LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng – Nghiên cứu tại các Hợp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHU VỰC TÂY NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ THANH HẢI
TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác
kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng – Nghiên cứu tại các
Hợp tác xã Nông nghiệp khu vực Tây Nam Bộ” là công trình nghiên cứu của cá nhân
tôi Những số liệu, tài liệu và kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và nội
dung luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào Những nội dung
được kế thừa, tham khảo từ các nguồn tài liệu khác nhau đều ghi nguồn trích dẫn và
tham chiếu rõ ràng trong danh mục tài liệu tham khảo
Tp Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2018
Học viên
Tạ Thị Hồng Thắm
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU - 1
1.Tính cấp thiết của đề tài - 1
2.Mục tiêu nghiên cứu - 2
3.Câu hỏi nghiên cứu - 3
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 3
5.Đóng góp mới của đề tài - 3
6.Kết cấu của luận văn - 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU - 5
1.1.Các nghiên cứu trên thế giới có liên quan - 5
1.2.Các nghiên cứu tại Việt Nam - 14
1.3.Nhận xét về các nghiên cứu đã được thực hiện - 17
1.3.1.Đối với các nghiên cứu nước ngoài - 17
1.3.2.Đối với các nghiên cứu trong nước - 18
Trang 51.3.3.Xác định hướng nghiên cứu - 19
Tóm tắt chương 1 - 20
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT - 21
2.1.Tổng quan về Hợp tác xã Nông nghiệp - 21
2.1.1.Khái niệm Hợp tác xã - 21
2.1.2.Vai trò của HTX Nông nghiệp đối sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam - 21
2.2.Tổng quan về tổ chức công tác kế toán - 22
2.2.1.Khái niệm - 22
2.2.2.Nguyên tắc của việc thực hiện công tác kế toán - 24
2.2.3.Nhiệm vụ của việc thực hiện công tác kế toán - 25
2.2.4.Ý nghĩa của việc thực hiện công tác kế toán - 26
2.2.5.Đối tượng sử dụng thông tin và nhu cầu cung cấp thông tin trong các HTX Nông nghiệp - 26
2.3.Nội dung thực hiện công tác kế toán trong HTX Nông nghiệp - 27
2.3.1.Tổ chức hệ thống chứng từ - 27
2.3.2.Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản - 29
2.3.3.Tổ chức vận dụng hệ thống sổ sách và hình thức kế toán - 30
2.3.4.Tổ chức hệ thống báo cáo - 31
2.3.5.Tổ chức công tác kiểm tra kế toán - 31
2.3.6.Tổ chức bộ máy kế toán - 32
2.3.7.Tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán - 33
2.4.Các lý thuyết nền và vận dụng cho nghiên cứu này - 33
Trang 62.4.1.Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymetric information) - 33
2.4.2.Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) - 34
2.4.3.Lý thuyết đại diện (Agency Theory) - 35
2.4.4.Lý thuyết lợi ích xã hội (Public Interest Theory) - 36
2.5.Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác kế toán - 36
2.5.1.Hệ thống văn bản pháp lý - 36
2.5.2.Trình độ chuyên môn của người làm kế toán - 37
2.5.3.Cơ sở hạ tầng kế toán - 38
2.5.4.Quy mô HTX Nông nghiệp - 38
2.5.5.Công tác kiểm tra kế toán - 38
2.5.6.Áp lực cung cấp thông tin - 39
Tóm tắt chương 2 - 39
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 40
3.1.Phương pháp nghiên cứu - 40
3.1.1.Phương pháp nghiên cứu chung - 41
3.1.2.Quy trình nghiên cứu - 42
3.2.Thiết kế nghiên cứu - 43
3.2.1.Xây dựng thang đo - 43
3.2.2.Xây dựng giả thuyết nghiên cứu - 43
3.2.2.1.Hệ thống văn bản pháp lý - 44
3.2.2.2.Trình độ chuyên môn của người làm kế toán - 45
3.2.2.3.Cơ sở hạ tầng kế toán - 45
Trang 73.2.2.4.Quy mô HTX Nông nghiệp - 46
3.2.2.5.Công tác kiểm tra kế toán - 47
3.2.2.6.Áp lực cung cấp thông tin - 47
3.2.3.Mô hình nghiên cứu đề xuất - 49
3.2.4.Mẫu nghiên cứu - 50
3.2.4.1.Phương pháp chọn mẫu - 50
3.2.4.2.Cỡ mẫu - 50
3.2.4.3.Phương pháp thu thập dữ liệu - 50
3.2.5.Đối tượng và phạm vi khảo sát - 51
3.3.Kết quả nghiên cứu định tính và hiệu chỉnh thang đo - 51
3.4.Thiết kế bảng câu hỏi - 55
3.5.Xử lý và phân tích dữ liệu - 56
3.5.1.Phân tích thống kê mô tả - 56
3.5.2.Phân tích hệ số Cronbach alpha - 56
3.5.3.Phân tích nhân tố khám phá EFA - 57
3.5.4.Phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính - 57
3.5.4.1.Phân tích tương quan - 57
3.5.4.2.Xây dựng và kiểm định mô hình hồi quy - 58
Tóm tắt chương 3 - 59
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN - 60
4.1.Mô tả mẫu nghiên cứu - 60
4.2.Phương pháp đo lường các biến trong mô hình - 65
Trang 84.3.Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng Cronbach α - 67
4.4.Kiểm định giá trị thang đo (phân tích nhân tố khám phá EFA) - 71
4.4.1.Thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng tại các HTX Nông nghiệp khu vực Tây Nam Bộ - 71
4.4.2.Thang đo việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng tại các HTX Nông nghiệp khu vực Tây Nam Bộ - 74
4.5.Mô hình nghiên cứu điều chỉnh - 76
4.6.Phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính - 76
4.6.1.Xác định biến độc lập, biến phụ thuộc - 76
4.6.2.Phân tích tương quan - 76
4.6.3.Phân tích hồi quy tuyến tính bội - 78
4.7.Kiểm định mô hình hồi quy - 80
4.7.1.Kiểm định sự phù hợp của mô hình - 80
4.7.2.Hiện tượng đa cộng tuyến - 81
4.7.3.Mức độ giải thích của mô hình - 81
4.7.4.Kiểm định phần dư của mô hình - 82
4.7.5.Kiểm định giả thuyết các sai số ngẫu nhiên của mô hình có phương sai không đổi -84
4.8.Mô hình nghiên cứu chính thức - 85
4.9.Mô hình hồi quy chưa chuẩn hóa - 85
4.10.Mô hình hồi quy chuẩn hóa - 87
4.11.Bàn luận kết quả nghiên cứu - 89
Trang 9Tóm tắt chương 4 - 93
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH - 94
5.1.Kết luận - 94
5.2.Hàm ý chính sách - 96
5.2.1.Hệ thống văn bản pháp lý - 96
5.2.2.Cơ sở hạ tầng kế toán - 97
5.2.3.Trình độ của người làm kế toán - 99
5.2.4.Công tác kiểm tra kế toán - 100
5.3.Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo - 101
Tóm tắt chương 5 - 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10IAS: International Accounting Standards
IFRS: International Financial Report Standards
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.14 - Mô hình hồi quy tuyến tính chưa chuẩn hóa của các nhân tố
tác động đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin
85
Trang 12cho các đối tượng sử dụng
Bảng 4.15 - Mô hình hồi quy tuyến tính chuẩn hóa của các nhân tố tác
động đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho
các đối tượng sử dụng
87
Trang 13DANH MỤC HÌNH
Hình 1.2 - Kết quả nghiên cứu của Chee W Chow and Adrian
Trang 14DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ Đồ 4.5 - Thời gian làm việc tại HTX Nông nghiệp của người tham gia
Trang 15DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 01 - Danh sách chuyên gia tham gia phỏng vấn
Phụ lục 02 - Bảng câu hỏi phỏng vấn chuyên gia
Phụ lục 03 - Bảng góp ý các nhân tố và thang đo đo lường các nhân tố
Phụ lục 04 - Bảng câu hỏi khảo sát
Phụ lục 05 - Danh sách các đối tượng tham gia khảo sát
Phụ lục 06 - Kết quả chi tiết SPSS
Trang 16PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia mà phần lớn dân cư tập trung sinh sống chủ yếu tại các vùng nông thôn Do đó, ngành Nông nghiệp vẫn là ngành chủ lực và đóng vai trò quan trọng không thể thiếu của nền kinh tế
Thực tiễn những năm qua cho thấy, sản xuất Nông nghiệp nước ta vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, mang tính “phong trào” Với xu hướng hội nhập quốc tế, việc tham gia ký kết các hiệp định thương mại tự do với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau đã và đang đặt ra những thách thức lớn đối với ngành Nông nghiệp nước nhà Chính bởi lẽ
đó, chủ trương chung của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trong quá trình tái
cơ cấu ngành Nông nghiệp hiện nay là nỗ lực phát triển khu vực kinh tế tập thể bằng hình thức Hợp tác xã (HTX) Việc hình thành các HTX Nông nghiệp sẽ giúp người nông dân nắm bắt thông tin, lập kế hoạch sản xuất sát với nhu cầu của thị trường Đồng thời, HTX Nông nghiệp chính là đầu mối trung gian thu mua và đưa hàng hóa đến các thị trường, từ đó tránh được hiện tượng thương lái “ép giá” và mang lại lợi nhuận cao hơn cho nông dân để đảm bảo tái sản xuất Do vậy, chỉ có phát triển hiệu quả loại hình Hợp tác xã Nông nghiệp thì nền kinh tế đất nước mới có thể cân bằng và ổn định, đảm bảo đời sống cho người dân, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển trên mọi mặt, mọi lĩnh vực
Theo số liệu thống kê của Liên minh HTX Việt Nam, đến cuối năm 2017, cả nước có 19.487 HTX đang hoạt động (tăng 10% so với năm 2016) Song bên cạnh kết quả đạt được, trên thực tế quy mô HTX vẫn còn rất nhỏ, trình độ quản trị còn hạn chế, hạ tầng phục vụ sản xuất xuống cấp, lạc hậu nên ít doanh nghiệp liên kết bảo đảm đầu vào, đầu
ra Bên cạnh đó, những thông tin, số liệu trên BCTC về tình hình hoạt động của các HTX vẫn chưa thực sự đủ sức thuyết phục người dân tự nguyện tham gia cũng như thu hút nguồn vốn tài trợ từ chính phủ, các tổ chức quốc tế và những nhà đầu tư trong lĩnh
Trang 17vực Nông nghiệp Việc chưa đủ sức thu hút ở đây không phải vì con số lợi nhuận kém hấp dẫn mà phần lớn là vì quá trình thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng bên trong nội bộ lẫn bên ngoài tại các HTX chưa thực sự được chú trọng
Do đó, vấn đề thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng đã, đang và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hoạt động, đầu tư phát triển trong tương lai của loại hình kinh tế này Trên thực tế đã có rất nhiều các nghiên cứu được thực hiện xoay quanh vấn đề tổ chức công tác kế toán tại nhiều loại hình, lĩnh vực khác nhau nhưng chưa có nghiên cứu định lượng nào thực hiện đối với loại hình HTX Nông nghiệp Bên cạnh đó, theo số liệu thống kê của Liên minh HTX Việt Nam cuối năm 2017, khu vực Tây Nam Bộ là khu vực phát triển mạnh mẽ nhất cả nước về hình thức HTX Nông nghiệp với tốc độ tăng 26,8% so với năm trước Chính bởi lẽ đó,
tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng – Nghiên cứu tại các HTX Nông nghiệp khu vực Tây Nam Bộ” để làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Xác định các nhân tố ảnh hưởng việc thực hiện công tác kế toán
để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng tại các HTX Nông nghiệp khu vực Tây Nam Bộ
Trang 183 Câu hỏi nghiên cứu
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng tại các HTX Nông nghiệp khu vực Tây Nam Bộ?
- Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng tại các HTX Nông nghiệp khu vực Tây Nam Bộ như thế nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: (1) Việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông
tin cho các đối tượng sử dụng tại HTX Nông nghiệp; (2) Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử
dụng tại HTX Nông nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở dữ liệu thu thập từ các HTX
Nông nghiệp khu vực Tây Nam Bộ (13 tỉnh) trong khoảng thời gian từ tháng 7 –
8/2018
5 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài có những đóng góp về mặt thực tiễn Tác giả đã nghiên cứu mô hình các nhân tố đặc thù phù hợp với bối cảnh các HTX Nông nghiệp khu vực Tây Nam Bộ có ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác kế toánđể đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng tại các đơn vị này Từ đó, tác giả đưa ra được một số hàm ý giải pháp mang tính khả thi góp phần hoàn thiện việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng tại các HTX Nông nghiệp hiện nay
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và một số phụ lục đính kèm, nội dung chính bao gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Trang 19Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Trang 20CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày các nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được thực hiện trên thế giới và Việt Nam Từ đó, dưới góc độ cá nhân, tác giả nêu ra những nhận xét và xác định hướng nghiên cứu của đề tài
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới có liên quan
Cho đến nay đã có nhiều học giả nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhóm đối tượng sử dụng Hầu hết, các nghiên cứu chủ yếu được thực hiện ở một số quốc gia như Cộng hòa Séc, Hungary, Rumani và Thổ Nhĩ Kỳ, Thuỵ Điển, Mexico… Nội dung của nghiên cứu được tóm lược cụ thể như sau:
Năm 1977, James J Benjamin and Keith G Stanga đã thực hiện đề tài nghiên
cứu: “Differences in Disclosure Needs of Major Users of Financial Statements”
Mục tiêu của nghiên cứu là so sánh nhu cầu thông tin kế toán của hai nhóm người dùng bên ngoài là các cán bộ tín dụng ngân hàng thương mại và các nhà phân tích tài chính chuyên nghiệp để đi đến xem xét việc tiết lộ thông tin tài chính cho từng đối tượng Dựa trên một bảng câu hỏi được xây dựng bao gồm 79 loại thông tin mà các chủ ngân hàng và nhà phân tích tài chính có thể cần cho các mục đích ra quyết định Hầu hết 79 mục thông tin được chọn cho bảng câu hỏi đều được thu thập từ việc xem xét nhiều nghiên cứu, tài liệu về kế toán và tài chính Những người trả lời được yêu cầu đánh giá tầm quan trọng của từng mục thông tin trên thang điểm 5 Tổng cộng có 600 cán bộ tín dụng ngân hàng thương mại và 600 nhà phân tích tài chính được yêu cầu tham gia vào nghiên cứu Trong số 1200 bảng câu hỏi được gửi qua thư, các phản hồi có thể sử dụng được nhận từ 208 ngân hàng và 207 nhà phân tích tài chính với tỷ lệ phản hồi tổng thể
là 34,6% Kết quả nghiên cứu chỉ ra tồn tại những khác biệt về nhu cầu thông tin giữa hai nhóm trên các lớp thông tin chính sau: (1) một số báo cáo tài chính cơ bản và bổ sung (báo cáo thu nhập so sánh, bảng cân đối kế toán, BCTC so sánh và BCTC đã
Trang 21được điều chỉnh cho những thay đổi về sức mua của đồng đô la); (2) doanh thu bán hàng và thu nhập ròng của các công ty con; (3) các khoản chi phí (quảng cáo, bảo trì và sửa chữa, khấu hao, các loại thuế); (4) thông tin cụ thể về khối lượng sản xuất sản phẩm, chính sách cổ tức, loại cổ phần phổ thông, nợ dài hạn, đầu tư nước ngoài, chi phí vốn theo kế hoạch và kế hoạch tài chính; và (5) tổng tài sản, vốn chủ sở hữu của cổ đông và số lượng cổ đông phổ thông Do đó, kết luận chung được rút ra trong nghiên cứu này là cán bộ tín dụng ngân hàng khi đưa ra quyết định cho vay dài hạn dường như không xem xét các mục thông tin theo cách tương tự như các nhà phân tích tài chính khi thực hiện quyết định đầu tư chứng khoán Như vậy, kết quả này đã gây ra một số nghi ngờ về việc thực hiện công việc kế toán theo những hướng khác nhau để cung cấp thông tin theo nhu cầu của các nhóm người dùng khác nhau Từ kết quả khảo sát kết hợp với phương pháp phân tích thực nghiệm, nghiên cứu đã chỉ ra rằng các nhà cung cấp thông tin đã cố gắng phát triển các bộ thông tin khác nhau cho từng nhóm người dùng khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu không cố gắng chứng minh rằng việc phát triển các bộ thông tin khác nhau là tốt hơn hay không Vấn đề này nằm ngoài phạm vi của cuộc điều tra và có thể là một hướng hiệu quả cho những nghiên cứu tiếp theo
Năm 1979, Michael Firth đã thực hiện nghiên cứu với tiêu đề “The Impact of Size, Stock Market Listing, and Auditors on Voluntary Disclosure in Corporate Annual Reports” Mục đích của nghiên cứu này nhằm tìm hiểu về mối quan hệ giữa
mức độ tiết lộ thông tin báo cáo tài chính thường niên của công ty với ba đặc tính là quy mô công ty, việc tham gia Sàn giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ và sự tác động của công ty kiểm toán Nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn: Giai đoạn 1- thiết kế danh mục thông tin, Giai đoạn 2 - đo lường mức độ tiết lộ thông tin
Trong giai đoạn 1, bước đầu tiên là dựa vào kết quả các nghiên cứu trước đây: Anderson (1962), Backer (1970), Bradish (1965), Buzby (1974), Cerf (1961), Choi (1973)…để xây dựng một danh sách các mục thông tin xuất hiện hoặc có thể xuất hiện trong các báo cáo thường niên của công ty Mặc dù danh sách này không đầy đủ nhưng
Trang 22nó vẫn đảm bảo những mục được nhắc đến nhiều nhất trong báo cáo kế toán và thực sự hữu ích cho các nhà đầu tư, ngân hàng Tiếp theo, nghiên cứu thực hiện xem xét một số báo cáo thường niên của các công ty gần đây và thực hiện những cuộc thảo luận với người dùng để hiệu chỉnh danh mục Cuối cùng, danh mục thông tin chính thức được phát hành có 48 mục thông tin Tuy nhiên, mức độ quan trọng của 48 mục thông tin này đối với từng đối tượng sử dụng là không giống nhau: một số thông tin quan trọng hơn đối với người dùng này so với các mục khác…Do đó, nghiên cứu tiếp tục thực hiện xem xét “trọng số” gắn liền với các mục Điều này được thực hiện bằng cách gửi danh sách các mục cho người dùng và yêu cầu họ đánh giá tầm quan trọng của mỗi mục bằng thang điểm năm Chỉ định điểm số 5 có nghĩa là mục rất quan trọng, điểm 4
có nghĩa là mục quan trọng, điểm 3 liên quan đến các mục quan trọng vừa phải, điểm
số 2 liên quan đến hơi quan trọng và điểm số 1 có ý nghĩa không quan trọng Danh sách này đã được gửi đến tổng số 120 nhà phân tích tài chính làm việc cho các nhà môi giới chứng khoán và các tổ chức đầu tư Từ đó, danh sách 48 mục hỏi và trọng số cho từng mục hỏi được thiết lập và hoàn chỉnh
Trong giai đoạn 2, nghiên cứu thực hiện đo lường mức tiết lộ theo thiết kế nghiên cứu
đã xây dựng Nếu một mục được tiết lộ thì công ty đã nhận được điểm số trọng số; nếu mục nào không được tiết lộ thì công ty đã nhận được điểm bằng không Sau đó, điểm
số cho từng mục riêng lẻ cho mỗi công ty được tổng cộng, con số này được gọi là chỉ
số tiết lộ thông tin của công ty đó Kết quả nghiên cứu của Michael Firth (1979) được
mô tả ở hình 1.1
Trang 23Hình 1.1 - Kết quả nghiên cứu của Michael Firth (1979)
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Dựa vào kết quả nêu trên, có thể thấy rằng: (1) Các công ty có danh sách thị trường chứng khoán đã thực hiện công việc kế toán nghiêm ngặt hơn và tiết lộ thông tin nhiều hơn những công ty không có danh sách; (2) Quy mô công ty càng lớn thì điều kiện để chuẩn bị BCTC càng tốt nên mức tiết lộ thông tin cao hơn; (3) Các kiểm toán viên dường như có rất ít ảnh hưởng đến việc thực hiện công việc kế toán để bảo đảm mức
độ tiết lộ thông tin của các công ty trong các báo cáo hàng năm của họ kể cả nhóm kiểm toán viên thuộc 'Big 8' của Anh (Arthur Young McClelland Moores, Coopers và Lybrand, Deloitte Haskins and Sells, Peat Mar- wick Mitchell) , Waterhouse, Thomson McLintock, Touche Ross, và Whinney Murrayj và “những nhóm khác”
Năm 1982, McNally, G., L Eng, and C Hasseldine đã thực hiện đề tài nghiên
cứu: “Corporate Financial Reporting in New Zealand: An Analysis of User Preferences, Corporate Characteristics and Disclosure Practices for Discretionary Information” Nghiên cứu này nhằm đánh giá việc cung cấp thông tin trong mối liên
hệ với khả năng sử dụng và phân tích thông tin của các đối tượng bên ngoài đơn vị Nhóm tác giả đã thực hiện gửi bảng câu hỏi khảo sát đến các đối tượng có trình độ chuyên môn: kế toán, nhà phân tích tài chính, nhân viên sở giao dịch chứng khoán Phát hiện chung của nghiên cứu cho thấy những nhóm người dùng khác nhau quan tâm
Việc niêm yết trên thị trường
chứng khoán
Quy mô công ty
Mức độ tiết lộ thông tin tài chính
Công ty kiểm toán
Trang 24đến những thông tin tài chính khác nhau và thực hiện đánh giá, phân tích tình hình đơn
vị khác nhau Chính bởi điều này, các đơn vị khi việc thực hiện vận dụng hướng dẫn thực hành kế toán của tổ chức nghề nghiệp và các quy định pháp luật về yêu cầu tối thiểu trong quá trình công bố thông tin bị tác động đáng kể Như vậy, đây có thể là kết quả của việc chịu ảnh hưởng của áp lực ngầm có nguồn gốc bên trong hoặc bên ngoài
tổ chức
Năm 1987, Chee W Chow and Adrian Wong-Boren đã thực hiện đề tài nghiên
cứu: “Voluntary Financial Disclosure by Mexican Corporations” Nghiên cứu này
báo cáo về thực tiễn tiết lộ thông tin tài chính của các tập đoàn Mexico dựa trên mẫu khảo sát của 52 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Vận dụng lý thuyết người đại diện (Agency Theory), nghiên cứu đã đưa ra một số biến độc lập để giải thích sự thay đổi trong công tác kế toán và tiết lộ thông tin tài chính: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ tài sản hiện có Kết quả nghiên cứu của Chee W Chow and Adrian Wong-Boren (1987) được mô tả ở hình 1.2
Hình 1.2 - Kết quả nghiên cứu của Chee W Chow and Adrian Wong-Boren (1987)
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Kết quả nghiên cứu về vấn đề công bố thông tin tài chính của các công ty Mexico mang lại những hiểu biết về các yếu tố đằng sau những lựa chọn tiết lộ thông tin tài chính tự nguyện và nâng cao hiểu biết về tổ chức công tác kế toán của các quốc gia Có
Quy mô công ty
Đòn bẩy tài chính
Tỷ lệ tài sản hiện có
Công tác kế toán
và mức độ công bố thông tin tài chính
Trang 25thể thấy rằng, công tác kế toán và mức độ tiết lộ thông tin tài chính có liên quan đáng
kể theo xu hướng cùng chiều đến quy mô công ty nhưng không liên quan đến đòn bẩy tài chính và tài sản hiện có
Năm 1989, T E Cooke đã thực hiện nghiên cứu với tiêu đề “Disclosure in the Corporate Annual Reports of Swedish Companies” Trọng tâm của nghiên cứu này là
xem xét việc chấp hành thực hiện báo cáo hoạt động kinh doanh của các công ty theo quy định về vấn đề công bố và báo cáo thông tin của Đạo luật công ty năm 1975 và Quy định Kế toán 1976 tại Thụy Điển Nghiên cứu này đã thực hiện khảo sát gần 90 công ty công bố báo cáo hàng năm vào ngày 31/12/1985 Mặc dù quy định khuôn khổ
về thông tin tài chính của các công ty là giống hệt nhau nhưng không phải tất cả các
công ty đều có thể tuân thủ theo “tinh thần” của đạo luật
Với việc sử dụng phương pháp hồi quy tương quan, nghiên cứu của T E Cooke (1989) cho thấy hơn 73% các công ty niêm yết có chỉ số tiết lộ thông tin tài chính từ 50% trở lên trong khi 84% các công ty chưa niêm yết có chỉ số tiết lộ dưới 50% Bên cạnh đó, theo thống kê R2 điều chỉnh, nếu mô hình chỉ kết hợp với biến tổng tài sản sẽ giải thích 60% sự thay đổi trong các chỉ số tiết lộ Nếu mô hình chỉ kết hợp với biến doanh số bán hàng sẽ giải thích 58% sự thay đổi trong các chỉ số tiết lộ Cuối cùng, nếu mô hình chỉ kết hợp biến số lượng cổ đông sẽ giải thích 59% sự thay đổi trong các chỉ số tiết lộ Như vậy, các hệ số điều chỉnh của quá trình xác định rất giống nhau bất kể biến kích thước được kết hợp là tổng tài sản, doanh thu bán hang hay số lượng cổ đông Kết quả này được tác giả tổng hợp ở hình 1.3
Trang 26Hình 1.3 - Kết quả nghiên cứu của T E Cooke (1989)
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Ngoài ra, với việc sử dụng kết hợp một biến kích thước trong mỗi lần hồi quy công việc hằng ngày, một phát hiện khác trong nghiên cứu là có một sự liên kết giữa quy mô doanh nghiệp và mức độ tiết lộ Điều này đã loại bỏ vấn đề đa cộng tuyến giữa biến kích thước với tổng tài sản, doanh thu hàng năm và số lượng cổ đông Do đó, có thể kết luận rằng trạng thái và ba biến về quy mô là những yếu tố giải thích quan trọng nhất về vấn đề công bố thông tin tài chính của công ty
Năm 2000, John Burns đã thực hiện nghiên cứu “The dynamics of accounting change Inter-play between new practices, routines, institutions, power and politics”
Nghiên cứu nhằm điều tra các động lực dẫn đến sự thay đổi trong công tác kế toán đồng thời khám phá các vấn đề gặp phải trong sự thay đổi Do đó, mối quan tâm chính được nghiên cứu hướng đến khám phá sự thay đổi kế toán là các vấn đề: hệ thống pháp
Trạng thái báo cáo
Mối quan hệ công ty mẹ
Doanh thu hàng năm
Tổng tài sản
Mức độ công bố báo cáo tình hình kinh doanh theo quy định của Đạo luật
Cổ đông và yêu cầu về
cung cấp thông tin
Trang 27luật kế toán, thói quen của kế toán, vai trò của tổ chức Bằng phương pháp nghiên cứu điển hình, tác giả đã chỉ ra rằng: (1) Hệ thống pháp luật kế toán làm nền tảng cho quá trình thay đổi công việc kế toán; (2) Các thói quen trong công việc và quy định trong tổ chức tác động trực tiếp đến công tác kế toán Các ý kiến kết luận của nghiên cứu đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình thay đổi công việc kế toán theo thời gian trong một tổ chức Ngoài ra, cách tiếp cận này cung cấp những hiểu biết mới đầy thách thức cho cả các nhà nghiên cứu kế toán và các nhà làm luật trong vấn đề thay đổi hệ thống pháp lý
Năm 2009, Ismail đã thực hiện nghiên cứu “Factors Influencing AIS Effectiveness among Manufacturing SMEs: Evidence from Malaysia” Đầu tiên, tác
giả thực hiện tổng hợp lý thuyết nền, lược khảo các nghiên cứu trước Tiếp theo, tác giả tiến hành sử dụng phương pháp Pilot Test đối với 232 doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Malaysia để khám phá những yếu tố tác động đến việc thực hiện công tác kế toán Kết quả cuối cùng cho thấy, kiến thức của kế toán viên, am hiểu của nhà quản lý và chất lượng nhà cung cấp phần mềm kế toán là những nhân tố có đóng góp đáng kể đến việc thực hiện công tác kế toán Đồng thời, nghiên cứu cho thấy rằng: (1) Các nhà quản lý cần có đủ kiến thức kế toán để hiểu rõ hơn về đơn vị; (2) Các doanh nghiệp nhỏ và vừa nên lựa chọn nhà cung cấp phần mềm có kinh nghiệm và hiểu được những đặc tính riêng của doanh nghiệp nhỏ và vừa để đảm bảo khả năng xây dựng phần mềm đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin cần thiết
Năm 2010, Cătălin Nicolae Albu và các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu “The context of the possible IFRS for SMES implementation in Romania: An exploratory study” Mục đích của nghiên cứu này nhằm đánh việc vận dụng IFRS trong vấn đề
thực hiện công tác kế toán để cung cấp thông tin tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Romania Thông qua việc sử dụng hỗn hợp các cuộc phỏng vấn và văn bản phân tích nhằm xác định các biến dạng tiềm năng về vấn đề này ở Romania Kết quả phỏng vấn
Trang 28nhấn mạnh đến việc thực hành các hướng dẫn trong công tác kế toán Việc vận dụng IFRS cho thấy thiếu triển khai hướng dẫn; đồng thời, chính sự phức tạp về nội dung bản chất của IFRS đã tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế tìm kiếm một hướng dẫn khác để dễ dàng thực hiện hơn Nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu tin rằng việc vận dụng IFRS cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thực hiện công việc kế toán phụ thuộc rất lớn vào nền tảng kế toán của kế toán viên, mức độ giáo dục về kế toán Do đó, vấn
đề cần được giải quyết bằng cách nâng cao chất lượng giảng dạy và phát triển chuyên môn liên tục về chương trình đào tạo kế toán
Năm 2013, Cătălin Nicolae Albu và các công sự tiếp tục thực hiện nghiên cứu
“Implementation of IFRS for SMEs in Emerging Economies: Stakeholder Perceptions in the Czech Republic, Hungary, Romania and Turkey” Nhóm tác giả
của nghiên cứu này đã tiến hành phương pháp phỏng vấn sâu, phỏng vấn bán cấu trúc các bên liên quan chính như kiểm toán viên, kế toán viên, nhà quản lý, cơ quan chuyên môn và người sử dụng thông tin…trong việc áp dụng IFRS cho các các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Cộng hòa Séc, Hungary, Rumani và Thổ Nhĩ Kỳ Những người được phỏng vấn xác nhận rằng mức độ giáo dục về nghiệp vụ kế toán và môi trường kinh doanh cũng có những ảnh hưởng đến việc thực hiện công việc kế toán để cung cấp thông tin tài chính Kế toán viên vẫn sử dụng rất nhiều những phán đoán khi thực hiện công tác chuyên môn Trong khi người quản lý và mức độ am hiểu của người dùng về các vấn đề kế toán vẫn còn hạn chế
Năm 2014, Syaifulla đã thực hiện nghiên cứu “Influence Organizational Commitment on The Quality of Accounting Information System” Với việc sử dụng
nghiên cứu định lượng để kiểm định các giả thuyết, tác giả đã nhận ra rằng những cam kết của ban quản trị có ảnh hưởng đến công việc kế toán Ngoài ra, đội ngũ kế toán chất lượng có thể giúp đơn vị đạt được lợi thế cạnh tranh nhờ vào việc cung cấp thông
Trang 29tin hữu ích hỗ trợ cho việc đưa ra quyết định kinh doanh của tổ chức trong việc thực hiện mục tiêu, chiến lược
1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
- Tại Việt Nam, những đề tài nghiên cứu về công tác kế toán ở các loại hình kinh tế khác nhau đã được thực hiện khá nhiều, cụ thể như sau:
Năm 2007, tác giả Ngô Thị Thu Hồng đã thực hiện luận án Tiến sỹ - Học viện
Tài chính Hà Nội với đề tài “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tăng cường công tác quản trị doanh nghiệp” Tác giả tiến
hành hệ thống hóa được những nguyên tắc cơ bản về tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa Thông qua khảo sát thực tiễn về tổ chức công tác kế toán trong một
số doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các loại hình kinh doanh khác nhau, tác giả đã đề xuất được một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc tổ chức công tác kế toán tại các đơn
vị này
Năm 2011, tác giả Trần Hải Long đã thực hiện luận án Tiến sỹ - Học viện Tài
chính Hà Nội với đề tài “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thuộc tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam” Tác giả đã hệ thống hóa và làm
rõ những vấn đề lý luận về tập đoàn kinh tế, tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thuộc tập đoàn kinh tế Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những đề xuất mang tính khả thi về tổ chức công tác kế toán tại một số doanh nghiệp thuộc tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
Năm 2012, tác giả Ngô Thị Thu Hương đã thực hiện luận án Tiến sỹ - Học viện
Tài chính Hà Nội với đề tài “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các công ty
cổ phần sản xuất xi măng Việt Nam” Sau khi hệ thống hóa lý luận, tác giả đánh giá
thực trạng tổ chức công tác kế toán trong các công ty sản xuất xi măng Việt Nam thuộc các loại hình sở hữu khác nhau Từ đó, tác giả rút ra những ưu điểm, hạn chế và đề xuất những giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán đối với nhóm công ty này
Trang 30- Tuy nhiên, những nghiên cứu về công tác kế toán trong lĩnh vực Nông nghiệp, trong HTX vẫn còn khá ít, cụ thể như sau:
Năm 2007, tác giả Vũ Thị Bích Quỳnh đã thực hiện luận văn thạc sĩ - Trường
Đại học Kinh tế TP HCM với đề tài: “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại HTX Nông nghiệp các tỉnh phía Nam” Tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả để
có một bức tranh toàn cảnh về cách thức tổ chức bộ máy kế toán, sự vận dụng chế độ chứng từ sổ sách, vận dụng hệ thống tài khoản kế toán để ghi chép các hoạt động kinh doanh tại các HTX Nông nghiệp Từ đó, tác giả tiếp tục tổng hợp và phân tích để khái quát hóa thực trạng về công tác kế toán tại HTX Nông nghiệp các tỉnh phía Nam Đồng thời, tác giả cũng đã nhận ra những mặt tích cực và hạn chế trong thực tiễn về việc thực hiện công tác kế toán tại các HTX Nông nghiệp, có thể kể đến như: (1) Các HTX Nông nghiệp phía Nam đa số là quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ và gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động Do đó, HTX chưa thực sự quan tâm đến công tác kế toán, bộ máy kế toán…; (2) Nhiều nguyên tắc được quy định trong pháp luật về kế toán bị vi phạm nghiêm trọng: chứng từ viết giấy tay, không hợp lý, hợp lệ, hợp pháp vẫn được sử dụng hạch toán Trong khi, chứng từ kế toán là nội dung cực kỳ quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán; (3) Nhiều vị trí nhân viên kế toán được bố trí bởi những người không có chuyên môn về kế toán Kế toán kiêm nhiệm các vị trí thủ quỹ, thủ kho trái với quy định của Luật kế toán; (4) Công tác kiểm tra được thực hiện bởi ban kiểm soát chỉ dừng lại ở việc quy định trong điều lệ HTX để đúng theo yêu cầu Trên thực tế, khâu kiểm tra này luôn bị xem nhẹ và ban kiểm soát là những người thiếu kiến thức chuyên môn nên không thể hiểu thấu đáo về nhiệm vụ của mình Trên cơ sở này, tác giả đưa ra phương hướng nhằm hoàn thiện hơn công tác kế toán tại HTX Nông nghiệp các tỉnh phía Nam: hiệu chỉnh một số quy định trong các văn bản Luật và dưới luật, tăng cường hỗ trợ công tác đào tạo tập huấn cho các HTX, …
Trang 31Năm 2014, tác giả Trần Thị Thu Hiền đã thực hiện luận văn thạc sĩ - Trường
Đại học Kinh tế TP HCM với đề tài: “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các Doanh nghiệp sản xuất Nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” Nghiên cứu vận
dụng phương pháp tổng hợp và mô tả để tìm hiểu tổng quan lý luận về công tác kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất Nông nghiệp Tác giả tiến hành thu thập thông tin các doanh nghiệp dựa trên nguồn dữ liệu từ Cục Thống Kê tỉnh Tiền Giang, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang Sau đó, sử dụng bảng thống kê mô tả
để trình bày kết quả thu thập được với 3 nội dung: (a) Thông tin chung của doanh nghiệp; (b) Thông tin về đặc điểm sản xuất; (c) Thông tin về công tác kế toán Song song đó, đề tài cũng vận dụng một số phương pháp khác: phương pháp điều tra mẫu, phương pháp so sánh đối chiếu…Sau khi tổng hợp, tác giả đã nhận thấy được mối quan
hệ giữa đặc điểm sản xuất Nông nghiệp với việc thực hiện công tác kế toán và những điểm hạn chế trong công tác này ở các doanh nghiệp như: (1) Bộ máy kế toán đơn giản
do các doanh nghiệp trong ngành sản xuất Nông nghiệp chủ yếu là quy mô nhỏ, một số đơn vị chỉ có 1 nhân viên kế toán Điều này dễ dẫn đến rủi ro do kế toán tự kiểm tra, xem xét, đánh giá công việc mình đã làm; (2) Việc ghi nhận giá trị một số tài sản (cây cối, vật nuôi) theo giá trị ban đầu và không tiến hành đánh giá lại qua các năm đã gây
ra những sai lệch, không phản ánh đúng giá trị hiện tại; (3) Các doanh nghiệp chưa thực sự nhận thấy tầm quan trọng của số liệu kế toán trong việc đưa ra các quyết định trong tương lai Từ đó, đề tài đã đưa ra những giải pháp mang tính thực tiễn, xác đáng hơn trong việc hoàn thiện công tác kế toán trên mọi mặt tại các doanh nghiệp sản xuất Nông nghiệp trên địa bàn tỉnh
Năm 2017, tác giả Bùi Thị Thanh Trà đã thực hiện luận văn thạc sĩ - Trường
Đại học Kinh tế TP HCM với đề tài: “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các Doanh nghiệp trồng trọt trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” Luận văn thực hiện chủ yếu
bằng phương pháp định tính Ngoài ra, tác giả đã vận dụng kết hợp nhiều phương pháp
Trang 32khác: phương pháp hệ thống, phương pháp điều tra chọn mẫu, phương pháp mô tả, phương pháp so sánh đối chiếu và phương pháp phân tích tổng hợp Sau khi tìm hiểu các vấn đề về lý thuyết cơ bản trong công tác kế toán, đặc điểm các hoạt động sản xuất
và tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp trồng trọt trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; tác giả đã nhận ra những mặt ưu điểm và nhược điểm trong công tác kế toán Những ưu điểm như: (1) Hình thức tổ chức bộ máy phù hợp với quy mô doanh nghiệp hiện tại trên địa bàn, không có chi nhánh và đơn vị hạch toán phụ thuộc; (2) Các đơn vị đã có
sự quan tâm đến trình độ chuyên môn của kế toán viên và trang bị phần mềm phù hợp với lĩnh vực hoạt động; (3) Các đơn vị đã tự giác, nghiêm túc trong việc thực hiện những quy định về chứng từ, sổ sách, báo cáo Lựa chọn các nguyên tắc kế toán đơn giản, phù hợp với đặc điểm doanh nghiệp sản xuất nhỏ…Bên cạnh những ưu điểm, công tác kế toán tại các đơn vị này vẫn còn một số nhược điểm có thể kể đến: (1) Vì quy mô hoạt động nhỏ nên đa số các doanh nghiệp chỉ có duy nhất một kế toán viên kiêm nhiệm tất cả các phần hành công việc Do đo, công tác kế toán rất dễ gây ra những sai sót; (2) Doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến những thông tin do kế toán cung cấp Các thông tin phần lớn dùng để đối phó với cơ quan thuế; (3) Hoạt động kiểm tra, kiểm soát chưa được chú trọng, mang tính hình thức và chưa phát huy đúng bản chất Từ những vấn đề khó khăn còn tồn tại trong thực tiễn công tác kế toán, tác giả đã đề ra một số giải pháp chung, như: hoàn thiện văn bản pháp lý trong lĩnh vực kế toán, ban hành chuẩn mực kế toán riêng về lĩnh vực Nông nghiệp…Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra những giải pháp cụ thể để hoàn thiện về chế độ kế toán, hoàn thiện tổ chức bộ máy, hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ công tác kế toán và cung cấp thông tin
kế toán tại các doanh nghiệp trồng trọt trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
1.3 Nhận xét về các nghiên cứu đã được thực hiện
1.3.1 Đối với các nghiên cứu nước ngoài
Trang 33Sau khi lược khảo các nghiên cứu liên quan, tác giả nhận thấy rằng các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng có thể phân thành 2 nhóm như sau:
Các nhân tố bên ngoài: Hệ thống pháp luật và chính trị, chuẩn mực IAS/IFRS,
nhu cầu thông tin của nhóm người dùng bên ngoài, chất lượng giảng dạy các chương trình đào tạo kế toán, chất lượng nhà cung cấp phần mềm kế toán
Các nhân tố bên trong thuộc đặc tính của đơn vị: Quy mô (đòn bẩy tài chính, tỷ
lệ tài sản hiện có, doanh thu hằng năm, tổng tài sản), trình độ chuyên môn và phán đoán của kế toán viên, khả năng am hiểu của nhà quản lý
Bên cạnh đó, tác giả nhận thấy rằng mỗi nghiên cứu nêu trên chỉ thực hiện nhận diện
và kiểm định một vài nhân tố xoay quanh việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin Đồng thời, tác giả cũng nhận thấy vẫn chưa có nghiên nào thực hiện tổng hợp các nhân tố đã được nhận diện, đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng Hơn nữa, các nghiên cứu này cũng được thực hiện chủ yếu ở những quốc gia phát triển mạnh mẽ về kinh tế với mẫu được xem xét chủ yếu là loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc công ty niêm yết
Chính vì vậy, khoảng trống nghiên cứu cho việc thực hiện một nghiên cứu tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng, đối là với một nước đang phát triển về kinh tế như Việt Nam và nghiên cứu cụ thể ở một loại hình kinh tế đặc thù - HTX Nông nghiệp là rất lớn
1.3.2 Đối với các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến công tác kế toán ở các ngành nghề, loại hình doanh nghiệp nói chung và công tác kế toán trong lĩnh vực Nông nghiệp, HTX nói riêng thường không đi theo hướng khám phá những nhân tố ảnh hưởng mà chỉ tập
Trang 34trung nghiên cứu về công tác kế toán dưới góc độ lý luận Sau đó, các tác giả tiến hành khảo sát, so sánh, phân tích và tổng hợp để đánh giá thực trạng tại địa bàn nghiên cứu Cuối cùng, từ kết quả thực trạng và góc nhìn cá nhân, các tác giả đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện hơn về công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các bên liên quan Như vậy, phương pháp nghiên cứu được sử dụng tại các nghiên cứu này chủ yếu là nghiên cứu định tính hoặc kết hợp với nghiên cứu định lượng, tuy nhiên nghiên cứu định lượng được sử dụng chỉ dừng lại ở mức độ thống kê mô tả
Do đó, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng tại các HTX Nông nghiệp bằng phương pháp định lượng, thực hiện với dữ liệu thu thập thực tế qua bảng khảo sát, từ
đó tiến hành xử lý và phân tích số liệu nhằm nhận diện các nhân tố tác động đặc thù là một hướng nghiên cứu mới và vẫn đang là một khoảng trống trong môi trường nghiên cứu Việt Nam
1.3.3 Xác định hướng nghiên cứu
Qua lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến công tác kế toán nói chung và công tác
kế toán trong lĩnh vực Nông nghiệp, HTX nói riêng, có thể thấy vẫn còn thiếu vắng việc thực hiện những nghiên cứu nhằm khám phá các nhân tố ảnh hưởng và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng Bên cạnh đó, đa số các nghiên cứu trước đây hầu hết được thực hiện đối với doanh nghiệp niêm yết hoặc doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong khi, trên thực tế hiện nay loại hình kinh tế - HTX Nông nghiệp đang tăng lên một cách nhanh chóng về số lượng và đóng vai trò nhất định trong quá trình phát triển của kinh tế tập thể Do đó, để đảm bảo chất lượng công tác kế toán, đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng nhằm thu hút đầu tư từ chính phủ, các tổ chức quốc tế…HTX Nông nghiệp cần nỗ lực trong việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác này tại đơn vị
Trang 35Chính bởi lẽ đó, tác giả đi sâu nghiên cứu việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng với nhóm đối tượng khảo sát là các HTX Nông nghiệp khu vực Tây Nam Bộ Thông qua quá trình nghiên cứu, tác giả nhận diện các nhân tố đặc thù riêng ảnh hưởng đến việc thực hiện công tác kế toán trong vấn đề đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng tại các HTX Nông nghiệp
Cuối cùng, tác giả đưa ra một số hàm ý chính sách góp phần nâng cao hiệu quả công tác này tại các HTX Nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay
Tóm tắt chương 1
Với mục tiêu nghiên cứu là xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến việc thực hiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng – Nghiên cứu tại các HTX Nông nghiệp khu vực Tây Nam Bộ, những nhân tố được nhận diện sẽ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đây chính là cơ sở cho việc đề ra các biện pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng trong HTX Nông nghiệp
Qua chương 1, tác giả đã thực hiện lược khảo kết quả của một số công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài có liên quan đến nội dung của đề tài Từ đó, tác giả kế thừa
có chọn lọc các nhân tố gây ảnh hưởng và làm căn cứ cho việc thiết kế nghiên cứu ở chương 3 phù hợp với đặc điểm các HTX Nông nghiệp khu vực Tây Nam Bộ
Trang 36CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về Hợp tác xã Nông nghiệp
2.1.1 Khái niệm Hợp tác xã
Theo điều 3 - Luật Hợp tác xã 2012, “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”
Từ khái niệm trên, có thể rút ra những đặc trưng sau đây của HTX trong Nông nghiệp:
Một là, HTX Nông nghiệp là một tổ chức kinh tế tập thể hoạt động trong lĩnh vực
Nông nghiệp Các HTX chủ yếu hoạt động về lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong Nông nghiệp Đặc biệt, đây còn là một tổ chức kinh tế của người nông dân, gần gũi với hộ gia đình nông thôn
Hai là, mục đích kinh doanh của HTX Nông nghiệp trước hết là đáp ứng nhu cầu
chung của thành viên về số lượng, chất lượng dịch vụ Như vậy trong mỗi thôn, mỗi xã
có thể cùng tồn tại nhiều loại hình kinh doanh khác nhau: tưới tiêu, cung cấp vật tư nông nghiệp… Nông dân gia nhập HTX là vì họ cần được HTX cung cấp dịch vụ, sản phẩm mà từng hộ không thể tự làm hoặc làm một mình không có hiệu quả
Ba là, cơ sở thành lập của HTX Nông nghiệp là dựa vào việc cùng góp vốn của các
thành viên và quyền hoàn toàn bình đẳng giữa các thành viên Do đó, mỗi thành viên
có một phiếu biểu quyết không phân biệt số vốn góp ít hay nhiều
2.1.2 Vai trò của HTX Nông nghiệp đối sự phát triển kinh tế - xã hội Việt
Nam
Trải qua những thăng trầm từ khi quá trình hình thành đến phát triển, phong trào HTX Nông nghiệp Việt Nam đã luôn giữ vai trò quan trọng trong phát triển Nông nghiệp,
Trang 37nông thôn và nông dân; góp phần to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trước hết, HTX Nông nghiệp đã thúc đẩy quá trình xã hội hoá trong sản xuất, là cầu nối giữa các cá thể, hộ sản xuất, thành viên HTX với cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế
Tiếp đến, HTX Nông nghiệp tăng cường thực hiện đưa các tiến bộ khoa học - công nghệ, đến với người nông dân trong từng khâu sản xuất Nông nghiệp Đồng thời, HTX Nông nghiệp còn hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và nâng cao khả năng thực hành Nông nghiệp cho bà con; tổ chức phổ biến về những thành tựu khoa học - kỹ thuật và thông tin diễn biến thị trường đến từng thôn, bản
Bên cạnh đó, HTX Nông nghiệp đã góp phần tạo công ăn, việc làm, tăng nguồn thu nhập và đảm bảo ổn định đời sống cho những thành viên HTX và người lao động Từ
đó, góp phần hài hòa các vấn đề kinh tế - xã hội ở địa phương Đây chính là nền tảng
để thực hiện dân chủ hoá và nâng cao văn minh ở nông thôn Ngoài ra, các HTX Nông nghiệp luôn phát huy tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau
để vượt nghèo, góp phần làm giảm bớt những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường và ổn định xã hội ở nông thôn
Ngoài ra, HTX Nông nghiệp cũng góp phần quan trọng vào việc nâng cấp và phát triển
hạ tầng nông thôn: mạng lưới điện, hệ thống giao thông nông thôn, các công trình phúc lợi xã hội
2.2 Tổng quan về tổ chức công tác kế toán
2.2.1 Khái niệm
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về việc thực hiện công tác kế toán như sau:
Theo Nguyễn Phước Bảo Ấn (2008): “Tổ chức công tác kế toán là việc xác định những công việc, những nội dung mà kế toán phải thực hiện hay phải tham mưu cho các bộ
Trang 38phận phòng ban khác thực hiện, nhằm hình thành một hệ thống kế toán đáp ứng được các yêu cầu của đơn vị”
Theo Đoàn Xuân Tiên (2014): “Tổ chức công tác kế toán cần được hiểu như một hệ thống các yếu tố cấu thành gồm: tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán, kỹ thuật hạch toán, tổ chức vận dụng các chế độ, thể lệ kế toán…mối liên
hệ và sự tác động giữa các yếu tố đó với mục đích đảm bảo các điều kiện cho việc phát huy tối đa chức năng của hệ thống các yếu tố đó”
Theo Đào Ngọc Hà (2015): “Tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc thực hiện các chuẩn mực, chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản, lưu trữ tài liệu
kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán cho các đối tượng cần sử dụng”
Theo Luật Kế toán, “Tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức thực hiện các chuẩn mực
và chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản lưu giữ tài liệu kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán”
Từ các quan điểm và luận giải khác nhau, công tác kế toán có thể hiểu là việc sắp xếp những phần việc mà kế toán cần thực hiện nhằm thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin trên BCTC một cách kịp thời, đầy đủ nhằm phục vụ cho việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh cả ở tầm vĩ mô và tầm vi mô Ngoài ra, có thể hiểu công tác kế toán là việc tổ chức nhân sự kế toán theo các phần hành kế toán cụ thể, thực hiện các phương pháp kế toán phù hợp với yêu cầu thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin trên BCTC, phù hợp với đặc điểm thực tế của HTX Nội dung cụ thể của công tác kế toán bao gồm:
Trang 39- Tổ chức phân tích thông tin kế toán;
- Tổ chức bộ máy kế toán;
- Tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kế toán
2.2.2 Nguyên tắc của việc thực hiện công tác kế toán
Để thực hiện một cách khoa học, hợp lý và đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin nhằm phục vụ nhu cầu quản lý, công tác kế toán cần thực hiện các nguyên tắc sau:`
Một là, cần phải tuân thủ các nguyên tắc, chính sách và các quy định pháp lý hiện hành
về kế toán Cơ sở pháp lý trong công tác kế toán và công tác quản lý tài chính tại các đơn vị nói chung và HTX Nông nghiệp nói riêng là Luật kế toán, Chuẩn mực kế toán
và các chế độ, thông tư do Nhà nước ban hành Việc Nhà nước ban hành chế độ kế toán nhằm thống nhất quản lý về thông tin tài chính trong toàn bộ nền kinh tế quốc gia Trong đó:
Luật kế toán là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất Nội dung của Luật kế toán
quy định về: người làm kế toán, tổ chức bộ máy kế toán, hoạt động kinh doanh dịch vụ
kế toán, quản lý nhà nước về kế toán và tổ chức nghề nghiệp về kế toán…
Theo điều 7 Luật kế toán Việt Nam, “Chuẩn mực kế toán gồm những quy định
và phương pháp kế toán cơ bản để lập báo cáo tài chính” hoặc theo quan điểm kế toán quốc tế, “chuẩn mực kế toán chính là những quy định, hướng dẫn cần được tôn trọng khi thực hiện các công việc kế toán và khi trình bày các thông tin trong các báo cáo tài chính sao cho đảm bảo tính minh bạch của các báo cáo tài chính”
Chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn chi tiết về kế toán trong một
lĩnh vực hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan nhà nước chuyên trách về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan nhà nước chuyên trách về kế toán ủy quyền ban hành
Hai là, cần đảm bảo nguyên tắc thống nhất, thể hiện ở việc thống nhất giữa các phần
hành trong một bộ máy hoặc giữa đơn vị trung tâm với các đơn vị thành viên Các bộ phận khác nhau có sự liên quan chặt chẽ trong việc quản lý Song mỗi bộ phận khác
Trang 40nhau lại đảm nhiệm những nhiệm vụ khác nhau Do đó, tổ chức công tác kế toán phải chú ý đến việc phối hợp giữa các bộ phận để đồng bộ trong việc thu thập, xử lý và phân tích số liệu
Ba là, cần phải phù hợp với quy mô, đặc điểm tổ chức sản xuất, cách thức quản lý của
đơn vị Mỗi HTX Nông nghiệp đều có những đặc điểm riêng về lĩnh vực hoạt động, về trình độ quản lý và quy mô hoạt động Vì vậy, không có một mô hình kế toán nào phù hợp nhất dành cho tất cả HTX Nông nghiệp Do đó, các HTX Nông nghiệp muốn đạt hiệu quả trong thực hiện công tác phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, trình
độ quản lý, quy mô và địa bàn hoạt động của HTX
Bốn là, cần phải phù hợp với yêu cầu vị trí việc làm và trình độ chuyên môn của người
quản lý, người kế toán Bởi lẽ, kế toán viên - người thực hiện trực tiếp mọi công việc
kế toán trong đơn vị dưới sự chỉ đạo của người quản lý
Năm là, cần phải đảm bảo nguyên tắc hiệu quả, tiết kiệm Đây là nguyên tắc cần thiết
trong mọi công tác tổ chức, quản lý Do đó, theo nguyên tắc này cần đảm bảo tổ chức công tác kế toán khoa học, nâng cao chất lượng công việc, kiểm soát chặt chẽ và có hiệu quả
2.2.3 Nhiệm vụ của việc thực hiện công tác kế toán
Để thực hiện công tác kế toán trong đơn vị cần thống nhất một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tổ chức hợp lý, khoa học trong công tác kế toán tại đơn vị
Thứ hai, vận dụng đúng đắn, linh hoạt hệ thống tài khoản kế toán Đồng thời, áp dụng