, nền kinh tế ở Xiêng Khoảng nói chung và huyện Phu Cụt nói riêng
dựa trên nông nghiệp là chính, là khu vực sản xuất ngô chính ở Lào Các loại cây trồng chủ yếu bao gồm ngô, lúa, lạc, đậu tương, dứa, đu đủ, tỏi, phổ biến nhất là ngô Cây ăn quả
có đào, lê, mận, bưởi, chè, Chăn nuôi có trâu, bò,
Về công nghiệp, ngành công nghiệp chính ở đây là chế biến gỗ
Về dịch vụ, huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng có lợi thế lớn và đang được tập trung
đầu tư phát triển Theo thống kê của Tổng cục du lịch Lào, tỉnh có tới 63 danh thắng, trong
đó có 62 danh thắng tự nhiên, 18 địa danh văn hóa và 13 di tích lịch sử Ngành dịch vụ góp phần đáng kể trong thu nhập người dân nơi đây
Trang 15Hình 1.4 Vị trí huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng
Khu vực bản Sai Pua nằm trong diện tích của rừng Dongsouth - Donglong [28], được quy hoạch là Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Dongsouth – Donglong
Với độ cao từ 1.100 – 1.300 m so với mực nước biển, điều kiện tự nhiên cũng như địa hình của bản Sai Pua thuận lợi cho hệ thực vật phát triển nói chung, tài nguyên cây thuốc nói riêng
Năm 2016, trên địa bàn của bản Sai Pua đã có hoạt động điều tra tài nguyên cây thuốc [28] của tổ chức GEF/UNDP/FAO và Viện y học cổ truyền Lào Tuy nhiên, nghiên cứu trên mới dừng lại ở công tác điều tra, tư liệu hóa tri thức sử dụng của 141 cây thuốc trong KBTTN Dongsouth – Donglong với 6 KIP là các thầy lang uy tín trong khu vực (theo phương pháp điều tra theo tuyến và điều tra phỏng vấn thực vật dân tộc học) Còn nhiều cây thuốc và tri thức của các thầy lang khác (hơn 50%) trong bản Sai Pua chưa được điều
Trang 16tra, tư liệu hóa Trước thực trạng suy giảm tài nguyên cây thuốc (do gia tăng của hoạt động khai thác và sử dụng cây thuốc để khám chữa bệnh, và sự gia tăng thu mua dược liệu của thương lái), đặc biệt là hoạt động xây dựng thủy điện từ giữa năm 2018 trên địa bàn của bản Sai Pua, việc điều tra, thu thập và phân tích dữ liệu tài nguyên cây thuốc là hoạt động cần thiết Thông qua đó, góp phần kiểm kê tài nguyên cây thuốc của quốc gia nói chung, của bản Sai Pua nói riêng một cách đầy đủ, hệ thống, từ đó có căn cứ bảo vệ những cây thuốc quý hiếm có nguy cơ bị đe doạ, cũng như phát triển, sản xuất thuốc, từ các dược liệu tiềm năng
Trang 17PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua, huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng
- Tri thức sử dụng cây thuốc của người dân bản địaở khu vực bản Sai Pua, huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Điều tra tính đa dạng sinh học cây thuốc
Điều tra tính đa dạng sinh học của cây thuốc được thực hiện theo phương pháp điều tra theo tuyến Hoạt động điều tra được thực hiện với những người am hiểu cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua, huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng (thầy lang, người thu hái cây thuốc,…) được gọi là người cung cấp tin cốt yếu (KIP), thông qua các chuyến điều tra thực địa [22]
để quan sát, phỏng vấn và thu thập mẫu tiêu bản Mục tiêu điều tra là xác định thành phần loài, cách sử dụng cây thuốc trong khu vực Các bước thực hiện bao gồm:
(i) Xác định tuyến điều tra: Xác định dựa trên thực trạng thảm thực vật, địa hình hoặc
phân bố cây thuốc trong khu vực Tuyến điều tra trải qua các địa hình và thảm thực vật khác nhau như tuyến núi cao, rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, ven suối, ven đường,… Tổng cộng có 6 tuyến điều tra đã được thực hiện cùng với 05 KIP (Phụ lục 1.1)
(ii) Thu thập thông tin tại thực địa: Phỏng vấn bất kỳ cây nào gặp trên đường Thông
tin được thu thập bao gồm: tên cây tiếng địa phương (tiếng Lào), bộ phận dùng, công dụng, cách dùng, cách thức lưu truyền tri thức Thu mẫu tiêu bản và chụp ảnh cây thuốc Với các cây không có tri thức sử dụng của KIP trong tuyến điều tra, tiến hành thu mẫu dựa trên kinh nghiệm, ưu tiên thu mẫu các cây có hoa hoặc quả, có khả năng giám định được tên khoa học Các mẫu này sau đó được phỏng vấn lại thông tin trên KIP khác (sử dụng mẫu tươi và hình ảnh chụp tại thực địa)
(iii) Xử lý thông tin: Thông tin mang tính chất định tính, lập danh mục loài, bao gồm:
mã số tiêu bản/ảnh; tên địa phương (tiếng Lào và phiên âm tiếng việt); tên tiếng Việt; tên khoa học của ngành, lớp, họ, chi, loài; đặc điểm sinh thái, dạng sống, cách dùng, bộ phận dùng, ghi chú.Sử dụng phần mềm Microsoft excel 2013 để tính toán
Trang 182.2.2 Tư liệu hóa tri thức sử dụng cây thuốc
Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc được thu thập qua phỏng vấn theo tuyến tại thực địa, sau đó đối chiếu và chuẩn hóa thuật ngữ theo các tài liệu khoa học thứ cấp: Từ điển cây thuốc Việt Nam [2]; Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam [15]; Cây thuốc và
vị thuốc Việt Nam [9]; Medicinal and Food Plants in Dongsouth – Donglong Forest [28],…
2.2.3 Thu mẫu và làm tiêu bản thực vật
Mẫu tiêu bản thu tại thực địa được xử lý bằng phương pháp ướt: Mẫu cây được xông hơi cồn trong túi nilon kín, sau đó được ép và sấy khô [22] theo các kỹ thuật tiêu bản thông thường và lưu trữ tại Phòng tiêu bản của Trường Đại học Dược Hà Nội (HNIP)
2.2.4 Xác định tên khoa học cây thuốc
Tên khoa học của các mẫu được giám định theo phương pháp so sánh hình thái dựa trên các mẫu tiêu bản, mẫu tiêu bản chuẩn (type) tại các phòng tiêu bản trong nước: Phòng tiêu bản - Trường Đại học Dược Hà Nội (HNIP); Phòng tiêu bản - Khoa Sinh học - Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU); Phòng tiêu bản - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN);… và bộ ảnh mẫu tiêu bản online quốc tế: Herbarium of National Taiwan University (TAI); Herbier Muséum Paris - Muséum National d’Histoire Naturelle (P, PC); Royal Botanic Gardens, Kew (K); New York Botanical Gardens (NY); Botanischer Garten und Botanisches Museum Berlin-Dahlem, Freien Universität Berlin (B);… [40] Ngoài ra, tên khoa học được xác định và chỉnh lý theo các tài liệu Thực vật chí Việt Nam [16]; Cây cỏ Việt Nam [6]; Thực vật chí Trung Quốc (Flora of China) [20]; Thực vật chí Thái Lan (Flora of Thailand) [21]; Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam [2]; Sách cây thuốc
và rau ăn làm thuốc ở rừng Dongsouth-Donglong [28], The International Plant Names Index (IPNI) [37]; The Plant List [41] Việc xác định tên khoa học có sự hỗ trợ của Thạc sĩ Nghiêm Đức Trọng và Thạc sĩ Lê Thiên Kim – Bộ môn Thực vật, trường Đại học Dược Hà Nội
2.2.5 Xử lý số liệu
Sau khi lập và hoàn thiện danh mục cây thuốc trong phần mềm excel, tiến hành phân tích tính đa dạng bậc phân loại theo ngành, lớp, họ, chi, loài; xác định đa dạng về hệ sinh thái, dạng sống của các loài cây thuốc trong danh sách Đối với các loài được người dân bản địa sử dụng làm thuốc hay chăm sóc sức khỏe, tiến hành phân tích về cách dùng, bộ
Trang 19phận dùng, công dụng, cách thức tiếp nhận - lưu truyền tri thức Từ đó đưa ra kết luận về mức độ đa dạng các loài cây thuốc và tri thức sử dụng cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua, huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng
Trang 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tài nguyên cây thuốc ở bản Sai Pua, huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng
3.1.1 Tính đa dạng sinh học cây thuốc ở bản Sai Pua
3.1.1.1 Tính đa dạng theo các bậc phân loại
Tổng số 340 loài cây thuốc đã được phát hiện ở khu vực bản Sai Pua, huyện Phu Cụt, tỉnh Xiêng Khoảng (Phụ lục 2.1) Trong đó có 285 loài (chiếm 83,82%) được người dân ở đây sử dụng làm thuốc, 55 loài cây thuốc (được ghi nhận trong các sách thuốc) nhưng không được người dân sử dụng làm thuốc Trong số 340 loài cây thuốc này, có 251 loài đã được xác định tên khoa học đến loài, 76 loài chỉ xác định được đến chi, 12 loài chỉ xác định đến
họ, và 1 loài chỉ xác định đến lớp
Các cây thuốc được xác định thuộc 7 ngành thực vật là: Bryophyta (Rêu đệm), Equisetophyta (Cỏ tháp bút), Gnetophyta (Dây gắm), Lycopodiophyta (Thông đất), Magnoliophyta (Ngọc lan), Pinophyta (Thông), Polypodiophyta (Dương xỉ), thuộc 113 họ,
257 chi khác nhau
Nhìn chung, hệ cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua đa dạng về các bậc phân loại Trong các ngành thực vật, ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) có số họ, chi và loài lớn nhất, lần lượt là 97 họ, 238 chi và 318 loài, chiếm 93,53% tổng số loài, trong đó lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) có nhiều cây thuốc nhất (76 họ, 200 chi, 261 loài, chiếm 76,76% tổng số loài) Số loài của các ngành thực vật còn lại chỉ chiếm 6,47% (Bảng 3.1) Trong tổng số
113 họ cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua, không có họ nào có số chi và số loài đến 10% Họ
có nhiều chi và nhiều loài nhất là (họ Đậu, Fabaceae) chỉ có số chi (19 chi) chiếm 7,39%
và số loài (24 loài) chiếm 7,06% Ở taxon bậc chi, chỉ có 27 họ (11,50%) có số chi từ 3 (1,17%) trở lên, trong khi đó có đến 77 họ (68,14%) chỉ có một chi Ở taxon bậc loài, có 22
họ (19,47%) có số loài từ 4 loài (1,18%) trở lên, nhưng có đến 66 họ (58,41%) chỉ có một loài Phân bố loài của cây thuốc theo họ được trình bày ở Hình 3.1 và Phụ lục 2.2
Trang 21Bảng 3.1 Sự phân bố cây thuốc trong các ngành thực vật ở bản Sai Pua, huyện Phu
Cà phê (Rubiaceae - 24 loài) (Phụ lục 2.2)
Hình 3.1 Phân bố số lượng họ cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua theo số loài
Trang 22Bảng 3.2 Danh mục các họ cây thuốc có số lượng loài lớn (xếp theo thứ tự tên khoa
học)
Tên khoa học Tên tiếng việt Tổng Tỷ lệ % Tổng Tỉ lệ %
Phân bố 340 loài cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua theo chi được trình bày ở Hình 3.2
và Phụ lục 2.3 Có một chi nhiều loài nhất (chi Litsea - 6 loài) có số loài chỉ chiếm 1,76%
Có 197 chi chỉ có 1 loài cây thuốc (chiếm 76,65%)
Trang 23Hình 3.2 Phân bố số lượng chi cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua theo số loài Bảng 3.3 Danh mục các chi có từ 3 loài cây thuốc trở lên (xếp theo thứ tự tên khoa
Trang 24TT Tên chi Số loài Tỷ lệ %
Về mức độ nguy cấp, quý, hiếm, cần được bảo tồn, trong số 340 loài cây thuốc đã
được phát hiện ở khu vực bản Sai Pua, có 1 loài Magnolia albosericea Chun & C.H.Tsoong
(họ Magnoliaceae) có trong Sách đỏ IUCN 2019 [38] ở mức VU (Vulnearble) - Sắp bị đe dọa
Về khả năng ứng dụng, có 8 loài bao gồm: Alpinia galanga (L.) Willd., Centella
asiatica (L.) Urb., Crinum asiaticum L., Hibiscus sabdariffa L., Orthosiphon aristatus
(Blume) Miq., Plantago major L., Psidium guajava L., Tinospora crispa (L.) Hook f &
Thomso.; có thông tin về đặc điểm cây, cách trồng, cách sử dụng (đặc biệt là công dụng chữa bệnh trong y học cổ truyền), trong sách hướng dẫn trồng cây thuốc [33] (dành cho các cộng đồng dân cư xa trung tâm y tế trên toàn bộ lãnh thổ Lào) của Vườn thực vật Pha Tad
Ke – Luông Pha Băng, là vườn thực vật đầu tiên tại Lào, phục vụ bảo tồn thực vật, phát triển giống và du lịch sinh thái
3.1.1.2 Tính đa dạng theo dạng sống
340 cây thuốc đã được phát hiện ở khu vực bản Sai Pua thuộc 7 dạng sống khác nhau
là (a) Bán ký sinh; (b) Bì sinh; (c) Bụi; (d) Cỏ; (e) Dây leo, dây trườn; (f) Gỗ, thân cột; (g)
Thủy sinh (Bảng 3.4 và Phụ lục 2.1) Các dạng sống có nhiều loài cây thuốc là Bụi (126
loài, 37,17%), Cỏ (99 loài, 29,20%), Gỗ, thân cột (68 loài, 20,06%)
Bảng 3.4 Danh mục các dạng sống của cây thuốc ở bản Sai Pua, huyện Phu Cụt
Trang 25TT Tên dạng sống Ký hiệu Số loài Tỉ lệ %
3.1.2 Thảm thực vật và phân bố cây thuốc ở bản Sai Pua
Các cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua, huyện Phu Cụt được phân bố ở 7 thảm thực vật chính (Hình 3.3, Phụ lục 2.1), thuộc 2 hệ sinh thái là:
- Hệ sinh thái tự nhiên, bao gồm: rừng nguyên sinh bị tác động (1); rừng thứ sinh, rừng thông (2); ven suối và thung lũng ẩm, bờ ao/hồ (3); núi đá vách đá (4); đồi, ven đường (5)
- Hệ sinh thái nông nghiệp, bao gồm: bãi hoang, nương rẫy (6); vườn, quanh nhà (7) Trong đó, các cây thuốc chủ yếu phân bố ở 2 khu vực: Rừng thứ sinh, rừng thông (171 loài, 50,44%), thấp nhất là thảm thực vật núi đá, vách đá (12 loài, 3,54%) Một số cây thuốc rộng sinh thái (từ 3 hệ sinh thái), có thể gặp ở một số loại hệ sinh thái khác nhau (Bảng 3.5)
Hình 3.3 Mức độ đa dạng cây thuốc theo loại thảm thực vật
Trang 26(1) Rừng nguyên sinh bị tác động (2) Rừng thứ sinh, rừng thông
Hình 3.4 Một số hình ảnh phỏng vấn và thu mẫu tại các thảm thực vật ở bản Sai
Pua, huyện Phu Cụt
Trang 27Bảng 3.5 Một số cây thuốc ở bản Sai Pua có phân bố sinh thái rộng
TT Tên tiếng Lào Tên tiếng
Việt
ex DC.) R.K.Jansen
2, 3, 6, 7
Hook & Grev
Elephantopus mollis Kunth 5, 6, 7
12 ຕາບລາຍ, ຂີົ້ໄຟນ ກຂ ົ້ມ Cúc chỉ thiên Elephantopus scaber L 5, 6, 7
Trang 28TT Tên tiếng Lào Tên tiếng
28 ຢາຫ ວ, ເຄືອງລາຍ Thổ phục linh Smilax glabra Roxb 2, 4, 5
3.2 Tri thức sử dụng cây thuốc của cộng đồng ở khu vực bản Sai Pua
3.2.1 Danh mục các bệnh, chứng có thể chữa trị bằng cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua
Có 36 tên mô tả nhóm bệnh/chứng bệnh/nhóm thuốc, được người dân ở khu vực bản Sai Pua sử dụng các cây thuốc (285 loài cây thuốc) để chữa (Bảng 3.6) Trong đó có 2 nhóm
có nhiều cây thuốc nhất là: nhóm bệnh tiêu hóa (68 loài, 23,86%), nhóm Bổ dưỡng (40 loài,
14,04%)
Trang 29Bảng 3.6 Danh mục các nhóm bệnh, chứng bệnh, nhóm thuốc sử dụng cây thuốc
khu vực bản Sai Pua
trị bệnh scorbut
40 14,04
5 Động vật cắn Chữa rắn cắn (giải độc, hút nọc độc), chữa chó
6 Gan Chữa bệnh về gan (viêm gan, viêm gan virus),
8 Giải độc Giải độc, thải độc cơ thể, giải rượu 10 3,51
12 Hô hấp
Chữa ho (ho có đờm, ho mạn tính), đau họng, ngạt mũi, bệnh lao (lao mạn tính gây suyễn, ho lao ra máu, lao phổi), viêm đường hô hấp (viêm phế quản, viêm amidan)
34 11,93
13 Huyết áp
Giúp ổn định huyết áp (chữa tăng huyết áp, hoặc hạ huyết áp), chữa hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu
24 8,42
Trang 30TT Tên nhóm bệnh Mô tả Số loài Tỷ lệ
14 Làm mát Hạ nhiệt, làm nước giải khát, chữa nóng trong
19 Nấm Chữa các bệnh về nấm như hắc lào, ghẻ lở,
11 3,86
24 Sinh lý nam Chữa liệt dương, di tinh, tăng cường sinh lý
26 9,12
27 Sốt rét Chữa sốt rét, sốt rét từng cơn, sốt rét cách nhật 4 1,40
29 Thận Chữa bệnh về thận, sỏi thận, viêm thận, đau
30 Thần kinh
Chữa bệnh thần kinh, suy nhược thần kinh, đau nửa đầu, đau dây thần kinh, bệnh zona thần kinh, bại liệt, tê liệt
30 10,53
Trang 31TT Tên nhóm bệnh Mô tả Số loài Tỷ lệ
33 Tiêu hóa
Chữa đau dạ dày, chướng bụng đầy hơi, khó tiêu, đau bụng, tiêu chảy, viêm ruột thừa, chống nôn mửa, nôn ra máu, nhuận tràng, chữa táo bón, kiết lỵ
xe, sái chân, chân sưng đau do viêm khớp
32 11,23
Ghi chú: Bảng này có tổng tỷ lệ không bằng 100% do một loài có thể dùng để chữa nhiều
chứng bệnh, do đó có nhiều công dụng
3.2.3 Bộ phận sử dụng của cây thuốc
Trong 285 loài cây thuốc được sử dụng làm thuốc ở bản Sai Pua, tổng cộng có 7 nhóm
bộ phận sử dụng đã được xác định Trong tổng số 285 loài, có 171 loài (chiếm 60%) chỉ sử dụng 1 bộ phận làm thuốc, có 22 loài (chiếm 7,72%) có trên 3 bộ phận dùng làm thuốc Hệ
số bộ phận sử dụng đã được xác định là 1,53 (tức trung bình 1 loài sẽ có 1,5 bộ phận dùng làm thuốc)
Bộ phận dùng nhiều nhất là Rễ (96 loài, 33,68%), thứ hai là bộ phận Lá (80 loài, 28,07%) Các bộ phận khác như Thân (68 loài), và Cả cây (67 loài) cũng có tỉ lệ khá cao, hơn 23% Các bộ phận đặc biệt như Sâu, Tổ sâu và Tinh dầu cũng được người dân bản địa
ở bản Sai Pua sử dụng (Bảng 3.7)
Bảng 3.7 Danh mục các bộ phận dùng của cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua
Trang 32TT Tên bộ phận Số loài có thể chữa Tỷ lệ
Trang 33Bảng 3.8 Danh mục các cách dùng thuốc ở bản Sai Pua huyện Phu Cụt (Xiêng
Uống (uống trực tiếp, giã ép nước
uống, bào ra uống, ngâm nước
12 Tắm, gội (nấu nước rửa, nấu nước
Trang 34Theo thông tin điều tra, phỏng vấn, tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc trong cộng đồng người bản địa tại khu vực bản Sai Pua được tiếp nhận và lưu truyền qua các thế hệ thông qua các hình thức sau đây:
- Gia truyền: Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc được truyền qua các thế hệ trong gia đình (ông bà truyền cho bố mẹ, bố mẹ truyền cho con,…) bằng hình thức giao tiếp qua lời nói và qua thực tế (đi rừng hái thuốc, sử dụng thuốc tại gia đình,…) Đây là hình thức truyền chủ yếu
- Học thuốc: Già làng hoặc thầy lang trong bản Sai Pua hướng dẫn và dạy cho người học cây thuốc thông qua các chuyến đi thực địa để hái thuốc và trên đối tượng bệnh nhân
cụ thể, tương tự hình thức dạy nghề Theo thông tin điều tra, ngoài các thầy lang trong bản Sai Pua truyền lại tri thức, thì một số người còn học nghề từ các thầy lang ngoài bản, thậm chí ngoài tỉnh
- Truyền mộng: Một số thầy lang cho biết, họ biết cách sử dụng cây thuốc thông qua các giấc mơ, có người trong mơ dậy cách dùng thuốc
- Tự học: Thông qua đọc các tài liệu về cây thuốc [28], hoặc kinh nghiệm sử dụng của bản thân (từ trải nghiệm tự dùng các cây, hoặc quan sát các động vật sử dụng cây cỏ tự chữa bệnh,…)
Hiện nay, đã có kết quả tư liệu hóa tri thức sử dụng của 141 loài cây dùng làm thuốc
và tri thức sử dụng cây thuốc chữa bệnh của 6 thầy lang trong huyện Phu Cụt [28] Trong
số 340 loài đề tài đã phát hiện ở khu vực bản Sai Pua, huyện Phu Cụt, chỉ có 47 cây nằm trong danh sách trên
Về nhu cầu tìm hiểu và học cách sử dụng các cây thuốc có mặt tại địa phương, qua phỏng vấn, người dân trong khu vực điều tra có nhu cầu tìm hiểu và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc Theo đó, các vấn đề bao gồm:
- Tri thức sử dụng cây thuốc trong địa phương (cây gì? Hình ảnh? Cách thức sử dụng)
- Cách thức khai thác cây thuốc: cách khai thác và kế hoạch khai thác để nguồn tài nguyên cây thuốc ở địa phương không bị tận diệt Khai thác như thế nào thì hiệu quả (khả năng chữa bệnh tốt nhất, không có độc tính,…)
- Trồng cây thuốc: trồng cây gì? Trồng như thế nào? Đất có phù hợp không? Có mất nhiều chi phí hay có hỗ trợ gì không?
Các vấn đề trên hiện chưa được giải quyết trên địa bàn
Trang 353.2.5.2 Cách thức khai thác, sử dụng cây cỏ làm thuốc
a) Hoạt động khám chữa bệnh của các thầy lang
Có 3 hình thức khám chữa bệnh chính của các thầy lang tại bản Sai Pua, cả 3 hình thức đều sử dụng cây cỏ làm thuốc, bao gồm:
(1) - Khám chữa bệnh tại nhà: Uy tín của thầy lang dựa trên đánh giá của người dân (truyền khẩu), không có hình thức cấp bằng khám chữa bệnh Người bệnh đến khám tại nhà thầy lang sẽ trả chi phí khám bệnh tùy cái tâm và tấm lòng của người khám bệnh và mức
độ nặng của bệnh, thông thường từ 70.000 đến 200.000 Kip (khoảng 150.000 – 500.000 VNĐ) Số lượng người khám bệnh tùy theo ngày, có thể đến 6-7 người/ngày
(2) - Dịch vụ khám chữa bệnh: Đôi khi, người bệnh khó khăn trong việc đi lại, sẽ gọi điện kể bệnh cho thầy lang Thầy lang sẽ được người nhà bệnh nhân đón đến tận nhà khám bệnh và bốc thuốc Chi phí khám chữa bệnh tương tự hình thức (1)
(3) – Hình thức khác: Ở bản Sai Pua có tồn tại hình thức chữa bệnh dạng tâm linh như: cúng để chữa bệnh (như thầy lang ໝ ຢາ ຈານບ ນຍອງ ດາລາພອນ), thổi để chữa bệnh (gọi là “ການເບ ໍ່າ” - “kan pàu”) Các hình thức này có sử dụng cây cỏ, tuy nhiên chưa định danh chính xác tên khoa học của các cây thuốc này
b) Hoạt động khai thác, buôn bán dược liệu
Hoạt động mua bán cây thuốc và dược liệu hiện nay trên địa bàn bản Sai Pua nói riêng, huyện Phu Cụt nói chung, thường do thương lái quyết định Các thương lái Trung Quốc (nhiều nhất), Việt Nam, Nhật Bản, Thái Lan,… đến địa phương và yêu cầu người dân danh sách các cây thuốc cần thu mua Người dân sẽ thu hái (khai thác trong rừng) và bán lại cho thương lái Nhiều cây thuốc như ຂ ນລູ (Anoectochilus albolineatus E.C.Parish & Rchb.f.)
với giá trị 450.000 Kip/1kg tươi (khoảng 1.200.000 VNĐ), đến nay trữ lượng khan hiếm trên địa bàn bản Sai Pua so với khoảng 3 năm trước
Ngoài ra, trong các chợ lớn (chợ tỉnh, chợ huyện) cũng có bán các dược liệu làm thuốc Đa số dược liệu trong quầy có nguồn gốc địa phương (đặc biệt là khu vực rừng Dongsouth – Donglong, phía Bắc huyện Phu Cụt, thuộc bản Sai Pua) (Hình 3.5) Giá dược liệu dao động từ 1.000 – 30.000 Kip tùy dược liệu
Trang 37BÀN LUẬN 4.1 Cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua (Phu Cụt)
4.1.1 Sự đa dạng của cây thuốc và phương pháp nghiên cứu
Chỉ với diện tích 323,24 ha, bằng 0,136% tổng diện tích của nước Lào, nhưng số loài cây thuốc đã xác định được ở bản Sai Pua chiếm một tỷ lệ khá lớn (340 loài trên tổng số 1.152 loài cây thuốc, chiếm 29,51%) (Bảng 4.1) so với hệ cây thuốc của nước CHDCND Lào [25], [34]
Bảng 4.1 So sánh hệ cây thuốc ở bản Sai Pua với hệ cây thuốc của nước CHDCND
Khu vực điều tra thuộc KBTTN Dongsouth – Donglong (thành lập năm 2016) Khi
so sánh với kết quả điều tra đa dạng của cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua với kết quả điều tra tại KBTTN Houai Nhang [7], và KBTTN Somsavat [13] (Bảng 4.2) nhận thấy số loài cây thuốc trong khu vực bản Sai Pua còn khá thấp (xét trên hệ số diện tích/số loài)
Bảng 4.2 So sánh số loài cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua với số loài tại hai khu bảo
tồn thiên nhiên Houai Nhang và Somsavat
(ha)
Số loài cây thuốc
Tỉ số khu vực bản Sai Pua
Trang 38Vì nghiên cứu chỉ áp dụng một phương pháp điều tra cây thuốc duy nhất là phương pháp điều tra theo tuyến Đây là một phương pháp thích hợp trong hoạt động điều tra phát hiện các loài cây thuốc, bài thuốc mới cũng như có ưu điểm cho kết quả nhanh và chính xác do dựa trên các mẫu sống tại thực địa Xét đường cong loài sau 6 tuyến điều tra, số loài vẫn tăng 3,7% sau tuyến 6 (Hình 4.1) Thông thường nếu tăng số lượng tuyến mà không tăng số loài quá 5% thì có thể kết luận sơ bộ về khu vực điều tra Do đề tài mới triển khai được số tuyến điều tra với số lượng người cung cấp tin có hạn, phương pháp này bỏ sót nhiều loài, đặc biệt các loài có nguy cơ bị đe dọa (thường là các loài hiếm do bị khai thác quá mức), nhất là khi điều kiện khó khăn tại thực địa (thời tiết, địa hình,…) Có thể số loài cây thuốc và số cây sử dụng làm thuốc tại địa phương thực tế nhiều hơn trong báo cáo Điều này thể hiện ở việc có 94 loài trong tài liệu [28] không xuất hiện trong các tuyến điều tra của đề tài.Đồng thời, cũng có 293 loài (trong đó có 243 loài có tri thức sử dụng làm thuốc)
trong kết quả của đề tài chưa được báo cáo ở khu vực KBTTN Dongsouth – Donglong [28] Trong số 6 KIP mà chúng tôi phỏng vấn, chỉ có 2 KIP nằm trong số 6 KIP của nghiên cứu trước đó [28] Các cây trên đã được giám định tên khoa học đầy đủ (đến loài), có ảnh chụp tại thực địa, là căn cứ bổ sung vào hệ cây thuốc ở KBTTN Dongsouth – Donglong nói chung, bản Sai Pua nói riêng Ngoài ra, với 340 loài cây thuốc (có 285 cây có tri thức sử dụng làm thuốc, 198 cây xác định đến loài), có thể làm căn cứ để so sánh với các danh mục cây thuốc sẵn có ở CHDCND Lào và bổ sung dữ liệu về đa dạng sinh học cây thuốc tại CHDCND Lào Nhóm nghiên cứu hiện có dữ liệu danh sách cây thuốc năm 2010 của CHDCND Lào [34] Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về đa dạng sinh học tại Lào [7], [13], [28],… nhưng chưa ban hành danh sách mới Vì thế, cần có thông tin tổng hợp và dữ liệu cập nhật từ phía các đơn vị quản lý của CHDCND Lào, để xác định chính xác đâu là loài bổ sung mới cho hệ thực vật Lào trong kết quả nghiên cứu của đề tài này Việc tổng hợp dữ liệu và xác định loài mới có thể là định hướng nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi
Hình 4.1 Đường cong loài
Trang 394.1.2 Phân bố của thảm thực vật và đa dạng theo dạng sống của cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua
Về phân bố trong các thảm thực vật, nhìn chung, số loài cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua điều tra được (340 loài) phân bố đều ở cả hai hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp Trong đó, các cây thuốc chủ yếu phân bố ở 2 khu vực: Rừng thứ sinh, rừng thông (171 loài, 50,44%), thấp nhất là thảm thực vật núi đá, vách đá (12 loài, 3,54%) Các họ có phân bố sinh thái rộng, có thể bắt gặp ở cả 2 hệ sinh thái tự nhiên và nông nghiệp, như họ Gừng (Zingiberaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Đậu (Fabaceae), cũng là những họ có số chi, số loài cây thuốc được người bản địa ở bản Sai Pua sử dụng làm thuốc/chăm sóc sức khỏe nhiều nhất Bên cạnh đó, rừng thông bắt gặp khá nhiều tại khu vực bản Sai Pua, được giải thích bởi độ cao trên 1.000 m so với mặt nước biển của khu vực điều tra, với khí hậu khá khô Đây có thể là dạng thảm thực vật phổ biến nhất tại khu vực điều tra
Các loài cây thuốc đã được phát hiện ở khu vực bản Sai Pua thuộc 7 dạng sống khác nhau Người Bản địa ở bản Sai Pua dùng nhiều loài có dạng sống là Bụi (126 loài, 37,17%),
Cỏ (99 loài, 29,20%), Gỗ, thân cột (68 loài, 20,06%) Điều này phù hợp với thói quen thu hái cây thuốc của người dân ở bản Sai Pua
4.1.3 Tri thức sử dụng cây thuốc
Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc ở bản Sai Pua khá phong phú, đã và đang phục vụ công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của cộng đồng người dân địa phương Tài nguyên cây thuốc vốn được hình thành từ 2 yếu tố: (i) do tính đa dạng về thành phần loài, ở đây liên quan đến điều kiện sinh thái đa dạng; (ii) do cộng đồng dân cư trong khu vực có truyền thống và tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc
Theo đánh giá của chúng tôi, tri thức về sử dụng cây cỏ làm thuốc đang dần mai một trong cộng đồng người dân bản địa ở bản Sai Pua, các lý do chính là: do thảm thực vật bị tàn phá; cây thuốc bị khai thác quá mức và bị sử dụng một cách lãng phí; tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc bị mai một do việc “hiện đại” khám chữa bệnh; thế hệ trẻ ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc của thế hệ trước; sự xói mòn đa dạng các nền văn hóa; tính khó sử dụng của dược liệu;…
Về hoạt động tư liệu hóa tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc, hiện nay, dự án GEF/UNDP/FAO Agro-biodiversity (ký hiệu ABP) thực hiện ở huyện Phu Cụt, tỉnh Xuyên
Trang 40Khoảng, đã thống kê được 141 loài cây dùng làm thuốc và tri thức sử dụng cây thuốc chữa bệnh của 6 thầy lang trong huyện Phu Cụt [28] Việc tư liệu hoá tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc là điều rất cần thiết và kịp thời [32], thay thế dần cho bằng phương pháp truyền khẩu Tuy nhiên, việc tư liệu hoá tri thức sử dụng cây thuốc ở cộng đồng là vấn đề tế nhị [10], [11], do hầu hết những người nắm giữ tri thức này có cuộc sống và thu nhập kinh tế phụ thuộc vào kinh nghiệm cũng như tín ngưỡng của họ Vì vậy, việc tư liệu hoá một cách chi tiết tri thức và kinh nghiệm này không đơn giản, đặc biệt là trong điều tra thừa kế, phát triển thuốc mới Ngoài mục tiêu để phát triển thuốc mới, nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc cũng cần mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương Chúng tôi nhận thức được việc
tư liệu hoá tri thức sử dụng cây thuốc trong khu vực có thể cung cấp thông tin cần thiết để biên soạn các tài liệu hay sách về cây thuốc để giáo dục thế hệ trẻ của cộng đồng địa phương
về cách nhận biết và sử dụng cây cỏ làm thuốc của cha ông mình [11] Đề tài đã có đủ các thông tin cần thiết như tên cây bằng tiếng Lào, tên khoa học, bộ phận dùng, công dụng, cách dùng, bộ ảnh chụp của các cây thuốc để có thể biên soạn các tài liệu như vậy
Đánh giá tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc ở bản Sai Pua, với 285 loài sử dụng làm thuốc, 36 tên mô tả nhóm bệnh/chứng bệnh/nhóm thuốc, và 7 nhóm sử dụng, chúng tôi nhận định tri thức sử dụng cây cỏ tại khu vực bản Sai Pua rất đa dạng, phong phú Trong
đó, nhóm bệnh được người dân ở khu vực bản Sai Pua sử dụng các cây thuốc để chữa nhiều nhất là nhóm bệnh tiêu hóa (68 loài, 23,86%), và nhóm bổ dưỡng (40 loài, 14,04%) Đây đều là các bệnh phổ biến, dễ mắc phải, phù hợp văn hóa ẩm thực (ăn bằng tay) của người dân bản địa ở địa bàn bản Sai Pua nói riêng, tỉnh Xiêng Khoảng nói chung, cũng như trong điều kiện khí hậu thay đổi thất thường (nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm có thể chênh nhau đến hơn 10oC)
4.1.4 Tiềm năng, giá trị của cây thuốc ở khu vực bản Sai Pua
Nhìn chung, tài nguyên cây thuốc ở một khu vực nhất định có 4 giá trị cần được xem xét, bao gồm: Giá trị sử dụng, giá trị kinh tế, giá trị tiềm năng và giá trị văn hoá [10]
- Giá trị sử dụng:
Tài nguyên cây thuốc ở bản Sai Pua đã và đang góp vào công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng trong khu vực với 36 bệnh/chứng bệnh có thể sử dụng cây cỏ làm thuốc, chăm sóc sức khỏe, với tổng số loài cây thuốc dùng để chữa là 285 loài chiếm 83,82% Phần lớn