DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Các nghiên cứu tác động giữa hút thuốc lá và IBS Bảng 2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến IBS Bảng 3.1 Định nghĩa tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình Bảng 4.1 Tỷ lệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
oo0oo -
NGUYỄN NGỌC PHÚC
ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ VỀ HÀNH VI,
KINH TẾ XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG SỐNG LIÊN QUAN ĐẾN HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN (QUẢN TRỊ SỨC KHỎE)
Mã số: 8310105 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LƯU NGỌC BẢO ĐOAN
TP Hồ Chí Minh – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
oo0oo -
NGUYỄN NGỌC PHÚC
ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ VỀ HÀNH VI,
KINH TẾ XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG SỐNG LIÊN QUAN ĐẾN HỘI CHỨNG RUỘT KÍCH THÍCH TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các
số liệu sử dụng trong phân tích luận văn có nguồn gốc rõ ràng, và được hội đồng đạo đức chấp thuận Những kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự khảo sát, tìm hiểu và phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn Việt Nam Tất cả các tài liệu tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kì nghiên cứu nào
TP Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 11 năm 2018
Người cam đoan
Nguyễn Ngọc Phúc
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1 Vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa thực tiễn 3
5 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 5
1 Tổng quan lý thuyết 5
1.1 Tổng quan về bệnh Hội chứng ruột kích thích (IBS) 5
1.2 Cơ sỡ lý thuyết về kinh tế học của IBS 9
2 Lượt khảo các nghiên cứu thực tiễn 10
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
1 Khung phân tích 23
2 Mô hình phân tích 23
3 Giả thuyết nghiên cứu 30
4 Dữ liệu: 35
5 Thiết kế nghiên cứu: 36
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 39
1 Tổng quan 39
2 Mô tả mẫu nghiên cứu 40
3 Kết quả phân tích 43
Trang 53.1 Các nhân tố tác động đến IBS: Kiểm định phi tham số 43
3.2 Kết quả hồi quy logistic 53
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 55
1 Tóm lượt phương pháp nghiên cứu 55
1.1 Thống kê mô tả và kiểm định Chi-square 55
1.2 Mô hình hồi quy 55
2 Kết luận 56
3 Giới hạn của nghiên cứu và kiến nghị 57
4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
IBS Hội chứng ruột kích thích
IBS-C Hội chứng ruột kích thích thể táo bón là chủ yếu
IBS-D Hội chứng ruột kích thích thể tiêu chảy là chủ yếu
IBS-M Hội chứng ruột kích thích thể hỗn hợp
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các nghiên cứu tác động giữa hút thuốc lá và IBS
Bảng 2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến IBS
Bảng 3.1 Định nghĩa tóm tắt các biến sử dụng trong mô hình
Bảng 4.1 Tỷ lệ đối tượng tham gia nghiên cứu phân theo tuổi, giới tính, dân tộc Bảng 4.2 Đặc điểm tuổi của đối tượng tham gia nghiên cứu
Bảng 4.3 Tỷ lệ đối tượng tham gia nghiên cứu phân theo khu vực sống, nghề
nghiệp, trình độ học vấn, hôn nhân Bảng 4.4 Tỷ lệ đối tượng tham gia nghiên cứu phân theo mức độ căng thẳng,
hút thuốc, uống rượu bia, cafe, nước có gas, vận động, thời gian ngủ Bảng 4.5 Tương quan giữa IBS và giới tính
Bảng 4.6 Tương quan giữa IBS và tuổi
Bảng 4.7 Tương quan giữa IBS và nghề nghiệp
Bảng 4.8 Tương quan giữa IBS và khu vực sống
Bảng 4.9 Tương quan giữa IBS và mức thu nhập
Bảng 4.10 Tương quan giữa IBS và trình độ học vấn
Bảng 4.11 Tương quan giữa IBS và tình trạng hôn nhân
Bảng 4.12 Tương quan giữa IBS và mức độ căng thằng
Bảng 4.13 Tương quan giữa IBS và hút thuốc
Bảng 4.14 Tương quan giữa IBS và rượu bia
Bảng 4.15 Tương quan giữa IBS và cafe
Bảng 4.16 Tương quan giữa IBS và thức uống có gas
Bảng 4.17 Tương quan giữa IBS và vận động
Bảng 4.18 Tương quan giữa IBS và thời gian ngủ
Bảng 4.19 Mô hình hồi quy logistic đầy đủ
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Các yếu tố tác động đến bệnh Hội chứng ruột kích thích
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Biểu đồ phân phối của biến tuổi
Biểu đồ 4.2 Mối liên quan giữa tuổi và nhóm IB
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1 Vấn đề nghiên cứu
Hội chứng ruột kích thích là một bệnh lý với một vài triệu chứng đường tiêu hóa như đau bụng, chướng bụng, đầy hơi Mặc dù khá phổ biến nhưng lại làm giới chuyên gia gặp nhiều khó khăn trong việc chẩn đoán và điều trị Căn bệnh tuy không dẫn đến tử vong nhưng lại ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống dẫn đến các hệ lụy liên quan đến giáo dục, quan hệ xã hội cũng như công việc hàng ngày Một bài nghiên cứu dịch tễ học về Hội chứng ruột kích thích trực thuộc phòng Dịch tễ học và Y tế công cộng đại học Nottingham, Anh Quốc cho thấy khoản 11% dân số trên toàn cầu chịu ảnh hưởng của bệnh lý này (Canavan, West, & Card, 2014) Tại Anh Quốc có 10-12 % dân số chịu ảnh hưởng Bệnh lý xoay quanh các triệu chứng thông thường liên quan đến đường tiêu hóa như tiêu chảy, táo bón, đầy bụng, chướng bụng Bệnh lý khó chẩn đoán và khó điều trị do nhiều yếu tố tác động Ngoài ra, theo nghiên cứu của Rajaa Chatila (2017), gánh nặng kinh tế của IBS cũng rất đáng kể đối với hệ thống y tế Chi phí trực tiếp hàng năm để chẩn đoán
và điều trị IBS ở Hoa Kỳ được ước tính từ 1,7 đến 10 tỷ đô la Các chi phí gián tiếp
về mặt nghỉ học, ngày làm việc bị mất, tàn tật sẽ tăng gấp đôi số tiền ước tính là chi phí trực tiếp
Tại Việt Nam, theo một nghiên cứu của Võ Thị Thúy Kiều (2015) về sự lưu hành
và các yếu tốt nguy cơ từ chế độ dinh dưỡng của IBS trong cộng đồng sinh viên Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc IBS vào khoảng 10,3 %, trong đó nữ chiếm 10,6% và
nam là 9,9% (đánh giá dựa trên tiêu chuẩn ROME III) Nghiên cứu về IBS là đề tài
khá phổ biến trên thế giới ở các quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, một số nghiên cứu ở khu vực trung đông như nghiên cứu tại Lebanon trên nhiều lĩnh vực dịch tễ học, hành vi, đặc tính cá nhân, đặc tính kinh tế xã hội, hướng can thiệp Tuy nhiên trong lĩnh vực kinh tế, khi mà các lý thuyết về vốn con người, vốn xã hội chưa được quan tâm phân tích nhiều, như vậy các yếu tố kinh tế xã hội có tác động như thế nào đến IBS Các nghiên cứu tại Việt Nam về IBS chủ yếu tập trung vào bệnh học, phương pháp chẩn đoán, can thiệp, chưa đánh giá nhiều sự lưu hành bệnh và các yếu tố liên quan dựa trên góc độ kinh tế Một nghiên cứu của Siah, Wong năm 2016
Trang 11(Siah, Wong, Chan, Ho, & Gwee, 2016) về tỷ lệ lưu hành và mối liên quan của IBS với lối sống, môi trường sống, chế độ dinh dưỡng đã đề cập đến vấn đề tăng trưởng kinh tế một cách nhanh chóng và đô thị hóa đã chuyển đổi môi trường mang lại những thay đổi mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi về lối sống, nhiều người trở nên ít vận động, chế độ ăn uống không hợp lý Những yếu
tố này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần vào những thay đổi trong dịch tể học
và gia tăng tỷ lệ mắc IBS trong cộng đồng Do vậy, các nghiên cứu về IBS liên quan đến môi trường sống, kinh tế xã hội đang được giới chuyên gia của nhiều nước quan tâm, điển hình ở một số nghiên cứu tại Singapore, Lebanon, (Basandra & Bajaj, 2014; Costanian, Tamim, & Assaad, 2015; Chatila, Merhi, Hariri, Sabbah, &
Deeb, 2017; Siah et al., 2016)
Mục đích của bài nghiên cứu này là ước tính tỷ lệ hiện nhiễm và điều tra tác động của các vấn đề về vị trí địa lý, tình trạng kinh tế, trình độ học vấn là những đại diện cho các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến IBS, đặc tính về xã hội là một trong những biến thể có thể giúp giải thích sự biến đổi của IBS trong điều kiện kinh
tế xã hội khác nhau Bên cạnh đó, là các tác động thiên về đặc tính về tuổi, giới tính của từng cá nhân ảnh hưởng trực tiếp đến IBS Tiếp đến là vấn đề về hành vi như chế độ ăn, sử dụng rượu, thuốc lá ảnh hưởng đến IBS Như vậy, bài nghiên cứu sẽ xoay quanh 3 yếu tố chính có nhiều khả năng tác động lên tình trạng IBS: Kinh tế
xã hội, đặc tính cá nhân và hành vi của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu trên sẽ là tiền đề quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách, giới chuyên môn tìm ra nguyên nhân, đề ra giải pháp cũng như hướng can thiệp có hiệu quả để giảm nhanh tỷ lệ mắc IBS trong cộng đồng Để giải được bài toán trên, bài nghiên cứu cần làm rõ các câu hỏi sau: ((1) Những yếu tố nào tác động đến IBS? (2) Cần tập trung vào yếu tố nào sau kết quả nghiên cứu để giảm tỷ lệ mắc IBS và đưa
ra hướng can thiệp đúng đắn trong điều kiện nhân lực vật lực có giới hạn?
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập qua bảng câu hỏi liên quan đến các đặc tính cá nhân, kinh tế xã hội, hành vi và các câu hỏi chẩn đoán IBS theo tiêu chuẩn ROME III Bảng câu hỏi được nhóm nghiên cứu xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đó trên thế giới và Việt Nam Bảng câu hỏi được trực tiếp nghiên cứu viên hỏi đối
Trang 12tượng tham gia nghiên cứu tại Phòng khám Tiêu hóa – bệnh viện trường đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, với cách thu thập dự liệu này, nhóm nghiên cứu cho rằng
sẽ tiếp cận được với nhiều thành phần có yếu tố kinh tế xã hội, hành vi khác nhau,
từ đó bài nghiên cứu sẽ lấy được dữ liệu một cách tổng thể có ý nghĩa đại diện cho một dân số lớn
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Yếu tố tác động và xu hướng tác động của các yếu tố kinh tế xã hội, đặc tính cá nhân, hành vi đến IBS
- Đề ra giải pháp, hướng can thiệp để làm giảm tỷ lệ mắc IBS trong cộng đồng
3 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân đến khám tại phòng khám tiêu hóa bệnh viện trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh Đối tượng được lựa chọn ngẫu nhiên trong đó sẽ có đối tượng mắc IBS và không mắc IBS dựa trên chẩn đoán của bác sĩ lâm sàng tại bệnh viện Nhóm đối tượng sẽ có các yêu tố về kinh tế xã hội, hành vi, đặc điểm từng cá nhân đa dạng, đủ để đại diện cho đặc điểm dân số tại TP
Hồ Chí Minh và các vùng lân cận như Đồng Bằng sông Cửu Long và khu vực Đông Nam Bộ vì các đối tượng đến khám và điều trị là ở TP Hồ Chí Minh và các vùng lân cận Thời gian thực hiện nghiên cứu của nhóm nghiên cứu từ 15/04/2018 đến 15/05/2018
4 Ý nghĩa thực tiễn
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu (Alsuwailm, AL-Qahtani, AL-Hulaibi, & Shehabeldeen, 2017; Basandra & Bajaj, 2014; Costanian et al., 2015; Chatila et al., 2017; Siah et al., 2016) đưa ra được các yếu tố về hành vi, điều kiện kinh tế xã hội
và đặc tính của mỗi cá nhân tác động đến IBS (Chatila et al., 2017) Sở dĩ IBS được các nghiên cứu gia trên thế giới quan tâm nhiều cả ở những nước phát triển và đang phát triển là do tỷ lệ mắc IBS trong cộng đồng ngày càng tăng, chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong dân số (Canavan et al., 2014; Siah et al., 2016) Tại Việt Nam, cộng đồng vẫn chưa có nhiều thông tin cũng như đánh giá đúng về những tác động xấu của bệnh đến sức khỏe và sinh hoạt thường ngày vì chưa có nhiều nghiên cứu của giới chuyên gia về tác động của bệnh đến sức khỏe và sinh hoạt Mặc dù trên
Trang 13thực tế, đây là căn bệnh có thể nói đang diễn ra ngấm ngầm và ảnh hưởng rất nhiều đến bệnh nhân cả về sức khỏe thể chất lẫn tinh thần Do vậy, bài nghiên cứu này sẽ
là một bước cơ bản để hiểu rõ hơn về những yếu tố từ môi trường sống, hành vi cá nhân, đặc tính kinh tế và đặc điểm từng cá nhân tác động đến bệnh Hay nói cách khác là đánh giá lại những nhân tố tác động đến bệnh mà những nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện trong bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa của người Việt Nam Từ
đó, các nhà hoạch định chính sách về sức khỏe cộng đồng có cơ sỡ để đưa ra các chiến lược nhằm giảm thiểu mức độ phổ biến của bệnh, đưa ra những thông tin, lời khuyên cho những đối tượng đang mắc IBS Đối với các chuyên gia y học và
chuyên gia kinh tế, đây cũng là một bước cơ bản để có định hướng nghiên cứu, đánh giá tác động trên phạm vi rộng hơn, ở mức độ chi tiết hơn mà đặc biệt là đối với vấn đề kinh tế xã hội tác động đến bệnh
5 Cấu trúc luận văn
Bài nghiên cứu gồm 5 chương và các phần cụ thể trong mỗi chương như sau:
Chương 1: Phần mở đầu
Chương 1 nêu lên vấn đề cần nghiên cứu với phần đặt vấn đề từ đó đưa ra câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, bên cạnh đó cũng giải thích rõ hơn về ý nghĩa thực tiễn của bài nghiên cứu và cuối cùng là cấu trúc của bài
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và thực tiễn
Tổng quan bao gồm tổng quan về IBS, cơ sỡ lý thuyết nền cho bài nghiên cứu
và các nghiên cứu trong nước, trên thế giới có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu nêu các nội dung về khung phân tích, mô hình phân tích, thiết kế nghiên cứu, đưa ra cỡ mẫu, định nghĩa các biến liên quan và nêu ra phương pháp thống kê dùng trong nghiên cứu
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu trình bày về đặc điểm mẫu thu thập, đưa ra phần trăm bệnh nhân mắc IBS, đánh giá các nhân tố tác động đến bệnh cũng như xu hướng tác động của các yếu tố đó dựa trên phương pháp nghiên cứu định lượng
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 14Dựa vào kết quả nghiên cứu để kết luận, nêu ra hạn chế của nghiên cứu và đề xuất giải pháp, hàm ý chính sách của nghiên cứu
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
1 Tổng quan lý thuyết
1.1 Tổng quan về bệnh Hội chứng ruột kích thích (IBS)
IBS là một rối loạn chức năng mãn tính của hệ thống dạ dày-ruột Bệnh nhân
có các triệu chứng như đau bụng và thói quen ruột thay đổi, với các thể như chủ yếu
là tiêu chảy (IBS-D), chủ yếu là táo bón (IBS-C), hoặc thể hiện cả hai: tiêu chảy và táo bón (IBS-M) (Lekha Saha, 2014) Tùy thuộc vào các tiêu chuẩn chẩn đoán được
sử dụng, IBS ảnh hưởng đến khoảng 11% dân số trên toàn cầu (Canavan et al., 2014) Khoảng 30% những người gặp các triệu chứng của IBS sẽ diễn giải cho bác
sĩ hiểu vấn đề của họ Trên bình diện quốc tế, tỷ lệ hiện mắc của nữ giới chiếm ưu thế hơn (Canavan et al., 2014) Dưới 25% những người bị IBS ở độ tuổi trên 50 không có liên quan đến tình trạng kinh tế xã hội (Canavan et al., 2014) Ở đa số các nước phương Tây, tỉ lệ mắc IBS vào khoảng 20% trong khi đó ở châu Á, tỉ lệ này thay đổi từ 2.9% đến 15.6%, trong khi ở Anh quốc, tỉ lệ này chiếm 10-22% dân số
và có xu hướng ngày càng tăng, trong đó tỉ lệ nữ giới mắc bệnh cao gấp 2 lần nam giới (Canavan et al., 2014) Trong một nghiên cứu mới nhất về Hội chứng ruột kích thích của tác giả Tarek Mazzawi và cộng sự, 2017 tỷ lệ IBS chiếm 5-20% dân số thế giới Tại Châu Âu là 11,5%, 12,1% ở Canada, 4,7% tại Mỹ, 6,9% ở Úc, 34% ở
Ai Cập, 4% tại Ấn Độ và Trung Quốc từ 4,6-5,6% (Mazzawi & El-Salhy, 2017)
Theo Tổ chức Tiêu hóa thế giới (World Gastroenterology Organization, 2009), IBS ảnh hưởng tới 9-23 % dân số trên toàn thế giới và vẫn không giảm trong nhiều năm (L Saha, 2014) Tỷ lệ mắc IBS ở các nước có sự khác nhau đáng kể là
do sự khác biệt về lối sống và cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn chẩn đoán được sử dụng Tỷ lệ mắc IBS đang có xu hướng gia tăng ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt ở các nước có nền kinh tế đang phát triển Ở hầu hết các nước phương Tây, tỷ lệ mắc IBS là khoảng 20% trong khi đó ở châu Á, tỷ lệ này thay đổi
từ 2,9% đến 15,6% (Liu, Xiao, Zhang, & Yao, 2014) Còn ở châu Âu và Bắc Mỹ, tỷ
lệ này ước tính khoảng 10-15% Ở Anh quốc, tỷ lệ IBS chiếm 10-22% dân số và có
Trang 15xu hướng ngày càng tăng, trong đó tỷ lệ nữ giới mắc bệnh cao gấp 2 lần nam giới (Gastroenterology, 2006) Một nghiên cứu từ Venezuala cũng cho thấy sự khác biệt
về giới tính tương tự, trong 16,8% người mắc bệnh thì có 81,6% là phụ nữ và chỉ có 18,4% là nam giới (Veitia G, 2013) Theo nghiên cứu của Agarwal, et al (2011) (Agarwal & Spiegel, 2011), những người dưới 50 tuổi dễ mắc bệnh hơn những lớn tuổi hơn Theo S.H Kang (2011), IBS chiếm khoảng 28% những bệnh đường tiêu hóa và 12% trong những chăm sóc lâm sàng đầu tiên (Kang et al., 2011)
Hội chứng ruột kích thích là bệnh gây ra do sự kết hợp của 3 cơ chế: yếu tố tâm lý xã hội, thay đổi tính di động của ruột và/hoặc tăng sự nhạy cảm của ruột Căng thẳng tâm lý và thể chất làm tăng sự co thắt đại tràng đưa đến các biểu hiện về
triệu chứng của bệnh Phương pháp chuẩn đoán lần đầu tiên được Maning và cộng
sự công bố vào năm 1978 (Manning, Thompson, Heaton, & Morris, 1978) Sau đó tiêu chuẩn chẩn đoán được sửa đổi bổ sung qua thời gian, bao gồm tiêu chuẩn
ROME I, ROME II (Spiller, 2000) và gần nhất và đang được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới là tiêu chuẩn ROME III được công bố vào năm 2006 (Thompson, Drossman, Talley, Walker, & Whitehead III, 2006) Gần đây nhất tiêu chuẩn
ROME IV đã được xây dựng bởi Brian E Lacy năm 2016 (Lacy, 2016) Tuy nhiên trên lâm sàng, tiêu chuẩn ROME III vẫn là tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến nhất Tiêu chuẩn ROME III nói rằng bệnh nhân có triệu chứng đau bụng hoặc hoặc khó chịu xảy ra thường xuyên ít nhất 3 ngày/tháng trong vòng ít nhất 3 tháng, có xuất hiện ít nhất 2 tình trạng sau: cải thiện tình trạng sau khi đi vệ sinh; sự khỏi phát liên quan đến thay đổi số lần đjai tiện; sự khởi phát liên quan đến thay đổi hình dạng phân được Ngoài ra, bệnh nhân không có tổn thương thực thể đường tiêu hóa Các
yếu tố trên gộp lại có thể chẩn đoán bệnh nhân mắc IBS
Trang 16Bảng 2.1.1 Tóm tắt tiêu chuẩn chẩn đoán dùng để xác định IBS
Tiêu chuẩn chẩn đoán Triệu chứng, dấu hiện và nghiên cứu cấp độ phòng thí
nghiệm trong tiêu chuẩn Maning (1978) IBS được định nghĩa là xuất hiện các triệu chứng dưới
đây, tuy nhiên thời gian xuất hiện triệu chứng và số lượng triệu chứng cần có để chẩn đoán bệnh không được
đề cập trong bài báo Tuy nhiên, ngưỡng từ 3 triệu chứng được sử dụng nhiều nhất
Kruis (1984) IBS được xác định bởi mô hình hồi quy logistic, các triệu
chứng cần xuất hiện và lặp đi lặp lại trong hơn 2 năm Rome I (1990) Đau bụng hoặc khó chịu nhẹ khi đi vệ sinh, hoặc kết hợp
với sự thay đổi về tần số phân và sự nhất quán về hình dạng phân Cộng với ít nhất 2 triệu chứng sau đây trong
ít nhất 25% các trường hợp hoặc 25% số ngày trong 3 tháng:
Thay đổi tần số phân Hình dạng phân bị thay đổi Thay đổi trạng thái phân
Sự xuất hiện của chất nhầy trong phân Đầy hơi hoặc căng thẳng
Rome II (1999) Đau bụng hoặc khó chịu vùng bụng có hai trong ba triệu
chứng dưới đây trong 12 tuần (không cần phải liên tục) trong một năm qua:
- - Nhẹ nhõm khi đi vệ sinh
- - Khởi phát liên quan đến sự thay đổi tần suất phân
- - Khởi phát liên quan đến sự thay đổi hình dạng phân Rome III (2006) Đau bụng hoặc khó chịu xảy ra thường xuyên ít nhất 3
ngày/tháng trong vòng ít nhất 3 tháng, có xuất hiện ít nhất 2 tình trạng sau:
Trang 17- Cải thiện tình trạng sau khi đi vệ sinh
- Sự khởi phát liên quan đến thay đổi số lần đại tiện
- Sự khởi phát liên quan đến thay đổi hình dạng phân Rome IV (2016) Tình trạng đau bụng xảy ra thường xuyên, trung bình ít
nhất 1 ngày/tuần trong 3 tháng qua, liên quan đến hai hoặc nhiều tiêu chí sau:
- Liên quan đến việc đi tiêu
- Liên quan đến sự thay đổi tần số đi tiêu
- Liên quan đến sự thay đổi về hình thức (hình dạng) của phân
Dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán ROME III, IBS được chia thành 3 nhóm bệnh nhân: (1) IBS với triệu chứng táo bón là chủ yếu (IBS-C); (2) IBS với triệu chứng tiêu chảy là chủ yếu (IBS-D); (3) IBS hỗn hợp với cả 2 triệu chứng tiêu chảy và táo bón (IBS-M) Tùy thuộc vào từng loại IBS mà cách biểu hiện của mỗi bệnh nhân có thể khác nhau theo thời gian Dựa trên các báo cáo ca lâm sàng thì các triệu chứng như đau bụng, căng thẳng, đau cơ, sự cấp bách để đi tiêu, đầy hơi hoặc cảm giác ốm nặng là các biểu hiện phổ biến của bệnh Sự phức tạp và đa dạng trong triệu chứng của IBS làm cho việc điều trị trở nên khó khăn, mặc dù đã có những đánh giá và hướng dẫn điều trị IBS để làm giảm tối đa các triệu chứng bệnh (Lekha Saha, 2014)
Vì biểu hiện đặc điểm ở mỗi bệnh nhân khác nhau nên mối quan hệ khăn khít giữa bác sĩ và bệnh nhân để bác sĩ dễ dàng tiếp cận, nhìn nhận đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân góp phần điều trị hiệu quả và đạt được kết quả như kỳ vọng (Occhipinti
& Smith, 2012) Nhiều bệnh nhân mắc IBS đã phải điều trị y khoa trong nhiều năm với các chẩn đoán khác nhau vì thiếu sự quan tâm hoặc bị thất vọng sâu sắc bởi các bác sĩ điều trị Có thể đó là một sự kỳ thị của chính bệnh nhân tạo ra, đây được xem
là một thực thể bệnh tâm thần, hoặc do thiếu hụt các tiêu chuẩn chẩn đoán trên lâm sàng Một vài nghiên cứu y khoa đã hỗ trợ làm gia tăng sự tự tin của bệnh nhân
Trang 18thông qua việ lắng nghe bệnh nhân, giải thích chi tiết cho bệnh nhân về sinh lý bệnh, các biểu hiện tự nhiên của bệnh, cách quản lý bệnh và tiên lượng của bệnh (Owens, Nelson, & Talley, 1995) Việc điều trị IBS, cần kết hợp nhiều yếu tố từ biện pháp không dùng thuốc đến biện pháp dùng thuốc với mục tiêu hạn chế số lần, thời gian xảy ra triệu chứng đối với bệnh nhân Biện pháp điều trị không dùng thuốc như tập thể dục, thay đổi chế độ dinh dưỡng, điều trị tâm lý như thôi mien được đưa
ra trong nhiều nghiên cứu Cụ thể việc thay đổi chế độ dinh dưỡng được quan tâm nhiều và hướng dẫn mới nhất về chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân IBS được công
bố năm 2016 (McKenzie et al., 2016)
1.2 Cơ sỡ lý thuyết về kinh tế học của IBS
Để ước tính các yếu tố quyết định đến IBS, nghiên cứu áp dụng lý thuyết của Becker (1981) và lý thuyết của Grossman (1972) Theo Grossman (1972), vốn sức khoẻ là một thành tố của vốn con người Sức khoẻ được mỗi cá nhân yêu cầu vì sức khoẻ tham gia trực tiếp vào hàm lợi ích của mỗi cá nhân, nhưng cũng vì sức khoẻ xác định tổng thời gian có được dành cho những hoạt động thị trường và phi thị trường Mỗi cá nhân thừa hưởng một kho sức khoẻ ban đầu mất giá trị với thời gian nhưng có thể được tăng lên bằng việc đầu tư, sử dụng những dịch vụ chăm sóc y tế
và thời gian dành cho sức khoẻ Giáo dục làm tăng năng suất của đầu tư phi hàng hoá về sức khoẻ Mô hình của Becker (1981) giả định rằng tình trạng bệnh đối với mỗi cá thể khác nhau không phải là độc lập vì các yếu tố không quan sát được Tương tự, các đặc điểm cộng đồng không được quan tâm, chẳng hạn như vùng miền, hành vi, và hiện trạng về kinh tế xã hội – một trong những nhân tố quan trọng thể hiện khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và chế độ điều kiện cung cấp môi trường sống cho đối tượng tham gia nghiên cứu, có thể ảnh hưởng đến bệnh Do đó, mô hình được thể hiện như sau (Becker, 1981) (Grossman, 1972)
Trong đó: x1: Các đặc tính của đối tượng tham gia nghiên cứu như tuổi, giới tính, cân nặng lúc mới sinh
Hi = h(x1, x2, x3,, π)
Trang 19x2: Hành vi của đối tượng tham gia nghiên cứu
x3: Đặc tính kinh tế xã hội (hay nói cách khác là khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và chế độ điều kiện cung cấp môi trường sống cho đối tượng tham gia nghiên cứu)
µ: Sai số không quan sát được và giả định là không liên quan đến biến
x
(ví dụ: di truyền)
2 Lượt khảo các nghiên cứu thực tiễn
Nghiên cứu của Rajaa Chatila (2017) (Chatila et al., 2017) về tỷ lệ lưu hành IBS, các yếu tố nguy cơ có liên quan đến bệnh trong cộng đồng người trưởng thành tại Lebanon Dữ liệu được thu thập tại các ngân hàng ở Lebanon thông qua bảng câu hỏi về các yếu tố kinh tế xã hội hành vi liên quan đến IBS và câu hỏi chẩn đoán IBS theo tiêu chuẩn ROME III Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê Chi-square và hồi quy logistic để xác định yếu tố liên quan và xu hướng tác động của các yếu tố đến IBS Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ IBS trong mẫu nghiên cứu theo tiêu chuẩn ROME III là 20,1% Người dưới 30 tuổi, phụ nữ, người hút thuốc
lá, uống rượu có liên quan đáng kể đến sự phổ biến của IBS Phụ nữ có nguy cơ mắc IBS cao hơn 1,67 lần so với nam giới Người uống rượu có nguy cơ cao gấp đôi so với người không uống rượu
Một nghiên cứu khác tại Lebanon của tác giả Christy Costanian (2015)
(Costanian et al., 2015) khảo sát tỷ lệ mắc IBS và các yếu tố tác động đến bệnh trong cộng đồng sinh viên Lebanon Nghiên cứu cắt ngang này được tiến hành tại 5 trường đại học lớn ở Greater Beirut và vùng ngoại ô Trong thời gian 4 tháng nghiên cứu đã thu thập được số liệu của 813 sinh viên tuổi từ 18 trở lên thông qua việc hoàn tất bảng câu hỏi về dân số, nhân khẩu học, sức khỏe và lối sống liên quan đến bệnh cùng với bảng câu hỏi chẩn đoán bệnh dựa theo tiêu chuẩn ROME III Nghiên cứu sử dụng hồi quy logistic để đo lường các yếu tố nguy cơ Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ IBS chung là 20% trong cộng đồng sinh viên đại học Phụ nữ có tỷ lệ bệnh cao hơn nam giới, những sinh viên sống trong ký túc xá của trường hoặc sống trong khu nhà riêng có nhiều khả năng IBS cao hơn so với sinh viên sống chung nhà
Trang 20với gia đình Phân tích đa biến cho kết quả những người có mức thu nhập gia đình tương đối cao có khả năng bị IBS cao gấp 6 lần so với những nhóm đối tượng khác Nghiên cứu cắt ngang của Naeem và cộng sự năm 2012 (Naeem et al., 2012) trong cộng đồng sinh viên Y tại Karachi, Pakistan cho kết quả độ tuổi, sự lo lắng có tương quan đến IBS
Nghiên cứu của Buscail và cộng sự năm 2017 (Buscail et al., 2017), sử dụng kiểm định chi-square để tìm mối tương quan giữa các yếu tố tác động và IBS Dân
số nghiên cứu được lấy từ nghiên cứu Nutrinet – Santé, một nghiên cứu với quy mô lớn liên quan đến dinh dưỡng và sức khỏe với cỡ mẫu 44.350 đối tượng Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố giới tính, tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hút thuốc
lá có tương quan với IBS (P-value < 0,05)
Một nghiên cứu khác cũng trong cộng đồng sinh viên tại trường đại học King Abdulaziz, Jeddah (N K R Ibrahim, Battarjee, & Almehmadi, 2013) Với thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả và cở mẫu là 597 sinh viên y khoa, nghiên cứu cho thấy
sự phổ biến của nữ giới (41,8%) cao hơn so với nam giới (22%) IBS cũng cao hơn đáng kể trong số sinh viên độ tuổi từ 22 trở lên (X2 = 10,3; p < 0,001) Kết quả cũng cho thấy sinh viên kết hôn (40,2%) có tỷ lệ hiện nhiễm IBS cao hơn những người độc thân (30,9%) tuy nhiên không có khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Sinh viên có hoạt động thể chất (tập thể dục) có tỷ lệ IBS thấp hơn đáng kể so với các nhóm khác (OR=0.59; 95% CI: 0.42-0.85), béo phì và những sinh viên ngủ ít hơn 8h mỗi ngày có tần suất mắc IBS cao hơn các nhóm khác
Trong một nghiên cứu của Mansouri năm 2017, tập trung vào các yếu tố kinh
tế, xã hội có tác động đến IBS Dữ liệu nghiên cứu từ 1.850 đối tượng từ 15 tuổi trở lên từ Kish Island (Iran) Kết quả nghiên cứu cho thấy có 21,67% đối tượng mắc IBS Dùng mô hình hồi quy logistic đa biến cho kết quả các biến tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, sự lo âu và tình trạng sức khỏe yếu kém là các yếu tố tác động đến IBS Tỷ lệ và nguy cơ mắc IBS cao hơn ở những người có trình độ học vấn cao so với những người có trình độ học vấn thấp Điều này cũng tương tự như kết quả nghiên cứu của Ibrahim năm 2016 (N K Ibrahim et al.,
2016), mức độ phổ biến của IBS trong các y tá có trình độ đại học trở lên cao hơn
Trang 21nhóm còn lại Kết quả của Mansouri cũng cho thấy tỷ lệ IBS cao hơn ở những người thất nghiệp, đối tượng trong độ tuổi từ 26-50, đã ly dị, những người hay lo lắng và có trình độ học vấn từ trung học trở lên Một nghiên cứu khác của
Modabbernia cũng tại một tỉnh ở Iran, cho kết quả tỷ lệ mắc IBS cao hơn ở nhóm đối tượng thất nghiệp Trong một nghiên cứu về tác động của khủng hoảng kinh tế liên quan đến tình trạng thất nghiệp và sức khỏe Tác giả đưa ra nhận định thất nghiệp và mất nguồn thu nhập có thể dẫn đến sụt cân và gia tăng các hành vi có nguy cơ gây hại cho sức khỏe như uống rượu bia, hút thuốc lá nhiều hơn, giảm hoạt động thể chất Thất nghiệp còn làm giảm sức khỏe tâm thần với nhiều nguyên do như: mất lòng tự trọng, bi quan về tương lai (Urbanos-Garrido & Lopez-Valcarcel, 2015) Những yếu tốt vừa kể trên đều là những nhân tố làm tăng nguy cơ mắc IBS ở nhiều nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của Chowdhury năm 2018 nhằm đánh giá các yếu tố lối sống và kinh tế xã hội tác động đến phân nhóm IBS Trong nghiên cứu này, độ tuổi trung bình của đối tượng tham gia nghiên cứu là 32,3 (±10,32) tuổi và đa số người trả lời được kết luận mắc IBS là trong độ tuổi từ 20 đến 29 tuổi (43,3%) Kết quả này phù hợp với 1 nghiên cứu tương tự tại Banglades (Perveen, Hasan, Masud, Bhuiyan, & Rahman, 2009) Nghiên cứu đã đề cập tuổi trung bình của bệnh nhân IBS là 32,18 (±12,98) và đa số các trường hợp IBS nằm trong nhóm tuổi 15 – 44 tuổi Farzaneh
và cộng sự cũng tìm thấy tuổi trung bình của bệnh nhân IBS là 33,9 (± 11,8) trong nghiên cứu của họ (Farzaneh, Ghobakhlou, Moghimi-Dehkordi, Naderi, & Fadai, 2012) Nghiên cứu tiếp theo về IBS đề cập đến tuổi tác là nghiên cứu của
(Mansouri, Rarani, Fallahi, & Alvandi, 2017) Kết quả thống kê cho thấy tỷ lệ mắc IBS ở nhóm 26-50 tuổi và nhóm trên 50 tuổi cao hơn nhóm 15-25 tuổi Trong một nghiên cứu khác, Ibrahim và cộng sự (N K Ibrahim et al., 2016) nguy cơ mắc IBS cao hơn ở những người trên 30 tuổi so với nhóm từ 30 tuổi trở xuống Một số
nghiên cứu khác cũng cho kết quả về sự tương quan của IBS với tuổi tác: Costanian
và cộng sự đã trình bày một kết quả với OR=1,89 giữa nhóm 18-22 tuổi mắc IBS so với nhóm trên 22 tuổi (Costanian et al., 2015); Siah và cộng sự cho kết quả quan sát
tỷ lệ IBS cao nhất trong nhóm từ 21-30 tuổi và có xu hướng giảm nguy cơ mắc IBS
Trang 22ở nhóm trên 60 tuổi Trái ngược với các kết luận trên, nghiên cứu của Qureshi cho kết luận không có mối liên quan gì giữa tuổi tác và IBS (Qureshi et al., 2016) Một nghiên cứu khác của Ligaarden, với biến tuổi là biến liên tục, cho kết quả có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về độ tuổi trung bình giữa nhóm mắc IBS và nhóm không mắc IBS (Ligaarden, Lydersen, & Farup, 2012) Tuy nhiên lại không có xu hướng tác động cụ thể khi mô hình hồi quy đa biến của nghiên cứu cho kết quả mối liên quan giữa biến tuổi và IBS không có ý nghĩa thống kê
Tác động chính xác của giới về tỷ lệ mắc của IBS chưa rõ ràng, một vài nghiên cứu đưa ra sự khác biệt về tỷ lệ hiện mắc trong sinh viên y khoa giữa nam và nữ Ví
dụ, một nghiên cứu báo cáo rằng phụ nữ có tần suất IBS cao hơn nam giới với tỷ lệ 2:1 (Wells, Roth, McWilliam, Thompson, & Chande, 2012) Một nghiên cứu khác được tiến hành tại Pakistan với 360 sinh viên y khoa đã phát hiện ra rằng phụ nữ có
sự gia tăng đáng kể về IBS khi so sánh với các bạn của mình (Naeem et al., 2012) Ngoài ra, một nghiên cứu của Ấn Độ trong số các sinh viên y khoa đã báo cáo rằng phụ nữ có liên quan đến tỷ lệ IBS cao hơn (Basandra & Bajaj, 2014) Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hiện mắc IBS cao hơn trong số các nữ sinh viên liên quan đến sự thiên vị giới tính của căn bệnh với đặc điểm xã hội và hành vi chăm sóc sức khoẻ của họ Ngoài ra, thêm các triệu chứng IBS cho những phiền toái gặp phải trong chu
kỳ kinh nguyệt cũng có thể giải thích số phụ nữ mắc chứng IBS cao hơn
(Triadafilopoulos, Finlayson, & Grellet, 1998) Mặc khác, các nghiên cứu cho thấy
tỉ lệ mắc IBS cao hơn ở nam giới đề cập đến hàng rào văn hoá là yếu tố có thể giới hạn sinh viên nữ báo cáo căn bệnh này (Jafri, Yakoob, Jafri, Islam, & Ali, 2005)
Sự chênh lệch ở tỷ lệ mắc IBS cũng được thể hiện qua tình trạng hôn nhân của đối tượng tham gia nghiên cứu trong nghiên cứu của Mansouri (Mansouri et al., 2017) Nghiên cứu cho thấy nguy cơ mắc IBS cao hơn ở nhóm đối tượng đã ly dị và độc thân so với đối tượng đã kết hôn Kết quả cũng tương đồng với một nghiên cứu khác (Ahmed, Mohamed, Sliem, & Eldein, 2011) Theo Ahmed, nguy cơ mắc IBS cao hơn ở nhóm độc thân và li dị có thể là do yếu tố trách nhiệm và áp lực trong nhóm này gánh chịu cao hơn nhóm đã lập gia đình
Trang 23Một nghiên cứu về tỷ lệ mắc IBS ở thành thị và nông thôn nước Ý (Usai et al., 2010) Nghiên cứu gồm 950 đối tượng cho mỗi nhóm ở thành thị và nông thôn, các đối tượng sẽ được chọn ngẫu nhiên và trả lời một bộ câu hỏi liên quan đến điều kiện kinh tế xã hội và bảng câu hỏi theo tiêu chuẩn ROME II để chẩn IBS Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc IBS cao hơn hẳn ở thành thị so với nông thôn có ý nghĩa thống kê Đây là một nghiên cứu nền tảng và có nhiều ý nghĩa cho các nghiên cứu khác, làm tiền để để đánh giá sự khác biệt có thể có về tần suất IBS khi điều kiện sống, sinh hoạt và chế độ ăn uống khác nhau Các nghiên cứu dân số trước đây
ở Malaysia, sử dụng tiêu chí chẩn đoán (Rome II) đã cho thấy sự khác biệt đáng kể
về tỷ lệ rối loạn tiêu hóa không được điều trị giữa các cộng đồng nông thôn và thành thị (Mahadeva, Yadav, Everett, & Goh, 2011)
Hút thuốc lá được xem là một trong những yếu tố làm tăng tỷ lệ mắc IBS Do vậy, có nhiều nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu về vấn đề này, kết quả nghiên cứu cũng đưa ra 2 ý kiến trái chiều, hút thuốc lá có và không có tương quan với tỷ lệ mắc IBS Theo nhận định của Laura Sirri và cộng sự trong bài nghiên cứu tổng quan hệ thống về hút thuốc lá và IBS (Sirri, Grandi, & Tossani, 2017) Ông đưa ra nhận định, việc các nghiên cứu có kết quả trái chiều nhau, sự thiếu sót khác nhau trong mỗi bài nghiên cứu có thể cản trở tính tổng quát và sự so sánh các giả thuyết trong bài nghiên cứu Việc nhất quán trong tuyển dụng bệnh nhân trong các nghiên cứu lâm sàng, đặc biệt là vấn đề chăm sóc sức khỏe ban đầu là cần thiết để đánh giá vai trò của hút thuốc lá đối với IBS Các bài nghiên cứu liên quan giữa hút thuốc lá
và IBS cụ thể trong bảng dưới đây:
Trang 24Bảng 2.1 Các nghiên cứu tác động giữa hút thuốc lá và IBS Nghiên cứu Quốc gia Thiết kế NC Cỡ mẫu Kết quả
122 nam giới (47,5%, n=58 mắc IBS và 52,5% không mắc bệnh)
Số liệu lấy từ phòng khám tiêu hóa
Hút thuốc lá có tác động đến IBS trong nhóm đối tượng là phụ nữ (OR=6,19, 95%CI[1,03;37,19], p = 0,04)
Hút thuốc không có tác động đến IBS trong nhóm nam giới (OR = 1,52; 95%
CI [0.54, 4.23])
(Jung et al., 2014) Hàn Quốc NC cắt ngang 102 bệnh nhân sau khi
nằm viện trung bình
34 tháng do viêm ruột thừa cấp tính (12,7%, n=13 mắc IBS)
Thời điểm khảo sát (OR D 0.80, 95% CI[0.03, 23.47]), thời điểm trước đó (OR D 3.36, 95% CI [0.08, 94.44] hút thuốc lá không có liên quan chặt với IBS
Trang 25(Y Y Lee, Waid,
Tan, Chua, &
Whitehead, 2012)
Malaysia NC cắt ngang 221 đối tượng từ cộng
đồng (10.9%, n = 24, mắc IBS)
Hút thuốc lá không có tác động tới IBS
(S P Lee et al.,
2015)
Hàn Quốc NC cắt ngang 20.758 đối tượng
thông qua kiểm tra sức khỏe (26.8%, n = 5,566, mắc IBS)
Hút thuốc có tác động đến IBS (OR = 1.15, 95% CI [1.06,1.26], p = 0.001)
(Nam, Kim, Ryu, &
Park, 2010)
Hàn Quốc NC cắt ngang 4.296 đối tượng trong
chương trình tầm soát sức khỏe 4,296 (9.1%,
Hút thuốc lá không có tác động đến IBS (OR = 1.18, 95%CI [0.54, 2.61])
Tại thời điểm khảo sát, hút thuốc lá có liên quan đáng kể đến IBS (OR = 4.24, 95%CI [1.92, 9.32], p < 0.05)
Trang 26phòng khám tiêu hóa (51.9%, n = 68, mắc IBS)
Trong khi khảo sát ở thời điểm trước
đó thì không có tương quan (OR = 1,71, 95%CI[0.73,4.02]
Trang 27Mối tương quan giữa rượu bia và IBS là không nhất quán trong các nghiên cứu liên quan Một số nghiên cứu cho kết quả không có mối tương quan giữa uống rượu
và hút thuốc (Reding, Cain, Jarrett, Eugenio, & Heitkemper, 2013), ở một hướng khác, các nghiên cứu lại cho kết luận uống rượu bia có mối liên quan với IBS Nghiên cứu của Chatila về các yếu tố tác động đến IBS trong cộng đồng người dân Lebanon, dùng hồi quy logistic để kiểm định giả thuyết, kết quả tỷ lệ đối tượng mắc IBS ở nhóm uống rượu bia cao hơn nhóm không uống có ý nghĩa thống kê (Chatila
et al., 2017) Nghiên cứu của Ligaarden cũng cho kết quả tương tự (Ligaarden et al., 2012) Do đó, cần nhiều nghiên cứu hơn nữa để tiếp cận và kiểm định mối liên hệ giữa rượu bia và IBS
Mặc dù trong lĩnh vực y khoa, café được xem là thức uống gây hại cho đường tiêu hóa, nhiều acid trong hạt café có thể gây kính ứng dạ dày và niêm mạc ruột non Uống cà phê khi dạ dày trống rỗng có thể kích thích dạ dày tăng tiết axit Uống
cà phê cũng có thể gây kích ứng niêm mạc ruột non, gây tiêu chảy, hội chứng ruột kích thích Trong các bảng hướng dẫn về thay đổi lối sống để cải thiện triệu chứng cho bệnh nhân IBS, đặc biệt là hướng dẫn gần đây của tác giả Mc Kenzie đưa ra đề xuất hạn chế uống café đối với bệnh nhân mắc IBS để giảm triệu chứng của bệnh (McKenzie et al., 2016) Nhưng các nghiên cứu về nhân tố tác động đến IBS lại cho kết quả trái ngược: Nghiên cứu của Siah tại Singapore đưa ra kết luận café có tương quan đến IBS, tuy nhiên đối tượng không uống café có tỷ lệ mắc IBS cao hơn đối tượng còn lại có ý nghĩa thống kê (Siah et al., 2016) Một nghiên cứu khác tại Thỗ Nhĩ Kỳ cho kết quả ở nam giới 24,6% đối tượng mắc IBS uống café hàng ngày so với 38,8% nam giới không mắc IBS có ý nghĩa thống kê (p=0,04) (Baysoy et al., 2014) Các nghiên cứu về tác động của café đến IBS vẫn chưa nhiều và chưa có lời giải thích cho tác động trên từ kết quả của 2 nghiên cứu được đề cập
Trong một nghiên cứu của Ligaarden và cộng sự về chế độ ăn uống đối với bệnh nhân IBS, nghiên cứu cắt ngang trong cộng đồng dân cư với cỡ mẫu 4.621 đối tượng Nghiên cứu sử dụng kiểm định kiểm định Mann-Whitney U, Chi-square, và hồi quy logistic Kết quả cho thấy đối tượng mắc IBS có lượng tiêu thụ đồ uống có gas cao hơn đáng kể so với đối tượng không mắc IBS Phân tích đa biến cũng cho
Trang 28thấy lượng tiêu thụ nước có gas cao hơn ở đối tượng mắc IBS so với đối tượng không mắc IBS có ý nghĩa thống kê (OR = 1,07; 95%CI(1,01;1,14); p = 0,023) (Ligaarden et al., 2012) Ở góc độ Y khoa, nước có gas sau khi uống sẽ đi vào ruột non và đại tràng Tại đây, lượng lớn carbonhydrate có trong nước có gas làm tăng tác dụng thẩm thấu kéo nước vào ruột Thêm vào đó, chúng còn cung cấp chất nền cho quá trình lên men vi khuẩn và tăng quá trình sản xuất khí trong ruột, dẫn đến đầy hơi và đau bụng – một trong những triệu chứng của IBS (El-Salhy &
Gundersen, 2015)
Nghiên cứu của Lim và cộng sự (2017) (Lim et al., 2017) về sự liên quan giữa chất lượng giấc ngủ và mức độ căng thẳng của các bác sĩ trực ca 24h với các bệnh đường tiêu hóa trong đó có IBS Dựa trên dữ liệu cắt ngang bằng cách sử dụng bộ câu hỏi ROME III để chẩn đoán IBS và bộ câu hỏi về điểm chất lượng giấc ngủ (PSQI) Cỡ mẫu gồm 170 bác sĩ trực ca 24h tại bệnh viện Kết quả cho thấy có 28/170 bác sĩ mắc IBS, chất lượng giấc ngủ kém là một trong những yếu tố dự báo cho IBS Ngoài ra kết quả nghiên cứu còn cho thấy bác sĩ nữ có tỷ lệ mắc IBS cao gấp 2,33 lần so với nam giới, những bác sĩ làm việc ít vận động di chuyển có tỷ lệ mắc IBS cao hơn các nhóm còn lại 4,17 lần Nghiên cứu của Ibrahim năm 2013 đưa
ra kết luận học sinh ngủ dưới 8h/ngày có tỷ mắc IBS cao hơn nhóm học sinh ngủ từ 8h/ngày trở lên (N K R Ibrahim et al., 2013) Một nghiên cứu khác cũng cho thấy đối tượng bị IBS có tỷ lệ mắc IBS cao hơn nhóm đối tượng khác (Al-Turki et al., 2011)
Tại Iran, có nhiều nghiên cứu về các yếu tố tác động đến IBS ở nhiều vùng khác nhau Trong đó, nghiên cứu của Mansouri năm 2017 (Mansouri et al., 2017) tập trung tìm hiểu về tỷ lệ mắc IBS cao Điều này được cho là do điều kiện sống đặc biệt của người dân trên đảo Kish Khẳng định trên được chứng minh bởi một nghiên cứu của Modabbernia (Modabbernia et al., 2012), kết quả nghiên cứu này cho thấy những đối tượng có dấu hiệu lo âu thì được xác định là một yếu tố nguy cơ gây mắc IBS Điều này phù hợp với điều kiện sống của người dân trên đảo Kish khi họ phải tiếp xúc với nhiều yếu tố khác nhau như thời gian làm việc dài và thiếu việc làm ổn
Trang 29định Như vậy nghiên cứu cho thấy được tầm quan trọng của điều kiện sống, cụ thể
là vấn đề về tâm lý tác động đến IBS
Bằng chứng từ các nghiên cứu trước đó nói lên tác động giữa mức độ căng thẳng với IBS Một bài nghiên cứu được công bố vào năm 2012 (Surdea-Blaga, Băban, & Dumitrascu, 2012) cho kết quả có sự gia tăng đáng kể mức độ căng thẳng giữa đối tượng không mắc IBS và bệnh nhân IBS, và có các triệu chứng căng thẳng thưởng xuyên trong 38 tuần trước khi bắt đầu có triệu chứng IBS (một thành viên rời khỏi nhà hay chấm dứt một mối quan hệ nghiêm túc, vợ chồng li dị) Một số nghiên cứu cũng cho thấy xuất hiện sớm các sự kiện bất lợi trong cuộc sống có liên quan đến IBS (Bradford et al., 2012; Chang, 2011) Ở bệnh nhân, sự xuất hiện của IBS thường liên quan đến những chấn thương cuộc sống ban đầu và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống liên quan đến chất lượng cuộc sống (Chang, 2011) Những nghiên cứu này đề xuất rõ ràng rằng các yếu tố tâm lý hoặc tâm lý học quyết định
sự phát triển của IBS Đồng thời, có một số bằng chứng mâu thuẫn về mối quan hệ giữa stress và mức độ nghiêm trọng của IBS Trong bài đánh giá của mình, Surdea-Blaga và cộng sự (Surdea-Blaga et al., 2012) đã cho thấy căng thẳng trong cuộc sống có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng đau bụng và gây bệnh cho một phần ba số bệnh nhân IBS Ngược lại, Blanchard và cộng sự (Blanchard et al., 2008; Farzaneh et al., 2012) cho thấy mối quan hệ giữa căng thẳng và các triệu chứng IBS là một nghịch đảo, không phải là nhân quả, mối quan hệ sau khi nghiên cứu 254 bệnh nhân IBS điều trị trong 4 tuần Trong một nghiên cứu cắt ngang khác của Farzaneh và cộng sự trên 153 bệnh nhân IBS (Farzaneh et al., 2012) không thấy
sự khác biệt trong hồ sơ tâm lý có ý nghĩa thống kê
Trang 30Từ các nghiên cứu trên, có thể tóm tắt tác động của các yếu tố liên quan đến IBS trong bảng 2.2 sau:
Bảng 2.2: Những yếu tố ảnh hưởng đến IBS Yếu tố Tác giả Tác động
+
Giới tính (nữ) (Alsuwailm et al., 2017; Basandra & Bajaj,
2014; Costanian et al., 2015; Chatila et al., 2017; N K R Ibrahim et al., 2013)
Hút thuốc (Chatila et al., 2017; Farzaneh et al., 2012; Hsu
et al., 2015; S P Lee et al., 2015; Y Y Lee et al., 2012)
+
Không uống cà phê (Baysoy et al., 2014; Siah et al., 2016) +
Trang 31Ghi chú: (+) Tăng nguy cơ mắc IBS
(-) Giảm nguy cơ mắc IBS
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Trang 32CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Khung phân tích
Khung phân tích gồm 3 nhóm chính tác động đến tình trạng IBS thông qua
dữ liệu đánh giá IBS theo tiêu chuẩn ROME III (dựa vào kết quả chẩn đoán của bác
sĩ tại phòng khám tiêu hóa bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh 3 nhóm
chính gồm: Hành vi, đặc tính của đối tượng tham gia, và đặc tính về kinh tế xã hội
Nguồn: Đề xuất của tác giả
Hình 3.1: Các yếu tố tác động đến bệnh Hội chứng ruột kích thích
2 Mô hình phân tích
Mô hình phân tích của bài nghiên cứu được xây dựng dựa trên tham khảo các nghiên cứu liên quan trước đó: Nghiên cứu của Siah (Siah et al., 2016) về tỷ lệ mắc IBS ở Singapore và các yếu tố chế độ ăn, lối sống, môi trường tác động đến IBS, dùng kiểm định chi-square và kiểm định Fisher’s exact để tìm mối tương quan giữa các yếu tố đến IBS Sau đó, các biến có P value < 1 được đưa vào mô hình hồi quy logistic Ngoài ra, 2 bài nghiên cứu của Ibrahim vào năm 2013 và 2016 cũng sử dụng mô hình hồi quy logistic đa biến để dự đoán tác động của các yếu tố đến IBS Các giá trị có P-value < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu tỷ lệ mắc IBS và các yếu tố tác động đến IBS trong cộng đồng sinh viên Lebanon
(Costanian et al., 2015), nghiên cứu của Mansouri ở Iran (Mansouri et al., 2017) cũng đưa ra mô hình phân tích cho bài nghiên cứu dựa vào hai kiểm định chính:
Trang 33Chi-square để tìm mối liên hệ giữa IBS và các yếu tố liên quan Mô hình hồi quy logistic để kiểm định xu hướng tác động của các yếu tố tác động đến IBS
Trong nghiên cứu này, qua việc tham khảo các nghiên cứu trên, chúng tôi xây dựng biến phụ thuộc trong mô hình là có hoặc không có mắc IBS Việc xác định có hay không mắc IBS được bác sĩ tại phòng khám tiêu hóa, bệnh viện trường Đại Học
Y Dược TP Hồ Chí Minh chẩn đoán theo tiêu chuẩn ROME III Các biến độc lập là những biến thể hiện đặc tính của đối tượng tham gia (tuổi, giới tính), hành vi của đối tượng tham gia (hút thuốc, uống rượu, hoạt động thể chất, tình trạng dung nạp với thực phẩm), đặc tính kinh tế xã hội (dân tộc, tình trạng kinh tế, trình độ học vấn, khu vực sinh sống, nghề nghiệp) Nghiên cứu dùng kiểm định Chi-square để đánh giá sự tương quan giữa các đặc tính cá nhân, kinh tế xã hội, hành vi của đối tượng tham gia nghiên cứu với IBS Tiếp theo, nghiên cứu sẽ dùng phân tích hồi quy logistic để xem xét các yếu tố (biến độc lập) làm tăng nguy cơ mắc IBS (Dùng hồi quy stepwise thuận) Dựa vào giá trị p-value và hệ số OR (Odd ratio) để biện giải kết quả
Mô hình phân tích được viết như sau:
Trong đó:
Y: biến phụ thuộc phản ánh tình trạng IBS (IBS, non-IBS), Y thuộc dạng biến nhị phân trong phường trình hồi quy logistic
Xki: Các biến độc lập, là các yếu tố có khả năng tác động đến IBS
Từ mô hình chung trên, chúng tôi xây dựng mô hình hồi quy logistic cụ thể cho bài nghiên cứu: Biến phụ thuộc trong bài nghiên cứu là biến nhị phân (mắc IBS
= 1, không mắc IBS = 0), sử dụng mô hình hồi quy binary logistic để dự đoán xác suất xảy ra của một biến cố dựa vào thông tin các biến độc lập đã có trong mô hình
Phương trình hồi quy Binary logistic
Yi = β0 + ∑βkXki + µi
Trang 34Trong đó:
P(Y=1) = P0: Xác suất xảy ra sự kiện Trong bài này là xác suất mắc IBS P(Y=0) = 1-P0: Xác suất không xảy ra sự kiện Trong bài này là xác suất không mắc IBS
Như vậy, xác suất P cũng là một hàm số theo Odds Nếu P là xác suất xảy ra
sự kiện, thì 1-P là xác suất không xảy ra sự kiện, xác suất P được đo lường như sau:
Odds của 2 trường hợp trên là:
Trang 35Lấy log cơ số e của Odds ta được dạng hàm mô hình hồi quy logisti
Với Xi (i = 1,k): là các biến độc lập
Mô hình Hồi quy logistic được sử dụng để đo lường xác suất mắc IBS hay không Biến phụ thuộc về IBS được xác định dựa trên chẩn đoán của bác sĩ điều trị tại phòng khám Tiêu hóa – bệnh viện trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh Dựa vào lý thuyết vốn sức khỏe của Becker và Grossman, các đặc điểm cộng đồng như vùng miền, hành vi, hiện tượng về kinh tế xã hội là những nhân tố tạo nên điều kiện cung cấp môi trường sống cho đối tượng tham gia nghiên cứu Các nghiên cứu liên quan cũng chứng những nhân tố tác động đến IBS Do vậy các biến liên quan đến đặc điểm cộng đồng được đưa vào mô hình, cụ thể như sau: Giới tính, thu nhập, trình độ học vấn, khu vực sinh sống, nghề nghiệp, hút thuốc, uống rượu bia, cà phê, hoạt động thể chất, mức độ căng thẳng, các đồ uống có gas, thức khuya để tìm hiểu
kỹ về xu hướng tác động của các yếu tố đến IBS
Để thực hiện mô hình hồi quy, cần kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến Trong
mô hình hồi quy, nếu các biến độc lập có tương quan chặt, mạnh với nhau thì sẽ có hiện tượng đa cộng tuyến, đó là hiện tượng các biến độc lập trong mô hình phụ thuộc lẫn nhau và thể hiện được dưới dạng hàm số Nói cách khác là hai biến độc lập có quan hệ rất mạnh với nhau, đúng ra hai biến này phải là một biến, nhưng thực
tế trong mô hình lại tách thành 2 biến Hiện tượng đa cộng tuyến vi phạm giả định của mô hình hồi quy là các biến độc lập không có mối quan hệ với nhau Dùng hệ
số ma trận tương quan để kiểm tra đa cộng tuyến Hệ số ma trận tương cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình
Sau khi khắc phục hiện tượng đa cộng tuyến, mô hình hồi quy logistic có dạng như sau:
Trang 36LnO 0 = β 0 + β 1 Tuoi + β 2 Gioitinh + β 3 Honnhan + β 4 Khuvuc + β 5 Thunhap + β 6 Hocvan + β 7 Nghenghiep + β 8 Hutthuoc + β 9 Ruoubia + β 10 Cafe +
β 11 Nuoccogas + β 12 Thoigianngu + β 13 Vandong + β 14 Cangthang + ε
Kết quả hồi quy Binary logistic có ý nghĩa nếu hệ số của các biến mang dấu dương, thì khi các yếu tố (biến) này tăng thêm 1 đơn vị sẽ làm tăng xác suất mắc bệnh của bệnh nhân IBS và ngược lại
Biến Tuoi là biến định danh đại diện cho mức tuổi của đối tượng tham gia
nghiên cứu, tuổi được chia thành các nhóm sau: Từ 20 tuổi trở xuống; 21 – 30 tuổi;
31 – 40 tuổi; 41 – 50 tuổi; 51 – 60 tuổi; trên 60 tuổi
Biến Gioitinh là biến nhị phân đại diện cho giới tính của đối tượng tham gia
nghiên cứu nhận hai giá trị nam và nữ
Biến Honnhan là biến nhị phân, đại diện cho tình trạng đã có gia đình hoặc
chưa có gia đình của đối tượng tham gia nghiên cứu
Biến Khuvuc đại diện cho khu vực sinh sống của đối tượng tham gia nghiên
cứu Biến khuvuc là biến nhị phân Thành thị là đối tượng sống trong các thị trấn, thị xã, thành phố Nông thôn là các đối tượng sống ở ấp, xã, khóm
Biến Dantoc là biến nhị phân đại diện cho dân tộc của đối tượng tham gia
nghiên cứu Biến dân tộc có 2 giá trị: dân tộc kinh và dân tộc khác
Biến Thunhap là biến nhị phân đại diện cho mức thu nhập của đối tượng
tham gia nghiên cứu Chia làm 2 cấp độ: thu nhập dưới 10 triệu và thu nhập từ 10 triệu trở lên
Biến HV là biến định danh đại diện cho trình độ học vấn của đối tượng tham
gia nghiên cứu, biến HV nhận các giá trị: tốt nghiệp THCS, tốt nghiệp THPT, từ
CĐ trở lên
Nghenghiep là biến định danh đại diện cho nghề nghiệp của đối tượng tham
gia nghiên cứu Nghề nghiệp được nhóm nghiên cứu phân thành 6 nhóm dựa trên những đặc tính khác nhau của mỗi nhóm: Học sinh – sinh viên, nông dân, công nhân, nhân viên văn phòng, buôn bán, hưu trí, thất nghiệp
Trang 37Các yếu tố liên quan đến hành vi, lối sống của đối tượng tham gia nghiên cứu là: hút thuốc, uống rượu bia, mức độ vận động, uống nước có gas, uống cafe và thời gian ngủ
Hutthuoc là biến nhị phân đại diện cho tình trạng có hoặc không có hút
thuốc của đối tượng tham gia nghiên cứu Hút thuốc nhận 2 giá trị: có hoặc không
có hút thuốc
Ruoubia là biến định danh, đại diện cho mức độ uống rượu bia của nhóm
đối tượng tham gia nghiên cứu Rượu bia được xem là thức uống có tính gây
nghiện Tuy nhiên trên thực tế không phải đối tượng nào uống cũng bị nghiện Do
đó, chúng tôi phân làm 3 cấp độ cho các yếu tố này: Hoàn toàn không uống; thỉnh thoảng uống là trường hợp đối tượng không bị nghiện các loại thức uống này mà chỉ uống trong một số tình huống nhất định; thường xuyên uống đối với đối tượng bị nghiện (uống hằng ngày)
Cafe là biến định danh đại diện cho mức độ uống cafe của đối tượng tham
gia nghiên cứu Mức độ uống cafe được chia làm 3 cấp độ: không uống, thỉnh
thoảng, thường xuyên vì cafe cũng được xem là thức uống có tính gây nghiện
Nuoccogas là biến định danh, đại diện cho mức độ uống nước có gas của
nhóm đối tượng tham gia nghiên cứu Mức độ uống nước có gas cũng được chia làm 3 cấp độ như trên: không uống, thỉnh thoảng, thường xuyên
Thoigianngu là biến nhị phân đại diện cho thời gian ngủ mỗi ngày của đối
tượng tham gia nghiên cứu Biến thoigianngu nhận 2 giá trị: ngủ ít hơn 8 tiếng và ngủ từ 8 tiếng trở lên
Vandong là biến nhị phân đại diện cho mức độ vận động của đối tượng tham
gia nghiên cứu Đối tượng tham gia có tập thể dục ít nhất 3 lần 1 tuần và ít nhất 30 phút/lần được xem là thường xuyên tập thể dục, đối tượng còn lại được xem là hiếm khi tập thể dục
Mucdocangthang là biến định danh được chỉ mức độ căng thẳng của bệnh
nhân được chia làm 3 cấp độ: ít căng thẳng, thỉnh thoảng căng thẳng và thường xuyên căng thẳng Mức độ căng thẳng là căng thẳng về mặt tâm lý xã hội
(spychosocial stressor), nghiên cứu của Surdea-Blaga (Surdea-Blaga et al., 2012)
Trang 38nêu ra các biểu hiện của căng thẳng là: gặp những rắc rối thường ngày, gặp những
sự kiện lớn trong cuộc sống (ly hôn, thất nghiệp, con cái hoặc một người thân thiết qua đời) ngoài ra còn có các sự kiện lớn của xã hội tác động đến đối tượng
β0 là hệ số cắt
µi là phần dư của mô hình