1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài tập lớn môn bình đẳng giới Quyền của người phụ nữ nông thôn dưới góc độ bình đẳng hiện nay.

15 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 157,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới quy định: “ Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của

Trang 1

A MỞ BÀI

Phụ nữ là một lực lượng lao động quan trọng ở nước ta hiện nay Phụ

nữ nông thôn là nhứng người phụ nữ sinh sống và lao động tạị khu vực nông thôn Phụ nữ nông thôn là một cộng đồng ngừoi phong phú đa dạng gồm những dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi và trình độn học vấn khác nhau và sinh sống ở nhưng nơi khác nhau Họ đã và đang tham gia tích cực vào các hoạt động sản xuất và đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế ở nông thôn Tuy nhiên, họ cũng gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong quá trình lao động sản xuất, từ chính bản thân họ (trình độ chuyên môn kỹ thuật, sức khoẻ ) hay những khó khăn hạn chế khách quan (như việc tiếp cận với các nguồn vốn, việc làm, các dịch vụ xã hội ) Có thể thấy vai trò hết sức quan trọng của người phụ nữ nói chung và người phụ nữ nông thôn nói riêng do

đó em xin lựa chọn đề tài và đi sâu vào phân tích đề tài: “Phụ nữ nông thôn với vấn đề bình đẳng giới hiện nay”

B NỘI DUNG

I Khái niệm Bình đằng giới và bất bình đằng giới ở nông thôn

1 Khái niệm Bình đẳng giới.

Khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới quy định: “ Bình đẳng giới là

việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”

Bình đẳng giới là mục tiêu và thước đo tiến độ phát triển của một xã hội Sự bình đẳng giới được thể hiện ở nhiều phương diện, cụ thể: nam và nữ

có điều kiện ngang nhau để phát huy hết khả năng và mong muốn của mình; nam và nữ có cơ hội ngang nhau đề tham gia và đóng góp, hưởng thụ các

Trang 2

nguồn lực của xã hội trong quá trình phát triển; nam và nữ có các quyền ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Như vậy, bình đẳng giới không chỉ đơn giản là số lượng của phụ nữ

và nam giới hay trẻ em trai và trẻ em gái tham gia trong tất cả các hoạt động

là như nhau, cũng không có nghĩa là nam giới và phụ nữ giống nhau, mà bình đẳng giới có nghĩa là nam giứoi và phụ nữ được công nhận và hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội Đồng thời, sự tương đồng và khác biệt giữa nam và nữ được công nhận Từ đó nam và nữ có thể trải nghiệm những điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi bình đẳng từ công cuộc phát triển của quốc gia trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội

2 Khái niệm bất bình đẳng giới ở nông thôn

Bất bình đẳng giới ở nông thôn nói một cách đơn giản tức là sự không ngang bằng nhau giữa cá nhân nam giới và phụ nữ, giữa các nhóm phụ nữ và nam giới trong các cơ hội, tiếp cận các nguồn lực và sự sử dụng, hưởng thụ nhữung thành quả xã hội xảy ra trên khu vực nông thôn

II Quyền của người phụ nữ nông thôn dưới góc độ bình đẳng hiện nay.

Cùng với sự tiến bộ của nhân loại, Việt Nam cũng đã có những bước tiến trong quá trình hướng tới bình đẳng giới thựuc chất, khi đã công nhận rất nhiều quyền cho người phụ nữ nông thôn, thong qua việc lồng ghép giới

và các văn bản pháp luật của các nghành luật khác Qua đó, thấy được các quyền của người phụ nữu nông thôn trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội,

Trang 3

1 Trong lĩnh vực kinh tế,lao động.

 Cơ sở pháp lý

Công ước CEDAW mà Việt Nam là quốc gia tham gia công ước Về lĩnh vực kinh tế, lao động: Công ước CEDAW quy định quyền được hưởng các cơ hội làm việc như nhau cũng như những phúc lợi xã hội và quyền được hưởng thù lao như nhau trên cơ sở thành quả làm việc (Điều 11,14):

Trên cơ sở bình đẳng, phụ nữa và nam giới có quyền hưởng các cơ hội có việc làm như nhau, bao gồm cả việc áp dụng những tiêu chuẩn như nhau khi tuyển dụng lao động; quyền được hưởng thù lao nhưu nau, bao gồm cả phúc lợi, được đối xử như nhau khi làm những việc có giá trị ngang nhau cũng như được đối xử như nhau trong việc đánh giá chất lượng công việc

Quyền được vay tiền ngân hàng và tham gia các hình thức tín dụng

khác ( Điều 13,14): được tiếp cận các loại hình thức tín dụng và vay vốn dành cho nông nghiệp, các cơ hội thị trường, công nghệ phù hợp Nhằm

mục đích đảmbaro quyền lợi cho người phụ nữ nói chung và người phụ nữ nông thôn nói riêng Nhà nước ta đã nội luật hoá các cam kết được ghi nhận trong công ước CEDAW cụ thể trong Hiến pháp 2013, văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

“1 Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.

2.Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

3.Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.” Bộ luật Lao động 2012, văn bản

pháp luật quan trọng nhất điều chỉnh toàn diện các vấn đề lao động và việc làm nói chung, trong đó dành hẳn một chương (chương X) quy định các vấn

Trang 4

đề việc làm đối với lao động nữ nói chung, lao động nữ nông thôn nói riêng.

Luật Bình đẳng giới 2006 cũng có những quy định: “Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, ” (Khoản 1 Điều 12);“Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác” (Khoản 1 Điều 13) ; “Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.”(Điểm b Khoản 2 Điều 12) Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động,

việc làm là sự ngang nhau giữa lao động nam và lao động nữ về lĩnh vực lao động, về nghĩa vụ và quyền lợi hay cống hiến và hưởng thụ

Trên cơ sở quy định pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh

tế, lao động như vậy, có thể thấy người phụ nữ có rất nhiều quyền khi tham gia vào lĩnh vực này Tuy nhiên, người phụ nữ nông thôn phần lớn còn chưa nắm bắt được lợi ích và quyền lợi cảu mình rất nhiều Chính vì thế, quyền và lợi tích của họ trong tìm kiếm, tạo việc làm vẫn chưa được đảm bảo một cách tuyệt đối Thiếu việc làm luôn là vấn đề bức xúc ở nông thôn Tỷ lệ phụ

nữ nông thôn thiếu việc làm đã tăng dần đặc biệt khó cạnh tranh để kiếm việc làm thêm do họ thiếu kỹ năng lao động cần thiếu cũng như thiếu vốn để

đa dạng hoá hoạt động sản xuất kinh doanh Và hiển nhiên trong thời buổi hội nhập vấn đề này càng gặp khó khăn hơn, khi mà chỉ có 9,2% lực lượng lao động nữ ở nông thôn từng được đào đạo kỹ thuật, trong đó tỷ lệ này ở nam giới là 15,2% Trên thực tế khả năng lao động phụ nữ nông thôn không

hề thua kém nam giới, năng suất lao động để kiếm thu nhập của họ còn cao hơn nam giới Tuy nhiên, phụ nữ dành thời gian nhiều gần gấp đôi nam

Trang 5

giứoi cho các công việc nhà không được trả công Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ (NCFAW 2005) cho biết khi phụ nữ và nam giới làm việc với số giờ tương đương trong sản suất kinh doanh, thì phụ nữ sử dụng thời gian nhiều cho việc nhà hơn 2,3 lần ở vùng nông thôn Phụ nữ nông thôn ở tất cả các lứa tuổi đều có tổng thời gian làm việc nhiều hơn nam giới Điều đó đã ảnh hưởng cấu đến sức khoẻ và gia đình của họ, thiếu thời gian nghỉ ngơi, giải trí và tham gia các hoạt động xã hội cộng đồng cũng như các

cơ hộ tham gia đảm nhận các vị trí quản lý và lãnh đạo, có rẩ ít thời gian đề tham gia và các khoá đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, kỹ năng và sự

tự tin do đó khả năng di động xã hội của phụ nữ thấp hơn rất nhiều so với nam giới

2 Trong đời sống gia đình

Điều 18 Luật Bình đẳng giới quy định:

“1 Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ

khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.

2 Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình.

3 Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và

sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.

4 Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.

5 Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.”

Trang 6

Ngoài ra, Hiến Pháp 2013 kế thừa các quy định về Bình đẳng giới của các bản Hiến pháp 1946,1959,1980,1992 đã đề những nguyên tắc pháp lý cơ bản nhất nhằm củng cố và xây dựng chế độ hôn nhân gia đình mới, thực

hiện nam nữ bình đẳng Điều 16 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”.Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Điều 36

Hiến pháp quy định: “1 Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn.Hôn nhân theo

nguyên tắctự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau” Cụ thể hoá các quy định của Hiến Pháp về vấn đề này, Nhà

nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng như Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 bảo đảm quyền bình đẳng vợ chồng, vợ chồng có quyền

và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt…; Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định bình đẳng nam nữ trong các quan hệ dân sự, các quyền nhân thân trong đó

có các quyền trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (quyền kết hôn, quyền ly hôn…)

Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn tạo cho gia đình Việt nam điều kiện tiếp thu những giá trị văn hoá mới của xã hội hiện đại Mặc dù vậy thì trong các gia đình nông thôn, phụ nữ vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi, bất bình đằng giới vẫn còn phổ biến Với ghánh nặng phải cân đối giữa công việc và trách nhiệm gia đình, mộit số phụ nữ Việt nam phải làm việc rất nhiều giờ Theo một đánh giá về bình đẳng giới của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam vào năm 2004, phụ nữ là việc trung bình 13 giờ một ngày

so với nam giới là 9 giờ 90% công việc gia đình do phụ nữ đảm nhận Sự bất bình đẳng còn thể hiện trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực chủ yếu, trong thực tế, giấy chứng nhận quyfn sử dụng đất của hộ gia đình cũng như sổ địa chính của địa phương chỉ đẳng ký tên chủ hộ là nam giới chiếm

Trang 7

đại đa số Tình trạng này đã gây khó khăn cho phụ nữ khi họ cần thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn, chia đất khi ly hôn hoặc thừa kế đất khi người chồng qua đời Phụ nữ nông thôn lại càng đặc biệt quan trọng khi mà

họ có ít cơ hội tiếp cận với các nguồn lực khác nên đất đai có thể xem như là phương tiện sinh nhai duy nhất giúp hpj duy trì cuộc sống và thoát nghèo

Trong một cuộc điều tra về mức thu nhập gia đình ở nông thôn năm

2004 cho thấy: 87,9% chi tiêu hang ngày do vợ quyết định; 4,4% do chồng; 0.5% do con trai; 0.3% do con gái Điều này làm cho phụ nữ nông thôn bị cột chặt vào các công việc gia đình nhiều hơn còn nam giới thì ít chia sẻ với

họ Không chỉ như vậy mà do sự khác biệt về mặt thể chất nên nhiều phụ nữ còn là nạn nhân chủ yếu của sự phân biệt đối xử, phải ghánh chịu những lạm dụng về thể xác, tinh thần từ phía người đàn ông Đây là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng bạo lực gia đình Qua đó có thể thấy, quyền của ngừoi phụ nữ trong gia đình vẫn chưa được đảm bảo một cách tuyệt đối, vẫn còn bị hạn chế do nhân thức sai lầm của một số bộ phận người dân đặc biệt ở khu vực nông thôn

III Nguyên nhân của những bất bình đẳng giới ở nông thôn

1 Quan niệm và cách ứng xử xã hội

Tư tưởng trọng nam khinh nữ còn phổ biến trong xã hội Nếp gia trưởng vẫn còn giữ vai trò chủ đạo trong quan hệ gia đình, đặc biệt là nông thôn Thái độ của xã hội muốn phụ nữ đóng một vai trò “thích đáng” trong gia đình gây khó khăn cho việc giải quyết những vấn đề phức tạp như bạo lục gia đình đối với phụ nữ, ly hôn và nhu cầu của nhữnng người mẹ đơn than Ngành nông nghiệp, nông thôn, trong giới công chức cũng như các hộ gia đình nông thôn, quan niệm xã hội phổ biến về vai trò giới, bình đẳng

Trang 8

giói, phân công lao động, lãnh đạo và ra quyết định còn bị ảnh hưởng từ những định kiến cổ hủ còn rất nặng nề

2 Định kiến giới trong gia đình

Một nguyên nhân nữa là do các hộ gia đình ở nông thon Các hộ gia đình đó đã định hình các mối quan hệ giới ngay từ đầu của quá trình xã hội hoá các nhân và truyền tải chúng từ thế hệ này sang thế hệ khác Có những định khiến giới của cha mẹ biểu hiện như: Quan niệm cho rằng các em gái không cần học nhiều mà phải phụ giúp cha mẹ công việc nhà; chăn nuôi gia súc, gia cầm hay cày cấy,…

3 Đời sống kinh tế khó khăn ảnh hưởng tới nhận thức

Đời sống kinh tế cũng ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới ở nông thôn Tình trạng đói nghèo của gia đình, trình độ học vấn thấp của cha mẹ, đã có rất nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ bỏ học rất đáng kể của trẻ em xuất thân từ gia đình nghèo khó, cha mẹ ít học thậm chí là không biết chữ sống ở vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa Điều đó dẫn tới những quan niệm cổ hủ đã

ăn sâu vào chuẩn mực sống càng khó để tiếp cận với nhận thức mới về bình đẳng giới

4 Các thể chế xã hội, chuẩn mực xã hội tác động đến sự tiếp cận nguồn lực

Các thể chế xã hội, chuẩn mực xã hội, quyền hạn, luật lệ cũng như các thể chế kinh tế thị trường một phần tác động đến loại nguồn lực mà họ được tiếp cập, hoạt đông nào mà giới nào được phép tham gia, giới nào được phép tham gia nền kinh tế - xã hội dứoi hình thức nào Chính những thể chế đó đã quy định động cơ khuyến khích hay không khuyến khích các định kiến giới, ngay cả khi chúng không công khai phân biệt thì những thể chế chính thức

Trang 9

hay không chính thức đó vẫn thường chịu những tác động bởi chuẩn mực xã hội về những vai trò thích hợp theo giới Có rất nhiều thể chế rất khó và rất chậm để có thể thay đổi được

5 Các chính sách phát triển về giới tạo ra kết cục phân biệt về giới

Các chính sách phát triển cùng với những chuẩn mực xã hội hay phân công đồng đều có thể dẫn đến việc tiếp cận các nguồn lực không đồng đều giữa nam và nữ Việc không nhận thức được hoặc bỏ qua sự khác biệt về giới khi thiết kế các chính sách có thể có hại cho hiệu lực của các chính sách

đó, xét trên cả khía cạnh công bằng lẫn hiệu quả

IV Giải pháp về chính sách nhằm củng cố và nâng cao quyền của người phụ nữ nông thôn dưới góc độ bình đẳng hiện nay

Để khắc phục nững thách thức nêu trên là cả một quá trình nan giải, lâu dài bởi những thách thức này về cơ bản xuất phát một các khách quan cùng với sự vận động và biến đổi sâu sắc của nông thôn thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Quá trình này, thường tạo ra những đột biến trong sự chuyển đổi của các xã hội quá độ, điều này càng làm trầm trọng hơn bởi những đặc thù riêng của xã hội Việt Nam Tuy nhiên, trước mặt để hạn chế phần nào những khó khan, cản trở đối với người phụ nữ nông thôn

và góp phần tạo ra những cơ hội phát triển mới cho họ trong tương lai, cần thực hiện một số giải pháp sau:

1 Tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tiếp cận các nguồn lực

Không được làm chủ các ngườn lực (đất đai, tài sản, phương tiện sản xuất,…) thì phụ nữ sẽ thuộc “nhóm yếu thế”, không thể tự chủ và khó phát huy được sức mạnh của vai trò nữ giới Điều này càng thâm bất lợi nếu như đời sống gia đình của người phụ nữ có vấn đề dấn đến gia đình tan vỡ Chính vì lẽ đó, cần thúc đẩy việc cấp giấu chứng nhận quyền sử dụng đất đai

Trang 10

theo Luật đất đai Với phụ nữ nông thôn, đất đai là một phương tiện đảm bảo

an sinh xã hội đồng thời cũng là phương tiện duy nhất để thoát nghèo Nghiên cứu cũng cho thấy, so với nam giới thì phụ nữ nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng thường ít cơ hội trong việc tiếp cận vay vốn tín dụng

Vì thế cần tính đến những khác biệt giữa nam và nữ trong tiếp cận và sử dụng vay tín dụng từ ngân hàng và các tổ chức tín khác để có chính sách, chế độ riêng đối với nam và nữ nông dân trong triển khai chính sách tín dụng hiện nay

2 Ưu tiên đào tạo nghề và việc làm cho phụ nữ

Quá trình biến động đất đai trong nông nghiệp không chỉ khiến cho nông dân, nhất là với phụ nữu thất nghiệp mà nó còn tác động đến thị trường lao động với mức độ khác nhau Với sự phân công lao động theo giới công thêm nam giới di cư đến các vùng đô thị, khu công nhiệp để tìm kiếm viếc làm, phụ nữ nông thôn đảm nhận đa vai trò nên có những bất lựoi hơn so với nam giới trong việc tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp Có cơ sở để thấy rang phụ nữ nông thôn cần được quan tâm đào tạo nghề hơn nam giới.Trong một phân tích về thay đổi nghề nghiệp trong các khu vực nông thôn cho thấy nam giới thay đổi nghề nghiệp nhiều hơn 2 lần phụ nữ (31,6% và 13,3%) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, xắc suất đổi nghề của lao động nam lớn hơn lao động nữ, nếu một phụ nữ có sắc suất đổi nghề là 22% thì một lao động nam tương đương có sắc xuất đổi nghề là 52% Điều này càng cho thấy sự cần thiết ưu tiên đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật lien quan đến sản suất nông lâm ngư nghiệp cho phụ nữ, vì nam giới có tính linh hoạt hơn nữ trong quá trình nắm bắt các cơ hội mới khi chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm

Mục tiêu của các chính sách trong bộ luật lao động cần phải mang lại lợi ích cho người lao động, đặc biệt là người phụ nữ nghèo, và tạo việc làm

Ngày đăng: 10/06/2019, 10:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w