1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến 2000

160 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu cụ thể về sự hiện diện của yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 .... Thứ hai, mục tiêu chính yếu của luận án là khám phá sự hiện diện cũng như nhữ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiêncứu và các dẫn liệu trong luận án là hoàn toàn trung thực, chƣa từng đƣợc ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Phan Thúy Hằng

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Trang 5

Lời Cảm Ơn

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phan Trọng Thưởng, PGS.TS Hoàng Thị Huế đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học trường Đại học Khoa học Huế, Đại học Huế đã tạo điều kiện thuận lợi, Ban chủ nhiệm cùng các thầy cô Khoa Ngữ văn trường Đại học Khoa học Huế, Đại học Huế đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Khoa học

Xã hội và Nhân văn trường Đại học Khánh Hòa cùng các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn gia đình, những người

đã luôn sát cánh và động viên tôi trong suốt thời gian qua.

Huế, ngày 19 tháng 5 năm

2019

Tác giả luận án

Phan Thúy Hằng

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên và phạm vi nghiên cứu 3

4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp mới của luận án 4

6 Cấu trúc của luận án 5

NỘI DUNG 6

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tình hình nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam trước năm 1986 6

1.1.1 Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945 6

1.1.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1985 10

1.2 Tình hình nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 15

1.2.1 Những nghiên cứu chung về vai trò của văn hóa dân gian đối với tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 15

1.2.2 Những nghiên cứu cụ thể về sự hiện diện của yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 17

1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài 22

1.3.1 Đánh giá tình hình nghiên cứu 22

1.3.2 Hướng triển khai đề tài 24

Chương 2: VĂN HÓA DÂN GIAN VÀ SỰ TÁC ĐỘNG ĐẾN TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000 26

Trang 7

2.1 Khái lược về văn hóa dân gian và mối quan hệ giữa văn hóa dân gian với tiểu

thuyết Việt Nam hiện đại 26

2.1.1 Khái niệm văn hóa dân gian 26

2.1.2 Nhận diện các thành tố của văn hóa dân gian 29

2.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian với tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 32 2.2 Tác động của văn hóa dân gian đến tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 .39

2.2.1 Văn hóa dân gian với sự thay đổi về tư duy nghệ thuật 39

2.2.2 Văn hóa dân gian với sự cách tân về nghệ thuật thể hiện 43

2.3 Các tín ngưỡng dân gian - nguồn nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo của nhà văn47 2.3.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và những người đã khuất 47

2.3.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên 52

2.3.3 Tín ngưỡng thờ Mẫu 55

Chương 3: YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000 - NHÌN TỪ THẾ GIỚI NHÂN VẬT, KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 59

3.1 Yếu tố văn hóa dân gian nhìn từ thế giới nhân vật 59

3.1.1 Nhân vật trong mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, dòng tộc 59

3.1.2 Nhân vật tâm linh 66

3.2 Yếu tố văn hóa dân gian nhìn từ không gian nghệ thuật 71

3.2.1 Không gian hiện thực gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng 71

3.2.2 Không gian huyền ảo, siêu thực 74

3.3 Yếu tố văn hóa dân gian nhìn từ thời gian nghệ thuật 84

3.3.1 Thời gian phiếm định và sự huyền thoại hóa thời gian hiện thực 84

3.3.2 Thời gian kì ảo 90

Chương 4: YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2000 - NHÌN TỪ NGÔN NGỮ, MOTIF VÀ BIỂU TƯỢNG 97

4.1 Yếu tố văn hóa dân gian nhìn từ ngôn ngữ 97

4.1.1 Sử dụng nhuần nhị thành ngữ, tục ngữ 97

4.1.2 Ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, đan xen văn xuôi lẫn văn vần 102

4.2 Yếu tố văn hóa dân gian nhìn từ hệ thống motif 108

4.2.1 Motif cái chết - ma hiện hồn 108

4.2.2 Motif báo ứng 115

Trang 8

4.3 Yếu tố văn hóa dân gian nhìn từ hệ thống biểu tượng 120

4.3.1 Biểu tượng Đất 122

4.3.2 Biểu tượng Nước 127

4.3.3 Biểu tượng Vật 134

KẾT LUẬN 140

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 144

TÀI LIỆU THAM KHẢO 145

PHẦN PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian (VHDG) và văn học viết không phải làmột vấn đề mới Nó xuất hiện ngay từ những ngày đầu hình thành văn học viết Làhai loại hình nghệ thuật khu biệt tương đối trong tất cả các tiêu chí và cách thứcphân loại, văn hóa dân gian và văn học viết có sự tương tác đa chiều Đây là một tấtyếu và sự thâm nhập văn hóa dân gian vào văn học viết cũng là một quy luật dĩnhiên của tiến trình lịch sử Từ việc đơn thuần chỉ ra các yếu tố dân gian thuộcphạm vi hình thức (như motif, hình ảnh, cốt truyện, ngôn ngữ, thể loại…), người ta

đã nhìn sâu hơn đến chiều kích tư tưởng, tinh thần (như tín ngưỡng, các nghi lễ,tập quán dân gian) thể hiện trong các sáng tác văn học Trước kho tàng văn hóa dângian vô cùng phong phú, mỗi nhà văn tiếp nhận đến đâu, tiếp nhận như thế nào vàthể hiện “tri thức dân gian” ra sao lại tùy thuộc vào tài năng và cá tính của tác giả.Quá trình tiếp biến văn hóa này diễn ra xuyên suốt và liên tục trong lịch sử vănhọc Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu sự ảnh hưởng chủ yếu nhằm bảo tồn cốt lõi folkloretruyền thống, yếu tố văn hóa dân gian xuất hiện trong các tác phẩm thường chuyên chởnhững bài học đạo đức khuyên răn như mục tiêu, do vậy nó mang hơi hướng văn học

“chức năng” nhiều hơn Thực sự phải đến sau 1986, tiếp nhận văn hóa dân gian trongvăn học viết mới được đẩy lên cao thành một trào lưu, một xu hướng thực sự đem lạigiá trị nhiều mặt trong văn chương Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 chứng kiến nhữngthay đổi và cách tân mạnh mẽ chưa từng thấy trong tư duy nghệ thuật của nhà văn vàcấu trúc tự sự của tác phẩm Một trong những biểu hiện thú vị nhất của công cuộc đổimới sôi động này, không hẳn là ở sự sản sinh ra những chất liệu và nhân tố nghệ thuậtmới, mà ở sự tiếp thu và “tái sử dụng” tích cực những yếu tố tự sự truyền thống - đặcbiệt là các yếu tố tự sự dân gian Quá trình tái sinh, sự quay trở về với các yếu tố dângian không đơn thuần là lặp lại cái cũ, cái lạc hậu, khuôn mòn, cũng không phải làbước đi thụt lùi, mà qua cái cũ để tạo ra những giá trị mới, một phương thức mới trongsáng tạo văn học Rất nhiều nhà văn hiện đại đã thành công và khẳng định tên tuổi vớithử nghiệm đó như Đào Thắng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Võ Thị Hảo, Tạ DuyAnh, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Bình Phương…

Trang 10

Việc vận dụng lý thuyết văn hóa dân gian vào nghiên cứu tiểu thuyết giaiđoạn này giúp lí giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật với hệ thống mã văn hoáđược bao hàm bên trong nó Đồng thời cung cấp cho người đọc một cái nhìn hệthống những dấu ấn đặc trưng cũng như phương thức tồn tại của các yếu tố vănhóa dân gian trong tiểu thuyết giai đoạn 1986 đến 2000 Qua đó rút ra quy luật vậnđộng của văn hóa, văn học, khẳng định những đóng góp của thể loại tiểu thuyếttrong tiến trình phát triển của lịch sử văn học Đó chính là lí do chúng tôi chọn đề

tài Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000

hướng đến các mục tiêu cơ bản:

Thứ nhất, luận án hệ thống lại tình hình nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian

trong tiểu thuyết Việt Nam trước và sau năm 1986 Chúng tôi cố gắng chỉ ra nhữngvấn đề đã được giải quyết thấu đáo cũng như những vấn đề còn bỏ ngỏ nhằmnghiên cứu một cách hệ thống nhất đề tài luận án

Thứ hai, mục tiêu chính yếu của luận án là khám phá sự hiện diện cũng như

những tác động của yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến

2000 trên bình diện ý thức nghệ thuật và cách thức tổ chức trần thuật Từ đó, luận

án nhận định, đối thoại trên tinh thần nhận thức lại những yếu tố của văn hóa dângian trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, góp phần khẳng định những đóng gópmới nhằm đánh giá đúng bước tiến thể loại trong diễn trình hội nhập

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa tình hình nghiên cứu sự hiện diện của yếu tố văn hóa dân giantrong tiểu thuyết Việt Nam trước và sau 1986, lý giải nhằm làm rõ hơn những vấn

đề còn bỏ ngỏ và xác định hướng nghiên cứu cụ thể của luận án

- Xác định rõ tiền đề cơ sở cũng như sự tác động của văn hóa dân gian đến tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000

- Đi sâu làm rõ những tác động của văn hóa dân gian đến những phương diện

cụ thể trong tiểu thuyết giai đoạn này như: tín ngưỡng, nhân vật, không gian và thời

Trang 11

gian nghệ thuật, ngôn ngữ, motif và biểu tượng Từ đó chỉ ra những kế thừa, cáchtân, những thay đổi trong ý thức nghệ thuật của các nhà văn nhằm kiến tạo một hiệnthực nghệ thuật mới, biểu đạt những suy tư của họ về xã hội đương đại Đặc biệt,

do đặc trưng thể loại và xu hướng tiếp nhận tự sự hậu hiện đại sau 1986 nên vănhóa dân gian trở thành một trong những đối tượng tiếp nhận của tiểu thuyết để giảiquyết nhu cầu gia tăng sự dung hợp và làm mới thể loại Vì vậy, văn hóa dân gian sẽgóp phần tạo dấu ấn liên văn bản và tính đối thoại của tiểu thuyết giai đoạn này

3 Đối tượng nghiên và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung vào các tiểu thuyết từ 1986 đến

2000 có chứa yếu tố văn hóa dân gian qua những hiện tượng văn học nổi bật như:

Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Trịnh Thanh phong (Ma làng), Tạ Duy Anh (Lão Khổ), Dương Hướng (Bến không chồng), Lê Lựu (Chuyện làng Cuội)…Danh mục cụ thể các tác phẩm khảo sát trong luận án chúng tôi sẽ đưa

vào phần Phụ lục

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu những yếu tố văn hóa dân gian thể hiện trongthuyết Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến 2000 trên các phương diện cơ bản sau: tínngưỡng, thế giới nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật, hệ thống motif, biểutượng và ngôn ngữ Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, để có có cái nhìn nhiềuchiều, liên tục và toàn diện, luận án sẽ khảo sát thêm một số tiểu thuyết trước 1986

và sau 2000 có sự ảnh hưởng nét của văn hóa dân gian

4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý thuyết

Để nghiên cứu đề tài Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986

đến 2000, chúng tôi dựa trên hệ thống lí thuyết về mối quan hệ giữa văn hóa dân gian

với văn học đã được các nhà nghiên cứu công bố trên các chuyên luận, các tạp chí có

uy tín Từ đó, soi chiếu vào những biểu hiện của văn hóa dân gian trong tiểu thuyếtViệt Nam mười lăm năm cuối thế kỉ XX cả về nội dung và hình thức nghệ thuật đểthấy được những đóng góp và sáng tạo của các nhà tiểu thuyết giai đoạn này

Trang 12

Ngoài lí thuyết cơ bản nêu trên, trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôicòn vận dụng các lí thuyết về folklore, dân tộc học, xã hội học của các nhà nghiêncứu trong và ngoài nước để có cái nhìn vấn đề nhiều chiều và toàn diện hơn Đặcbiệt, chúng tôi chú ý dấu ấn và ảnh hưởng của yếu tố văn hóa dân gian trong tiểuthuyết Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến 2000 được thể hiện đậm nhạt khác nhau ởtừng tác giả và tác phẩm cụ thể.

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp văn hóa học: Đây được coi là phương pháp nghiên cứu trọng tâmcủa luận án Người viết sử dụng phương pháp này nhằm vận dụng các quan điểm vàthành tựu văn hóa nói chung, đặc biệt là văn hóa dân gian để tìm hiểu, lí giải các yếu tốvăn hóa dân gian xuất hiện trong các tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000

- Phương pháp liên ngành: Sử dụng kiến thức của các ngành khoa học xã hộikhác như: văn hóa, lịch sử, triết học, tôn giáo để nhìn nhận vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện nhất

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Sử dụng phương pháp này nhằm thấy sự kếthừa và cách tân về mặt nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết

- Phương pháp thi pháp học: Phương pháp này chủ yếu tập trung làm rõ những phương diện về không gian và thời gian nghệ thuật

- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Phương pháp này được vận dụng trênquan điểm tiếp cận văn bản học, nhằm thống kê, hệ thống hóa, phân loại và chọn lọccác tác phẩm có sự xuất hiện của yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết ViệtNam từ 1986 đến 2000 Từ đó phân tích để đưa ra những luận điểm tổng hợp, kháiquát nên những yếu tố văn hóa dân gian biểu hiện trong các tiểu thuyết giai đoạnnày về mặt nội dung cũng như phương thức thể hiện Qua đó chỉ ra những tác độngcủa các yếu tố văn hóa, văn học dân gian trong việc thể hiện đời sống của tác phẩm

5 Đóng góp mới của luận án

- Qua việc đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu, luận án đã hệ thốnghóa tư liệu và đưa ra cái nhìn đầy đủ hơn về những biểu hiện của văn hóa dân giantrong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn trước và sau năm 1986

Trang 13

- Nêu và lí giải được những biểu hiện của yếu tố văn hóa dân gian trong tiểuthuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 qua nhiều vấn đề cụ thể như: đời sống văn hóatâm linh, phong tục tập quán, tín ngưỡng, việc sử dụng các motif dân gian, biểutượng, ngôn ngữ, thế giới nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật.

- Đề tài góp phần khảo sát và lí giải một cách có hệ thống, khách quan về vaitrò của văn hóa dân gian đối với tiểu thuyết giai đoạn 15 năm cuối thế kỉ XX, chothấy sự tương tác giữa văn học và văn hóa dân gian Đồng thời góp phần khẳngđịnh cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa dân gian là một hướng nghiên cứu cầnthiết trong nghiên cứu văn học hiện nay

- Với việc nghiên cứu có hệ thống những biểu hiện của các yếu tố văn hóa dângian trong tiểu thuyết sau 1986, luận án sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích chonhững ai quan tâm nghiên cứu sâu hơn về tiểu thuyết giai đoạn này

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài sẽ được triển khai thành bốn chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Văn hóa dân gian và sự tác động đến tiểu thuyết Việt Nam từ

1986 đến 2000

Chương 3: Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến

2000 - nhìn từ thế giới nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật.Chương 4: Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết từ 1986 đến 2000 - nhìn

từ ngôn ngữ, motif và biểu tượng

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam trước năm 1986

1.1.1 Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945

Đầu thế kỷ XX đến 1945 văn học Việt Nam đã vận động sang phạm trù mới:Văn học hiện đại Tiểu thuyết giai đoạn này thực sự khởi sắc với những đóng gópđáng ghi nhận Những tên tuổi ở giai đoạn đầu phải kể đến Hồ Biểu Chánh, TrầnQuang Nghiệp, Nguyễn Chánh Sắt, tiếp đến là những tác giả tiêu biểu của hai dòngvăn học hiện thực phê phán (1930-1945) như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, VũTrọng Phụng, Nguyên Hồng và văn học lãng mạn (1932 - 1945) gắn với tên tuổi củanhóm Tự lực văn đoàn với ba cây bút chính Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng.Bên cạnh việc tiếp thu những ảnh hưởng từ lớn từ văn hóa phương Tây, đặc biệt làPháp thì tiểu thuyết giai đoạn này vẫn chịu sự chi phối của văn hóa phương Đông

và truyền thống văn hóa dân tộc để xây dựng nên một nền tiểu thuyết Việt Nam hiệnđại song vẫn đậm đà bản sắc dân tộc

Nghiên cứu tiểu thuyết Tự lực văn đoàn dưới góc độ văn hóa, xã hội và phongtục là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, không chỉ trước đây mà cả

sau này Năm 1941, trong công trình nghiên cứu Ba mươi năm văn học, Mộc Khuê khi bàn về tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam đã chia tiểu thuyết thành chín loại Sau

đó, ông lần lượt đi vào từng loại và giới thiệu những nhà văn cùng với một vài tácphẩm tiêu biểu Đến phần tiểu thuyết phong tục, ông cho rằng: “Phong tục tiểu

thuyết về miền thượng du Bắc Kỳ gồm Lan Khai (Tiếng gọi của rừng thẳm, Suối đàn, Truyện lạ đường rừng), về miền sơn cước Trung kỳ của Lưu Trọng Lư (Khói lam chiều, Chiếc cáng xanh) của Trần Tiêu (Con trâu, Chồng con) và nhất là quyển Lều chõng của Ngô Tất Tố” [70, tr 51] Như vậy, ngay từ năm 1941, nhà nghiên

cứu Mộc Khuê đã công nhận có sự tồn tại của thể tài tiểu thuyết phong tục Và trong

số những tiểu thuyết thuộc nhóm

Trang 15

Tự lực văn đoàn, ông xếp Con trâu và Chồng con của Trần Tiêu vào loại tiểu thuyết

phong tục viết về một vùng miền của đất nước

Công trình nghiên cứu Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm ra

đời cũng đã công nhận: “Công việc của Tự lực văn đoàn đã có ảnh hưởng về đường

xã hội và đường văn học” [23, tr.21] Theo Dương Quảng Hàm, phong tục tập quánthời xưa vừa có mặt hay, mặt không hay Tác phẩm của các nhà văn Tự lực vănđoàn có quan tâm phản ánh phong tục tập quán nhưng chưa thật xác đáng Như tục

đàn bà góa phải thủ tiết thờ chồng trong tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh chẳng

hạn Nhà văn chỉ chủ yếu tập trung làm rõ những ràng buộc khắt khe đối với ngườiphụ nữ mà chưa đề cập đến ý nghĩa cao đẹp của tục lệ Dù vậy, Dương Quảng Hàmvẫn dành nhiều lời khen tặng cho nhóm văn Tự lực văn đoàn và đánh giá rất cao chủtrương cải cách xã hội của họ

Năm 1942, Vũ Ngọc Phan cho ra mắt công trình Nhà văn hiện đại Riêng

trong nhóm Tự lực văn đoàn, khi đi vào giới thiệu từng nhà văn, Vũ Ngọc Phan đãchọn lọc những tác phẩm tiêu biểu và đưa ra nhiều đánh giá rất cụ thể Đến sáng táccủa Trần Tiêu, ông khẳng định: “Tuy là tả dân tình, phong tục làng Cầm, nhưng

Con trâu thật là một cuốn tả sự sống và tính tình phong tục của người dân quê miền

Bắc” [59, tr.784] Nhìn chung, vị trí, vai trò của những tiểu thuyết có nội dungphong tục của nhóm văn này đều được các nhà nghiên cứu công nhận Chỉ có điều

do tình hình văn hóa xã hội lúc này nên trong giới nghiên cứu chưa có người đi sâukhai thác những đóng góp ấy một cách cụ thể

Đến năm 2009, Luận văn thạc sĩ Phong tục Việt Nam trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn của Phạm Thị Minh Tuyền (Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh)

một lần nữa đã tiến hành tìm hiểu một cách toàn diện những vấn đề phong tục trongtiểu thuyết Tự lực văn đoàn về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Qua đó, bức tranh

về con người, xã hội những năm 1930 đến 1945 với những truyền thống tốt đẹp củacha ông cần được giữ gìn và cả những hủ tục cần loại bỏ hiện lên đậm nét Ngoài ra

vấn đề này còn được đề cập trong một số công trình khác như: Bình giảng về Tự lực văn đoàn (Nguyễn Văn Xung), Tiểu thuyết Việt Nam thế hệ 1932 - 1945 (Thanh Lãng), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam

Trang 16

1930 - 1945 (Nguyễn Đăng Mạnh) Ngoài những cây bút lý luận phê bình cũ, từ thập

niên 90 đến nay, nghiên cứu về Tự lực văn đoàn ta còn phải kể đến khá nhiều gươngmặt mới như Nguyễn Hữu Hiếu, Lê Thị Dục Tú, Phạm Thanh Hùng, Trịnh HồKhoa Tất cả đã tạo được một không khí sôi nổi, khách quan, và khoa học nhằm đưađến những nhận định công bằng, thấu đáo khi đánh giá về vai trò, vị trí của nhóm vănnày trong nền văn học dân tộc Tóm lại, qua quá trình tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vănchương Tự lực văn đoàn dưới góc độ văn hóa xã hội và phong tục, chúng tôi nhận thấyrằng: trong giai đoạn này Tự lực văn đoàn là nhóm văn duy nhất có sáng tác gây đượcnhiều sự chú ý trong công chúng Và Tự lực văn đoàn với những đóng góp cho nền vănhóa, phong tục nước nhà cũng là một vấn đề đã được các nhà nghiên cứu ghi nhận.Tuy nhiên, sự phân tích và lí giải vấn đề vẫn chưa thật thỏa đáng

Bàn về vấn đề tâm linh trong văn học giai đoạn này, Trần Đình Sử trong bài viết

“Văn học và văn hóa tâm linh” khẳng định tâm linh vốn tồn tại từ rất lâu trong đời sốngcon người và cả trong văn học từ sơ khai đến hiện đại Đối với khoa học, tâm linh làlĩnh vực của những điều chưa thể chứng minh bằng khoa học Nhưng đối với văn hóa,

đó là lĩnh vực của “phong tục” (Phan Kế Bính), là “nếp cũ” (Toan Ánh) thấm sâu trongtiềm thức con người Ông cho rằng “Các nhà văn lãng mạn chủ nghĩa và hiện thực chủnghĩa thuộc giai đoạn 1932 -1945 vừa có thế giới quan khoa học, vừa có yếu tố văn hóatâm linh, vẫn miêu tả con người mang tâm linh ấy” [71, tr.45]

Văn xuôi quốc ngữ ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX đã đặt dấu ấn khá đậm nét vềvăn hoá vùng Nam Bộ gắn với tên tuổi của nhà văn Hồ Biểu Chánh Nhà nghiên

cứu Nguyễn Q Thắng trong công trình nghiên cứu Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (2007) cho rằng: “Hồ Biểu Chánh là một nhà văn sung sức nhất ở Nam Bộ hồi

đầu thế kỷ XX với một văn phong đậm màu sắc “Miệt vườn Lục tỉnh Nam Kỳ” [76,

tr.1010] Tuy nhiên, tác giả này cũng chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu một số tácphẩm mà chưa đi sâu làm rõ sắc thái “miệt vườn Lục tỉnh” trong sáng tác của nhàvăn Hồ Biểu Chánh Nguyễn Phong Nam khi nghiên cứu tiểu thuyết Hồ Biểu Chánhnhận xét: “Hồ Biểu Chánh cũng là nhà văn thể hiện rất thành công cái diện mạo vănhóa Nam bộ xưa trong tác phẩm của mình Hồ Biểu Chánh đã rất thành công ở thểloại tiểu thuyết phong tục - điều không nhiều nhà văn đương thời làm được Đâycũng là nét độc đáo của văn chương Hồ Biểu Chánh” [52, tr.92]

Trang 17

Năm 2014, Luận văn Thạc sĩ Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh của Phạm Thị Minh Hà đã tiến hành khảo sát những bản sắc địa

phương của Nam Bộ được phản ánh trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Điểmđáng lưu ý đó là tác giả đã chỉ ra nét đặc sắc nhất mà những nhà văn khác không cóđược chính là chất Nam Bộ trong tiểu thuyết của ông Đọc tiểu thuyết của ông, độcgiả nhận ra dấu ấn địa phương, chất vùng miền đậm đặc trong từng trang viết.Nghiên cứu về VHDG trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh còn có rất nhiều bài nghiên

cứu khác như: Đặc điểm khẩu ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh của Châu Minh Hiền; Cuộc sống ở nông thôn Nam bộ trong một số tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh và Đời sống văn hoá ở nông thôn Nam bộ trong một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh của Huỳnh Thị Lan Phương, Hồ Biểu Chánh - nhà văn đến hiện đại từ truyền thống của Võ Văn Nhơn

Khi nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà văn hiện thực phê phán như NguyễnCông Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, bên cạnh việc khai thác những nội dungmang tính thời cuộc, các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến yếu VHDG thể hiện trong

mỗi tác phẩm Trong sách Văn học Việt Nam 1930 - 1945 (tập 2), khi đề cập đến

tiểu thuyết phóng sự của Nguyễn Công Hoan, Phan Cự Đệ nhận xét: “Trong tácphẩm của Nguyễn Công Hoan, ta thấy ông băn khoăn nhất về những sự đụng chạmgiữa cái giàu và cái nghèo trong xã hội Sự xung đột giữa kẻ giàu, người nghèo làcái cốt của hầu hết các truyện ngắn, truyện dài của Nguyễn Công Hoan” [19, tr.8]

Có thể thấy, dù vô tình hay hữu ý thì chúng ta không khó nhận ra sự tiếp nhậnnhững yếu tố từ văn học truyền thống bởi xung đột giàu - nghèo, thiện - ác vốn làmotif xuất hiện từ trong văn học dân gian Nguyễn Công Hoan và các nhà văn cùngthời đã lồng ghép khéo léo giữa việc phản ánh hiện thực bằng những xung đột hìnhthành từ nền văn học sơ khai của dân tộc Phần lớn những đánh giá của các nhànghiên cứu khi bàn về tiểu thuyết Nguyễn Công Hoan đều xoay quanh vấn đề này

Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, quyển tư (tập 3) cũng cho rằng: “Tất

cả tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan, dù là truyện ngắn hay truyện dài, đều là tiểuthuyết tả thực, tiểu thuyết tả về phong tục Việt Nam, về hạng trung lưu và hạngnghèo” [60, tr.49] Huỳnh Như Phương khi nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học

Trang 18

và văn hóa cho rằng “Ở Việt Nam đã hình thành cả một dòng văn xuôi phong tục”

[62] với những tác giả am hiểu sâu sắc đời sống nông thôn: Ngô Tất Tố với Việc làng và Lều chõng, Trần Tiêu với Con trâu và Chồng con, Mạnh Phú Tư với Làm

lẽ và Sống nhờ, … Tất nhiên, tác phẩm có sức ám ảnh là nhờ trên cái nền của sự

miêu tả phong tục đó, nhà văn tái hiện những tình huống bi kịch của kiếp người.Viết về phong tục, các nhà văn không chỉ làm công việc miêu tả đơn thuần, mà cònbày tỏ thái độ trước những phong tục tập quán đã lỗi thời, không còn phù hợp vớithời đại mới vì ngăn trở con người đi tìm tự do và hạnh phúc Nhìn chung, các nhànghiên cứu bên cạnh tìm hiểu nội dung cũng như nghệ thuật, đã ít nhiều đề cập đếnkhía cạnh VHDG trong tiểu thuyết của các nhà văn hiện thực nửa đầu thế kỉ XX

1.1.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1985

Khi đánh giá về văn học giai đoạn này, Nguyễn Đăng Điệp trong bài nghiên cứu

“Văn học và văn hóa tâm linh trong tiến trình lịch sử” cho rằng đây là giai đoạn vănhọc gắn liền với mô hình văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, ưu tiên cho sự vận độngcủa quy luật đấu tranh và sự tất thắng của cách mạng Cho nên, trong bối cảnh ấynhững những biểu hiện của VHDG trong tiểu thuyết giai đoạn này có nhiều hạn chế,đặc biệt là văn hóa tâm linh Tuy nhiên, mặc dù tiểu thuyết cũng mang một nhiệm vụtrung tâm như tất cả các thể loại khác là phản ánh hiện thực cách mạng, phục vụ chínhtrị, gắn bó với phong trào quần chúng nhân dân, nhưng nó cũng có xu hướng “quay vềtìm kiếm trong văn học truyền thống những biểu tượng đủ sức lay động và kết nối cộngđồng” [21, tr.22] Và “văn học giai đoạn 1945 – 1985 rất hiệu quả trong việc khơi thứctâm thức văn hóa cộng đồng…Nó cũng là một phương diện tạo nên nét đặc điểm độcđáo của văn hóa và văn học thời chiến” [21, tr.22]

Tìm hiểu ảnh hưởng VHDG trong tiểu thuyết giai đoạn này dù không cónhững công trình tiêu biểu, song tự bản thân người sáng tác đã mang văn hóa dântộc thấm đẫm trong từng trang viết khi họ đi thực tế đến những vùng đất mới của tổ

quốc để viết Nếu hút nhụy dân gian từ vùng đất Nam bộ ta sẽ có Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, dân gian từ Tây Nguyên hùng vĩ đã sinh ra Đất nước đứng lên

của Nguyễn Trung Thành Nguồn mạch dân gian cũng là cơ sở để nhiều tiểu thuyếtgiai đoạn này thành công và đầy sức ám gợi

Trang 19

Khi nhắc đến Đoàn Giỏi người ta nghĩ ngay đến tác phẩm Đất rừng phương

Nam Ông chọn con đường quay về cội nguồn văn hoá dân tộc, mà chính xác là văn

hoá Nam Bộ bằng lối văn mộc mạc, bằng chữ nghĩa giản dị gần gũi với đời sống thực

tế, làm sống lại nhiều vấn đề về đất và con người nơi đây Huỳnh Mẫn Chi trong bàiviết về “Đoàn Giỏi và áng văn của đất, của rừng phương Nam” đã nhận xét: “Với rừngtràm bạt ngàn, dòng sông mênh mông, con đò bập bềnh, tôm cá đầy đàn, Đoàn Giỏinhư gửi trọn vào tác phẩm của mình Tác phẩm này đã mang đến người đọc nhiều thú

vị về bối cảnh, con người, tập tục văn hóa của vùng nông thôn Nam Bộ” [11] Tiểuthuyết chính là tác phẩm nổi bật nhất trong quá trình sáng tác của ông bởi bối cảnh câu

chuyện rất đặc trưng của vùng Tây Nam Bộ Ma Văn Kháng trong bài viết Lời tưởng

niệm - trên báo Văn nghệ số ra ngày 3/4/1999 đã cho rằng: “Đọc Đất rừng phương

Nam, tình yêu đất nước của chúng ta, một lần nữa giàu có thêm, vì trong văn ông, tìnhyêu đất nước bắt nguồn và liên hệ bền chặt với sự độc đáo của nền văn hóa lâu đời của

dân tộc” Còn trong tập tiểu luận - phê bình Tiếng vọng những mùa qua của Nguyễn Thị Thanh Xuân lại nhận định một cách đầy trân trọng về Đoàn Giỏi: “Ông đã đem đến

cho bạn đọc cả nước những hiểu biết và tình cảm về một vùng đất mà trước đó xa ngái,hoang sơ trong hình dung của mọi người Ông đã xây dựng những nhân vật lòng đầynghĩa khí mà tinh tế và giàu chất văn hóa…” [97, tr.113] Các bài nghiên cứu về cuộc

đời và tác phẩm Đất rừng phương Nam tuy còn rải rác khác chưa hệ thống, song đã

cung cấp một cách tìm hiểu về văn hóa vùng miền khi nghiên cứu văn hóa dân giantrong các tác phẩm văn học

Cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa vùng miền khi sáng tác, NguyênNgọc là một nhà văn gắn liền với mảnh đất Tây Nguyên đầy nắng gió Tiểu thuyết

Đất nước đứng lên của ông đã đi vào lòng thế hệ bao bạn đọc khi tái hiện hình ảnh

anh hùng Núp và cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm của nhân dân Tây Nguyên.Góp phần vào thành công của của tác phẩm còn là dấu ấn đậm nét của miền đất TâyNguyên hùng vĩ Hoàng Sĩ Nguyên và Lê Thanh Toàn đề cập và phân tích khánhiều khía cạnh mang đậm nét văn hóa dân gian Tây Nguyên trong sáng tác của

Nguyên Ngọc, trong đó có tiểu thuyết Đất nước đứng lên như: Văn hóa làng, văn

hóa lễ hội, văn hóa nhà Rông, văn hóa cồng chiêng cùng với thiên nhiên hoang sơ

Trang 20

hùng vĩ Đồng thời nhấn mạnh: “Tây Nguyên với bề dày lịch sử hàng nghìn năm đãhình thành và lưu giữ nhiều giá trị văn hoá độc đáo Sáng tác của Nguyên Ngọc lànhững phác họa chân thật, sinh động về văn hoá Tây Nguyên, đem đến cho ngườiđọc những hiểu biết về Tây Nguyên khác hẳn với những nhà văn trước đây đã viết

về miền núi và dân tộc thiểu số [54, tr.52] Như vậy đa số những bài nghiên cứuđều thừa nhận Nguyên Ngọc đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể trong nhữngsáng tác về Tây Nguyên Sở dĩ có được thành công này là nhờ những hiểu biếtphong phú và sâu sắc về văn hóa và con người nơi đây Ngoài ra, quan tâm đếnsáng tác của Nguyên Ngọc còn phải kể đến các nhà nghiên Nguyễn Đăng Mạnh,Phong Lê, Đỗ Kim Hồi Tuy nhiên, các bài nghiên cứu chủ yếu đánh giá một cáchtổng quát sáng tác của Nguyên Ngọc, nếu đi vào phân tích cụ thể từng tác phẩm thìcũng chỉ đi tìm hiểu nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật chứ chưa đi vào nghiêncứu tác phẩm của ông như một giá trị văn hóa, dưới góc nhìn văn hóa

Đề cập đến yếu tố văn hóa dân gian trong văn học giai đoạn này sẽ là khuyếtthiếu nếu không đề cập đến bộ phận văn học tồn tại dưới chính thể Việt Nam cộng hòa,

đó là bộ phận văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 Tuy yếu tố văn hóa dângian không phải là đối tượng được các nhà văn bộ phận văn học này xem là trọng yếunhưng đứng trước sự xâm lăng của văn hóa ngoại lai, một số nhà văn mang tư tưởngyêu nước tiến bộ như Sơn Nam, Vũ Bằng, Võ Hồng…đã có ý thức giữ gìn văn hóa dântộc qua những trang văn của mình Trong các bài nghiên cứu, phê bình văn học đô thịmiền Nam của các tác giả như Nguyễn Đức Đàn, Trần Hữu Tá, Thạch Phương,Trường Lưu…mặc dù ghi nhận những đóng góp của các nhà văn thuộc bộ phận vănhọc này trong việc giữ gìn và bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống, nhưng bêncạnh đó, các nhà nghiên cứu thường phần nhiều dựa vào truyền thống, lấy văn hóa dântộc để phê phán và đối lập với những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh hay tư tưởngvọng ngoại, nô dịch trong văn chương của bộ phận văn học này Tuy nhiền, dù khenhay chê thì khi đi vào tìm hiểu những tác phẩm của các nhà văn này chúng ta không thểphủ nhận tình cảm, tình yêu đối với các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc khi đấtnước cắt chia Và thực sự phải nói rằng, sống dưới chế độ cũ, chịu rất nhiều kìm kẹp,

để thể hiện rõ tinh thần yêu nước quả

Trang 21

thực không dễ, vì thế cảm hứng hiện sinh hiện lên rất rõ nét trong văn chương của

họ là điều dễ hiểu Trên con đường đi tìm bản thể của chính mình với nỗi lòng củanhững người vong quốc thì tình yêu với quê hương đất nước, ý thức lưu giữ, bảotồn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc thực sự là điều đáng trân quý,cần ghi nhận Trong bài “Những diễn biến mới trong văn học miền Nam vùng tạm

bị chiếm những năm gần đây”, Nguyễn Đức Đàn nhận xét: “Đấu tranh giữa văn hóadân tộc lành mạnh với văn hóa nô dịch và suy đồi, vong bản” [18, tr.66.] là cuộcđấu tranh căng thẳng của văn chương, nghệ thuật Như vậy, giá trị của văn hóa dântộc khẳng định sự tồn tại của dân tộc và có tác dụng đối kháng với văn hóa ngoại

lai Năm 1967, Nguyễn Ngu Í trong công trình Sống và viết với…đã trình bày chân

thực và khách quan chân dung một số tác giả và đời sống sáng tác đương thời Khiviết về Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc, ông cho rằng sắc thái văn hóa địa phươngnhư là một ưu thế nổi trội của họ: “Bây giờ hễ nói đến miền Nam người ta nhớngay đến Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam” [40, tr.206] Cao Huy Khanh với công trình

Sơ khảo 15 năm văn xuôi miền Nam 1955 – 1969 đăng trên nhiều kì của tuần báo Khởi hành cho rằng: “càng về những năm sau, miền Nam (không khí, mẫu người, ngôn ngữ) bắt đầu kêu gọi bày tỏ: nếp sinh hoạt điển hình ở miền Nam” [41, tr.8]

Khi điểm qua hoạt động và thành tựu của nhóm Nhân loại (Ngọc Linh, Sơn Nam,

Bình Nguyên Lộc), ông đánh giá họ là những người đã “theo đúng truyền thống củanhững nhà văn miền Nam điển hình như Hồ Biểu Chánh hay Phú Đức” [42, tr.7]

Cũng trong năm 1970, Tạ Tỵ có cuốn Mười khuôn mặt văn nghệ và Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay (1971) giới thiệu các tác giả của bộ phận văn học này mà

ông cho là thành công nhất, trong đó có Sơn Nam, Vũ Bằng, Võ Hồng…Ông gọi

Vũ Bằng là “người trở về từ cõi đam mê” [ 93, tr.193], Sơn Nam là “hơi thở củamiền Nam nước Việt” [ 93, tr.69], còn văn chương Võ Hồng gắn liền với “quêhương bất hạnh” [93, tr.61] Năm 2000, Trần Hữu Tá cho ra đời một công trình

tuyển chọn công phu, dày hơn 1000 trang Nhìn lại một chặng đường văn học về bộ

phận văn học yêu nước, tiến bộ khu vục thành thị miền Nam, trong đó ghi nhậnnhững sáng tác này: “là sự tiếp nối của truyền thống [72, tr.124]; “khẳng định tưtưởng yêu nước, tinh thần tự cường dân tộc luôn là mạch nguồn chính của văn học

Trang 22

Việt Nam” [72, tr.126] Đồng thời khẳng định giá trị của bộ phận văn học này “làmgiàu cho kho tàng văn học dân tộc” [72, tr.124], vì vậy “xứng đáng được xem xét,đánh giá một cách trân trọng trong các công trình văn học sử” [72, tr.126] Và gần

đây nhất, tác giả Nguyễn Thị Thu Trang với chuyên khảo Văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 nhìn từ các giá trị văn hóa truyền thống đã khảo sát một

cách toàn diện và có hệ thống: Bối cảnh văn hóa và sự phát triển của văn xuôi đô thịmiền Nam; Con người và cách ứng xử với những giá trị văn hóa truyền thống;Nghệ thuật văn chương và vẻ đẹp của văn hóa truyền thống Chuyên khảo chú trọng

“những tác phẩm có khuynh hướng đề cao, bảo vệ giá trị văn hóa dân tộc” [91,

tr.xv] như các tác phẩm của Sơn Nam, Võ Hồng, Vũ Bằng, Nguyễn Văn Xuân…Cuốn sách không lấy văn xuôi để minh họa cho hệ giá trị tinh thần của dân tộc,không khảo sát toàn bộ các giá trị văn hóa truyền thống, mà “quan tâm chủ yếu đếnnhận thức và hành động của chủ thể văn hóa truyền thống trong bối cảnh xã hội đôthị miền Nam giai đoạn 1954 -1975 trong tác phẩm văn xuôi” [91, tr.xvi] Đặt trongbối cảnh ấy, truyền thống không chỉ có ý nghĩa là sự tiếp nối, duy trì mà còn là cáchchọn lựa của con người Quan tâm đến vấn đề này còn có nhiều công trình của các

nhà nghiên cứu khác như: Về tính dân tộc của Thành Duy, Văn học Việt Nam chống

Mỹ cứu nước cuả Thạch Phương, trong đó có phần “Văn học yêu nước tiến bộ trong lòng các thành thị miền Nam”…

Mặc dù các bài báo, các công trình nghiên cứu không chỉ rõ những biểu hiện

cụ thể của VHDG trong bộ phận văn học này, nhưng thông qua các công trìnhnghiên cứu, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự hiện diện của văn hóa dân tộc,trong đó có VHDG trong tâm thức sáng tạo của nhà văn Đặc biệt, qua các nghiêncứu về văn xuôi đô thị miền Nam giúp chúng ta nhận thức, khám phá thêm giá trịvăn chương của một bộ phận văn học vốn chưa được các công trình khoa học đitrước tìm hiểu và giải quyết đầy đủ Chúng ta thấy rằng, thành tựu của văn họcmiền Nam giai đoạn này cần được đánh giá thỏa đáng, nhất là việc xem xét các giátrị văn học, giá trị văn hóa truyền thống được thể hiện như thế nào trong các tácphẩm và vì sao văn xuôi lại quan tâm đến những giá trị văn hóa dân tộc ngay trongquá trình giao lưu, hội nhập với văn hóa nước ngoài

Trang 23

1.2 Tình hình nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Như chúng ta đã phân tích ở trên, mối quan hệ giữa VHDG và văn học viết đãtồn tại từ rất lâu trong lịch sử văn văn học Tuy nhiên, ở những giai đoạn trước, cácnhà nghiên cứu chưa thực sự chú trọng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa Cóchăng chỉ là những công trình nhỏ lẻ và chưa thực sự nhìn nhận đúng vai trò củaVHDG đối với nghiên cứu văn học Nhưng cần phải nhận thấy rằng, dù ở thời kìhay giai đoạn văn học nào, bên cạnh việc tiếp thu những thành tựu, tư tưởng,khuynh hướng quốc tế thì các nhà văn Việt Nam luôn có ý thức giữ gìn và phát huynhững yếu tố của văn hóa dân tộc Quá trình tiếp biến văn hóa này diễn ra xuyênsuốt và liên tục trong lịch sử văn học, nhưng phải đến “Làn sóng Đổi mới” cuối thế

kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, tiếp nhận VHDG trong văn học mới được đẩy lên caothành một trào lưu, một xu hướng, một phương pháp thực sự đem lại giá trị nhiềumặt trong văn chương Tiểu thuyết Việt Nam đương đại sau hàng loạt cách tân, tìmtòi, đổi mới theo kỹ thuật hiện đại phương Tây thì có một xu hướng tìm về vớiVHDG Tất nhiên đây không phải là hướng đi lạc hậu với những sản phẩm là “bình

cũ rượu mới” Nó không giống với việc phục hưng lại một nền văn hóa đã qua, mà

nó là một phương thức mới trong sáng tạo văn học Rất nhiều nhà văn đương đại đãthành công và khẳng định tên tuổi với thử nghiệm đó như Nguyễn Khắc Trường,

Võ Thị Hảo, Tạ Duy Anh, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Bình Phương…Khôngphải ngẫu nhiên mà hầu hết những tác phẩm văn học đang được đánh giá cao như:

Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông mía, Thiên thần sám hối, Mẫu Thượng ngàn, Người đi vắng, Những đứa trẻ chết già… đều là những tác phẩm chịu ảnh hưởng VHDG khá sâu sắc.

1.2.1 Những nghiên cứu chung về vai trò của văn hóa dân gian đối với tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Năm 2007, trong bài viết “Văn hoá như là nguồn mạch sáng tạo và khám phávăn chương", Nguyễn Văn Hạnh nhấn mạnh cách tiếp cận văn hoá đối với vănchương và văn chương được xem xét dưới góc độ văn hoá học, hay nhân học vănhoá Tác giả đưa ra hàng loạt dẫn chứng về một cách tiếp cận văn hoá trong sáng

Trang 24

tạo thi ca, văn chương, qua tác phẩm của nhiều tác giả từ văn học trung đại cho đếnhiện đại Ông nhận định: “Trong văn học Việt Nam đương đại, một số cây bút vănxuôi, truyện ngắn, tiểu thuyết, theo những cách và mức độ khác nhau, đã bộc lộkhuynh hướng tiếp cận văn hoá trong sáng tác nghệ thuật…Trong những tiểu thuyết

như Thời xa vắng củaLê Lựu, Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh, Mùa lá rụng trong vườn và Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương Hướng, ta dễ nhận thấy khuynh hướng soi sáng các sự

việc, tính cách từ góc nhìn văn hoá” [25]

Năm 2013, với bài viết “Văn hóa dân gian trong văn xuôi đương đại ViệtNam”, Vũ Thị Mỹ Hạnh đã đi vào khai thác những biểu hiện của văn hóa dân giantrong văn xuôi đương đại Việt Nam qua hàng loạt tác phẩm của các nhà văn như:

tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Bến không chồng của Dương Hướng… “Các nhà

văn đã khai thác những giá trị văn hóa dân tộc để các tác phẩm đó trở nên sốngđộng Ở đó, mỗi khúc sông, mô đất, cánh đồng, gốc cây…đều có lai lịch, huyềntích, và sâu hơn nữa là lịch sử và văn hóa dân tộc…Các tác phẩm văn xuôi hiện đại

đã khai thác và sử dụng những giá trị văn hóa dân tộc như một sức mạnh làm nênchiều sâu và sức sống trường tồn” [26]

Nguyễn Văn Hùng trong bài viết “Phương thức lựa chọn và thể hiện hiện thựclịch sử trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh” cho rằng việc Nguyễn Xuân Khánh

tìm tòi, thể thể nghiệm tư duy lịch sử trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn và Hồ Quý Ly đã làm mới những giá trị vốn có từ truyền thống, làm nên một cuộc cách tân

táo bạo trong thể loại tiểu thuyết lịch sử Năm 2012, tác giả Hoài Nam trong bài

“Lịch sử và văn hóa - phong tục trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh” đã nói vềNguyễn Xuân Khánh như một “hiện tượng” khi ông quay trở lại văn đàn với tiểu

thuyết Hồ Quý Ly bởi một nét đặc biệt trong tác phẩm của ông, đó là sự đan bện

giữa lịch sử và văn hóa - phong tục Tiểu thuyết này còn có “điều dường như chỉriêng có ở Nguyễn Xuân Khánh: văn hóa - phong tục của thời đại lịch sử đang đượctái hiện” [51] Và đến hai tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn và Đội gạo lên chùa, thì

Trang 25

“trọng tâm cảm hứng của Nguyễn Xuân Khánh chính là văn hóa - phong tục, thứ vănhóa - phong tục được sinh thành và được tỏa ra, lan thấm vào đời sống từ những hệ tưtưởng tôn giáo lớn: đạo Mẫu (trong Mẫu Thượng ngàn) và đạo Phật (trong Đội gạo lênchùa)” [51]…Hầu hết các bài nghiên cứu này đều cho thấy sự hiện diện của VHDG,điều này chứng tỏ trong tâm thức sáng tạo của mỗi nhà văn luôn giành một sự trân quýcho văn hóa dân tộc trong đó có văn hóa dân gian Đặc biệt, thời đại bùng nổ của khoahọc công nghệ, vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa luôn được các nhà vănnói riêng và các nhà nghiên cứu văn hóa quan tâm.

1.2.2 Những nghiên cứu cụ thể về sự hiện diện của yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

- Những nghiên cứu về yếu tố kì ảo

Trong mô hình văn hóa truyền thống, văn học dân gian là một thành tố quantrọng Văn học dân gian vừa là nền tảng, vừa là bộ mặt của VHDG Vì vậy, chúngtôi tập trung vào khảo sát những yếu tố của văn học dân gian có mặt trong tiểuthuyết những năm cuối thế kỷ XX Trong bài viết “Sự hồi sinh của yếu tố kì ảotrong văn xuôi đương đại Việt Nam”, Bùi Thanh Truyền khẳng định ngay từ lúc sơkhai, văn học Việt Nam đã gắn liền với kì ảo Tác giả cho rằng “Sự hồi sinh của bộphận văn xuôi có yếu tố kì ảo trong đời sống văn học Việt Nam kể từ sau 1986 đếnnay dẫu còn mang bóng dáng truyền thống, nhưng nhìn chung về mặt hình thức,đây là những sáng tác in đậm dấu ấn hiện đại từ đề tài, nhân vật đến cốt truyện,ngôn ngữ, kết cấu ” [88]

Năm 2015, cũng tác giả Bùi Thanh Truyền trong chuyên luận Văn học Yếu tố

kỳ ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam với việc bao quát khối lượng tác phẩm

phong phú với 107 tác giả và 253 tác phẩm văn xuôi từ 1986 đến 2010 trên haimảng tiểu thuyết và truyện ngắn, tìm hiểu các vấn đề chung về bản chất thẩm mĩcủa yếu tố kì ảo trong văn học, nguyên nhân sự hồi sinh của yếu tố này trong vănhọc Việt Nam đương đại, và góc độ mà Bùi Thanh Truyền khảo sát là yếu tố kỳ ảotrong: nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian, ngôn từ, kết cấu Chuyên luận làmột đóng góp thiết thực trong nỗ lực mở rộng biên độ phản ánh, chuyển tải mộtphạm vi khác lạ vào trong tác phẩm

Trang 26

Hiện nay, những nghiên cứu về văn học kì ảo, huyền thoại (yếu tố của văn họcdân gian) xuất hiện khá nhiều với những khám phá đáng ghi nhận Trong bài viết

“Thành tựu văn xuôi Việt Nam sau đổi mới từ góc nhìn tương tác thể loại”, tác giảTrần Viết Thiện khi đánh giá sự vận động, phát triển của tiểu thuyết đã phát hiện

“tiểu thuyết đã được mở ra một chiều hướng mới với sự thâm nhập của yếu tốngoài hệ thống: huyền thoại Tiểu thuyết - huyền thoại là kiểu tương tác đổi ngôi

Sự tham gia ngày càng đậm nét của yếu tố huyền thoại đã thực sự làm mới đáng kểcho tiểu thuyết giai đoạn này Đây là khuynh hướng tiểu thuyết xuất hiện nhiềutrong cao trào đổi mới văn xuôi Có thể nói đến sương mù kì ảo trong thế giới nghệthuật của Lê Lựu, Phạm Khắc Trường, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái…” [78]

Cũng quan tâm đến vấn đề này còn có nhiều bài viết đáng ghi nhận như: “Vaitrò của cái kì ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam” của Đặng Anh Đào, “Thế

giới kì ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường từ cái

nhìn văn hóa” của Lê Nguyên Cẩn, Thụy Khuê với “Khuynh hướng hiện thực

huyền ảo trong tiểu thuyết Những đứa trẻ chết già” của Nguyễn Bình Phương

Qua việc khảo sát tình hình nghiên cứu về yếu tố kì ảo trên đây, chúng tôi nhận thấy

sự gia tăng ngày càng nhiều của yếu tố kì ảo trong tiểu thuyết Việt Nam đương đạinhư là một dấu hiệu cách tân nghệ thuật không thể phủ nhận Nghiên cứu theohướng trên, chúng tôi có cơ sở đầu tiên về cái nhìn giữa mối quan hệ giữa văn họcdân gian với tiểu thuyết sau 1986 Từ đó đưa ra cách nhận định, đánh giá và lý giảicủa riêng mình trên tinh thần hấp thu, phát triển những tiền đề đã có

- Những nghiên cứu về biểu tượng

Nghiên cứu biểu tượng trong văn học là xu hướng phê bình văn học phổ biếntrên thế giới Ở Việt Nam, mặc dù hướng nghiên cứu biểu tượng trong tác phẩmvăn xuất hiện từ khá sớm nhưng dường như chưa có nhiều công trình lớn chuyênsâu, hầu hết là các bài viết xuất hiện đơn lẻ trên tạp chí và báo mạng Tuy nhiên,trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986, nghiên cứu biểu tượng là một vấn đề đượcgiới nghiên cứu vô cùng quan tâm với nhiều bài viết có giá trị

Năm 2015, bài nghiên cứu “Hệ biểu tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết ViệtNam đương đại” của Nguyễn Đức Toàn đã khái quát một số biểu tượng nghệ thuật

Trang 27

mang tính chất cổ xưa như một phương thức chuyển nghĩa trong tiểu thuyết Việt

Nam đương đại, như: Thiên thần, bào thai (Thiên thần sám hối), đêm, mưa (Nỗi buồn chiến tranh), ngọn nến, hang sâu (Vào cõi), nước, lửa (Giàn thiêu), bức tượng

đá (Hồ Quý Ly), Mẫu, đêm, đất, rừng, trăng, cây đa, rắn thần (Mẫu Thượng Ngàn)

… Tác giả nhấn mạnh những biểu tượng này tham gia trực tiếp vào kết cấu hình

tượng, kết cấu tác phẩm và là hệ quả của quan niệm “tính trò chơi” của văn chươnghiện đại Nhìn chung, tác giả bài viết chỉ khái quát một vài biểu tượng trong một sốtiểu thuyết nhưng đã mở ra hướng nghiên cứu mới mẻ, hấp dẫn về hệ biểu tượngtrong tiểu thuyết giai đoạn 1986 đến 2000

Hai bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Hương “Đình làng - biểu tượng vănhóa đặc sắc của tiểu thuyết viết về nông thôn sau Đổi mới” và “Văn hóa nông thôntrong tiểu thuyết sau đổi mới nhìn từ biểu tượng và ngôn ngữ” đã tìm hiểu và liệt kêmột số biểu tượng tiêu biểu của làng quê trong tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổimới như đình làng, nhà thờ họ, cây đa, bến nước Tác giả cho rằng sử dụng hệthống biểu tượng như là một phương thức tổ chức tự sự, như một ngôn ngữ, cáctiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới đã tạo nên trường văn hóa, thẩm mỹ riêng

“Sự xuất hiện đậm đặc các biểu tượng trong không gian truyện kể làm cho thế giớinghệ thuật của tiểu thuyết viết về nông thôn mang được dấu ấn phong cách riêngtrong sự nở rộ của các đề tài tiểu thuyết sau đổi mới…Tư duy nghệ thuật của tiểuthuyết viết về nông thôn, có thể nói, được kiến tạo dựa trên các ý nghĩa của hệthống biểu tượng làng quê” [38]

Cũng trong cảm quan này, tác giả Hoàng Thị Huế có bài viết “Một số biểu

tượng mang tâm thức Mẫu trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh” Bằng

việc tiếp cận tác phẩm trong sự soi chiếu, giải mã từ các biểu tượng mang tâm thứccộng đồng như hang động, giếng, nước, sông, mưa, lửa, núi rừng, nhân vật nữa, tácgiả đã cho thấy “sức sống của cổ mẫu, huyền thoại, biểu tượng mang tâm thức Mẫutrong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh như những minh chứng sâu sắc nhất cho sựníu kéo, giăng mắc vào tâm thức văn hóa dân tộc của sáng tạo nghệ thuật” [35]

Ngoài ra còn có nhiều bài nghiên cứu khác cũng quan tâm đến vấn đề nàynhư: “Biểu tượng cổ mẫu trong văn xuôi Võ Thị Hảo” của Nguyễn Thị Phương Ly

Trang 28

và Lê Thị Hường, “Đi tìm cổ mẫu trong văn chương Việt Nam” của Nguyễn Thị

Thanh Xuân Đặc biệt, trong Luận án Những đổi mới trong tiểu thuyết Việt Nam từ

1986 – 2000, trường Đại học KHXH & NV – Đại học Quốc gia Tp HCM của Trần

Thị Mai Nhân, ở chương 3 của luận án “Những cách tân trong nghệ thuật tiểuthuyết Việt Nam từ 1986-2000”, tác giả giành riêng một mục nghiên cứu “Kết cấubằng hệ thống biểu tượng” và cho rằng đây là một điểm mới trên phương diện kếtcấu bằng sử dụng hệ thống biểu tượng

- Những nghiên cứu về văn hóa tâm linh

Một vấn đề cũng được thể hiện khá nhiều trong tiểu giai đoạn này là sự biểuhiện của vấn đề tâm linh của đời sống con người Rõ ràng, một trong những nét mớicủa tiểu thuyết giai đoạn này là sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về conngười cũng như cách nhìn và phản ánh đời sống Các nhà tiểu thuyết đã khai tháccon người ở nhiều khía cạnh như tâm linh, bản năng để có thể có một cái nhìntoàn diện hơn về con người

Trong bài nghiên cứu “Văn học và văn hóa tâm linh”, Trần Đình Sử đã có mộtcái nhìn khá toàn diện về sự xuất hiện của yếu tố văn hóa tâm linh trong từng giaiđoạn văn học Ông cho rằng đây là yếu tố vốn tồn tại trong đời sống và tiềm thứccủa con người cũng như văn học từ trước đến nay Tuy nhiên do hoàn cảnh lịch sử

và hệ tư tưởng của mỗi thời kì mà yếu tố này có lúc đậm nhạt trong văn học nóichung và tiểu thuyết nói riêng Ông cho rằng “Từ sau 1975, các yếu tố tâm linhngày càng thâm nhập vào văn học Đặc biệt từ thời Đổi mới, sáng tác mang yếu tốtâm linh ngày càng nhiều” [71, tr.46] và “Tâm linh là một diễn ngôn quyền lực,nhân danh sự huyền bí nhiệm màu để nói những lời nguyền, lời sám hối, lời cầukhẩn, lời lên án các hiện tượng xấu xa, bạc ác trong hiện thực mà con người chưa

có điều kiện trừ khử” [71, tr.50]

Năm 2006, trong bài viết “Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổimới”, Nguyễn Bích Thu khẳng định: “Các cây bút tiểu thuyết từ sau đổi mới đã có ýthức đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhận diện conngười đích thực Sự xuất hiện con người tâm linh biểu hiện sự đổi mới trong quanniệm nghệ thuật về con người của văn học Tiểu thuyết bắt đầu tiếp cận với thế giới

Trang 29

đằng sau thế giới hiện thực, đó là thế giới tâm linh, vô thức, tiềm thức, giấc mơ”

[84] Có thể thấy rằng, hầu hết các tiểu thuyết sau giai đoạn đổi mới đều tìm chomình một hiện thực riêng, đậm màu sắc tâm linh, vô thức

Nguyễn Thị Bình trong bài nghiên cứu “Đôi nét về một hướng thử nghiệm củatiểu thuyết Việt Nam từ cuối thể kỷ 80 đến nay” bên cạnh việc ghi nhận nhữngthành tựu của tiểu thuyết đương đại về mặt nghệ thuật, tác giả còn dành nhiều sựquan tâm đến hiện thực phản ánh trong tác phẩm Theo tác giả, “đó là một hiện thựckhông đáng tin cậy Đó là những bức tranh đầy ước lệ, không theo logic nhân quả,không trình bày một hiện thực phổ biến, khả tín mà là những giấc mơ, những ámảnh vô thức, những trò diễn của sân khấu múa rối hay của lễ hội hóa trang” [6]

Trong bài viết “Những chiều kích tâm linh trong tiểu thuyết Việt Nam đươngđại” của Nguyễn Văn Hùng cũng cho thấy yếu tố tâm linh đã trở thành chất liệumới, một thành tố nghệ thuật quan trọng trong tư duy của nhà văn Sự xuất hiện đầydụng ý của những yếu tố tâm linh trong các tiểu thuyết ngày càng thu hút được sựquan tâm, đón đợi của người đọc Nó “làm nên dấu ấn đặc biệt của tiểu thuyếtđương đại Mặt khác, tâm linh được dùng làm chất liệu sáng tạo mới đã mang lạinhững chân trời rộng mở cho chủ thể sáng tạo cũng như cộng đồng diễn giải Ởphương diện chủ thể sáng tạo, nó biểu hiện sâu sắc sự thức tỉnh của cái tôi, gópphần làm biến đổi kĩ thuật tự sự, trong đó lối viết kì ảo hóa, huyền thoại hóa đã trởthành phương thức nghệ thuật đắc dụng để mỗi nhà văn thể hiện quan niệm về hiệnthực và con người của mình” [36] Vấn đề văn hóa tâm linh trong tiểu thuyết giaiđoạn này còn thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả khác như: “Vấn đề tâm linhtrong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới” của Trần Thị Mai Nhân, “Yếu tố tâmlinh trong tiểu thuyết Việt Nam về đề tài nông thôn thời kì đổi mới” của Bùi Như

Hải Có thể nói, các công trình nghiên cứu với việc khai thác và khám phá sâu vào

lĩnh vực tâm linh đã mở ra những miền phong phú và đầy bí ẩn khôn cùng của conngười Với hướng đi này, hiện thực tâm linh trong hành trình sáng tạo của tiểuthuyết sau thời kỳ đổi mới tiến thêm một bước gần hơn trong nỗ lực tiếp cận conngười một cách đa chiều, toàn vẹn

Trang 30

Có thể nói Nguyễn Xuân Khánh là tác giả giành được nhiều sự quan tâm của giớinghiên cứu, không chỉ bởi sự thành công về nội dung và cách thể hiện mà còn bởi bứctranh văn hóa dân gian nhiều màu sắc mà ông thể hiện trong những tiểu thuyết củamình Năm 2008, bài nghiên cứu “Nguyên lý tính mẫu trong truyền thống văn học ViệtNam” của Dương Thị Huyền đã có những khảo cứu rất đáng ghi nhận Tác giả nêu ra

cơ sở của “Nguyên lý tính Mẫu” trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn là nền văn hóa

bản địa của Việt Nam Đó chính là văn hóa Thánh Mẫu đã tồn tại trong tiềm thức củangười Việt từ bao đời nay - truyền thống tôn trọng người phụ nữ Theo người viết,Nguyễn Xuân Khánh đã lựa chọn, kết tinh những giá trị của nền văn hóa Việt và gửigắm nó vào trong tác phẩm của mình: “Thành công của Nguyễn Xuân Khánh phảichăng sẽ là điểm bắt đầu, là sự mở đường cho thể loại tiểu thuyết về phong tục tậpquán, về văn hóa trong văn học Việt Nam” [37, tr.32-33]

Xoay quanh các tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa

còn có rất nhiều công trình, bài báo nghiên cứu yếu tố VHDG trong những sáng tácnày Có thể kể đến như: “Yếu tố huyền thoại trong tiểu thuyết của Nguyễn XuânKhánh” của Nguyễn Thị Thu Hương, “Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trongtiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn” của Trần Thị An, “Mẫu Thượng ngàn - sự diễn giải

về phong tục thờ mẫu của người Việt” của Nguyễn Thị Diệu Linh Nhìn chung,các bài nghiên cứu đều phản ánh được những nét độc đáo của VHDG trong tiểuthuyết Nguyễn Xuân Khánh, đồng thời đều thống nhất khẳng định thành công và tàinăng của ông khi tiếp cận vấn đề bản sắc văn hóa Việt

1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài

1.3.1 Đánh giá tình hình nghiên cứu

Qua lịch sử tình hình nghiên cứu của đề tài, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:Thứ nhất, VHDG hiện nay không đơn thuần là một hệ thống lí thuyết mà đãtrở thành một cách tiếp cận hiệu quả để giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học.Không phải ngẫu nhiên đến sau 1986, các nhà văn nói chung và các nhà viết tiểuthuyết nói riêng lại có một cuộc quay về nguồn “rầm rộ” như vậy Các nhà nghiêncứu đều khẳng định rằng sự phát triển của văn hóa gắn liền với vận mệnh dân tộc Đặc biệt trong xu hướng toàn cầu hóa, thời đại của sự bùng nổ công nghệ số hóa

Trang 31

người ta lo lắng đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc thì vấn đề giữ gìn, bảo vệ vănhóa truyền thống càng được quan tâm chú ý vì nhu cầu nhận thức của dân tộc, vì sựcần thiết của việc quảng bá những nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam, đất nước ViệtNam với thế giới Vấn đề giữ gìn, phát huy hay khước từ văn hóa truyền thống đặt

ra gay gắt, đầy kịch tính và được phản ánh trong văn học cả về nội dunhg lẫn hìnhthức nghệ thuật Với ý nghĩa đó, văn chương không chỉ biểu hiện của văn hóa, màthái độ của nhà văn đối với các giá trị văn hóa truyền thống cũng có vai trò quantrọng đối với sự phát triển của văn học và sự tồn tại của văn hóa dân tộc Việc cácnhà văn quay lại với các giá trị văn hóa truyền thống và sự chú trọng của các nhànghiên cứu đối với vấn đề văn hóa dân tộc, trong đó có VHDG thực sự rất đáng ghinhận

Thứ hai, cần phải khẳng định rằng, vấn đề VHDG đã được các nhà văn soichiếu và tiếp biến vào các tác phẩm văn học từ trước đó Riêng tiểu thuyết ViệtNam từ 1986 đến 2000, vấn đề được đề cập khá nhiều, tuy nhiên chưa có côngtrình chuyên biệt tập trung nghiên cứu một cách toàn diện Mặc dù vậy, qua cácnghiên cứu ấy phần nào đã chứng minh được sự hiện diện của yếu tố VHDG trongtiểu thuyết giai đoạn này, đồng thời cho thấy giữa VHDG và tiểu thuyết Việt Nam

từ 1986 đến 2000 thực sự có mối quan hệ mật thiết

Thứ ba, các bài nghiên cứu chủ yếu dừng lại khai khác vấn đề ở phạm vi nộidung tư tưởng, ít chạm đến những phương diện nghệ thuật từ góc nhìn VHDG.Chưa phát hiện, nghiên cứu thấu triệt các yếu tố VHDG xuất hiện trong tác phẩm,đặc biệt là các phương thức biểu hiện để thấy được sự sáng tạo của tác giả trongquá trình vận dụng, soi chiếu từ lý thuyết VHDG vào trong sáng tác của mình.Thứ tư, các bài viết chủ yếu nghiêng về các vấn đề như tín ngưỡng, phongtục tập quán, các yếu tố tự sự dân gian trong một vài tác phẩm hoặc một vài tácgiả Các vấn đề chưa được hệ thống cụ thể, chưa xâu chuỗi thành một hiện tượngtrong các tiểu thuyết ở giai đoạn này

Tóm lại, các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước mà chúng tôi đãtìm hiểu trên đây cho thấy vai trò của VHDG đối với sự phát triển của văn học ViệtNam, đặc biệt là đối với tiểu thuyết 15 năm cuối thế kỉ XX Phần lớn các bài viết

Trang 32

chỉ mới dừng lại ở việc khảo sát và đánh giá khái quát ở một tác giả hay một tácphẩm Còn việc tìm hiểu toàn diện và có hệ thống yếu tố VHDG trong tiểu thuyết từ

1986 đến 2000 vẫn là một vấn đề cần thiết Những ý kiến, thành quả nghiên cứu củanhững người đi trước về vấn đề này là gợi dẫn quý báu cho chúng tôi lựa chọn đề

tài Yếu tố văn hóa dân gian trong tiểu thuyết từ 1986 đến 2000 để nghiên cứu.

1.3.2 Hướng triển khai đề tài

Như đã phân tích ở trên, VHDG nghiên cứu nhiều vấn đề, từ nghệ thuật dângian, ngữ văn dân gian cho đến các tri thức dân gian cùng với tín ngưỡng, phongtục và lễ hội Như vậy, VHDG học là một bộ môn khoa học quan tâm đến khá nhiềuvấn đề của đời sống, trong đó có văn học Tuy nhiên, trong phạm vi luận án, trên cơ

sở hệ thống lí thuyết và kết quả về folklore, dân tộc học, xã hội học… của các nhànghiên cứu, chúng tôi sẽ tiến hành soi chiếu vào những biểu hiện cụ thể của văn hóadân gian trong tiểu thuyết Việt Nam mười lăm năm cuối thế kỉ XX như tín ngưỡng,nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ, motif và biểu tượng để thấyđược những kế thừa và sáng tạo của tiểu thuyết giai đoạn này

Trên cơ sở thực tiễn nghiên cứu nói trên, luận án dự định sẽ triển khai cáchướng nghiên cứu sau:

Thứ nhất, chúng tôi tiến hành khảo sát sự xuất hiện của yếu tố VHDG trongtiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 nhằm có một cái nhìn tổng quát về nhữngthông điệp mang sắc thái VHDG mà các tác giả gửi gắm vào trong tiểu thuyết.Thứ hai, chúng tôi đặt yếu tố VHDG trong lịch sử tiểu thuyết Việt Nam từ đầuthế kỉ XX đến nay để thấy được sự vận động và phát triển đa dạng của tiểu thuyếtgiai đoạn này Và cũng để thấy rằng, bên cạnh nhiều yếu tố khác, VHDG là mộtcách tiếp cận thú vị và mang lại hiệu quả thẩm mĩ cao khi tiến hành nghiên cứu, giải

mã tác phẩm

Thứ ba, từ các vấn đề của lí thuyết VHDG, luận án đi sâu tìm hiểu về mốiquan hệ giữa VHDG với tiểu thuyết Việt Nam hiện đại; các tín ngưỡng, phong tụctập quán, các yếu tố tự sự dân gian trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000 đểlàm nổi bật những giá trị hiện thực, tư tưởng mà các tác giả tiểu thuyết giai đoạnnày muốn hướng đến

Trang 33

Thứ tư, luận án tập trung khai thác phương thức thể hiện trong tiểu thuyếtViệt Nam từ 1986 đến 2000 từ góc nhìn VHDG như hệ thống biểu tượng, motif,ngôn ngữ, nhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật Đây là những phương diệngóp phần tạo nên thành công của tiểu thuyết Việt Nam 15 năm cuối thế kỉ XX.Đặc biệt, chúng tôi xác định nhiệm vụ chính của luận án này là làm rõ hiệuquả nghệ thuật của các yếu tố VHDG khi thể hiện nội dung thẩm mĩ cũng nhưphương thức nghệ thuật và sự tác động của yếu tố VHDG đối với sự đổi mới tiểuthuyết Việt Nam giai đoạn 1986 đến 2000.

Tiểu kết: Việc nghiên cứu một cách có hệ thống yếu tố văn hóa dân gian trong

tiểu thuyết Việt Nam đương đại vẫn là mảnh đất còn nhiều khám phá hấp dẫn, mới

mẻ Qua việc khảo sát những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy cácbài viết còn nhỏ lẻ, chủ yếu đi sâu vào một vấn đề nhất định Tuy nhiên, qua nhữngnghiên cứu có tính chất chỉ dẫn và gợi mở ấy, chúng tôi đặt ra những vấn đề khoahọc cần thiết phải giải quyết trong đề tài luận án

Trang 34

Chương 2 VĂN HÓA DÂN GIAN VÀ SỰ TÁC ĐỘNG ĐẾN TIỂU THUYẾT VIỆT NAM

TỪ 1986 ĐẾN 2000

2.1 Khái lược về văn hóa dân gian và mối quan hệ giữa văn hóa dân gian với tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

2.1.1 Khái niệm văn hóa dân gian

Văn hóa dân gian là cội nguồn của mọi nền văn hóa trên thế giới Ở Việt Nam,VHDG là cơ sở rất quan trọng của văn hóa dân tộc, chi phối đời sống trên mọiphương diện Do vậy không thể hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam, tri thức và tìnhcảm con người Việt Nam nếu như không hiểu VHDG

Để chỉ hiện tượng mà tiếng Việt gọi là VHDG thì hiện nay trên thế giới và cảViệt Nam, thuật ngữ folklore được sử dụng rất phổ biến Thuật ngữ này do WilliamJ.Thoms nêu ra trong tạp chí The Athemneum, London năm 1846 để chỉ “nhữngcách thức, phong tục, sự hành lễ, chuyện mê tín dị đoan, khúc dân ca, tục ngữ” vàcác tư liệu khác của “thời hoàng kim” [81, tr.368] Quan niệm này hướng nội hàmcủa thuật ngữ folklore vào các giá trị tinh thần của cộng đồng người

Trường phái Đức quan niệm folklore bao gồm “làng xóm, kiến trúc nhà cửa,cung điện; cây cỏ; tín ngưỡng; tiếng nói; truyền thuyết; truyện cổ tích; dân ca; thưmục” [68, tr.269] Điều này có nghĩa là folklore được quan niệm là toàn bộ nhữnggiá trị vật chất và tinh thần của một dân tộc, tương ứng với thuật ngữ “văn hóa dângian” được sử dụng ở Việt Nam hiện nay

Ở nhiều nước phương Tây, khái niệm folklore được hiểu rất rộng Từ điển bách

khoa của Anh xác định: “Folklore là tên gọi chung, thống nhất của những tín ngưỡng,

truyền thống, thiên kiến, đạo lí, nghi lễ, mê tín của dân gian Những câu truyện cổ,những bản tình ca, dân ca và những câu tục ngữ đều nằm trong khái niệm này…, nóbao gồm cả những yếu tố văn hóa vật chất mà ban đầu nó không tính đến” [80, tr.20]

Ở Liên Xô, nội dung của folklore được hiểu theo hai xu hướng Xu hướngthứ nhất hiểu folklore với nội dung rộng theo cách hiểu của đa số học giả phươngTây, xu hướng còn lại có xu hướng “ngữ văn hóa folklore” khi cho rằng về cơ bản

Trang 35

folklore là “nghệ thuật ngôn từ”, là sáng tác thơ ca truyền miệng của đông đảo quầnchúng Theo họ, có thể đồng nhất folklore với văn học truyền miệng Tiêu biểu lànhững ý kiến của các nhà folklore: Iu.M Xocolov: “Folklore trước hết là sáng tácnghệ thuật thi ca truyền miệng của quần chúng” Còn V.Ia Propp lại cho rằng:

“folklore chỉ là những sáng tạo tinh thần, hơn nữa chỉ là những sáng tạo nghệ thuậtngôn từ” [68, tr.271] Theo quan niệm này thì folklore tương đương với thuật ngữ

“văn học dân gian” được sử dụng ở nước ta

Trong những thập niên gần đây ngày càng có nhiều người vượt qua được

quan niệm bó hẹp folklore trong nghệ thuật ngôn từ Trong Bách khoa toàn thư Xô Viết xuất bản năm 1974 quan niệm rằng: “Folklore là sáng tác dân gian, hoạt động

nghệ thuật của nhân dân lao động Đó là thơ ca, âm nhạc, sân khấu, múa dân tộc,kiến trúc, nghệ thuật trang trí thực hành, hội họa được nhân dân sáng tạo ra và sốngtrong nhân dân.” [80, tr.95]

Ở Việt Nam, thuật ngữ folklore được dùng tương đối muộn và thường đượchiểu với những nội dung rộng hẹp khác nhau Nhìn chung các nhà nghiên cứu đềuthống nhất về nội dung khái niệm VHDG Nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị đã nêu nhận xétkhái quát: “Trong ba quan niệm chính thống về folklore hiện lưu hành trong folklorehọc thế giới thì định nghĩa folklore là văn học dân gian, từ lâu đã đi vào sách giáo khoa

ở Liên Xô và nhiều nước khác, trong khi đó ở một số nước khác người ta vẫn thừanhận một cách phổ biến folklore là văn nghệ dân gian Còn một số nước khác nữa,thuật ngữ folklore được gắn với một ý nghĩa rất rộng - folklore là VHDG bao gồmkhông chỉ riêng nghệ thuật dân gian mà cả truyền thống dân gian”

[96, tr.113-114] Cả ba cách hiểu ấy đều tồn tại ở folklore Việt Nam

Đinh Gia Khánh, chuyên gia hàng đầu của folklore Việt Nam thì nêu quanniệm: VHDG “bao gồm văn nghệ dân gian (ngữ văn, âm nhạc, vũ đạo, hội họa, điêukhắc, nghệ thuật trang trí, v…v) và những hiện tượng cũng như vật phẩm mangtính chất thẩm mĩ nảy sinh từ sản xuất và chiến đấu” Quan niệm trên tóm gọn trongcông thức: “folklore là folk culture được tiếp cận từ giác độ thẩm mĩ” [15, tr.220].Tiếp đó, nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh đề xuất cách tiếp cận VHDG nhưsau: VHDG “là một loại “văn hóa nghệ thuật” biểu hiện chủ yếu thông qua các các

Trang 36

hình tượng và các biểu tượng, thể hiện trình độ thẩm mĩ của con người ở mỗi thời

kì lịch sử nhất định Do vậy, góc độ tiếp cận loại hình văn hóa này là góc độ tiếpcận thẩm mĩ” [80, tr.35] Như vậy, các ý kiến này mặc dù có nới rộng hơn về đốitượng khi cho rằng VHDG bao gồm cả “hiện tượng”, “vật phẩm” nhưng vẫn bóhẹp ở cách tiếp cận dưới góc độ thẩm mĩ

Mở rộng cách hiểu về VHDG, Phạm Huy Thông cho rằng: “không phải chỉ làn

ca, những điệu múa, mà cả những lễ nghi tôn giáo, những hội hè truyền thống cũng

là những biểu hiện của văn hóa dân gian” [80, tr.119] Đồng tình với quan niệmtrên, Trần Quốc Vượng có xu hướng mở rộng thành tố của VHDG khi cho rằng:

“Sáng tạo dân gian bao trùm mọi lĩnh vực đời sống từ đời sống làm ăn thường ngày(ăn, mặc, ở, đi lại) đến đời sống vui chơi buông xả (thể thao dân gian, võ vật, đánhcầu, đánh phết), hát hò (hát đò đưa, hát giã gạo, đúm, ví, xoan, ghẹo) đến đời sốngtâm linh (giỗ, lễ tế, hội)” [80, tr.124]

Theo Chu Xuân Diên, để có thể đánh giá đầy đủ giá trị, đặc trưng của VHDG,chúng ta cần xác định, phân loại những thành tố cơ bản nhất của nó Cụ thể,

“folklore bao gồm những thành tố là những sáng tạo nghệ thuật có ý thức (các tácphẩm văn học dân gian), âm nhạc và múa dân gian, hội họa dân gian,v.v…cả nhữngthành tố là những sản phẩm vừa mang tính ích dụng vừa mang tính thẩm mĩ (kiếmtrúc, đồ thủ công mĩ nghệ,…), và cả những thành tố là những giá trị văn hóa khôngbao hàm ý nghĩa thẩm mĩ hiểu theo nghĩa đích thực của nó (văn hóa ẩm thực, nhữngtri thức về môi trường tự nhiên,…)” [15, tr.231]

Tóm lại, VHDG theo phần đông các nhà nghiên cứu hiện nay bao gồm rất nhiềuthành tố đặc trưng, biểu hiện trong nhiều lĩnh vực và là đối tượng nghiên cứu củanhiều ngành khoa học liên ngành, trong đó đặc biệt là ngành thi pháp folklore Chúngtôi tán thành cách hiểu mở rộng của các nhà nghiên cứu này Như vậy, VHDG là một

bộ phận của văn hoá dân tộc, bao gồm văn học dân gian (ca dao, dân ca, truyện cổ tích,thần thoại, truyền thuyết, truyện cười trước kia được lưu truyền bằng miệng trongdân gian); nghệ thuật dân gian (ca múa nhạc dân gian, tranh dân gian…); phong tục,tập quán, đặc điểm lễ nghi thịnh hành trong dân gian Do nội

Trang 37

hàm của khái niệm VHDG khá rộng, để phù hợp với phạm vi nghiên cứu của đề tàichúng tôi xin được tìm hiểu những biểu hiện của các yếu tố VHDG trong tiểuthuyết từ 1986 đến 2000 ở một số phương diện sau: tín ngưỡng dân gian, thế giớinhân vật, không gian, thời gian nghệ thuật, motif, biểu tượng và ngôn ngữ.

2.1.2 Nhận diện các thành tố của văn hóa dân gian

Theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh, thuật ngữ quốc tế “folklore” - Văn hóa dân gian, được W J Thom sử dụng đầu tiên vào năm 1846 để chỉ “phong tục, tập

quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ của người thời trước” Từ đó đến nay, bộmôn văn hóa dân gian học đã ra đời và phát triển với ba trường phái lớn: trườngphái folklore Anh - Mỹ chịu ảnh hưởng nhân học, trường phái folklore Tây Âu chịuảnh hưởng xã hội học (điển hình là Pháp, Ý) và trường phái folklore Nga chịu ảnhhưởng ngữ văn học Tùy theo quan điểm tiếp cận, mỗi nhà nghiên cứu sẽ có cáchnhìn nhận và lí giải khác nhau về các vấn đề của văn hóa dân gian

Theo Ngô Đức Thịnh, hiện nay ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu triển khaicông tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian trên các lĩnh vực sau:

“Ngữ văn dân gian bao gồm: Tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền

thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ Trữ tình dân gian (ca dao,dân ca); Thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian

Nghệ thuật dân gian bao gồm: Nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc dân

gian, hội họa dân gian, trang trí dân gian ); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm nhạcdân gian, múa dân gian, sân khấu dân gian, trò diễn )

Tri thức dân gian bao gồm: Tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý, thời tiết,

khí hậu ); tri thức về con người (bản thân): y học dân gian và dưỡng sinh dângian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng); tri thức sản xuất(kỹ thuật và công cụ sản xuất)

Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội: Các lĩnh vực nghiên cứu trên của văn hóa

dân gian nảy sinh, tồn tại và phát triển với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp, thểhiện tính chưa chia tách giữa các bộ phận (ngữ văn, nghệ thuật, tri thức, tín ngưỡngphong tục ), giữa hoạt động sáng tạo và hưởng thụ trong sinh hoạt văn hóa, giữasáng tạo văn hóa nghệ thuật và đời sống lao động của nhân dân Để

Trang 38

nghiên cứu văn hóa dân gian với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp chúng ta cầnphải có một quy phạm nghiên cứu tổng hợp” [82].

Những thành tố này không tách biệt mà gắn liền với mọi phương diện, lĩnhvực của cuộc sống con người, đồng thời tác động lẫn nhau Chúng biểu hiện trongcách ứng xử, sự hiểu biết, tiềm ẩn trong các hoạt động sống mà đôi khi rất khó nắmbắt Nó có khi là cái đơn sơ, chân mộc, nhưng có khi lại cầu kì, tinh tế… Văn hóa là

là minh chứng sống cho một thời đại, một khu vực và cả thế giới Trong các thành

tố ấy, văn học dân gian là bệ đỡ, bộ phận quan trọng nhất cấu thành văn hóa dân gian, nơi kết tinh ngôn ngữ, lời ăn tiếng nói và tạo ra nền tảng cho tồn tại dân tộc.

Vì vậy, văn học dân gian chính là nơi “thăng hoa” những giá trị văn hóa vĩnh hằng;nơi “nối kết” tinh hoa dân tộc, đồng thời là nguồn dưỡng chất bất tận của văn họcviết Đây là một bộ phận văn học không đơn thuần mà mang tính chất tổng hợp vềchất liệu Trong khi văn học viết được tạo ra chỉ bằng ngôn ngữ, thì văn học dângian do nhiều chất liệu tạo nên: ngôn ngữ, âm nhạc, động tác, điệu bộ, vũ đạo Cácyếu tố này phối hợp hài hoà, nhịp nhàng để phô diễn nội dung tác phẩm

Ngày nay, các nhà nghiên cứu có dịp đi sâu tìm hiểu, thống nhất rằng, văn họcdân gian là thành phần nghệ thuật ngôn từ trong sáng tác dân gian, mang tính chấttổng hợp, bao gồm nhiều thành phần nghệ thuật khác nhau Ở đây, ngôn từ nghệthuật vừa có mối quan hệ với các thành phần khác, vừa có tính độc lập tương đốicủa mình Như vậy: “Văn học dân gian là thành phần nghệ thuật ngôn từ trongnhững sáng tác dân gian mang tính tổng hợp bao gồm nhiều thành phần chất liệunghệ thuật khác nhau như âm nhạc, vũ đạo” [24, tr.405] Chính vì thế, tính nguyênhợp là đặc trưng quan trọng nhất của văn học dân gian Những sáng tác truyền khẩunày dung chứa trong mình khá đầy đủ những thành tố của văn hóa dân gian

Nếu tác phẩm văn học viết là kết quả nhận thức thẩm mỹ của cá nhân thì vănhọc dân gian là kết quả nhận thức của cả một cộng đồng Đó cũng là lý do mà vănhọc dân gian được coi là bộ bách khoa toàn thư của mấy nghìn năm, bao gồm giátrị của các thành tố văn hóa khác: phong tục, tín ngưỡng, lễ giáo, kinh nghiệmsống Tính nguyên hợp của văn học dân gian bộc lộ ở sự hòa lẫn giữa chức năngnghệ thuật với chức năng thực hành - sinh hoạt đa dạng của nó Điều này không chỉ

Trang 39

đáp ứng nhu cầu sáng tác, thưởng thức nghệ thuật của nhân dân mà còn tham giatrực tiếp vào mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống Từ đó, tính nguyên hợp biểu hiện

ở sự chưa tách rời các loại hình nghệ thuật trong tổng thể folklore Nghĩa là bộ phậnngôn từ gắn bó chặt chẽ với các loại hình như vũ đạo, âm nhạc, trò chơi, nghi lễ,tôn giáo, tín ngưỡng… Phương diện này chứng tỏ văn học dân gian đã khéo tậndụng và kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố ngôn từ với các yếu tố nghệ thuật khác,tạo thành một chỉnh thể không thể tách rời Trong cái khối nguyên hợp vững bền ấy,yếu tố ngôn từ vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định và ngày càng trở thànhchủ đạo Trải qua hàng nghìn năm phát triển, văn học dân gian đã hình thành cho

mình một hệ thống thể loại phong phú và đa dạng: Thần thoại, Truyền thuyết, Truyện cổ tích, Sử thi, Truyện cười, Tục ngữ, Thành ngữ, Ca dao - dân ca, V …

Qua sự sàng lọc của thời gian, các thể loại này bên cạnh những đặc trưng chung của

hệ hình văn học truyền miệng, cũng đồng thời mang dấu hiệu riêng với ý nghĩa, giátrị tự thân, góp phần tạo ra tinh hoa cho văn hóa, văn học dân gian và có những tácđộng khác nhau tới nền văn học viết Bằng sức sống mạnh mẽ được bồi đắp bởi tinhthần dân tộc, văn học dân gian không chỉ thẳng tiến trên con đường của mình màcòn làm đệm và giữ lửa cho nền văn học viết phát triển và hoàn thiện

Như vậy, sinh hoạt của nhân dân vừa là tấm lăng kính qua đó thực tế khúc xạ vàovăn học, vừa đóng vai trò tác nhân điều tiết đối với sự chọn lựa trong phản ánh thực tế

Nó cũng là mảnh đất nảy sinh, nguồn nuôi dưỡng, nhân tố kích thích sự sáng tạo vốn

có tính chất tự phát của văn học dân gian Loại hình nghệ thuật đặc biệt này bên cạnhchức năng văn học còn in đậm chức năng thực hành sinh hoạt, tập hợp tri thức thực tiễn

và ứng dụng Đó là những chức năng đặc trưng, loại biệt quy định chất lượng nghệthuật độc đáo của văn học dân gian, làm cho mảng sáng tác này không chỉ là nghệ thuật

mà còn rộng hơn nghệ thuật rất nhiều Văn học dân gian chính là cuộc sống, văn hóa,nguồn sữa của các loại hình nghệ thuật khác trong đó có văn học viết

Khi đi sâu nghiên cứu văn học dưới góc nhìn của văn hóa dân gian, các nhànghiên cứu đã cho thấy những kết quả thú vị Và đây được xem là “hướng tiếp cậnthiên về giải mã các hình tượng nghệ thuật, tìm ra nét thời đại của tác phẩm” [57,

tr.168-169] Qua nhiều công trình của các nhà nghiên cứu đều khẳng định rằng có

Trang 40

một sự liên hệ mật thiết giữa văn hóa và văn học Chính vì vậy, nghiên cứu mốitương quan giữa văn học và văn hóa là một hướng đi cần thiết và còn nhiều gợi mở.Khuôn mặt mới của văn học ngày càng được tân trang bởi nguồn lực của bảnthân nó và nguồn cảm hứng từ văn hóa Theo chiều ngược lại, văn học chính là câycầu, trạm trung chuyển, là bảng mã của các yếu tố văn hóa Chính quá trình pháttriển, hội nhập văn học tạo ra những thời cơ mới để văn hóa dân tộc bước đi nhữngbước mạnh mẽ trong xu thế giao lưu với khu vực và thế giới.

Văn hóa dân gian là một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn vớisinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động Vì vậy, khi nhận thức, lýgiải các hiện tượng văn hóa dân gian phải gắn liền với môi trường sinh hoạt vănhóa của nó, tức là các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, trong đó cộng đồng gia tộc,cộng đồng làng xã giữ vai trò quan trọng Văn hóa, trong đó có văn hóa dân gian làsản phẩm của sự phát triển xã hội nhất định Tuy nhiên, sau khi hình thành và địnhhình, văn hóa tác động trở lại xã hội với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, làđộng lực và mục tiêu của sự phát triển xã hội Truyền thống lịch sử và xã hội ViệtNam đã quy định những nét đặc trưng của văn hóa nước ta Đó là văn hóa xómlàng trội hơn văn hóa đô thị, văn hóa truyền miệng lấn át văn hóa chữ nghĩa, ứng xửduy tình nặng hơn duy lý, chủ nghĩa yêu nước trở thành cái trục của hệ ý thức ViệtNam, nơi sản sinh và tích hợp các giá trị văn hóa Việt Nam Những tìm hiểu trên đãphần nào giúp chúng ta nhận hình dung rõ nét nội hàm, ngoại diên khái niệm vănhóa; mối quan hệ giữa văn hóa và văn học; sự vận động, phát triển của văn hóa, vănhọc qua các giai đoạn lịch sử; sự thể hiện linh hoạt của các yếu tố văn hóa dân gianqua một số tác phẩm tiêu biểu; cũng như những tác giả tiếp biến nguồn mạch vănhóa dân tộc trong quá trình sáng tạo văn học

2.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian với tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Cần phải khẳng định rằng, giữa VHDG và văn học có mối quan hệ vô cùngmật thiết Sự tương tác giữa VHDG và văn học là một tất yếu và tiếp nhận VHDGvào văn học cũng là một quy luật dĩ nhiên của tiến trình lịch sử Giáo sư văn họcngười Nga, Mikhail Bakhtin, một trong những người tiên phong trong xu hướngtiếp nhận văn học từ góc độ văn hóa đã nhận định về mối quan hệ không thể tách

Ngày đăng: 10/06/2019, 09:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Duy Anh (2014), Lão Khổ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lão Khổ
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2014
2. Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lý thuyết, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lý thuyết
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
3. M.Bakhtin (1980), “Một số khía cạnh phương pháp luận cần lưu ý khi nghiên cứu văn học quá khứ” (Vương Trí Nhàn dịch), Tạp chí Văn học (4), tr.139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khía cạnh phương pháp luận cần lưu ý khi nghiêncứu văn học quá khứ” (Vương Trí Nhàn dịch), "Tạp chí Văn học
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 1980
4. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
5. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995, những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995, những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
6. Nguyễn Thị Bình (2014) “Đôi nét về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thể kỷ 80 đến nay”, http://nguvan.hnue.edu.vn/Nghiencuu/VanhocVietNamhiendai/tabid/103/newstab/370/Default.aspx, 13/5/217 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết ViệtNam từ cuối thể kỷ 80 đến nay
7. Hồ Biểu Chánh (2005), Con nhà nghèo, Nxb Văn hóa văn nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con nhà nghèo
Tác giả: Hồ Biểu Chánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa văn nghệ
Năm: 2005
8. Hồ Biểu Chánh (2005), Cha con nghĩa nặng, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Tp HCM 9. Hồ Biểu Chánh (2005), Chúa tàu Kim Quy, Nxb Văn hóa văn nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cha con nghĩa nặng", Nxb Văn hóa Sài Gòn, Tp HCM9. Hồ Biểu Chánh (2005), "Chúa tàu Kim Quy
Tác giả: Hồ Biểu Chánh (2005), Cha con nghĩa nặng, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Tp HCM 9. Hồ Biểu Chánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2005
10. Hồ Biểu Chánh (2005), Chút phận linh đinh, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chút phận linh đinh", Nxb "Phụ nữ
Tác giả: Hồ Biểu Chánh
Nhà XB: Nxb "Phụ nữ"
Năm: 2005
11. Jean Chavalier - Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, Trường Viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Jean Chavalier - Alain Gheerbrant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1997
12. Huỳnh Mẫn Chi (2011), “Đoàn Giỏi và áng văn của đất, của rừng phương Nam” http://nhavantphcm.com.vn/chan-dung-phong-van/doan-gioi-va-ang-van-cua-dat-cua-rung.html, 25/6/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đoàn Giỏi và áng văn của đất, của rừng phươngNam”
Tác giả: Huỳnh Mẫn Chi
Năm: 2011
13. Nguyễn Đình Chính (2008), Đêm thánh nhân, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đêm thánh nhân
Tác giả: Nguyễn Đình Chính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
14. Đoàn Văn Chúc (1993), Những bài giảng về văn hóa, Nxb Văn hóa - Thông tin và Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về văn hóa
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin và Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Năm: 1993
15. Chu Xuân Diên (2004), Mấy vấn đề văn hóa và văn học dân gian Việt Nam, Nxb Văn nghệ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: vấn đề văn hóa và văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2004
16. Nguyễn Đăng Duy (2004), Văn hoá Việt Nam đỉnh cao Đại Việt, Nxb Hà Nội 17. Trần Thanh Đạm (1989), “Tục ngữ dân gian và vấn đề nguồn gốc vănchương”, Tạp chí Văn hóa Dân gian, Hà Nội, tr.3-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam đỉnh cao Đại Việt", Nxb Hà Nội17. Trần Thanh Đạm (1989), “Tục ngữ dân gian và vấn đề nguồn gốc văn chương”, "Tạp chí Văn hóa Dân gian
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy (2004), Văn hoá Việt Nam đỉnh cao Đại Việt, Nxb Hà Nội 17. Trần Thanh Đạm
Nhà XB: Nxb Hà Nội17. Trần Thanh Đạm (1989)
Năm: 1989
18. Nguyễn Đức Đàn (1969), “Những diễn biến mới trong văn học miền Nam vùng tạm bị chiếm những năm gần đây”, Tạp chí Văn học, số 1, tr.66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những diễn biến mới trong văn học miền Nam vùng tạm bị chiếm những năm gần đây”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Năm: 1969
19. Phan Cự Đệ (1961), Văn học Việt Nam 1930 - 1945 (tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1930 - 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1961
20. Phan Cự Đệ (1997), Văn học - đổi mới và giao lưu văn hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học - đổi mới và giao lưu văn hóa
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
21. Nguyễn Đăng Điệp (2018), “Văn học và văn hóa tâm linh trong tiến trình lịch sử”, Kỷ yếu Hội thảo Văn học và văn hóa tâm linh, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và văn hóa tâm linh trong tiến trình lịch sử”, Kỷ yếu Hội thảo "Văn học và văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2018
48. Nguyễn Đình Lâm (2014), Bước đầu tìm hiểu tôn giáo - tín ngưỡng Hà Nội, https://tranquanghai.info/v1/p3029-nguyen-dinh-lam-%3A-buoc-dau-tim-hieu-am-nhac-ton-giao-tin-nguong-ha-noi.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w