Do vậy, chính sách tỷ giá hối đoái có thể hiểu là: Những hoạt động can thiệp có chủ đích của Ngân hàng Trung ương thông qua một chế độ tỷ giá nhất định và hệ thống các công cụ can thiệp
Trang 1Chương I Những vấn đề chung của tỷ giá hối đoái.
1.1.Khái niệm và vai trò.
1.1.1.Khái niệm.
Tỷ giá hối đoái theo Krugman và các cộng sự là giá của một đồng tiền tính theo một đồng tiền khác Đó chính là tỷ lệ mà tại đó một đồng tiền được sử dụng
để đổi lấy đồng tiền khác, cụ thể là số lượng ngoại tệ được dùng để mua một đồng tiền nội tệ hoặc là chi phí tính bằng đồng tiền nội tệ để mua một đơn vị ngoại tệ Luận án sử dụng cách yết giá đồng ngoại tệ tính theo số đơn vị nội tệ, tức là tỷ giá tăng sẽ khiến nội tệ mất giá còn ngoại tệ lên giá (và ngược lại) Riêng đối với trường hợp tính toán truyền dẫn biến động tỷ giá đến các mức giá nhập khẩu ở cấp
độ vi mô, cách yết giá đồng nội tệ tính theo số đơn vị ngoại tệ được sử dụng
Thuật ngữ “chính sách tỷ giá hối đoái” (exchange rate policy), cho đến nay, không còn xa lạ trong các nghiên cứu liên quan đến tài chính quốc tế, tuy nhiên chưa có một khái niệm chính thức nào về chính sách tỷ giá được đưa ra Mặc dù vậy, các nghiên cứu đều khá đồng thuận khi cho rằng việc điều hành tỷ giá là một bộ phận trong chính sách tiền tệ nói riêng, các chính sách kinh tế vĩ mô nói chung cho nên khái niệm, mục tiêu, nội dung của chính sách tỷ giá phải nhất quán với các chính sách kinh tế
Do vậy, chính sách tỷ giá hối đoái có thể hiểu là: Những hoạt động can thiệp có chủ đích của Ngân hàng Trung ương thông qua một chế độ tỷ giá nhất định và
hệ thống các công cụ can thiệp để tác động tới cung cầu trên thị trường ngoại hối nhằm đạt được những mục tiêu đề ra
Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối đoái chú trọng vào hai vấn đề lớn: Lựa chọn chế
độ tỷ giá và điều chỉnh tỷ giá thông qua hệ thống công cụ can thiệp phù hợp
1.1.2.Vai trò.
- Vai trò so sánh sức mua của các đồng tiền : Thông qua vai trò này, tỷ giá trở
thành công cụ hữu hiệu để tính toán và so sánh giá trị nội tệ với giá trị ngoại tệ, giá
cả hàng hóa trong nước với giá quốc tế, năng suất lao động trong nước với năng suất lao động quốc tế ; trên cơ sở đó, tính toán hiệu quả ngoại thương, hiệu quả của việc liên doanh với nước ngoài, vay vốn nước ngoài, và hiệu quả của các chính sách kinh tế đối ngoại của nhà nước
Trang 2- Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu : Thông qua tỷ giá,
nhà nước tác động đến tổng kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại quốc tế
Khi đồng tiền nội tệ mất giá (tỷ giá tăng) thì giá cả hàng xuất khẩu của quốc gia đó trở nên rẻ hơn, sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường quốc tế sẽ được nâng cao Chẳng hạn, 1 lô hàng xuất khẩu trị giá 16.000 triệu VND Thời điểm 1/2006 tỷ giá trên thị trường USD/VND là 16.000 thì lô hàng này được bán trên thị trường quốc tế với giá 1 triệu USD Thời điểm 12/2006 tỷ giá USD/VND 17.000 thì lô hàng này được bán với giá 16.000/17.000= 0,941 triệu USD, rẻ hơn ban đầu Khi
ấy, mức cầu mở rộng và khối lượng hàng hoá xuất khẩu sẽ gia tăng Trong khi đó, giá hàng nhập khẩu từ nước ngoài trở nên đắt hơn, do đó hạn chế nhập khẩu Như vậy, sự tăng lên của tỷ giá làm nền kinh tế thu được nhiều ngoại tệ, cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế được cải thiện
Ngược lại, nếu giá của đồng nội tệ tăng lên so với đồng ngoại tệ (tỷ giá hối đoái giảm) sẽ làm cho xuất khẩu giảm đi, nhập khẩu tăng lên và cán cân thanh toán trở nên xấu hơn
Tuy nhiên, khi xem xét tác động của tỷ giá đến sự thay đổi hoạt động thương mại quốc tế và cán cân thanh toán cần lưu ý rằng hiệu ứng này không thể xảy ra ngay
mà phải trải qua một khoảng thời gian nhất định Khoảng thời gian đó là thời gian thích ứng đối với việc thay đổi giá cả hàng hoá của người tiêu dùng trong và ngoài nước Trong thời gian đầu, cán cân thanh toán có thể bị giảm đi, sau đó mới đạt trạng thái cải thiện dần
Hiệu ứng này được gọi là đường J (đường J cho biết cán cân thương mại sẽ thay đổi theo thời gian như thế nào sau khi đồng nội tệ giảm giá) Có thể xem hình vẽ -Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng tới tình hình lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Khi sức mua của đồng tiền trong nước giảm đi (có thể do nhà nước chủ trương phá giá tiền tệ để đẩy mạnh xuất khẩu chẳng hạn), tỷ giá hối đoái tăng lên làm giá hàng nhập khẩu đắt hơn Nếu hàng nhập khẩu để trực tiếp tiêu dùng thì làm tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trực tiếp Nếu hàng nhập khẩu dùng cho sản xuất thì làm tăng chi phí sản xuất và dẫn tới tăng giá thành sản phẩm Kết quả cũng là sự tăng lên của chỉ số giá tiêu dùng Vì vậy, lạm phát có thể xảy ra Nhưng khi tỷ giá tăng, các ngành sản xuất hàng xuất khẩu được lợi và phát triển, kéo theo sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước nói chung, nhờ vậy thất nghiệp giảm và nền kinh tế tăng trưởng
Trang 3Ngược lại khi tỷ giá hối đoái giảm (giá đồng nội tệ tăng lên), hàng nhập khẩu từ nước ngoài trở nên rẻ hơn Từ đó lạm phát được kiềm chế, nhưng lại dẫn tới sản xuất thu hẹp và tăng trưởng thấp
Tóm lại, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến quan hệ kinh tế đối ngoại, tình trạng cán cân thanh toán, tăng trưởng kinh tế, lạm phát và thất nghiệp Khi điều chỉnh tỷ giá hối đoái để thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội, Nhà nước phải xem xét nhiều mặt, tính toán đến nhiều tác động khác nhau, trái chiều nhau của tỷ giá Mặt khác còn phải cảnh giác đối phó với nạn đầu cơ tiền tệ trên thế giới có thể làm cho nội tệ bất ngờ lên giá hoặc hạ giá do tác động của sự di chuyển các luồng vốn ngoại tệ gây ra làm cho nền kinh tế trong nước không ổn định
1.2.Nội dung chính sách của tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá như phân tích trên có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế
Do vậy, chính sách hối đoái của bất kỳ một quốc gia nào cũng đều được coi như một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia Duy trì , giữ vững sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô là yêu cầu cấp thiết để tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu và tập trung của các chính sách kinh tế của Chính phủ, trong đó có chính sách tỷ giá Một quốc gia tuỳtheo điều kiện hoàn cảnh và thời điểm sẽ xác định cho mình một chính sách tỷ giá thích hợp
Trên thế giới hiện nay các nước theo đuổi các cách điều hành tỷ giá khác nhau song rút lại đều đi theo các xu hướng hoặc là chế độ tỷ giá cố định hoặc là chế độ
tỷ giá thả nổi hoàn toàn hoặc thả nổi có kiểm soát
- Hệ thống tỷ giá thả nổi hoàn toàn : Do cung cầu trên thị trường ngoại hối quyết
định tỷ giá Không có sự can thiệp của chính phủ
- Hệ thống tỷ giá cố định: đó là tỷ giá do ngân hàng trung ương ấn định ở một mức
nào đấy Tỷ giá có cố định thể cao hơn hay thấp hơn tỷ giá cân bằng trên thị trường ngoại hối Để giữ được tỷ giá ở mức cố định ngân hàng trung ương phải mua bán ngoai tệ trênthị trường ngoại hối Và như vậy , cung tiền tuột khỏi tay sự kiểm soát của ngân hàng trung ương Ngân hàng trung ương chỉ có thể đạt được một trong hai mục tiêu :hoặc giữ cho tỷ giá cố định hoặc là kiểm soát được mức cung tiền chứ không thể đồng thời thực hiện được hai mục tiêu đó
-Hệ thống tỷ giá thả nổi có kiểm soát : Nằm giữa hai thái cực trên.Quan điểm của
các nhà kinh tế trường phái chính hiện đại coi trọng cả vai trò kinh tế của Chính phủ và quy luật “bàn tay vô hình” Tỷ giá được hình thành trên cơ sở thị trường
Trang 4theoquy luật cung cầu , cơ quan điều hành chính sách tiền tệ chỉ tác động lên tỷ giá bằng các công cụ mang tính thị trường tác động lên thị trường ngoại hối
1.2.1.Trước năm 2008.
Những vấn đề đặt ra là cần phải xác định chế độ tỷ giá hối đoái nào: cố định, thả nổi hoàn toàn hay thả nổi có kiểm soát Một cuộc tranh luận về những chế độ tỷ giá hối đoái đã nổ ra Thế giới đã chuyển từ chế độ tỷ giá cố định , đươc thực hiện
từ sau Chiến tranh thế giới II đến đầu năm 1973 , sang chế độ tỷ giá thả nổi , linh hoạt thay đổi hàng ngày Nhưng vào cuối những năm 80 chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn bộc lộ tác động tiêu cực đến các nền kinh tế và người ta bắt đầu nghĩ đến một chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết ,nhằm hạn chế những tác động của chế độ tỷ giá linh hoạt
1.2.2.Sau năm 2008.
Hiện nay,các chính phủ đều muốn can thiệp để hạn chế những biến động mạnh mẽ lên xuống của tỷ giá ,một mặt là cần thiết để cân bằng cung cầu trong thời gian ngắn, nhưng mặt khác lại gây ra những biến động không mong muốncho giá cả và đầu ra ở trong nước.Nhà nước cũng có thể tác động tới tỷ giá thông qua các chính sách hành chính thuần túy như chế độ giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch, chính sách kết hối ngoại tệ, chính sách thuế xuất nhập khẩu Tuy vậy, các chính sách này can thiệp thô bạo vào các hoạt động kinh tế và đang được loại bỏ dần
1.3.Các công cụ.
Công cụ trực tiếp
Phá giá tiền tệ
Phá giá tiền tệ là việc chính phủ đánh tụt giá đồng nội tệ so với các ngoại tệ Biểu hiện của phá giá tiền tệ là tỷ giá được điều chỉnh tăng so với mức chính phủ cam kết duy trì Tỷ giá tăng làm cho nội tệ giảm giá, nên gọi phá giá
Nâng giá tiền tệ
Nâng giá tiền tệ là việc chính phủ tăng giá đồng nội tệ so với các ngoại tệ Biểu hiện của phá giá tiền tệ là tỷ giá được điều chỉnh giảm so với mức mà chính phr cam kết duy trì Tỷ giá giảm làm cho nội tệ tăng giá, nên gọi nâng giá
Hoạt động mua bán của NHTW trên thị trường ngoại hối:
Là việc NHTW tiến hành mua bán nội tệ với ngoại tệ nhằm duy trì một tỷ giá
cố định (trong chế độ tỷ giá cố định) hay tác động làm cho tỷ giá biến đông tới một mức nhất định theo mục tiêu đã đề ra (trong chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết) Để tiến hành can thiệp, buộc NHTW phải có một lượng dự trữ ngoại hối nhất định Hơn nữa, các hoạt động can thiệp trục tiếp của NHTW tạp ra hiệu ứng thay đổi
Trang 5cung ứng tiền trong lưu thông, có thể tạo ra áp lực lạm phát rủi ro khác không mong muốn cho nền kinh tế
Biện pháp kết hối
Là việc chính phủ quy định đối với các thể nhân và pháp nhân có nguồn thu ngoại tệ phải bán một tỷ lệ nhất định trong một thời hạn nhất định cho các tổ chức được cho phép kinh doanh ngoại hối Biện pháp ngoại hối được áp dụng trong những thời kỳ khan hiếm ngoại tệ giao dịch trên thị trường ngoại hối Mục đích chính của biện pháp kết hối là nhắm tăng cung ngoại tệ tức thời
Quy định hạn chế
Đối với đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích sử dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời điểm mua ngoại tệ, hạn chế đầu cơ và tác động giữ cho tỷ giá ổn định
Công cụ gián tiếp
Các công cụ phổ biến
Lãi suất tái chiết khấu
Với các yếu tố khác không đổi, khi NHTW tăng mức lãi suất tái chiết khấu,
sẽ tác dụng làm tăng mặt bằng lãi suất thị trường; lãi suất thị trường tăng hấp dẫn các luồng vốn ngoại tệ chạy vào làm cho nội tệ lên giá Khi lãi suất tái chiết khấu giảm sẽ có tác động ngược chiều
Thuế quan
Thuế quan cao có tác dụng làm hạn chế nhập khẩu; nhập khẩu giảm làm cho cầu ngoại tệ giảm, kêt quả làm cho ngội tệ lên giá Khi thuế quan thấp sẽ có tác động ngược lại
Hạn ngạch
Hạn ngạch có tác dụng làm hạn chế nhập khẩu; do đó tác dụng lên tỷ giá giống như thuế quan cao Dỡ bỏ hạn ngạch có tác dụng làm tăng nhập khẩu, do đó
có tác dụng lên tỷ giá giống như thuế quan thấp
Giá cả
Thông qua hệ thống giá cả, chính phủ có thể trợ giá cho những mặt hang xuất khẩu chiến lược hay đang trong giai đoạn đầu sản xuất Tuy giá xuất khẩu làm cho khối lượng xuất tăng, làm tăng cung ngoại tệ, khiến cho nội tệ lên giá Cính phủ cũng có thể bù đắp giá cho một số hàng nhập khẩu thiết yếu, bù giá làm tăng nhập khẩu, kết quả là làm cho lên giá nội tệ
Các công cụ cá biệt
Điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ
Trang 6Khi ngoại tệ khan hiếm trên thị trường ngoại hối, NHTW có thể tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với vốn huy động bằng ngoại tệ của các NHTM, làm cho chi phí
sử dụng vốn ngoại tệ tăng; để kinh doanh có lãi buộc các NHTM phải hạ lãi suát huy động ngoại tệ, kết quả là việc nắm giữ ngoại tệ trở nên kém hấp dẫn hơn so với nắm giữ nội tệ, khiến cho những người sở hữu ngoại tệ phải bán đi lấy nội tệ, làm tăng cung ngoại tẹ trên thị trường ngoại hối
Quy định lãi suất trần thấp đối với tiền gửi bằng ngoại tệ.
Vd; Ở Việt Nam, theo quyết định số 02/2002/QĐ-NHNN, ngày 02/01/2002 về việc “điều chỉnh lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của pháp nhân tại các tổ chức tín dụng” như sau:
Tiền gửi không kỳ hạn tối đa: 0.10%/ năm
Tiền gửi có kỳ hạn đến 6 tháng tối đa là: 0.50%/năm
Tiền gửi có kỳ hạn trên 6 tháng tối đa la: 1.00%/năm
Quy định trạng thái ngoại tệ đối với các NHTM
Ngoài mục đích chính là phòng ngừa rủi ro tỷ giá, còn có tác dụng hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp lực lên tỷ giá khi cung cầu mất cân đối
Trang 7Chương II Thực trạng tỷ giá hối đoái.
2.1.Thực trạng tỷ giá tại Đài Loan.
Tỷ giá hối đoái của đô la Đài Loan tháng 1 năm 2000 là 30,53, mức tỷ giá này sau
đó tăng dần đến cuôi năm 2000 thì đạt điểm với mức 33,12 trước khi tụt nhanh xuống 32,35 trong vòng 2 tháng đầu năm 2001 kéo theo đó là sự giảm nhanh không kém của số lượng sản phẩm công nghiệp, lượng xuất và nhập khẩu, tỷ lệ tăng trưởng GDP Đài Loan tụt xuống mức dưới -4% - mức thấp chưa từng có Sau
đó, tỷ giá đồng đô la Đài Loan tăng mạnh trở lại và đạt đỉnh mới 34,97 vào tháng 7 năm 2001 nhờ vào sự thành công của chính sách đa dạng hóa thành công thị trường thương mại, giảm tỷ trọng xuất khẩu phụ thuộc sang Hoa Kỳ từ 49% năm 1984 xuống còn 20% năm 2002 Đến tháng 4 năm 2002 thì bắt đầu đợt giảm nhanh chưa từng có khi rơi xuống 32,84 chỉ trong 3 tháng tiếp đó Tuy nhiên, tỷ giá đồng tiền tại Đài Loan đã tăng nhanh trở lại và đạt điểm 35,11 vào tháng 10 năm 2002 tức là cũng chỉ 3 tháng sau khi tỷ giá tụt xuống mức thấp nhất tính từ đầu năm 2002 Tỷ giá sau đó dao động trong khoảng 35,11 đến 34 trước khi lại tụt giảm mạnh vào tháng 10 năm 2004, đà giảm này kéo dài đến tháng 3 năm 2005 đạt mức 30,82 – mức thấp nhất từ năm 2000 đến này Tuy nhiên ngay sau đó, tỷ giá nước này đã ngay lập tức kịp phục hồi đạt đỉnh vào tháng 10 năm 2005 và tiếp tục dao động trong mức 33,59-32,5 trong vòng 2 năm (cuối năm 2005 đến cuối năm 2007) Ngay sau đó, tỷ giá đồng đô la Đài Loan rơi xuống 30,39 chỉ trong vòng 2 tháng
và gần như giữ nguyên mức ấy cho đến tháng 7 năm 2008 do tác động mạnh mẽ từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Bắt đầu từ đây, tỷ giá Đài Loan bắt đầu tăng mạnh và đạt điểm vào tháng 3 năm 2009 trước khi đà giảm xuống mức thấp nhất từ trước đến giờ là 28,67 trong vòng hơn 2 năm Ngay sau đó, tỷ giá phục hồi ở mức 30,485 và dao động trong khoảng này trong vòng gần 3 năm trước khi bắt đầu đà tăng mạnh của mình đến 33,49 vào tháng 1 năm 2016 Tùy nhiên, con số này cũng không giữ được lâu khi ngay lập tức bắt đầu đà giảm xuống còn 29,14 vào tháng 3 năm 2018 trước khi có dấu hiệu phục hồi và chưa có dấu hiệu giảm đến tháng 31 tháng 8 năm 2018
Trang 82.2.Tình hình điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
2.2.1.Trước năm 2008.
Kể từ cuối năm 2000, lãi suất và tỷ giá hối đoái tại Đài Loan đã được giảm xuống mức rất thấp, chỉ ở bên cạnh Nhật Bản, quốc gia có mức thấp nhất trong cả hai tỷ
lệ ở các nước công nghiệp Lãi suất giảm sẽ gây ra sự mất giá của đồng nội tệ (theo đây là đồng đô la Đài Loan mới (NTD)) thông qua cơ chế bình thường lãi suất ngang bằng (IRP) Và tỷ giá hối đoái thấp hơn, hoặc một NTD rẻ hơn sẽ kích thích xuất khẩu và do đó hãy để Đài Loan tích lũy them thặng dư thương mại và dự trữ ngoại hối
Trong giai đoạn này, kinh tế Đài Loan phải đối mặt với sự tàn phá khủng khiếp làm giảm tỷ lệ tăng trưởng GDP đáng kể xuống còn mức -4% năm 2002 Trên thực tế, ngân hang trung ương Đài Loan đã thực hiện hạ lãi suất chiết khấu vào năm 2001
từ 4.625 đến 2.125 giúp vực dậy chỉ số xuất nhập khẩu cũng như tỷ lệ tăng trưởng GDP thoát khỏi mức âm Ngân hàng trung ương Đài Loan tiếp tục hạ xuống thêm 2 lần nữa vào năm 2002 từ 2.125 xuống 1.875 trong tháng 6 và xuống còn 1,625 vào tháng 11 Ngân hàng trung ương Đài Loan đã có nhiều cơ hội để đạt được mục tiêu tiền tệ năm 2002 Tuy nhiên, điều này lại không đạt được và dẫn đến kinh tế Đài Loan bị ảnh hưởng bởi vì hoạt động thị trường mở và tiền gửi lại
Trang 92.2.2.Sau năm 2008.
Sau tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, chính phủ Đài Loan nhiều công cụ để điều chỉnh tỷ giá đồng đô la Đài Loan và giảm bớt tác động của cuộc khủng hoảng
-Giảm tỷ lệ chiết khấu:
Ngân hàng trung ương Đài Loan(CBC) hạ lãi suất chiết khấu xuống 2.375 phần trăm trong bảy lần cắt giảm từ tháng 9 năm 2008 đến tháng 3 năm 2009 Lãi suất thấp hơn
đã giúp giảm thiểu cá nhân và chi phí tài trợ của công ty, khuyến khích tiêu dùng và đầu tư tư nhân, và kích thích tăng trưởng kinh tế trong nước.Ngoài ra, để nhắc nhở các ngân hàng trong nước để giảm lãi suất của họ một cách nhanh chóng để phù hợp với cắt giảm lãi suất của CBC, Bộ tài chính và FSC tổ chức cuộc họp hai lần với các ngân hàng thế chấp chính
Tháng 11 năm 2008 Với sự đồng ý của những ngân hàng, điều chỉnh lãi suất cho vay thế chấp và các khoản vay của công ty có thể được thực hiện hàng tháng thay
Trang 10vì hàng quý (hoặc nửa năm) mà không có phí gia hạn bổ sung trước tháng 3 năm 2009
-Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
Từ ngày 18 tháng 9 năm 2008 trở đi, CBC đã giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo yêu cầu tiền gửi và tiền gửi thời gian 1,25 và 0,75 phần trăm tương ứng, phát hành khoảng $
200 tỷ TWD của quỹ nhằm tăng động lực cho vay ngân hàng
-Giảm thuế bất động sản:
Mức trần của thuế bất động sản đã được giảm xuống còn 10% từ 50% Điều này dự kiến thu hút vốn chuyển ra nước ngoài để quay trở lại và hồi sinh thị trường trong nước
Trong giai đoạn 2012-2015 Đài Loan duy trì tỷ lệ chiết khấu ở mức 1.875% và ở mức 1.375% trong 2 năm 2017 và 2018
2.3.Đánh giá chính sách của Đài Loan.
2.3.1.Thành công.
Đài Loan đã phục hồi nhanh chóng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
2007-2010, và nền kinh tế của nó đã tăng trưởng đều đặn Nền kinh tế đang phải đối mặt với sự suy giảm trong năm 2009 do sự phụ thuộc nặng nề vào xuất khẩu và điều này đã khiến thị trường thế giới dễ bị tổn thương Thất nghiệp đạt mức chưa từng thấy kể từ năm 2003, và nền kinh tế đã giảm 8,36% trong quý IV năm 2008.Đáp lại, chính phủ đã đưa ra gói kích thích kinh tế trị giá 5,6 tỷ USD (3% GDP), cung cấp tài chính ưu đãi cho các doanh nghiệp và giới thiệu thời gian nghỉ thuế Gói kích cầu tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giảm thuế cho các khoản đầu tư mới và các hộ gia đình có thu nhập thấp Đẩy mạnh các chuyến hàng đến các thị trường mới ở nước ngoài như Nga, Brazil và Trung Đông cũng là mục tiêu chính của việc kích thích kinh tế Nền kinh tế đã từ từ phục hồi; đến tháng 11 năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp của Đài Loan đã giảm xuống mức thấp nhất trong hai năm là 4,73%, và tiếp tục giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 40 tháng là 4,18% vào cuối năm 2011 Mức lương trung bình cũng tăng lên ổn định cho mỗi tháng trong năm 2010, tăng 1,92% so với cùng kỳ năm 2009 Sản lượng công nghiệp tháng 11/2010 đạt mức cao, tăng 19,37% so với năm trước, cho thấy xuất khẩu mạnh và nền kinh tế địa phương đang tăng trưởng Tiêu dùng cá nhâncũng tăng, với doanh số bán lẻ tăng 6,4% so với năm 2009 Sau 10,5% tăng trưởng kinh tế trong năm 2010, Ngân hàng Thế giới dự kiến tăng trưởng tiếp tục và đạt 5% trong năm 2011
Sau những khó khăn do khủng hoảng kinh tế mang lại vào năm 2008, nền kinh tế Đài Loan đã có những bước đột phá mạnh, mang lại thành công lớn, nhờ