Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của Joshi 2011, Irving và cộng sự 2012, Webb và cộng sự 2015, Bharambe và cộng sự 2016 đã chỉ ra một số lý do như sự lo ngại không nhận được sự chăm sóc c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***
VÕ THỊ MINH HÀ
TÁC ĐỘNG CỦA KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI
Ý ĐỊNH HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU Ở TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***
VÕ THỊ MINH HÀ
TÁC ĐỘNG CỦA KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI
Ý ĐỊNH HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU Ở TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển (Kinh tế và Quản trị lĩnh vực sức khỏe)
Mã số: 8310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS NGUYỄN TRỌNG HOÀI
TP Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Ngoài những bài nghiên cứu tham khảo đã được trích dẫn trong luận văn này thì không có sản phẩm hoặc nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn mà không được trích dẫn theo đúng quy định Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Học viên
Võ Thị Minh Hà
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.6 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU 5
1.7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
2.1 TỔNG QUAN VỀ HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ 6
2.1.1 Hiến mô, bộ phận cơ thể 6
2.1.2 Quy trình hiến mô, bộ phận cơ thể 8
2.2 LÝ THUYẾT VỀ Ý ĐỊNH HÀNH VI 10
2.2.1 Thuyết hành động hợp lý 10
Trang 52.2.2 Thuyết hành vi dự định 11
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 12
2.4 KHUNG PHÂN TÍCH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 21
2.4.1 Khung phân tích 21
2.4.2 Giả thuyết nghiên cứu 22
Tóm tắt Chương 2 23
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 24
3.2 ĐO LƯỜNG CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH TRONG NGHIÊN CỨU 26
3.2.1 Kiến thức về việc hiến mô, bộ phận cơ thể người 26
3.2.2 Thái độ về việc hiến mô, bộ phận cơ thể người 28
3.2.3 Ý định hiến mô, bộ phận cơ thể người 30
3.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 32
3.3.1 Mẫu nghiên cứu 32
3.3.2.1 Kích thước mẫu nghiên cứu 32
3.3.1.1 Phương pháp chọn mẫu 32
3.3.2 Thu thập dữ liệu 32
3.3.2.2 Đối tượng khảo sát 32
3.3.2.3 Phương pháp khảo sát 33
3.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 33
Tóm tắt Chương 3 36
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU 37
4.2 THÁI ĐỘ HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ 41
Trang 64.2.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo 41
4.2.1.1 Kiểm định Cronbach’s Alpha 41
4.2.2 Phân tích thái độ theo đặc điểm nhân khẩu học 43
4.3 Ý ĐỊNH HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ 44
4.4 PHÂN TÍCH HỒI QUY 48
4.5 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
Tóm tắt Chương 4 53
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 54
5.1 KẾT LUẬN 54
5.2 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG Ý ĐỊNH HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ 55
5.2.1 Tăng cường kiến thức về hiến mô, bộ phận cơ thể 55
5.2.2 Cải thiện thái độ về vấn đề hiến mô, bộ phận cơ thể 56
5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 57
5.3.1 Hạn chế của đề tài 57
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Biến số trong mô hình nghiên cứu 25
Bảng 3.2: Câu hỏi đo lường kiến thức về hiến mô, bộ phận cơ thể 27
Bảng 3.3: Thái độ về hiến mô, bộ phận cơ thể 29
Bảng 3.4: Ý định hiến mô, bộ phận cơ thể 31
Bảng 4.1: Ý định hiến mô, bộ phận cơ thể 37
Bảng 4.2: Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 38
Bảng 4.3: Kiến thức theo đặc điểm nhân khẩu học 40
Bảng 4.4: Thang đo Thái độ sau khi kiểm định Cronbach’s Alpha 42
Bảng 4.5: Thái độ theo đặc điểm nhân khẩu học 43
Bảng 4.6: Kiến thức và thái độ của người có ý định hiến mô, bộ phận cơ thể 44
Bảng 4.7: Ý định hiến mô, bộ phận cơ thể theo đặc điểm nhân khẩu học 46
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy 49
Bảng 4.9: Tác động biên 50
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Quy trình đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống 9
Hình 2.2: Thuyết hành động hợp lý TRA 10
Hình 2.3: Thuyết hành vi dự định TPB 11
Hình 2.4: Khung phân tích 22
Trang 10và cộng sự (2008), Joshi (2011), Irving và cộng sự (2012), Irving và cộng sự (2014)
Bên cạnh kiến thức và thái độ, nghiên cứu cũng chỉ ra những người theo đạo Phật có xác suất đưa ra ý định hiến MBPCT cao hơn những người không theo tôn giáo, kết quả này là tương đồng với nghiên cứu của Webb và cộng sự (2015) Ngoài
ra, những người đã kết hôn có khả năng có ý định hiến MBPCT cao hơn những người chưa kết hôn hoặc đã ly hôn, kết quả này cũng khá tương đồng với nghiên cứu của Galanis và cộng sự (2008) khi các tác giả khám phá ra rằng những người có con thường có khả năng đưa ra quyết định hiến mô, tạng cao hơn Ngoài những yếu
tố nêu trên, nghiên cứu cũng cho thấy các đặc điểm nhân khẩu học khác như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, dân tộc, tôn giáo (đạo Thiên Chúa, tôn giáo khác) và kiến thức về hiến MBPCT là những yếu tố không có ảnh hưởng đến ý định hiến MBPCT
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Kỹ thuật ghép mô và bộ phận cơ thể đã mang lại phương pháp điều trị hiệu quả cho những bệnh nhân bị suy giảm chức năng các bộ phận cơ thể (Siminoff và cộng sự, 2001) Ca ghép thận thành công đầu tiên được thực hiện năm 1954 đã đi vào lịch sử y khoa và mở đường cho hàng trăm ngàn ca ghép tạng sau này trên thế giới Ở Việt Nam, ca ghép thận đầu tiên vào tháng 6/1992 ở Bệnh viện 103 đã mở
ra bước ngoặt quan trọng trong lịch sử ngoại khoa Việt và đánh dấu thành công đầu tiên của kỹ thuật ghép thận tại Việt Nam Bệnh viện Chợ Rẫy cũng tiến hành ca ghép thận đầu tiên vào tháng 11/1992 và cũng là đơn vị tiên phong ghép thận từ người hiến chết não vào năm 2008, từ người hiến tim ngừng đập vào năm 2015 Cả nước hiện có 17 cơ sở có đủ khả năng ghép tạng và đã thực hiện hơn 2,500 ca được ghép, trong đó có hai ca ghép đa tạng là thận và tụy; tim và phổi Hiện có khoảng 6,000 người bị suy thận mãn chờ ghép thận, trên 1,500 người có chỉ định ghép gan, khoảng 300,000 người mù do các bệnh lý giác mạc và trên 6,000 người đang chờ được ghép giác mạc cùng hàng trăm người chờ được ghép tim, phổi (Nguyệt Ánh, 2017)
Tại Việt Nam, từ năm 2006 đã có Luật Hiến, lấy, ghép mô bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác, song đến nay số người chết não hiến tặng tạng rất ít Một số nguyên nhân được đưa ra để lý giải cho vấn đề trên là do ảnh hưởng của tâm lý, quan niệm của người dân, sự bất cập về mặt tổ chức, công tác phục vụ cho ghép tạng ở các bệnh viện còn gặp khó khăn về cơ sở vật chất, nhân lực Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của Joshi (2011), Irving và cộng sự (2012), Webb và cộng sự (2015), Bharambe và cộng sự (2016) đã chỉ ra một số lý do như sự lo ngại không nhận được sự chăm sóc chu đáo từ bệnh viện nếu đã đăng ký hiến tạng, sự phản đối
từ gia đình, cảm thấy chống lại tôn giáo nếu đăng ký hiến tạng, thiếu kiến thức về quy trình hiến, ghép mô, tạng, không tin tưởng vào việc ghép mô, tạng… đã cản trở
ý định hiến mô, bộ phận cơ thể (MBPCT) của người dân
Trang 12Ở Việt Nam, nghiên cứu của Hai và cộng sự (1999) là một trong số ít các nghiên cứu về chủ đề này được tiến hành nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa nhận thức về ghép MBPCT người, giữa các yếu tố nhân khẩu học như tuổi, tôn giáo, trình
độ học vấn, giới tính, nghề nghiệp với sự sẵn lòng hiến MBPCT người Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa sự sẵn lòng hiến MBPCT của đáp viên với trình độ học vấn, giới tính, nghề nghiệp và nhận thức về việc ghép MBPCT của họ Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy một số mặt hạn chế trong kiến thức, nhận thức của người tham gia nghiên cứu về hiến MBPCT như: thái độ chưa đúng về quan điểm của tôn giáo đối với việc hiến mô, tạng; hay 75% người tham gia nghiên cứu
có nghe nói về hiến MBPCT người, nhưng chỉ 55% biết có ghép MBPCT người ở Việt Nam (Hai và cộng sự, 1999)
Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn lẫn sự hạn chế trong chủ đề nghiên cứu liên quan đến việc hiến MBPCT ở Việt Nam nên đề tài nghiên cứu về tác động của kiến thức, thái độ đối với ý định hiến MBPCT là hết sức đáng quan tâm và cần thiết Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp xác định cụ thể tác động của kiến thức và thái độ đến ý định hiến MBPCT trong trường hợp nghiên cứu ở TP Hồ Chí Minh Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài có căn cứ vững chắc để đề xuất các nhóm giải pháp giúp tăng cường ý định hiến MBPCT ở người dân, từ đó kỳ vọng sẽ giúp cải thiện được tình trạng thiếu hụt nguồn hiến MBPCT hiện nay
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là xác định ảnh hưởng của kiến thức và thái độ về việc hiến MBPCT đến ý định hiến MBPCT Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu tổng quát, đề tài cần đạt được những mục tiêu cụ thể như sau:
- Đo lường kiến thức và thái độ của những người từ 18 tuổi trở lên ở TP Hồ Chí Minh đối với việc hiến MBPCT
- Xác định tác động của kiến thức và thái độ của những người từ 18 tuổi trở lên ở TP Hồ Chí Minh về việc hiến MBPCT đến ý định hiến MBPCT
Trang 13- Đề xuất một số nhóm giải pháp cải thiện tình trạng thiếu hụt nguồn hiến MBPCT hiện nay ở TP Hồ Chí Minh
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung giải quyết những câu hỏi nghiên cứu sau:
- Kiến thức và thái độ đối với việc hiến MBPCT được đo lường như thế nào?
- Kiến thức và thái độ về việc hiến MBPCT có tác động đến ý định hiến MBPCT như thế nào?
- Các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc hiến MBPCT cần làm gì để cải thiện tình trạng thiếu hụt nguồn MBPCT hiện nay?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của kiến thức và thái độ về việc hiến MBPCT đến ý định hiến MBPCT Ngoài ra, đề tài cũng sẽ tập trung tìm hiểu
về yếu tố kiến thức, thái độ và ý định hiến MBPCT
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tác động của kiến thức và thái độ về
việc hiến MBPCT đến ý định hiến MBPCT; bên cạnh đó, đề tài cũng xem xét, bổ sung vào mô hình nghiên cứu một số biến kiểm soát phản ánh đặc điểm nhân khẩu học của các đối tượng tham gia khảo sát trong nghiên cứu
Đối tượng khảo sát: Các y, bác sĩ, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đang
khám chữa bệnh tại Bệnh viện Bình Dân và Bệnh viện Nhân dân 115 - TP Hồ Chí Minh
Không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Bình Dân và Bệnh
viện Nhân dân 115 - TP Hồ Chí Minh
Trang 14Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành trong năm 2018
1.5 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài vận dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra Trước tiên, phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha được sử dụng để kiểm định độ tin cậy của thang đo thái độ về việc hiến MBPCT, phương pháp hồi quy Logistic đa biến được áp dụng để nghiên cứu tác động của kiến thức và thái độ về việc hiến MBPCT đến ý định hiến MBPCT Kết quả hồi quy
sẽ cho biết việc một cá nhân có kiến thức tốt (hoặc kém) về vấn đề hiến MBPCT sẽ
có ảnh hưởng như thế nào đến ý định hiến MBPCT của cá nhân đó; người có thái độ tích cực (hoặc tiêu cực) đối với việc hiến MBPCT sẽ phản ứng ra sao trước ý định hiến MBPCT Bên cạnh đó, bằng việc bổ sung các biến số phản ánh đặc điểm nhân khẩu học vào mô hình nghiên cứu, kết quả hồi quy sẽ cho biết ảnh hưởng của tuổi tác đến ý định hiến MBPCT; sự khác biệt về ý định hiến MBPCT giữa nam và nữ, giữa những người có trình độ học vấn, dân tộc, tôn giáo, tình trạng hôn nhân khác nhau Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp thống kê mô tả và so sánh giá trị trung bình để so sánh kiến thức và thái độ về việc hiến MBPCT đối với những người có đặc điểm nhân khẩu học khác nhau
Dữ liệu sử dụng phân tích trong đề tài là dữ liệu sơ cấp, được thu thập thông qua phiếu khảo sát được chuẩn bị trước Phiếu khảo sát được gửi đến các y, bác sĩ, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đang khám chữa bệnh tại Bệnh viện Bình Dân
và Bệnh viện Nhân dân 115 - TP Hồ Chí Minh Các đối tượng tham gia khảo sát được chọn theo phương pháp thuận tiện và đảm bảo tinh thần tự nguyện khi tham gia phỏng vấn Tổng cộng có 250 phiếu khảo sát được phát ra, thu về 205 phiếu Trong số những phiếu thu về, có 147 phiếu điền đầy đủ thông tin được sử dụng để phân tích, đạt tỷ lệ 71% tổng số phiếu phát ra
Trang 151.6 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU
Trong bối cảnh các nghiên cứu về chủ đề ý định hiến MBPCT ở Việt Nam còn khá hạn chế, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần vào việc đánh giá kiến thức và thái độ của người dân về việc hiến mô và bộ phận cơ thể Quan trọng hơn, nghiên cứu sẽ chỉ ra tác động của kiến thức và thái độ về việc hiến MBPCT đối với
ý định hiến MBPCT, từ đó có những giải pháp phù hợp giúp cải thiện tình trạng thiếu hụt nguồn hiến MBPCT Ngoài ra, thông qua kết quả phân tích sự khác biệt về kiến thức, thái độ và ý định hiến MBPCT do khác nhau về đặc điểm nhân khẩu học, các giải pháp đề xuất được kỳ vọng sẽ sát với điều kiện thực tế ở Việt Nam hơn
1.7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Luận văn có kết cấu 5 chương; theo đó, Chương 1 giới thiệu tổng quát về bối cảnh của nghiên cứu, nêu bật vấn đề nghiên cứu và xác định các mục tiêu mà nghiên cứu cần đạt được Chương này cũng trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu, sơ bộ về phương pháp, dữ liệu dùng để nghiên cứu và ý nghĩa mà nghiên cứu mang lại
Chương 2 trình bày các khái niệm liên quan đến việc hiến MBPCT, lý thuyết giải thích cho ý định hiến MBPCT và lược khảo các nghiên cứu về chủ đề này Trên
cơ sở đó, tiến hành xây dựng khung phân tích và đặt ra giả thuyết nghiên cứu
Chương 3 trình bày phương pháp đo lường kiến thức và thái độ đối với việc hiến MBPCT; trình bày mô hình trong nghiên cứu, cách thức chọn mẫu, thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu
Chương 4 tập trung thảo luận về tác động của kiến thức và thái độ đối với ý định hiến MBPCT Ngoài ra, chương này cũng trình bày kết quả phân tích, so sánh kiến thức, thái độ đối với việc hiến MBPCT theo các đặc điểm nhân khẩu học
Chương 5 tập trung trình bày các giải pháp được đề xuất nhằm cải thiện ý định hiến MBPCT của người dân Ngoài ra, chương này còn ghi nhận những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 16CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 trình bày tổng quan về các khái niệm liên quan đến việc hiến MBPCT; trình bày lý thuyết giải thích cho ý định hiến MBPCT và đặc biệt là lược khảo các nghiên cứu về chủ đề này để có được cách tiếp cận phù hợp thực hiện nghiên cứu trong điều kiện ở Việt Nam Trên cơ sở tổng quan các tài liệu có liên quan, luận văn tiến hành xây dựng khung phân tích và đặt ra các giả thuyết cho nghiên cứu
2.1 TỔNG QUAN VỀ HIẾN MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ
2.1.1 Hiến mô, bộ phận cơ thể
Theo Luật số 75/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam về Hiến, lấy, ghép MBPCT người và hiến, lấy xác; một
số thuật ngữ có liên quan đến chủ đề hiến MBPCT người được thể hiện như sau:
Mô được định nghĩa là tập hợp những tế bào cùng một hoặc nhiều loại khác
nhau để thực hiện những chức năng nhất định của cơ thể người
Bộ phận cơ thể người được định nghĩa là một phần của cơ thể được cấu
thành từ các loại mô khác nhau với mục tiêu thực hiện các chức năng sinh lý nhất định
Hiến MBPCT người là việc một cá nhân tự nguyện hiến MBPCT của mình
khi họ còn sống hoặc sau khi họ chết
Lấy MBPCT người là hành động tách MBPCT người tự nguyện hiến khi họ
còn sống hoặc sau khi họ chết
Ghép MBPCT người là việc cấy ghép MBPCT tương ứng của cơ thể người
tự nguyện hiến vào cơ thể của người nhận
Chết não được định nghĩa là tình trạng toàn não bộ người bị tổn thương
nặng, chức năng của não giờ đây đã ngừng hoạt động và người chết não được cho là không thể sống lại được
Trang 17Ngân hàng mô được định nghĩa là cơ sở y tế chuyên tiếp nhận, bảo quản, lưu
giữ, vận chuyển và cung ứng mô
Theo Luật số 75/2006/QH11, việc hiến, lấy, ghép MBPCT người và hiến, lấy xác phải đảm bảo được các nguyên tắc: Cả người hiến, người được ghép đều tự nguyện đối; hành động này là vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc phục vụ cho nghiên cứu khoa học; hành động này không nhằm mục đích thương mại; người hiến, người được ghép đều được giữ bí mật về các thông tin có liên quan, trừ trường hợp các bên nêu trên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
Cũng theo Luật số 75/2006/QH11, những người từ đủ 18 tuổi trở lên và có
đủ năng lực hành vi dân sự thì có quyền hiến MBPCT của mình khi còn sống hoặc sau khi chết và hiến xác
Ngoài ra, theo Luật số 75/2006/QH11, các hành vi sau đây đặc biệt bị nghiêm cấm liên quan đến việc hiến, lấy, ghép MBPCT bao gồm: hành động lấy trộm MBPCT người, lấy trộm xác; hành động ép người khác phải cho MBPCT hoặc lấy MBPCT của những người không tự nguyện hiến; hành động mua, bán MBPCT người cũng như mua, bán xác; hành động lấy, ghép, sử dụng, lưu giữ MBPCT người vì mục đích mua bán, thương mại; hành động lấy MBPCT ở người sống chưa
đủ mười tám tuổi; ghép MBPCT của người bị nhiễm những bệnh theo danh mục quy định của pháp luật; cấy tinh trùng, noãn, phôi giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ và giữa những người khác giới có họ hàng trong phạm vi ba đời; hành động quảng cáo, môi giới việc hiến, ghép bộ phận cơ thể người vì mục đích mua bán, thương mại; hành động tiết lộ thông tin, bí mật của người hiến và người được ghép trái với quy định; hành động lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm sai lệch kết quả xác định tình trạng chết não
Trang 182.1.2 Quy trình hiến mô, bộ phận cơ thể
Theo Luật số 75/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam về Hiến, lấy, ghép MBPCT người và hiến, lấy xác, quy trình đăng ký hiến MBPCT ở người sống được thể hiện như sau: Người có nguyện vọng hiến MBPCT của mình sẽ trình bày nguyện vọng với cơ sở y tế; sau khi cơ sở
y tế này nhận được thông tin của người tình nguyện hiến MBPCT người, cơ sở y tế này có trách nhiệm phải thông báo đến Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người biết; khi nhận được thông báo của cơ sở y tế về trường hợp hiến MBPCT người, Trung tâm này sẽ thông báo cho cơ sở y tế đủ điều kiện để tiến hành các thủ tục đăng ký cần thiết cho người hiến; sau khi nhận được thông báo của Trung tâm, cơ sở y tế đủ điều kiện này phải trực tiếp gặp, tiếp xúc với người tự nguyện hiến để tư vấn cho họ các thông tin có liên quan đến việc hiến, lấy MBPCT người, hướng dẫn họ cách đăng ký, hoàn thành các thủ tục hiến theo mẫu đơn và thực hiện việc kiểm tra sức khỏe cho người hiến
Người đã hiến mô sẽ được cơ sở y tế chăm sóc, phục hồi sức khoẻ miễn phí ngay sau họ khi thực hiện việc hiến mô tại cơ sở y tế Còn đối với những người đã hiến bộ phận cơ thể thì sẽ được chăm sóc, phục hồi sức khoẻ hoàn toàn miễn phí ngay sau khi thực hiện việc hiến bộ phận cơ thể người tại cơ sở y tế và được khám sức khỏe định kỳ miễn phí; ngoài ra, họ còn được cấp phát thẻ bảo hiểm y tế miễn phí; họ sẽ được ưu tiên ghép MBPCT người nếu có chỉ định ghép của cơ sở y tế
Quy trình đăng ký hiến MBPCT ở người sau khi chết hoặc đăng ký hiến xác cũng sẽ được thực hiện tương tự như đăng ký hiến MBPCT ở người sống Tuy nhiên, quy trình thực hiện chỉ bổ sung thêm việc cấp thẻ đăng ký hoặc các cơ sở tiếp nhận sẽ không tiến hành khám sức khỏe đối với người đăng ký hiến xác
Ở Việt Nam, theo quy định thì Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ
phận cơ thể người là một tổ chức sự nghiệp, Trung tâm này có tư cách pháp nhân riêng và trực thuộc Bộ Y tế Trung tâm có chức năng, nhiệm vụ tiếp nhận và xử lý thông tin về việc hiến, thay đổi hoặc quyết định hủy bỏ việc hiến MBPCT người;
Trang 19Trung tâm cũng thực hiện chức năng quản lý danh sách chờ ghép MBPCT người trên cả nước; quản lý việc cấp thẻ hiến MBPCT người sau khi chết, hiến xác; quản
lý các thông tin liên quan đến người hiến, người được ghép MBPCT người; thực hiện điều phối việc lấy, ghép, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển MBPCT người cũng như hợp tác quốc tế trong việc điều phối lấy, ghép MBPCT người
Theo quy định, quá trình điều phối để tiến hành ghép MBPCT người phải bảo đảm nguyên tắc hòa hợp giữa người tự nguyện hiến và người được ghép, phải bảo đảm công bằng giữa những người được ghép; phải ưu tiên thực hiện ghép MBPCT người cho trẻ em, ưu tiên các trường hợp cấp cứu cũng như người đã từng hiến bộ phận cơ thể người khi họ được chỉ định ghép hoặc ưu tiên cho những người
có tên đầu tiên trong danh sách chờ ghép do Trung tâm điều phối quốc gia về ghép
bộ phận cơ thể người quản lý hoặc những người nằm trong danh sách chờ ghép của
cơ sở y tế lấy, ghép MBPCT người
Hình 2.1: Quy trình đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống
Khám sức khỏe
Trung tâm điều phối
Trang 202.2 LÝ THUYẾT VỀ Ý ĐỊNH HÀNH VI
2.2.1 Thuyết hành động hợp lý
Theo Fishbein và Ajzen (1975), ý định thực hiện hành vi là yếu tố quan trọng quyết định việc thực hiện hành vi Lý thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) cho rằng thái độ và chuẩn chủ quan là 2 yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi Theo đó, thái độ là việc cá nhân đánh giá về hành vi đó tốt hay xấu và
sự tin tưởng vào kết quả mà hành vi đó mang lại Còn chuẩn chủ quan là ảnh hưởng của xã hội, sức ép của xã hội đối với việc có nên thực hiện hành vi Chuẩn chủ quan thường bao gồm ý kiến của bạn bè, đồng nghiệp, người thân hay nói tổng quát là
ý kiến của những đối tượng có ảnh hưởng đến cá nhân có ý định thực hiện hành vi
Hình 2.2: Thuyết hành động hợp lý TRA
Nguồn: Fishbein và Ajzen (1975)
Hành vi
Ý định Thái độ
Trang 212.2.2 Thuyết hành vi dự định
Theo Ajzen (1991), Thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behavior) ra đời đã khắc phục được hạn chế của Thuyết hành động hợp lý khi cho rằng hành vi chỉ được quyết định bởi ý định Tương tự như Thuyết hành động hợp
lý, Thuyết hành vi dự định chỉ bổ sung yếu tố kiểm soát hành vi vào mô hình để giải thích cho ý định và quyết định thực hiện hành vi Theo thuyết TPB, ý định hành vi
sẽ còn chịu ảnh hưởng bởi khả năng về thời gian, kiến thức, kinh tế của cá nhân
Cụ thể, mặc dù một cá nhân có thái độ tích cực, mọi người xung quanh ủng hộ việc thực hiện hành vi nhưng cá nhân đó không có điều kiện kinh tế, thời gian thì khả năng thực hiện hành vi cũng rất thấp
Hình 2.3: Thuyết hành vi dự định TPB
Nguồn: Ajzen (1991)
Hành vi
Thái độ Niềm tin
Sự đánh giá
Ý định
Chuẩn chủ quan
Người có
ảnh hưởng
Kiểm soát hành vi
Trang 22Có thể nhận thấy, Thuyết hành vi dự định TPB của Ajzen (1991) đã bổ sung thêm cho Thuyết hành động hợp lý TRA của Fishbein và Ajzen (1975) Do đó, đề tài sẽ dựa trên Thuyết hành vi dự định TPB của Ajzen (1991) để giải thích cho tác động của kiến thức, thái độ đối với ý định hiến MBPCT Theo Thuyết hành vi dự định TPB của Ajzen (1991), đối với trường hợp của đề tài, ý định hiến MBPCT sẽ chịu tác động bởi thái độ đối với hành động này, cụ thể là sự tin tưởng vào sự đúng đắn của hành động, tin tưởng vào quy trình thực hiện, đánh giá về kết quả mang lại của hành động hiến MBPCT Bên cạnh đó, ý kiến của gia đình, người thân về việc hiến MBPCT cũng sẽ có ảnh hưởng đến ý định hiến MBPCT Ngoài ra, khả năng kiểm soát hành vi, yếu tố được phản ánh thông qua kiến thức về hiến MBPCT cũng
sẽ có ảnh hưởng đến ý định hiến MBPCT
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Hai và cộng sự (1999) tiến hành khảo sát 785 người tham gia nghiên cứu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp để tìm hiểu tác động của những yếu tố nhân khẩu học ảnh hưởng đến hiến MBPCT ở Việt Nam Các kiểm định Chi-square, Fisher, t-test được nhóm tác giả sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa nhận thức
về ghép MBPCT người và sự sẵn lòng hiến MBPCT người, giữa các yếu tố nhân khẩu học như tuổi, tôn giáo, trình độ học vấn, giới tính, nghề nghiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy 75% người tham gia nghiên cứu có nghe nói về hiến MBPCT người, nhưng chỉ 55% biết có ghép MBPCT người ở Việt Nam Nghiên cứu cho thấy 48% người theo đạo Phật và 27.5% người theo Công giáo không có kiến thức hoặc hiểu chưa đúng về triết lý tôn giáo của họ đối với việc hiến
và ghép MBPCT người Có 64% người tham gia nghiên cứu sẵn lòng chấp nhận hiến tặng MBPCT của người thân và 66% sẵn lòng hiến MBPCT của bản thân; 21% sẵn lòng hiến tặng bất cứ bộ phận nào được yêu cầu và 22% sẵn lòng hiến tặng toàn
bộ cơ thể sau khi chết Các kiểm định trong nghiên cứu của Hai và cộng sự (1999) cũng đã cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa sự sẵn lòng hiến MBPCT
Trang 23của đáp viên với trình độ học vấn, giới tính, nghề nghiệp và nhận thức về việc ghép MBPCT của họ
Có 89.3% người tham gia nghiên cứu chấp thuận việc ghép MBPCT; 1.7% cho rằng đây là hành động vô đạo đức và cần được phòng ngừa; 9% không trả lời Tuy tỷ lệ chấp thuận cao, nhưng cũng có đến 56.3% (n=442) cho rằng cần kiểm soát chặt chẽ để tránh hoạt động hiến, ghép MBPCT bị thương mại hóa (n=414) hoặc ghép cho người xấu (n=127) Mặc dù phản đối việc thương mại hóa, nhưng 61% người tham gia phỏng vấn cho rằng nên có một khoản đáp tạ cho gia đình người MBPCT; ví dụ như: chăm sóc y tế (n=292), bảo hiểm y tế (n=144), tiền (n=192)
Mục tiêu nghiên cứu của Schaeffner và cộng sự (2004) là đánh giá kiến thức
và thái độ về hiến MBPCT (đặc biệt là thận) của sinh viên y khoa ở Đức; tìm hiểu mối quan hệ giữa trình độ học vấn trong lĩnh vực y khoa với 2 yếu tố nên trên Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng nhằm tìm ra các yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến quyết định đăng ký hiến MBPCT
Để thu thập thông tin phục vụ cho nghiên cứu, nhóm tác giả thiết kế bảng câu hỏi gồm 28 câu để thu thập các thông tin về nhân khẩu học (6 câu), kiến thức về hiến MBPCT (13 câu), thái độ đối với hiến MBPCT (9 câu) của 1,136 sinh viên đang học tại Đại học Y Freiburg Các câu hỏi về kiến thức về hiến MBPCT được thiết kế dạng Yes/ No; câu hỏi về thái độ đối với hiến MBPCT được thiết kế dạng thang đo Likert 5 mức và sử dụng hệ số Cronbach’s α để kiểm định mối quan hệ Bên cạnh đó, nhóm tác giả sử dụng phương pháp hồi quy Logistic đa biến để để xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định đăng ký hiến MBPCT
Thông qua các kiểm định, Schaeffner và cộng sự (2004) đã chỉ ra số lượng các câu trả lời đúng về kiến thức đối với việc hiến MBPCT càng tăng khi đáp viên
có trình độ học vấn cao Tương tự, thái độ tích cực đối với hiến MBPCT của sinh viên cũng tăng cùng chiều với trình độ học vấn Nhóm tác giả không tìm ra sự khác biệt về kiến thức lẫn thái độ đối với hiến MBPCT theo giới tính Ngoài ra, kết quả hồi quy Logistic đa biến đã cho thấy những người có kiến thức tốt về hiến MBPCT,
Trang 24cũng như có thái độ cởi mở, tích cực đối với hiến MBPCT sẽ có khả năng đăng ký tham gia hiến MBPCT cao hơn những người khác Bên cạnh đó, những sinh viên cận lâm sàng cũng có khả năng đăng ký hiến MBPCT cao hơn; trong khi kết quả hồi quy không cho thấy tuổi, giới tính và kinh nghiệm về hiến MBPCT (có người thân từng ghép MBPCT) có ảnh hưởng đến khả năng đăng ký tham gia hiến MBPCT
Galanis và cộng sự (2008) sử dụng 27 câu hỏi để thu thập thông tin về nhân khẩu học, thái độ và kiến thức liên quan đến hiến MBPCT (máu, mô, nội tạng và tủy) của 250 người đã đăng ký hiến tủy và 315 người không đăng ký hiến tủy Sử dụng hồi quy Logistic đa biến, Galanis và cộng sự (2008) đã chỉ ra các yếu tố như giới tính, việc thường xuyên hiến máu, có người thân đã đăng ký hiến tủy, có người thân hoặc bạn bè cần ghép tủy, ý kiến của gia đình về hiến MBPCT, kiến thức, thông tin về ghép tủy và lòng tin vào hệ thống y tế là những yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định đăng ký hiến tủy của những người tham gia nghiên cứu
Nghiên cứu của Arriola và cộng sự (2008) nhằm mục tiêu khám phá mối quan hệ giữa các loại kiến thức khác nhau với việc hiến, ghép và biểu hiện của ý định hiến MBPCT thông qua cách sở hữu một giấy phép, một thẻ hiến MBPCT hoặc chia sẻ ước muốn hiến MBPCT với các thành viên trong gia đình Để thu thập thông tin phục vụ cho nghiên cứu, Arriola và cộng sự (2008) thiết kế 89 câu hỏi đo lường các yếu tố như niềm tin, thái độ về hiến và ghép MBPCT; kiến thức và sự hiểu biết về hệ thống hiến, ghép MBPCT; kiến thức của những người đã từng hiến, ghép MBPCT; ý định hiến MBPCT và các đặc điểm nhân khẩu học của người tham gia nghiên cứu Phương pháp phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính đa biến được vận dụng để phân tích mối quan hệ giữa kiến thức, thái độ và ý định hiến MBPCT của người tham gia nghiên cứu
Thang đo kiến thức được cấu thành từ 16 câu hỏi dạng Đúng/ Sai, được phân loại thành 7 nhóm kiến thức: kiến thức tổng quát về hiến MBPCT (2 câu); kiến thức hiến MBPCT liên quan đến người Mỹ gốc Phi (4 câu); kiến thức về tiến trình hiến
Trang 25MBPCT (3 câu); kiến thức về hệ thống phân phối MBPCT (1 câu); kiến thức về việc đăng ký hiến MBPCT (3 câu); kiến thức về sự phù hợp (trong y học) khi hiến MBPCT (2 câu); kiến thức về sự phản đối của tôn giáo đối với hiến MBPCT (1 câu) Bên cạnh đó, thang đo kiến thức còn bao gồm các câu hỏi được thiết kế dạng Có/ Không để đo lường kinh nghiệm về hiến, ghép MBPCT, được phân thành 3 loại: kiến thức kinh nghiệm về hiến MBPCT liên quan đến các thành viên trong gia đinh (3 câu); kiến thức kinh nghiệm về danh sách chờ ghép MBPCT (2 câu); kiến thức kinh nghiệm về những người được ghép MBPCT (3 câu) Tổng cộng có 10 nhóm kiến thức và điểm số của từng nhóm kiến thức được đo lường bằng số câu trả lời đúng đối với nhóm kiến thức tương ứng Bên cạnh kiến thức về hiến MBPCT, Arriola và cộng sự (2008) sử dụng 24 câu hỏi đo lường bằng thang đo Likert 5 mức
để khám phá thái độ và niềm tin đối với hiến MBPCT của người tham gia nghiên cứu và các câu hỏi khác để khám phá các đặc điểm nhân khẩu học của đáp viên (tuổi, giới tính, thu nhập, dân tộc, học vấn, tình trạng hôn nhân…) Sau cùng, ý định hiến MBPCT được nhóm tác giả đo lường thông qua 3 nhận định: sở hữu giấy phép hiến MBPCT, sở hữu thẻ hiến MBPCT hoặc chia sẻ ý định hiến MBPCT với gia đình
Kết quả nghiên cứu cho thấy có tồn tại mối tương quan dương giữa thái độ
và 6 nhóm kiến thức, gồm: kiến thức tiến trình hiến MBPCT, kiến thức tổng quát, kiến thức về hệ thống phân phối MBPCT, kiến thức về sự phản đối của tôn giáo đối với hiến MBPCT, kiến thức về những người được ghép MBPCT, kiến thức về sự phù hợp (trong y học) khi hiến MBPCT Arriola và cộng sự (2008) cũng chỉ ra 3 nhóm kiến thức có tương quan với ý định hiến MBPCT (đo lường bằng ý định sở hữu giấy phép hiến MBPCT): kiến thức về tiến trình hiến MBPCT, kiến thức về hệ thống phân phối MBPCT, kiến thức kinh nghiệm về những người được ghép MBPCT, kiến thức về sự phù hợp (trong y học) khi hiến MBPCT, kiến thức về hệ thống phân phối MBPCT và 3 nhóm kiến thức kinh nghiệm có tương quan với ý định sở hữu một thẻ hiến MBPCT Sau cùng, chỉ có kiến thức kinh nghiệm về danh sách chờ ghép MBPCT và kiến thức kinh nghiệm về những người được ghép
Trang 26MBPCT có tương quan với việc chia sẻ ý định hiến MBPCT với các thành viên trong gia đình
Dựa trên mối tương quan giữa các biến số nêu trên, Arriola và cộng sự (2008) vận dụng phương pháp hồi quy đa biến để phân tích các yếu tố có ảnh hưởng đến ý định hiến MBPCT Kết quả cho thấy kiến thức về hệ thống phân phối MBPCT có ảnh hưởng tích cực đến ý định sở hữu giấy phép hiến MBPCT và ý định
sở hữu một thẻ hiến MBPCT Trong khi đó, kiến thức kinh nghiệm về những người được ghép MBPCT có tác động tích cực đến cả 3 ý định hiến MBPCT của người tự nguyện tham gia nghiên cứu
Joshi (2011) nghiên cứu về tỷ lệ tham gia hiến MBPCT và thái độ đối với hiến MBPCT của những người trẻ đang tham gia học ở Anh Sử dụng phương pháp phân tích Principal Components Factor dựa trên mẫu nghiên cứu gồm 382 quan sát, Joshi (2011) đã chỉ ra nhóm các yếu tố giải thích cho ý định đăng ký hiến MBPCT
và nhóm yếu tố giải thích cho việc không đăng ký tham gia hiến MBPCT
Đối với ý định tham gia hiến MBPCT, Joshi (2011) cho rằng có 3 lý do để giải thích, được cụ thể thành các nhân tố như sau: đạo đức, cá nhân, cảm xúc Có 3 yếu tố cấu thành nên nhân tố lý do đạo đức, đó là: (i) việc đăng ký hiến MBPCT là việc phải làm; (ii) nó phù hợp với tín ngưỡng; (iii) và người tham gia hiến MBPCT
sẽ cảm thấy tốt hơn khi đăng ký Đối với nhân tố lý do cá nhân: người tham gia nghiên cứu nghĩ trong tương lai, bản thân hoặc người thân của họ có thể cũng sẽ cần ghép MBPCT Với nhân tố lý do cảm xúc, có 2 yếu tố cấu thành: (i) nếu họ tham gia hiến MBPCT thì sẽ có điều tích cực đến với họ sau khi chết; (ii) hình ảnh của những người đang cần ghép MBPCT thôi thúc họ hiến MBPCT
Có 2 lý do giải thích cho việc không tham gia hiến MBPCT trong nghiên cứu của Joshi (2011), đó là sự e ngại và yếu tố quán tính, tâm lý không tán thành Có 4 yếu tố cấu thành nên nhân tố sự e ngại, đó là: (i) không nhận được sự chăm sóc y tế tốt sau khi đã đăng ký hiến MBPCT; (ii) gia đình không thích; (iii) đăng ký hiến MBPCT sẽ mang lại điềm xấu trong tương lai; (iv) khiến bản thân cảm thấy buồn
Trang 27Đối với yếu tố quán tính, tâm lý không tán thành, có 4 nhận định cấu thành nên yếu
tố này được những người tham gia nghiên cứu thừa nhận, đó là: (i) tán thành việc hiến MBPCT nhưng chưa chắc sẽ đăng ký hiến MBPCT; (ii) hiến MBPCT là hành
vi chống lại tôn giáo; (iii) không tán thành việc hiến MBPCT đơn thuần là một thủ tục y khoa; (iv) không cảm thấy hứng thú khi nói đến chủ đề hiến MBPCT
Theo Irving và cộng sự (2012), hiểu được lý do tham gia hoặc không tham gia hiến MBPCT sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có được chương trình can thiệp thích hợp giải quyết vấn đề thiếu hụt nguồn cung MBPCT hiện nay Với mục tiêu nêu trên, Irving và cộng sự (2012) đã tiến hành lược khảo các nghiên cứu liên quan đến hiến MBPCT nhằm hệ thống lại các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định hiến MBPCT
Kết quả lược khảo của Irving và cộng sự (2012) cho thấy có 8 nhóm yếu tố
sẽ ảnh hưởng đến quyết định hiến MBPCT Thứ nhất, là mối quan hệ thân thuộc: những người tham gia nghiên cứu sẵn sàng hiến MBPCT cho người thân, bạn bè của họ cho dù trước đó họ hoàn toàn không chấp nhận tham gia hiến MBPCT cho người họ không biết Thứ hai, niềm tin vào tôn giáo: nghiên cứu cho thấy tôn giáo
có thể có ảnh hưởng tích cực (khi tôn giáo khuyến khích hiến MBPCT) hoặc ảnh hưởng tiêu cực (khi tôn giáo cấm hiến MBPCT) Thứ ba, niềm tin văn hóa: cũng giống như tôn giáo, văn hóa cũng có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến quyết định hiến MBPCT Thứ tư, ảnh hưởng từ gia đình: nhìn nhận của cá nhân về hiến MBPCT chịu tác động lớn bởi gia đình; nhiều người cho rằng họ phải có sự cho phép của gia đình trước khi quyết định hiến MBPCT Thứ năm, quan điểm về sự vẹn nguyên của cơ thể: có rất nhiều người tin vào quan niệm cần giữ vẹn nguyên cơ thể mặc dù họ không theo một tôn giáo nào, họ cảm thấy làm cho gia đình bị tổn thương khi cơ thể không còn nguyên vẹn Thứ sáu, sự tương tác với hệ thống chăm sóc sức khỏe: đa phần người tham gia nghiên cứu bày tỏ sự không tin tưởng vào quy trình hiến, ghép MBPCT của hệ thống y tế, nên sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định hiến MBPCT Thứ bảy là kiến thức và thông tin về hiến MBPCT Và
Trang 28cuối cùng là sự phòng ngừa của những người tham gia hiến MBPCT, mặc dù họ ủng hộ việc hiến MBPCT
Nghiên cứu của Irving và cộng sự (2014) nhằm xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến sự sẵn lòng đăng ký hiến MBPCT Để bắt đầu nghiên cứu, Irving và cộng sự (2014) tiến hành khảo sát một số câu hỏi thông thường, suy nghĩ và thái độ của người tham gia nghiên cứu về hiến MBPCT Tiếp theo, người tham gia nghiên cứu được yêu cầu kể 5 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định tham gia hiến MBPCT của họ Các câu trả lời của người tham gia nghiên cứu kết hợp với kết quả lược khảo những nghiên cứu trước cho ra một danh sách các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định hiến MBPCT Danh sách các yếu tố được cung cấp cho người tham gia nghiên cứu và yêu cầu họ xếp hạng mức độ quan trọng của các yếu tố có ảnh hưởng đến quyết định của họ
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 24 yếu tố có ảnh hưởng đến sự sẵn lòng đăng ký tham gia hiến MBPCT của người tham gia nghiên cứu và được Irving và cộng sự (2014) chia thành 4 nhóm nhân tố: (i) ảnh hưởng của lòng vị tha và kết quả
từ việc ghép MBPCT người nhận; (ii) ảnh hưởng của hệ thống và chính sách liên quan đến hiến MBPCT; (iii) kiến thức và thông tin về hiến MBPCT; (iv) thái độ, niềm tin đối với hiến MBPCT Nhóm tác giả cũng chỉ ra 10 yếu tố được những người tham gia nghiên cứu cho rằng có ảnh hướng lớn nhất đến quyết định đăng ký hiến MBPCT của họ, các yếu tố này lần lượt là: (1) khả năng cứu một ai đó thông qua hành động hiến MBPCT; (2) tự đưa ra quyết định, không bị các thành viên trong gia đình bác bỏ; (3) khả năng cải thiện cuộc sống của người được nhận MBPCT; (4) ý kiến, quan điểm của gia đình về hiến MBPCT; (5) hiểu được lợi ích mang lại cho người nhận MBPCT; (6) hiểu được tiến trình tiến hành hiến, ghép MBPCT; (7) truyền thông tích cực, nâng cao chiến dịch vận động và đính chính thông tin chưa chính xác về hiến MBPCT; (8) tư tưởng để lại món quà cho cộng đồng sau khi chết; (9) biết rõ việc hiến MBPCT của mình là để cấy ghép hay phục
Trang 29vụ cho nghiên cứu; (10) quan tâm đến cơ thể được đối xử như thế nào khi hiến MBPCT
Nghiên cứu của Webb và cộng sự (2015) nhằm xác định những nhân tố ảnh hưởng đến sự đồng thuận hiến MBPCT của những người trưởng thành ở Anh Bằng cách phân tích sự lựa chọn của 1,549 quan sát tham gia nghiên cứu, Webb và cộng
sự (2015) đã chỉ ra tôn giáo, tuổi và dân tộc là những yếu tố có ảnh hưởng đến ý định hiến MBPCT Có 80% người được hỏi đáp rằng sẵn sàng hiến một vài bộ phận hoặc toàn bộ cơ thể cho người khác Những người da trắng, người không theo đạo hoặc người theo đạo Cơ đốc, đạo Phật, đạo Hindu sẽ có ảnh hưởng tích cực đến ý định hiến MBPCT Tuy nhiên, những người có độ tuổi từ 18-24 hoặc 24-34 sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến ý định hiến MBPCT Nghiên cứu cũng cho thấy nhận thức rằng nếu đã đăng ký thì không thể hủy đăng ký và đã quá già để hiến MBPCT là những yếu tố cản trở ý định hiến MBPCT của người tham gia nghiên cứu Đặc biệt, Webb và cộng sự (2015) cũng chỉ ra những người nếu không có ý định hiến MBPCT nhiều khả năng cũng sẽ không ủng hộ ý định hiến MBPCT của người khác
Xuất phát từ bối cảnh tỷ lệ người dân hiến MBPCT ở Ấn Độ thấp và các nghiên cứu về lĩnh vực này còn hạn chế, nhóm tác giả Vijayalakshmi và cộng sự (2016) đã tiến hành nghiên cứu về mối quan hệ giữa kiến thức, thái độ và sự sẵn lòng hiến MBPCT của cộng đồng dân cư nói chung Nghiên cứu được tiến hành thông qua việc khảo sát người nhà của những bệnh nhận đang tham gia điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế ở Bengaluru Đối tượng tham gia nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên, trên 18 tuổi và sẵn lòng tham gia khảo sát Nhóm tác giả cũng loại các đối tượng đồng ý tham gia khảo sát nhưng bị hạn chế về nhận thức hoặc những người này đang cần MBPCT để cấy ghép Có 275 người tham gia khảo sát, nhưng
82 người bỏ dở do không có hứng thú hoặc thời gian; do đó, mẫu nghiên cứu cuối cùng còn 193 quan sát
Thông qua bảng câu hỏi đã được hoàn chỉnh từ quá trình kiểm tra tính khả thi bằng nghiên cứu sơ bộ (mẫu nghiên cứu là 20 đáp viên), nhóm tác giả tiến hành
Trang 30thu thập thông tin của 193 đáp viên bằng cách phỏng vấn trực tiếp Phương pháp thống kê mô tả và kiểm định Chi-Square được sử dụng để phân tích dữ liệu thu thập được
Bảng câu hỏi trong nghiên cứu của Vijayalakshmi và cộng sự (2016) được cấu trúc thành 4 phần: (i) Phần thứ nhất, gồm những câu hỏi tìm hiểu thông tin về nhân khẩu học như tuổi, giới tính, học vấn, tôn giáo, tình trạng kinh tế, tình trạng hôn nhân, nơi ở Thêm vào đó là 5 câu hỏi liên quan đến nhận thức của đáp viên về hiến MBPCT, chết não, pháp luật, ý kiến về vấn đề thúc đẩy việc hiến MBPCT và nguồn tuyền đạt thông tin về việc hiến MBPCT (ii) Phần thứ hai là nhóm câu hỏi
để đo lường kiến thức về hiến MBPCT dựa trên nghiên cứu của Arriola và cộng sự (2008) 11 câu hỏi thiết kế dưới dạng Đúng/ Sai được chia thành 5 nhóm chủ đề: thống kê tổng quát về hiến MBPCT (2 câu); kiến thức về quy trình hiến MBPCT (3 câu); kiến thức về cách đăng ký để có thẻ hiến MBPCT (3 câu); kiến thức y tế về tính phù hợp trong hiến MBPCT (2 câu) và kiến thức về pháp luật liên quan đến hiến MBPCT (1 câu) Mỗi đáp án đúng đáp viên được 1 điểm và điểm tối đa là 11 Nhóm câu hỏi thứ hai trong phần này là những câu hỏi liên quan đến kiến thức, kinh nghiệm trong việc hiến và ghép MBPCT (8 câu): kiến thức của bản thân hoặc các thành viên trong gia đình về hiến MBPCT (3 câu); kiến thức về danh sách những người đang chờ hiến MBPCT (2 câu); kiến thức về những người nhận MBPCT (3 câu) (iii) Phần thứ ba cũng dựa trên nghiên cứu của Arriola và cộng sự (2008), gồm
22 câu hỏi đo lường nhận thức và thái độ về hiến MBPCT Các câu hỏi được thiết
kế dưới dạng thang đo Likert 5 điểm; tổng điểm số của phần này dao động từ 22 -
110 (iv) Phần thứ tư sẽ đo lường sự sẵn lòng tham gia hiến MBPCT của các đáp viên, đo lường bằng thang đo 5 điểm dựa trên nghiên cứu của Skumanich và Kintsfather (1996) Bên cạnh đó, 6 câu hỏi sẽ được thêm vào để nghiên cứu về những đáp viên đã tham gia hiến MBPCT
Kết quả nghiên cứu cho thấy 52.8% người tham gia nghiên cứu được đánh giá có kiến thức đầy đủ về hiến MBPCT và 67% người tham gia nghiên cứu có thái
Trang 31độ tích cực đối với hiến MBPCT Trong khi có đến 93.8% người tham gia nghiên cứu nhận thức được và 76.2% người tham gia nghiên cứu ủng hộ việc hiến MBPCT, nhưng chỉ có 62.2% trả lời sẵn lòng hiến MBPCT sau khi chết Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra mối quan hệ giữa tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thu nhập, nơi ở và
ý định hiến MBPCT của người tham gia nghiên cứu
2.4 KHUNG PHÂN TÍCH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
2.4.1 Khung phân tích
Thuyết hành vi dự định TPB của Ajzen (1991) đã cho thấy thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi là các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi Trong trường hợp này, ý định hiến MBPCT sẽ chịu tác động bởi thái độ đối với hành động này, cụ thể là sự tin tưởng, nhận định về kết quả mang lại của hành động hiến MBPCT Bên cạnh đó, ý kiến của gia đình, người thân về việc hiến MBPCT cũng sẽ có ảnh hưởng đến ý định hiến MBPCT Ngoài ra, khả năng kiểm soát hành
vi, được phản ánh thông qua kiến thức về hiến MBPCT và các đặc điểm nhân khẩu học cũng được dự đoán sẽ có ảnh hưởng đến ý định hiến MBPCT
Kết quả lược khảo các nghiên cứu có liên quan cũng đã cho thấy, mặc dù có thể được tiếp cận, vận dụng các phương pháp nghiên cứu, đo lường khác nhau, nhưng các câu hỏi được sử dụng trong các nghiên cứu này đa phần đều có chung đặc điểm là phản ánh về kiến thức và thái độ đối với ý định hiến mô và bộ phận cơ thể Tiêu biểu trong nghiên cứu của Schaeffner và cộng sự (2004), các tác giả đã chỉ
ra những người có kiến thức tốt về hiến MBPCT, cũng như có thái độ cởi mở, tích cực đối với hiến MBPCT sẽ có khả năng đăng ký tham gia hiến MBPCT cao hơn những người khác Kết quả này cũng đã được kiểm chứng và nhận được sự ủng hộ
từ một số nghiên cứu khác trên thế giới như Arriola và cộng sự (2008), Joshi (2011), Irving và cộng sự (2012), Irving và cộng sự (2014)
Song song với các yếu tố nêu trên, khi tiếp cận để nghiên cứu về kiến thức, thái độ và ý định hiến MBPCT, nhóm các biến số phản ánh đặc điểm cá nhân như
Trang 32tuổi tác, giới tính, dân tộc, tôn giáo…thường được các tác giả (Hai và cộng sự, 1999; Galanis và cộng sự, 2008;Webb và cộng sự, 2015) xem xét, bổ sung vào mô hình nghiên cứu để phân tích sự khác biệt về thái độ, kiến thức, ý định hiến MBPCT
do các đặc điểm nhân khẩu học này mang lại
Trên cơ sở tổng quan các tài liệu nêu trên và đặc biệt là dựa trên mô hình nghiên cứu của Schaeffner và cộng sự (2004), khung phân tích của đề tài được đề xuất như sau:
Nguồn: Đề xuất của tác giả
2.4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Theo Thuyết hành vi dự định TPB của Ajzen (1991), nếu cá nhân có thái độ tích cực về hành vi, cụ thể trong trường hợp hiến MBPCT là sự tin tưởng vào những kết quả tốt đẹp mà việc hiến, ghép mô, tạng đem lại (cứu người, tránh lãng phí…); tin tưởng vào quy trình, đội ngũ y, bác sĩ thực hiện (công bằng, hiệu quả…); cởi mở khi trao đổi về chủ đề hiến, ghép MBPCT… thì sẽ có ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi hiến MBPCT Kết quả nghiên cứu của Schaeffner và cộng sự (2004),
Trang 33Arriola và cộng sự (2008), Joshi (2011), Irving và cộng sự (2012), Irving và cộng sự (2014) cũng đã ủng hộ cho nhận định trên Do đó, thái độ của người tham gia nghiên cứu về vấn đề hiến MBPCT được kỳ vọng sẽ có ảnh hưởng đến ý định hiến MBPCT của họ, cụ thể Giả thuyết H1 được trình bày như sau:
Giả thuyết H1: Thái độ về việc hiến MBPCT càng tích cực thì ý định hiến MBPCT càng cao
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Schaeffner và cộng sự (2004), Arriola và cộng sự (2008), Galanis và cộng sự (2008), Joshi (2011), Irving và cộng sự (2012), Irving và cộng sự (2014), kiến thức về việc hiến MBPCT của các đối tượng tham gia nghiên cứu, cụ thể là sự am hiểu về cung, cầu lượng MBPCT; sự hiểu biết về quy trình, quy định của việc hiến, ghép MBPCT… sẽ có ảnh hưởng đến ý định hiến MBPCT của cá nhân Ngoài ra, kiến thức cũng là một nhân tố có ảnh hưởng đến ý định hành vi đã được thể hiện trong Thuyết hành vi dự định TPB của Ajzen (1991) thông qua khả năng kiểm soát hành vi Do đó, kiến thức về chủ đề hiến MBPCT được kỳ vọng sẽ có ảnh hưởng đến ý định hiến MBPCT; cụ thể như sau:
Giả thuyết H2: Kiến thức về việc hiến MBPCT càng cao thì ý định hiến MBPCT càng cao
Tóm tắt Chương 2
Kết quả lược khảo cơ sở lý thuyết ở Chương 2 giúp có được cái nhìn tổng quan về vấn đề hiến MBPCT Cụ thể, chương đã trình bày khái niệm các thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong đề tài như MBPCT, hiến MBPCT, quy trình đăng ký hiến… Chương 2 cũng trình bày tóm tắt về Thuyết hành động hợp lý TRA và Thuyết hành vi dự định TPB để làm cơ sở giải thích cho ý định hiến MBPCT Ngoài ra, kết quả lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề hiến MBPCT trước đây đã giúp đề tài có được cách tiếp cận cũng như xây dựng khung phân tích
để tiến hành nghiên cứu về tác động của kiến thức, thái độ đối với ý định hiến MBPCT trong điều kiện ở TP Hồ Chí Minh
Trang 34CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày mô hình được sử dụng trong nghiên cứu, trình bày cụ thể phương pháp đo lường kiến thức và thái độ đối với việc hiến MBPCT, cách thức đề tài tiến hành chọn mẫu, thu thập dữ liệu và phương pháp được sử dụng để phân tích
dữ liệu
3.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Dựa trên khung phân tích được xây dựng từ quá trình lược khảo lý thuyết và đặc biệt là mô hình nghiên cứu của Schaeffner và cộng sự (2004), mô hình nghiên cứu của đề tài được đề xuất như sau:
Y DINH = β0 + β1KIEN THUC + β2THAI DO + β3GIOI TINH + β4TUOI
+ β5HOC VAN + β6DAN TOC + β7TON GIAO + β8HON NHAN + Ɛ
Trong đó:
Y DINH: Ý định hiến MBPCT; mang giá trị 1 nếu có ý định hiến, ngược lại
mang giá trị 0
KIEN THUC: Kiến thức về hiến MBPCT
THAI DO: Thái độ về hiến MBPCT
GIOI TINH: Giới tính; mang giá trị 1 nếu là Nam; ngược lại mang giá trị 0 TUOI: Tuổi; đo bằng số năm
HOC VAN: Trình độ học vấn; phân thành 5 cấp: Tiểu học trở xuống; Trung
học cơ sở; Trung học phổ thông; Đại học - Cao Đẳng; Sau Đại học
DAN TOC: Dân tộc; mang giá trị 1 nếu là dân tộc Kinh; ngược lại mang giá
trị 0
TON GIAO: Tôn giáo; phân thành 4 loại: Không theo Tôn giáo; Phật giáo;
Thiên Chúa giáo hoặc Tôn giáo khác
Trang 35HON NHAN: Tình trạng hôn nhân; mang giá trị 1 nếu đã kết hôn; ngược lại
mang giá trị 0
Bảng 3.1: Biến số trong mô hình nghiên cứu
dấu Cơ sở lý thuyết
Hiến tạng Y DINH
1: Có ý định 0: Không có ý định
Kintsfather (1996), Vijayalakshmi và cộng sự (2016)
Schaeffner và cộng sự (2004), Arriola và cộng sự (2008), Galanis và cộng sự (2008), Joshi (2011), Irving và cộng sự (2012), Irving và cộng
sự (2014)
Schaeffner và cộng sự (2004), Arriola và cộng sự (2008), Joshi (2011), Irving và cộng
sự (2012), Irving và cộng sự (2014)
Giới tính GIOI TINH 1: Nam
Hai và cộng sự (1999), Galanis và cộng sự (2008), Vijayalakshmi và cộng sự (2016)
Hai và cộng sự (1999), Schaeffner và cộng sự (2004), Webb
và cộng sự (2015), Vijayalakshmi và cộng sự (2016)
Trang 36THPT THPT
0: Trình độ khác
(1999), Schaeffner và cộng sự (2004), Vijayalakshmi và cộng sự (2016)
Học vấn
Đại học DAI HOC
1: Đã tốt nghiệp
CĐ - ĐH 0: Trình độ khác
+
Hai và cộng sự (1999), Schaeffner và cộng sự (2004), Vijayalakshmi và cộng sự (2016)
Dân tộc DAN TOC 1: Kinh
0: Dân tộc khác +/-
Webb và cộng sự (2015)
1: Đạo Phật 0: Không theo tôn giáo
+/-
Hai và cộng sự (1999), Joshi (2011), Irving và cộng sự (2012), Webb và cộng
sự (2015)
Đạo Thiên
1: Đạo Thiên Chúa
0: Không theo tôn giáo
+/-
Hai và cộng sự (1999), Joshi (2011), Irving và cộng sự (2012), Webb và cộng
sự (2015)
Tôn giáo
1: Khác 0: Không theo tôn giáo
+/-
Hai và cộng sự (1999), Joshi (2011), Irving và cộng sự (2012), Webb và cộng
sự (2015)
Hôn nhân HON NHAN 1: Đã kết hôn
Galanis và cộng sự (2008)
Nguồn: Đề xuất của tác giả
3.2 ĐO LƯỜNG CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH TRONG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Kiến thức về việc hiến mô, bộ phận cơ thể người
Kết quả lược khảo nghiên cứu của Arriola và cộng sự (2008), McGlade và Pierscionek (2013), Vijayalakshmi và cộng sự (2016) cho thấy các nghiên cứu
Trang 37thường sử dụng bảng câu hỏi được thiết kế dưới dạng Đúng/ Sai để đánh giá kiến thức về việc hiến MBPCT người Mỗi câu trả lời đúng đáp viên sẽ ghi được 1 điểm
và kiến thức về việc hiến MBPCT người được phản ánh qua tổng số điểm mà đáp viên ghi được Do khác biệt về không gian, thời gian nghiên cứu nên bảng câu hỏi của Arriola và cộng sự (2008), McGlade và Pierscionek (2013), Vijayalakshmi và cộng sự (2016) có khác nhau, nhưng chủ yếu đều xoay quanh những chủ đề: thống
kê tổng quan về vấn đề hiến, ghép mô và bộ phận cơ thể người; quy trình của việc hiến, ghép mô và bộ phận cơ thể người; kiến thức liên quan đến vấn đề đăng ký hiến, ghép mô và bộ phận cơ thể người; điều kiện sức khỏe liên quan đến vấn đề hiến, ghép mô và bộ phận cơ thể người; kiến thức về quan điểm của các tôn giáo đối với vấn đề hiến, ghép mô và bộ phận cơ thể người
Dựa trên nghiên cứu của Arriola và cộng sự (2008), McGlade và Pierscionek (2013), Vijayalakshmi và cộng sự (2016), kết hợp với Luật số 75/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về Hiến, lấy, ghép MBPCT người và hiến, lấy xác, đề tài xây dựng lại bảng câu hỏi để đo lường kiến thức về việc hiến MBPCT người cho phù hợp với điều kiện thực tế ở TP Hồ Chí Minh
Tổng cộng có 12 câu hỏi được thiết kế dưới dạng Đúng/ Sai để đo lường kiến thức về việc hiến MBPCT; mỗi câu trả lời đúng đáp viên ghi được 1 điểm, sai là 0 điểm; do đó, điểm số của các đáp viên sẽ dao động từ 0 đến 12 điểm Chi tiết bảng câu hỏi và đáp án đúng được trình bày trong Bảng 3.2
Bảng 3.2: Câu hỏi đo lường kiến thức về hiến mô, bộ phận cơ thể
Đáp án Đúng Sai
1 Lượng người có nhu cầu ghép MBPCT luôn cao hơn lượng
Trang 382 Mỗi ngày đều có người chết do không có MBPCT để ghép X
3 Việc hiến MBPCT làm biến dạng cơ thể sau khi chết X
5 Người đăng ký hiến MBPCT có thể chọn bất cứ MBPCT
6 Người thân phải đồng ý thì bạn mới được đăng ký hiến
7 Một khi đã đăng ký hiến MBPCT thì bạn không thể thay
8 Bất kỳ ai cũng có thể đăng ký hiến MBPCT không phân
9 Việc đăng ký hiến MBPCT sẽ không làm thay đổi các dịch
11 Dựa trên thứ tự ưu tiên được quy định, mô và bộ phận cơ
thể sẽ được phân phối đến những người đang chờ ghép X
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2.2 Thái độ về việc hiến mô, bộ phận cơ thể người
Để đo lường thái độ về việc hiến MBPCT người, đề tài vận dụng những nhận định đánh giá thái độ được sử dụng trong nghiên cứu của Irving và cộng sự (2012), Irving và cộng sự (2014), Vijayalakshmi và cộng sự (2016) và có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện ở Việt Nam Theo đó, người tham gia nghiên cứu sẽ đánh giá mức độ đồng ý hoặc không đồng ý với 20 nhận định theo thang đo Likert 5 mức độ:
Trang 39(5) Rất đồng ý; (4) Đồng ý; (3) Không có ý kiến; (2) Không đồng ý; (1) Rất không đồng ý Tuy nhiên, để đảm bảo độ tin cậy của thang đo thái độ về việc hiến MBPCT, đề tài còn sử dụng phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha để kiểm định thang đo thái độ Điểm số của nhân tố thái độ về việc hiến MBPCT để thực hiện các thống kê mô tả, so sánh lúc này sẽ là tổng điểm của các câu hỏi còn lại sau khi đã thực hiện kiểm định Cronbach’s Alpha Còn để thực hiện phân tích hồi quy Binary Logistic, đề tài sử dụng nhân số đã được chuẩn hóa đại diện cho nhân tố thái
độ về việc hiến MBPCT để tiến hành hồi quy Chi tiết các nhận định được trình bày trong Bảng 3.3
Bảng 3.3: Thái độ về hiến mô, bộ phận cơ thể
1 Thoải mái khi nói về chủ đề hiến, ghép MBPCT TD1
2 Đồng ý để bác sĩ ghép MBPCT khi tôi gặp vấn đề về sức khỏe TD2
3 MBPCT có thể dùng để ghép cho người không cùng dân tộc TD3
4 Việc hiến MBPCT không phải là hành vi chống lại tín ngưỡng,
tôn giáo
TD4
5 Quy trình hiến MBPCT được thiết kế tốt, hiệu quả TD5
7 Bác sĩ, bệnh viện sẽ sử dụng MBPCT được hiến đúng mục đích TD7
8 Bác sĩ, bệnh viện vẫn sẽ tận tình cứu chữa mặc dù bệnh nhân
Trang 4010 Hầu hết những người hiến, ghép MBPCT đều có cuộc sống
bình thường sau khi tiến hành hiến, ghép
TD10
12 Hiến MBPCT giúp cải thiện cuộc sống của người khác TD12
13 Người giàu hoặc nghèo đều công bằng trong việc được ghép
16 Việc hiến MBPCT không làm gia đình cảm thấy đau buồn sau
khi bạn qua đời
19 Không nhất thiết phải còn đầy đủ MBPCT khi được chôn cất TD19
20 Ủng hộ việc tiếp tục cải tiến quy trình để mở rộng việc hiến,
ghép MBPCT
TD20
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2.3 Ý định hiến mô, bộ phận cơ thể người
Để đo lường ý định hiến MBPCT người, đề tài vận dụng phương pháp được
sử dụng trong nghiên cứu của Vijayalakshmi và cộng sự (2016) Theo đó, người tham gia nghiên cứu sẽ lựa chọn 1 trong 5 nhận định sau đây khi được hỏi về ý định