Đại mạch mùa xuân hai hàng được sử dụng nhiều nhất trong sản xuất malt và bia do đã được nghiên cứu một cách có hệ thống nhằm cải thiện chất lượng hạt đại mạch tốt cho quá trình sản xuất
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn
- Các thầy, cô trong bộ môn Công nghệ thực phẩm đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tại trường
- Thầy Nguyễn Bảo Lộc là giáo viên trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
- Nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây đã tạo điều kiện cho tôi được thực tập tại nhà máy
- Toàn thể cán bộ công nhân viên của nhà máy bia Sài Gòn tại Cần Thơ
- Anh Lê Thành Phúc người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập tại nhà máy
- Cảm ơn tất cả các bạn sinh viên lớp Công nghệ thực phẩm khóa 32 đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Trang 3MỤC LỤC
Chương Nội dung Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
TÓM LƯỢC viii
Chương 1 MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined Chương 2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY 2
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG 2
2.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 2
2.3 QUY MÔ CÔNG TY 2
2.4 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA NHÀ MÁY 4
Chương 3 QUY TRÌNH SẢN XUẤT BIA SÀI GÒN 5
3.1 CÔNG ĐOẠN NẤU NƯỚC NHA 6
3.1.1 Nguyên liệu nấu nước nha 7
3.1.2 Nghiền nguyên liệu 25
3.1.3 Quá trình đường hoá 29
3.1.4 Lọc dịch đường 35
3.1.5 Quá trình đun sôi dịch đường với houblon 36
3.1.6 Lắng và làm lạnh nước nha 39
3.1.7 Bổ sung Oxy 40
3.1.8 Một số tiêu chuẩn nước nha của nhà máy 40
3.2 CÔNG ĐOẠN LÊN MEN 41
3.2.1 Mục đích 41
3.2.2 Sơ đồ quy trình công nghệ công đoạn lên men 41
3.2.3 Nấm men sử dụng trong sản xuất bia 42
3.2.4 Phương pháp lên men và nấm men sử dụng tại nhà máy 46
Trang 43.2.5 Một số biến đổi sinh hoá trong quá trình lên men 46
3.2.6 Kỹ thuật lên men 50
3.2.7 Lọc trong và pha bia 53
3.2.8 Bão hoà CO2 và tàng trữ bia 54
3.2.9 Một số tiêu chuẩn bia thành phẩm của nhà máy 54
3.3 CÔNG ĐOẠN HOÀN THIỆN SẢN PHẨM 56
3.3.1 Rửa chai 56
3.3.2 Chiết bia vào chai 57
3.3.3 Thanh trùng 58
3.3.4 Dán nhãn và in date 58
3.3.5 Vô két và bảo quản……….58
3.4 MỘT SỐ THIẾT BỊ CHÍNH CỦA NHÀ MÁY 59
3.4.1 Nồi nấu gạo và nồi nấu malt 59
3.4.2 Máy lọc khung bản Meura 2001 61
3.4.3 Nồi đun sôi dịch đường với houblon 62
3.4.4 Thiết bị lắng xoáy (Whirlpool) và thiết bị làm lạnh nhanh 64
3.4.5 Thiết bị lên men 65
3.4.6 Thiết bị lọc KG – FILLTER 66
3.4.7 Thiết bị lọc FOM 66
3.4.8 Thiết bị lọc SECUROX 66
Chương 4 THEO DÕI GIÁ TRỊ CẢM QUAN CỦA BIA SÀI GÒN ĐỎ 67
4.1 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM ………… 67
4.1.1 Phương tiện thí nghiệm ……… 67
4.1.2 Phương pháp thí nghiệm ………67
4.2 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ……… 68
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 73
Trang 5DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Thành phần hoá học của hạt đại mạch 9
Bảng 3.2: Nhiệt độ và pH tối thích của một số enzyme trong malt đại mạch………… 11
Bảng 3.3: Thành phần của houblon khô 16
Bảng 3.4: Công thức cấu tạo các hợp chất của α-acid đắng 18
Bảng 3.5: Công thức cấu tạo các hợp chất β-acid đắng 19
Bảng 3.6: Thành phần hoá học của nước 21
Bảng 3.7: Quy định độ cứng của một số nước hiện nay và hệ số chuyển đổi 22
Bảng 3.8: Bảng phân loại nước theo độ cứng 22
Bảng 3.9: Thành phần chính của gạo 24
Bảng 3.10: Cơ cấu nguyên liệu của nhà máy 25
Bảng 3.11: Thành phần bột khô 28
Bảng 3.12.Tiêu chuẩn bột khô của nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây 29
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của thời gian đun sôi đến sự hoà tan chất đắng 37
Bảng 3.14: Một số tiêu chuẩn nước nha của nhà máy 40
Bảng 3.15: Thành phần tro của nấm men (%) 45
Bảng 3.16: Một số tiêu chuẩn bia sau khi lên men phụ của nhà máy 52
Bảng 3.17: Một số tiêu chuẩn bia TBF 54
Bảng 3.18: Một số tiêu chuẩn bia thành phẩm 55
Bảng 3.19: Nhiệt độ của khoang thanh trùng 58
Bảng 3.20: Thông số kỹ thuật nồi nấu gạo và nồi nấu malt 59
Bảng 3.21: Vận hành máy lọc Meura 2001 62
Bảng 4.1: Các mẫu bia được thí nghiệm……….67
Bảng 4.2: Kết quả thống kê thể hiện sự khác biệt giữa các mẫu ở độ tin cậy 95% 68
Bảng 4.3: Kết quả đánh giá mẫu M1 theo tiêu chuẩn Việt Nam ……….69
Bảng 4.4: Kết quả đánh giá mẫu M2 theo tiêu chuẩn Việt Nam ………69
Bảng 4.5: Kết quả đánh giá mẫu M3 theo tiêu chuẩn Việt Nam ………69
Bảng 4.6:Kết quả đánh giá mẫu M4 theo tiêu chuẩn Việt Nam ………70
Trang 6DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây 4
Hình 3.1: Quy trình sản xuất bia Sài Gòn 5
Hình 3.2: Công đoạn nấu dịch đường 6
Hình 3.3 : Đại mạch hai hàng 7
Hình 3.4: Cấu tạo hạt đại mạch 8
Hình 3.5: Cấu tạo một đoạn amylose 10
Hình 3.6: Cấu tạo một đoạn amylopectin 10
Hình 3.7: Malt đại mạch 12
Hình 3.8: Công nghệ sản xuất malt đại mạch 12
Hình 3.9: Hoa houblon 15
Hình 3.10: Các hợp chất đắng trong hoa houblon 17
Hình 3.11: Công thức cấu tạo của α-acid đắng 17
Hình 3.12: Sự đồng phân hoá humulon 18
Hình 3.13: Công thức cấu tạo của β-acid đắng 19
Hình 3.14: Sự oxy hoá lupulon thành hulupon 20
Hình 3.15: Houblon cao và houblon viên 20
Hình 3.16: Quy trình nghiền nguyên liệu 26
Hình 3.17: Máy nghiền búa 28
Hình 3.18: Cơ chế tác động của hệ enzyme amylase 30
Hình 3.19: Sơ đồ đường hoá nguyên liệu của nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây 31
Hình 3.20: Biểu đồ thể hiện các giai đoạn trong nồi gạo ………32
Hình 3.21: Biểu đồ thể hiện các giai đoạn trong nồi malt ……….33
Hình 3.22: Thiết bị lọc khung bản thế hệ mới Meura 2001 35
Hình 3.23: Sơ đồ công nghệ lên men của nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây 41
Hình 3.24: Tế bào nấm men 42
Hình 3.25: Cấu tạo của tế bào nấm men 44
Hình 3.26: Sơ đồ tạo acetoin và diacetyl ……… 49
Hình 3.27: Sơ đồ quy trình công đoạn hoàn thiện sản phẩm 56
Trang 7TÓM LƯỢC
Khảo sát quy trình sản xuất bia
Nhà máy Bia Sài Gòn – Miền Tây sử dụng nguyên liệu gồm 75% malt và 25% gạo để sản xuất bia Trong công đoạn nấu, dịch đường được bổ sung một số phụ gia hỗ trợ quá trình sản xuất như acid H2SO4, CaCl2, ZnCl2, caramel, acid lactic Dịch đường được đun sôi với houblon cao và houblon viên trong 70 phút Công đoạn nấu nước nha được thực hiện trong khoảng 2 giờ đối với một mẻ nấu thu được từ 6500 lít đến
7000 lít nước nha Nước nha được làm lạnh nhanh đến nhiệt độ 6–80C và bơm vào tank lên men, thời gian lên men kéo dài khoảng 21 ngày Nấm men sử dụng là
Saccharomyces carlsbergensis Saccharomyces carlsbergensis là nấm men lên men
chìm ở nhiệt độ 6–80C Sau thời gian lên men, bia đã đạt các chỉ tiêu hóa lý của công
ty, bia được bơm qua lọc và pha bia theo các chỉ tiêu bia thành phẩm của nhà máy Bia được chiết vào chai và hoàn thiện sản phẩm
Theo dõi giá trị cảm quan của bia Sài Gòn đỏ theo thời gian bảo quản
Các chỉ tiêu quan trọng của bia Sài Gòn đỏ (màu sắc và độ trong, độ tạo bọt, mùi, vị) được cho điểm theo tiêu chuẩn Việt Nam và kết quả được thống kê theo phương pháp phân tích – thống kê nhằm thấy được sự thay đổi các chỉ tiêu của bia qua các thời gian bảo quản khác nhau Kết quả đánh giá cảm quan của các mẫu bia ở các thời hạn bảo quản có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê và mẫu bia được bảo quản từ 1–2 tháng
có giá trị cảm quan tốt nhất
Trang 8CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn công nghiệp hoá – hiện đại hoá đ ấ t n ư ớ c hiện nay, ngành công nghiệp thực phẩm nói c h u n g và công nghệ sản xuất bia nói riêng của nước ta đã không n gừng phát triển Lượng bia sản xuất được ngày càng tăng, đội ngũ cán
bộ kỹ thuật và số người quan tâm đến công nghệ sản xuất bia ngày càng nhiều Điều này rất dễ hiểu vì bia là loại thức uống có độ cồn thấp, giàu năng lượng, chứa rất nhiều các vitamin, đường, acid amin… cung cấp giá trị dinh dưỡng Ngoài ra trong bia còn chứa một hệ enzyme khá phong phú, đặc biệt là enzyme kích thích tiêu hoá amylase Bên cạnh đó, sự phát triển kinh tế và giao tiếp ngày càng tăng cũng là lý do
để người tiêu dùng chú ý nhiều đến bia
Hiện nay tại Việt Nam, một số thương hiệu bia đang chiếm ưu thế, đứng vững trên thị trường và có khả năng tiếp tục phát triển trong quá trình hội nhập: Sài Gòn, Sài Gòn Special, 333, Hà Nội, Heineken, Tiger,… Chất lượng của các sản phẩm bia trên thị trường rất đa dạng Bia có giá trị cảm quan tốt hay xấu là kết quả của sự tổng hợp các ảnh hưởng của nhiều yếu tố như nguyên liệu sản xuất, giống nấm men, thời gian lên men, nồng độ cồn, cách bảo quản…
Nhằm tìm hiểu một cách hoàn thiện hơn về công nghệ sản xuất và thời gian bảo quản
bia Sài Gòn đỏ, đề tài “Khảo sát quy trình sản xuất bia tại nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây và theo dõi giá trị cảm quan bia Sài Gòn đỏ theo thời gian bảo quản”
sẽ giới thiệu khía cạnh quy trình sản xuất bia trong thực tế và ảnh hưởng của thời gian bảo quản, một số chỉ tiêu hóa lý đến giá trị cảm quan của bia thành phẩm trong quá trình bảo quản bia
Trang 9CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG
Công ty cổ phần bia Sài Gòn – Miền Tây là công ty trực thuộc Tổng công ty Rượu – Bia – Nước giải khát Sài Gòn
Tên giao dịch: Western – Sai Gon Beer Joint Stock Company
Tiền thân của công ty WSB là Công ty bia Sài Gòn tại Cần Thơ, được thành lập từ hợp đồng liên doanh ký ngày 20/ 11/ 1996 giữa Công ty bia Sài Gòn và Công ty công
ty Bia – Rượu – NGK Hậu Giang Đến ngày 30/8/2000 Công ty liên doanh bia Sài Gòn tại Cần Thơ được bàn giao lại cho Công ty bia Sài Gòn thống nhất quản lý theo đúng chủ trương của Bộ Công nghiệp
Sau hơn một năm triển khai xây dựng và lắp đặt trên bề mặt diện tích rộng khoảng 20.000 m2 tại khu công nghiệp Trà Nóc, Công ty bia Sài Gòn đã xây dựng được nhà máy bia tại Cần Thơ hiện đại với toàn bộ máy móc được nhập từ Đức bằng tổng kinh phí xây dựng và đầu tư khoảng 140 tỷ đồng
Ngày 01/01/2000 nhà máy chính thức đi vào hoạt động và sản xuất bia Sài Gòn xanh 450ml theo kế hoạch của Công ty bia Sài Gòn giao
Ngày 06/05/2003 Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành Quyết định số BCN về việc thành lập Tổng Công ty Bia – Rượu – NGK Sài Gòn Và Tổng Công ty Bia – Rượu – NGK Sài Gòn ban hành quyết định số 138/TCT/HC ngày 21/07/2003 đổi tên nhà máy bia Cần Thơ thành nhà máy bia Sài Gòn – Cần Thơ trực thuộc Tổng Công ty
Trang 1074/2003/QĐ-Ngày 12/05/2004 Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp ban hành quyết định số 1035/QĐ/TCB
về việc cổ phần hóa nhà máy bia Sài Gòn – Cần Thơ, trong đó nhà nước nắm giữ 60%
cổ phần
Ngày 24/11/2004 Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành quyết định số BCN về việc chuyển nhà máy bia Sài Gòn – Cần Thơ thành nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây Tiếp theo, Bộ Công nghiệp ban hành công văn số 1282/CV/TCCB ngày 16/03/2005 cho phép tổ chức Đại hội đồng cổ đông
147/2004/QĐ-Đại hội đồng cổ đông SWB được tổ chức vào ngày 04/04/2005 đã bầu ra hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc, Kế toán trưởng của Công ty cổ phần bia Sài Gòn Cần Thơ và thông qua phương án sản xuất kinh doanh năm 2005, phương án đầu tư sản xuất năm 2005–2007, WSB chính thức đi vào hoạt động ngày 01/05/2005
2.3 QUY MÔ CÔNG TY
Từ lúc thành lập đến nay, nhà máy sản xuất sản phẩm bia chai Sài Gòn xanh 450
ml với quy mô sản xuất là:
- Công suất thiết kế giai đoạn 1: 10 triệu lít/ năm
- Công suất thiết kế giai đoạn 2: 15 triệu lít/ năm đã được hoàn thành và đưa vào hoạt động cuối tháng 12/2003
- Công suất thiết kế tại thời điểm cổ phần: 28 triệu lít bia/năm
Tuy nhiên, có một khoảng thời gian ngắn nhà máy sản xuất bia chai Sài Gòn Special Hiện nay nhà máy sản xuất bia Sài Gòn đỏ với công suất 18 triệu lít/ năm
Trang 112.4 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA NHÀ MÁY
Nhà máy hoạt động theo sơ đồ tổ chức như hình 2.1
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây
BAN GIÁM ĐỐC
GĐ Công ty Phó GĐ công ty
XƯỞNG SẢN XUẤT
GĐ nhà máy
1 thống kê tổng hợp
TỔ ĐỘNG LỰC-BẢO TRÌ
1 tổ trưởng
4 trưởng ca
TỔ THÀNH PHẨM
1 tổ trưởng
4 trưởng ca
TỔ LÊN MEN
Trang 12CHƯƠNG 3 QUY TRÌNH SẢN XUẤT BIA SÀI GÒN
Nước
Lên men chính Lên men phụ Lọc bia Pha bia
Chiết chai Kiểm tra Bảo quản
Nấm men, Malturex L
Nước pha bia
Bia TBF
Công đoạn lên men
Công đoạn hoàn thiện sản
phẩm
Tồn trữ Nghiền Nấu
Tồn trữ Nghiền Nấu
Lọc khung bản Đun với hops Lắng Làm lạnh nhanh Sục khí
Công đoạn nấu nước nha
Malt Gạo
Hops, caramel, acid lactic, ZnCl2
Nước,
H2SO4
Bã lọc
Trang 133.1 CÔNG ĐOẠN NẤU NƯỚC NHA
Trang 143.1.1 Nguyên liệu nấu nước nha
Đại mạch gieo trồng (hình 3.3) thuộc nhóm thực vật có hạt (Spermophyta), phân nhóm
bí tử, lớp một lá mầm (monocotyledonae), họ lúa mì (Graminae) Đại mạch là loại
thực vật một năm, được chia thành hai nhóm: Đại mạch mùa đông (hạt được gieo vào giữa tháng chín) và đại mạch mùa xuân (hạt được gieo vào giữa tháng ba và tháng tư)
Cả hai nhóm được chia thành nhiều giống khác nhau Căn cứ vào sự sắp xếp hạt trên bông mà chia đại mạch ra thành 2 loại: hai hàng và sáu hàng Hạt đại mạch hai hàng
to, đầy đặn, vỏ trấu có nếp nhăn đều và mỏng Hạt rất đồng đều, có hàm lượng chất hoà tan tương đối cao, đồng thời lượng vỏ ít nên chứa không nhiều các hợp chất polyphenol Loại đại mạch hai hàng có tất cả các đặc điểm mong muốn cho sản xuất malt và bia Hạt đại mạch sáu hàng có kích cỡ không đồng nhất bởi vì các hạt thiếu không gian để phát triển đầy đủ, vỏ trấu dày nên thường dùng làm thức ăn gia súc Đại mạch mùa xuân hai hàng được sử dụng nhiều nhất trong sản xuất malt và bia do
đã được nghiên cứu một cách có hệ thống nhằm cải thiện chất lượng hạt đại mạch tốt cho quá trình sản xuất malt và bia Tuy nhiên, sản lượng đại mạch mùa đông hai hàng đang tăng lên cùng với chất lượng tương đương đại mạch mùa xuân hai hàng
b Cấu tạo hạt đại mạch
Gồm 3 bộ phận chính: Vỏ hạt, phôi và nội nhũ
Vỏ hạt: Vỏ hạt chia thành ba bộ phận chính: vỏ trấu, vỏ lụa và vỏ alơron Phần
này thường chiếm từ 8–15% trọng lượng hạt
Trang 15 Phôi: Là cơ quan sống, hô hấp của hạt Phôi thường chiếm từ 2,5–5% trọng lượng
hạt Trong phôi có từ 37–50% chất khô là thành phần nitơ, khoảng 7% chất béo, 5–6% đường saccharose, 7–7,5% pentose, 6–6,5% chất tro và một số ít thành phần khác Tinh bột hầu như rất ít
Nội nhũ: Chiếm từ 45–68% trọng lượng hạt Phần này của hạt đại mạch giữ vai trò
quyết định chất lượng của đại mạch trong sản xuất bia Thành phần chính trong nội nhũ là hạt tinh bột hình tròn, có kích thước rất lớn (20–30 μm) hoặc rất bé (2–10 μm) Rất ít những hạt có kích thước trung bình Nếu hàm lượng protein trong đại mạch càng cao thì càng nhiều hạt tinh bột kích thước nhỏ Tinh bột đại mạch có nhiệt độ hồ hóa là 75–800C Tính chất này cần phải lưu ý khi nấu bia Tinh bột đã qua hồ hóa thì khi đường hóa sẽ nhanh và thuận lợi hơn Những hạt tinh bột, ngoài thành phần là tinh bột, còn chứa một số chất khác như: nitơ 0,5–1,5%, tro 0,2–0,7%, acid béo 0,6%
Hình 3.4: Cấu tạo hạt đại mạch
(Nguồn: www.homebrewcompanion.com)
c Thành phần và tính chất của đại mạch
Độ ẩm trung bình của đại mạch thường là 14–14,5% Hàm lượng ẩm có thể thay đổi
từ 12% đến 20% tuỳ vào điều kiện thu hoạch Đại mạch có độ ẩm cao cần được sấy khô để bảo quản được lâu và không làm mất khả năng nảy mầm Để bảo quản được lâu, đại mạch phải có độ ẩm dưới 15%
Các hợp chất cacbonhydrat: Các hợp chất cacbonhydrat chiếm tỷ lệ lớn nhất nhưng
tính chất của chúng thì rất khác nhau Các hợp chất quan trọng là: tinh bột, các loại
đường, cellulose, hemicellulose và các chất keo
Trang 16Bảng 3.1: Thành phần hoá học của hạt đại mạch
(Nguồn: Nguyễn Thị Hiền và ctv., 2007)
Tinh bột (C6H10O5)n: là cấu tử quan trọng nhất, hình thành 50–63% thành phần của
đại mạch Kích thước hạt tinh bột lớn là 20–30 µm và hạt tinh bột nhỏ là 1–6 µm,
không có cỡ trung bình Tinh bột tập trung chủ yếu ở nội nhũ và chỉ một phần ít ở
phôi Trong môi trường giàu nước, tinh bột được thuỷ phân thành đường glucose dưới
tác dụng của acid mạnh hay tạo thành dextrin, maltose, glucose dưới tác dụng của
enzyme amylase (Nguyễn Thị Thu Thuỷ, 2006) Tinh bột là nguồn cung cấp chất hoà
tan chủ yếu cho dịch đường và được nấm men sử dụng Thành phần hạt tinh bột gồm
hai thành phần amylose và amylopectin
Amylose: Cấu tạo dạng mạch thẳng, không phân nhánh, chứa từ 300–1000 gốc
glucose Thành phần cấu tạo gồm các gốc α–D–glucopyranose, liên kết nhau bằng liên
kết α–1,4–glycoside (hình 3.5) Amylose có các tính chất sau: dễ tan trong nước nóng
tạo dung dịch có độ nhớt không cao; kết tủa trong butanol và pentanol; cho màu xanh
đặc trưng với Iod
Amylopectin: Cấu tạo mạch phân nhánh, thành phần gồm các
α–D–glucopyranose liên kết với nhau Trên mạch thẳng, các gốc glucose liên kết với
nhau bằng liên kết α–1,4–glycoside,liên kết tạo nhánh là các liên kết α–1,6–glycoside,
khoảng 18–20 gốc glucose có một điểm phân nhánh (hình 3.6) Tính chất của
amylopectin: tan trong nước nóng tạo dung dịch có độ nhớt cao; kết tủa trong butanol
và pentanol; cho màu xanh đặc trưng với dung dịch Iod
Trang 17Hình 3.5: Cấu tạo một đoạn amylose
Hemicellulose: là thành phần chủ yếu của thành tế bào nội nhũ, bao gồm β–glucan và
pentosane kết hợp tạo nên khung bền vững cho thành tế bào nội nhũ Hemicellulose gồm: 80–90% β–glucan và 10–20% pentosane
Đường: Hàm lượng đường trong đại mạch rất nhỏ 1,8–2%, trong đó chủ yếu là đường sucrose và một ít đường glucose và fructose
Các hợp chất chứa Nitơ: Hàm lượng nitơ của đại mạch tính theo protein biến đổi trong
khoảng 8–16% Các hợp chất chứa nitơ được chia làm hai nhóm chính: protein và các sản phẩm thuỷ phân
Protein: là các chất chứa nitơ có phân tử lượng cao, khối lượng phân tử có thể
từ 20 nghìn đến 300 nghìn Da, không tan trong nước, kết tủa khi đun sôi Nhóm protein phân tử lượng cao là nguyên nhân gây đục bia Đại mạch chứa các protein sau: Glutelin, Prolamin, Globulin, Albumin
Các sản phẩm thuỷ phân: sản phẩm protein thuỷ phân hoà tan trong nước và kết tủa khi đun sôi Hầu hết các sản phẩm thuỷ phân có trong bia thành phẩm
Trang 18Chất béo: Đại mạch chứa khoảng 2% chất béo, nằm chủ yếu ở lớp alơron và mầm Chất béo hầu hết là triglyceride Các chất béo không hoà tan trong nước, ảnh hưởng xấu đến bọt bia
Các hợp chất vô cơ: Trong đại mạch có khoảng 2–3% là các khoáng chất, trong đó chủ yếu là các chất vô cơ Các chất vô cơ quan trọng là: Photphat, silicat, muối Kali Các enzyme: Trong malt chứa chủ yếu các enzyme thuộc nhóm thuỷ phân như amylase, protease, phosphatase, lipase
Bảng 3.2: Nhiệt độ và pH tối thích của một số enzyme trong malt đại mạch
(Nguồn: Bùi Thị Quỳnh Hoa, 2009)
Các hợp chất khác: Tuy với hàm lượng nhỏ nhưng polyphenol, tanin và vitamin có tác động không nhỏ đến chất lượng bia và quá trình sản xuất
Polyphenol và tanin: Nằm chủ yếu ở vỏ trấu và lớp alơron của đại mạch Với hàm lượng cao chúng tạo cho bia có vị đắng chát khó chịu Hàm lượng của nó tăng theo độ dày của lớp vỏ trấu
Các vitamin: Là các nguyên tố dinh dưỡng được tạo ra do cây trồng Đại mạch chứa các vitamin sau: Thiamin (vitamin B1), riboflavin (vitamin B2), acid ascorbic (vitamin C), tocopherol (vitamin E)
Trang 19d Công nghệ sản xuất malt
Hình 3.8: Công nghệ sản xuất malt đại mạch
(Nguồn: Nguyễn Thị Hiền và ctv., 2007)
Thu nhận, làm sạch và phân loại hạt đại mạch: Công đoạn này chủ yếu là loại bỏ
các hạt bụi, các bào tử vi khuẩn, nấm mốc bám trên vỏ đại mạch Các hạt đại mạch có
Đại mạch từ kho
Ngâm
Nảy mầm
Sấy Tách rễ, đánh bóng Rửa sạch
Kho chứa
Trang 20kích cỡ khác nhau sẽ hút nước khác nhau và nẩy mầm không đồng đều Vì thế phải phân loại đại mạch theo cỡ hạt Hạt có cùng kích cỡ sẽ nẩy mầm đồng đều hơn, ảnh
hưởng tốt dến chất lượng malt thành phẩm
Quá trình ngâm hạt đại mạch: Mục đích của quá trình ngâm là loại bỏ những hạt
lép, những hạt không lép nhưng không chắc, các tạp chất,… mà trong quá trình làm sạch và phân loại hạt chưa được loại bỏ ra khỏi khối hạt, đồng thời còn rửa sạch bụi
và một số vi sinh vật, côn trùng bám trên hạt Đại mạch khô có hàm ẩm 11–13% sau khi được bảo quản ít nhất là từ 6–8 tuần sau thu hoạch là có thể đưa vào sản xuất malt Ngâm hạt đại mạch để tạo điều kiện tăng độ ẩm của hạt lên 43–45% đảm bảo cho quá trình nảy mầm (Hoàng Đình Hoà, 2002) Ngâm không chỉ bao gồm sự cung cấp nước cần thiết cho hạt mà còn giữ cho hạt không bị ngạt thở, giữ cho hạt tránh nhạy cảm với nước và giảm tối đa các chất kìm hãm nảy mầm
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ngâm:
Nhiệt độ nước ngâm
Chủng loại và kích thước của hạt
Phương pháp ngâm hạt: Có nhiều phương pháp ngâm Các phương pháp ngâm khác nhau ở thời gian ngâm, thời gian mà hạt được nhúng ướt trong nước, phương pháp thông khí và nhiệt độ nước ngâm.Việc ngâm đại mạch phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Thời gian mà hạt hút nước đến hàm ẩm cần thiết là thấp nhất
Ngâm thường xuyên trong nước
Ngâm hoán vị nước – không khí
Ngâm trong nước ấm hoặc nước nóng
Phương pháp tưới nước hay phun nước
Quá trình nảy mầm: Mục đích là tạo hay hoạt hoá hệ enzyme amylase có khả năng
đường hoá tinh bột dự trữ trong nội nhũ Tấn công và làm thay đổi khả năng thẩm thấu màng tế bào của nội nhũ Hoà tan protein bởi hệ enzyme protease, làm nội nhũ
mềm ra
Trang 21 Độ ẩm: phải đủ để đảm bảo cho hạt nảy mầm trong vòng 5–6 ngày
Nhiệt độ: Thích hợp nhất cho tiến trình các giai đoạn ươm mầm là ở nhiệt độ 14–160C, nhiệt độ trong hạt là 10–120C Trong thời gian ươm mầm, nhiệt độ của hạt nên khống chế để tăng dần lên 17–180C
Oxy: Mầm là cơ thể sống nên cần phải hô hấp, hấp thụ O2 và thải CO2 Cuối giai đoạn nảy mầm thu được sản phẩm là malt tươi
Sấy malt tươi: Mục đích chính của quá trình sấy malt:
Dừng quá trình nảy mầm và quá trình chuyển hóa tiếp theo
Cung cấp cho malt hương vị phù hợp cho loại bia làm từ chúng
Tách bớt nước trong malt tươi giúp cho malt ổn định chất lượng trong thời gian bảo quản
Một số biến đổi trong quá trình sấy:
Làm giảm hàm lượng nước từ > 40% xuống 5%
Kết thúc các quá trình biến đổi và sự nảy mầm trong malt tươi
Hình thành các hợp chất tạo hương và màu
Hạn chế đến mức tối thiểu khả năng hư hỏng do vi sinh vật gây ra, làm tăng độ bền sinh học của sản phẩm
Tách rễ và đánh bóng malt: Malt sau khi được sấy xong cần được loại bỏ rễ, bởi vì
rễ có chứa nhiều hợp chất có thể gây ra cho bia vị đắng khó chịu Người ta tách rễ nhờ một thiết bị chuyên dụng gọi là máy đập rễ Sau khi tách rễ, malt được đánh bóng bằng cách sử dụng một hệ thống chải đi hết bụi bẩn và làm cho hạt malt trở nên bóng
đẹp hơn
Malt sử dụng tại nhà máy: Nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây sử dụng malt vàng
nhập từ Úc để sản xuất bia Malt được chứa trong những bao tải, mỗi bao tải có trọng lượng 50 kg
3.1.1.2 Hoa houblon
a Đặc tính thực vật của hoa houblon
Houblon (Humulus lupulus) thuộc họ Gai mèo (canabinaceae), cây lưu niên đơn tính
(30–40 năm), có chiều cao trung bình từ 10–15 m, lá cây to bằng bàn tay Trong sản xuất bia chỉ sử dụng hoa cái chưa thụ phấn Hoa đực không được sử dụng bởi vì nó rất
nhỏ, chứa ít lượng phấn hoa (lupulin), chất đắng cũng rất kém Hoa có dạng hình
chùy, dài từ 3–4 cm, khi chín có màu vàng đến vàng óng Thành phần của một hoa như sau: Cuống 5–6% tính theo chất khô của hoa, trục 7–8%, lupulin 19–20%, cánh
Trang 22và nhị hoa 66–67% Hiện nay trên thế giới đang trồng trên 100 giống hoa houblon khác nhau Loại thực vật này chỉ thích hợp với khí hậu ôn đới nên được trồng nhiều ở Đức, Liên Bang Nga, Pháp, Mỹ, Trung Quốc và Triều Tiên… Về nguyên tắc, hoa houblon có thể dùng ở dạng tươi nhưng để bảo quản được lâu và dễ vận chuyển ta cần sấy khô chúng đến hàm ẩm 11%
Quá trình sấy hoa có thể bằng phương pháp tự nhiên (phơi khô) hoặc nhân tạo (sấy cưỡng bức ở 400C) Hoa houblon cần được bảo quản ở nơi khô ráo, nhiệt độ thấp và không có ánh sáng mặt trời Nhiệt độ bảo quản 0,5–20C, hàm lượng ẩm cho phép là 13% khi bảo quản Hiện nay có thể bảo quản hoa bằng CO2 hoặc nitơ
Hình 3.9: Hoa houblon
(Nguồn: www.saveur-biere.com)
b Vai trò của hoa houblon trong sản xuất bia
Tạo cho bia có vị đắng dịu
Tạo cho bia có hương thơm đặc trưng
Làm tăng khả năng tạo và giữ bọt
Làm tăng độ bền keo và ổn định sản phẩm
c Sản xuất hoa houblon
Thu hoạch: Houblon được thu hoạch ở thời điểm khi hoa đã đạt độ chín kỹ thuật và
nên hoàn thành việc thu hoạch trong vòng 14 ngày Khi thu hái không lấy thân cây mà chỉ hái các búp hoa với đoạn cành ngắn Hiện nay thu hoạch búp hoa được thực hiện
bằng máy
Sấy khô: Hoa houblon vừa hái có độ ẩm khoảng 75–80%, ở trạng thái này hoa rất khó
bảo quản nên phải được sấy khô đến hàm ẩm 11% Quá trình sấy hoa có thể tiến hành bằng phương pháp tự nhiên hoặc bằng phương pháp nhân tạo Nếu sấy bằng phương pháp tự nhiên thì rãi đều hoa thành từng lớp mỏng 5–8cm và đặt ở những mặt bằng thoáng gió Lớp hoa phải được đảo trộn thường xuyên Quá trình sấy tự nhiên kéo dài
Trang 232–3 tuần Sấy nhân tạo được thực hiện bằng khí nóng 400C và tiến hành bằng các loại máy sấy chuyên dụng (Nguyễn Thị Hiền và ctv., 2007)
Bảo quản hoa houblon: Hoa houblon sau khi sấy được tiến hành phân loại, sau đó
xông SO2 Mục đích của quá trình xông hơi là hạn chế sự oxy hóa và phát triển của vi sinh vật Sau khi xông hơi, hoa được ép chặt thành từng bánh, hoa được xếp vào các túi polyetylen, hàn kín miệng và cho vào thùng kim loại để đưa đi bảo quản Hoa houblon được bảo quản ở chổ khô ráo, nhiệt độ thấp và không có ánh sáng mặt trời Trong khi bảo quản hàm ẩm của hoa tối đa cho phép là 13%, còn nhiệt độ bảo quản tốt nhất là 0,5–20C
d Một số thành phần chính của hoa houblon
Bảng 3.3: Thành phần của houblon khô
(Nguồn: Nguyễn Thị Hiền và ctv., 2007)
Nước: Hoa houblon tươi mới hái chứa khoảng 75% nước Sau khi sấy nhanh ở 500C, lượng nước còn lại khoảng 11–13% Hoa houblon sấy khô sẽ dễ bị rụng cánh và bị mất một phần hạt lupulin nhưng bảo quản dễ dàng hơn
Trang 24Các hợp chất đắng: Là thành phần có giá trị nhất trong houblon, nó tập trung
chủ yếu ở các hạt lupulin dưới dạng nhựa hay acid đắng kết tinh Đây là thành
phần có vai trò tạo vị đắng dịu, tạo sức căng bề mặt để giữ bọt, làm tăng độ bền
sinh học cho bia do có tác dụng kháng khuẩn
Độ kiềm của dung môi càng cao thì khả năng hòa tan của chúng càng nhiều α–acid đắng (hình 3.11) có sáu hợp chất: humulon, cohumulon, adhumulon, prehumulon, posthumulon, 4-deoxyhumulon
Chất đắng (tan trong ete, dietyl)
Nhựa mềm (5–6%)
β–acid đắng (3–4%)
α–acid đắng
(6–9%)
Nhựa cứng (1–2%)
Hình 3.10: Các hợp chất đắng trong hoa houblon
(Nguồn: Bùi Thị Quỳnh Hoa, 2009)
Trang 25Sáu hợp chất trên khác nhau ở vị trí nhóm R trong công thức cấu tạo thể hiện trong
bảng 3.4
Bảng 3.4: Công thức cấu tạo các hợp chất của α–acid đắng
(Nguồn: Nguyễn Thị Hiền và ctv., 2007)
Giai đoạn đun sôi dịch đường với hoa houblon, các hợp chất humulon (hình 3.12a)
không hòa tan trực tiếp và mà chúng phải trải qua một giai đoạn trung gian là quá
trình đồng phân hóa Các đồng phân, cis-isohumulon (hình 3.12b) và trans-isohumulon (hình 3.12c), hòa tan và bị thuỷ phân thành các sản phẩm có độ
đắng cao hơn rất nhiều so với các hợp chất nguyên thủy
Hình 3.12: Sự đồng phân hóa humulon
Trang 26Bảng 3.5: Công thức cấu tạo các hợp chất β–acid đắng
(Nguồn: Nguyễn Thị Hiền và ctv., 2007)
Cũng giống như α–acid đắng, β–acid đắng dễ dàng hòa tan trong ete, methanol Khả năng hòa tan trong nước, trong dịch đường của β–acid đắng thấp hơn rất nhiều so với α–acid đắng Khi đun sôi với dịch đường, lupulon cũng bị đồng phân hóa sau đó mới
bị phân cắt nhưng với tốc độ rất chậm Nếu bị oxy hóa, β–acid đắng chuyển thành
hulupon (hình 3.13) Phản ứng kéo dài, hulupon sẽ polyme hóa và trở thành nhựa
mềm và sau đó là nhựa cứng (Bùi Thị Quỳnh Hoa, 2009) Nhựa mềm là sản phẩm ở giai đoạn đầu của quá trình polyme hoá Giai đoạn này thì độ đắng và khả năng kháng sinh chỉ còn một phần Tuy nhiên khả năng hoà tan cao nên độ đắng tạo ra trong dịch đường lớn Nhựa đắng là sản phẩm cuối cùng của quá trình polyme hoá Nhựa đắng
Trang 27Hình 3.14: Sự oxy hoá lupulon thành hulupon
(Nguồn: Hoàng Đình Hòa, 2002)
Tinh dầu thơm: Hoa houblon có chứa 0,5–1,5% tinh dầu thơm, với những loại hoa
houblon thơm có thể lên đến 3–4% Các tinh dầu thơm được tạo thành trong các đài lupulin Tinh dầu hoa houblon không phải đơn chất mà có hơn 200 hợp chất Chúng chia thành 3 nhóm: hydrocacbon, các hợp chất chứa lưu huỳnh và các hợp chất chứa oxy Tinh dầu thơm tạo ra cho bia mùi thơm đặc trưng, rất nhẹ nhàng và dễ chịu Trong thời gian đun sôi dịch đường với hoa houblon, có đến 98% lượng tinh dầu thơm bay theo hơi nước, chỉ còn lại khoảng 2% trong bia
Polyphenol: Giá trị công nghệ lớn nhất của polyphenol là chúng được dùng để kết
lắng và loại bỏ các hợp chất protide cao phân tử ra khỏi dịch đường, làm ổn định thành phần và tăng độ bền keo cho bia thành phẩm Tất cả các hợp chất polyphenol đều thuộc nhóm flavonoid, phong phú về chủng loại, đa dạng về cấu trúc và khác nhau
về tính chất Chúng dễ dàng thực hiện phản ứng ngưng tụ để tạo thành các oligome và
dễ dàng polyme hóa để tao thành polyme Polyme này dễ dàng kết hợp với protein tạo thành các phức không tan Tất các những hợp chất polyphenol như thế được gọi là tannin
Trang 28Cao hoa thu được có màu xanh da trời, được bảo quản trong hộp bằng kim loại có khối lượng 1 kg Nhà máy sử dụng houblon cao có hàm lượng α–acid đắng là 49,4%, với khối lượng sử dụng là 710 g Vai trò chủ yếu của houblon cao là tạo vị đắng cho bia Houblon viên có hàm lượng α–acid đắng là 9,9%, với khối lượng sử dụng là 1150g Houblon viên là chế phẩm giàu lupulin trong đó có chứa toàn bộ tinh dầu Khả năng bảo quản các hoa viên phụ thuộc vào khâu đóng gói, loại bỏ không khí Lượng oxy dư phải ít hơn 0,5% thể tích, nạp đầy khí trơ vào bao bì Để ngăn chặn không khí thâm nhập vào bao bì trong quá trình bảo quản, sử dụng bao bì có 4 lớp trong đó có một lớp nhôm Vai trò quan trọng của houblon viên là cung cấp tinh dầu thơm cho bia, tạo cho bia có mùi thơm đặc trưng Ngoài ra, hounlon viên còn cung cấp một lượng polyphenol có hoạt tính cao trong quá trình kết hợp với protein tạo phức tanin–protein không tan, giảm lượng bã thải ra do trong quá trình sản xuất đã loại bỏ phần cuống và cánh hoa và khả năng đồng phân hoá cũng được cải thiện hơn
3.1.1.3 Nước
Nước là một trong những nguyên liệu chính dùng để sản xuất, chiếm từ 80–90% trọng lượng bia thành phẩm Thành phần hóa học và chất lượng của nước ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ quá trình sản xuất bia và đặc biệt là chất lượng bia thành phẩm
a Thành phần
Nước chứa rất nhiều các muối hoà tan ở dạng ion, trong đó nhiều nhất là những cation
Ca2+, H+, Na+, K+, Fe2+, Mn2+, và Al3+ và các anion OH, HCO3 , Cl, SO4 , NO3 , SiO3 và PO4
Bảng 3.6: Thành phần hoá học của nước
Trang 29Trong đó, muối của Ca2+ và Mg2+ là nguyên nhân gây nên độ cứng của nước
Độ cứng của nước chia ra làm hai loại:
Độ cứng tạm thời tạo nên bởi các muối bicacbonat và cacbonat của Ca2+ và Mg2+
Độ cứng vĩnh cửu hình thành do các sản phẩm của phản ứng giữa các acid sunfuric, Clohydric, nitric với một số muối khoáng
Tổng của hai độ cứng trên là độ cứng chung của nước Có khái niệm độ cứng tạm thời
vì khi đun sôi nước thì bicacbonat canxi và magie sẽ bị phân ly tạo CaCO3 và MgCO3
kết tủa Ngược lại độ cứng vĩnh cửu gây nên bởi các muối canxi như CaSO4, MgSO4, CaCl2, Ca(NO3)2,… khi đun sôi muối này không biến đổi
Bảng 3.7: Quy định độ cứng của một số nước hiện nay và hệ số chuyển đổi
Độ cứng của nước 0Đ 0F 0E USA mmol/l
(Nguồn: Nguyễn Thị Hiền và ctv., 2007)
Bảng 3.8: Bảng phân loại nước theo độ cứng
Trang 30b Nước sử dụng trong nhà máy
Nước dùng để sản xuất dịch đường
Thành phần và tính chất của nước ảnh hưởng đến quá trình hồ hoá, đường hoá Ngoài
ra các thành phần muối đi vào thành phần của dịch đường, ảnh hưởng đến mùi vị và một vài tính chất của bia Các muối trong nước tác dụng tương hỗ với các thành phần trong malt và gây nên sự biến đổi thành phần và tính chất của dịch đường và bia Các bicacbonat và cacbonat trong nước sẽ hoà tan những chất đắng trong vỏ malt tạo vị đắng khó chịu cho dịch đường và bia Đặc biệt Na2CO3 và NaHCO3 hoà tan các chất chát của malt gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng của bia
Qua thực tế và kết quả nghiên cứu ta thấy rằng: Nếu ta cho thêm một lượng CaSO4
vào nước dùng để nấu bia thì sẽ loại bỏ được ảnh hưởng xấu của cacbonat và bicacbonat, đồng thời làm tăng hiệu suất chất hòa tan và tăng chất lượng cả những loại bia vàng Song nếu lượng CaSO4 quá nhiều thì sẽ làm ảnh hưởng đến vị của bia, do trong phản ứng sẽ tạo nhiều K2SO4 có vị đắng, hoặc do tác dụng tương hỗ giữa CaSO4
và MgHPO4 tạo MgSO4 cũng gây vị đắng khó chịu
CaSO4 + MgHPO4 = CaHPO4 + MgSO4
Tất cả các bicacbonat và cacbonat có trong nước dùng để chế biến dịch đường đều làm kém chất lượng của dịch đường vì chúng ảnh hưởng xấu đến quá trình hồ hoá và đường hoá Ngược lại, các sulfat, clorua và nitrat canxi và magie đã trung hoà một phần hay toàn bộ những chất gây hại tạo nên bởi các bicacbonat và cacbonat
Nước dùng để rửa men và thiết bị
Nuớc dùng để rửa men và thiết bị đòi hỏi phải sạch, không chứa nhiều hợp chất hữu
cơ và vi sinh vật Nước dùng để rửa thiết bị không được chứa NH3và các nitrit, nên dùng nước có độ cứng thấp đến độ cứng trung bình Các nồi thanh trùng Pasteur nên được sử dụng nước ít tạp chất khoáng và muối, không có vi sinh vật
c Phương pháp xử lý nước tại nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây
Lọc cát để loại bỏ cặn bẩn
Lọc than hoạt tính để loại dư lượng Cl2, tạp chất hữu cơ
Nước được qua bồn trao đổi ion để khử độ cứng của nước, các hạt nhựa trao đổi ion được tái sinh bằng NaOH, HCl
Dùng đèn cực tím để tiêu diệt vi sinh vât
3.1.1.4 Thế liệu
Nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây sử dụng gạo trong công đoạn nấu dịch đường với tỷ
Trang 31 Hạ giá thành sản phẩm
Tăng cường độ bền keo
Hàm lượng protein cao phân tử và tanin trong gạo rất thấp, hạn chế ảnh hưởng xấu đến chất lượng bia
Sản xuất bia nhẹ hơn và sáng màu hơn bia sản xuất hoàn toàn bằng malt
Gạo có hàm lượng tinh bột rất cao, hàm lượng protein thấp
Trang 323.1.1.5 Cơ cấu nguyên liệu của nhà máy
Nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây thực hiện công đoạn đường hoá theo cơ cấu nguyên liệu trong bảng 3.10
Bảng 3.10: Cơ cấu nguyên liệu mẻ nấu của nhà máy
Nguyên liệu Lượng sử
100ml nước trước khi cho vào nồi
Hops cao 49,9% 710 g Cho vào khi bắt đầu sôi
Hops viên 9,9% 1150 g 20 phút trước khi dừng đun
Axit lactic 500 ml pH nước nha đạt 5,3
(Nguồn: Tài liệu quản lí chất lượng công ty bia Sài Gòn)
3.1.2 Nghiền nguyên liệu
3.1.2.1 Mục đích
Nghiền nhỏ nguyên liệu nhằm mục đích khi đường hoá thu được nhiều chất hoà tan nhất có lợi cho sản xuất dịch đường Tuy nhiên, yêu cầu của công đoạn nghiền là thu được những chất hoà tan có lợi và hạn chế tối đa các hợp chất không mong muốn hoà tan vào dịch đường làm giảm chất lượng dịch đường Nội nhũ là nguồn cung cấp chính các chất hoà tan cơ bản vào dịch đường trong quá trình đường hoá, tuỳ theo mức độ phân huỷ của malt mà có mức độ nghiền mịn khác nhau
Trang 333.1.2.2 Nghiền nguyên liệu
Quy trình nghiền malt và gạo được tiến hành theo hình 3.16
Hình 3.16: Quy trình nghiền nguyên liệu
Malt và gạo được bảo quản trong các silo Gồm có 3 silo, mỗi silo có dung tích tối đa
là 40 tấn, trong đó 2 silo chứa malt và 1 silo chứa gạo Trong quá trình bảo quản malt
và gạo cần được thông gió, đặc biệt là gạo vì gạo có độ ẩm cao nên dễ dàng bốc hơi và ngưng tụ nước Nguyên liệu được xuất ra từ đáy silo và được xích tải chuyển đến sàng tách tạp chất Sàng tách tạp chất có vai trò loại bỏ các tạp chất lớn còn lẫn trong malt
và gạo như rơm rạ, dây… Sau đó, nguyên liệu được chuyển đến máy tách đá, máy áp dụng nguyên tắc chênh lệch tỷ trọng để tách đá sỏi Trong máy tách đá còn có nam châm để loại bỏ kim loại Sau khi sàng sạch tạp chất, nguyên liệu được đưa đến cân tự động, cân định lượng mỗi mẻ là 10 kg Nguyên liệu đã cân được đưa đến máy nghiền
và tiến hành nghiền Bột được trữ lại trong silo chứa bột
3.1.2.3 Phương pháp nghiền nguyên liệu
Nghiền nguyên liệu có rất nhiều phương pháp được sử dụng như: Nghiền khô, nghiền ướt, nghiền ẩm Nghiền phụ thuộc vào chất lượng nguyên liệu, thiết bị nhà máy sử dụng nhằm đạt được mục đích là thu được chất hoà tan cao nhất trong dịch đường Nhà máy sử dụng phương pháp nghiền khô và sử dụng máy nghiền búa (hình 3.17)
Trang 34Ưu điểm của phương pháp nghiền khô:
Có thể nghiền lâu trước khi nấu Sau khi nghiền, bột malt và bột gạo có thể được bảo quản trong các silo chứa bột trước khi được đưa vào nồi nấu
Nghiền tốt các malt có độ nhuyễn kém
Dễ vệ sinh
Nhược điểm của phương pháp nghiền khô:
Không giữ được nguyên vỏ, làm tăng hàm lượng tanin trong vỏ malt hoà tan vào dịch đường và giảm khả năng trở lọc của lớp vỏ malt trong quá trình lọc dịch đường
Khi nghiền bụi bay ra nhiều
Dung tích chứa trong thùng lọc nhỏ
Ưu điểm của máy nghiền búa:
Nghiền malt và gạo thành bột mịn giúp năng suất đường hoá tăng cao, cặn tạo thành ít
Năng suất nghiền lớn
Dễ dàng khống chế kích thước hạt bột phù hợp để thu được chất chiết cao nhất
Vệ sinh dễ dàng
Nhược điểm của máy nghiền búa:
Khi sử dụng máy nghiền búa, bột được nghiền mịn làm tăng khả năng hoà tan của tanin và tạo β–glucan cản trở quá trình lọc
Nguyên liệu trước khi đưa vào nghiền phải đảm bảo sạch các tạp chất như đá, sỏi, các mảnh kim loại…
Chất lượng bột nghiền ảnh hưởng đến các vấn đề sau:
Hiệu suất và thời gian đường hoá
Năng suất nhà máy
Quá trình lên men
Khả năng lọc dịch đường
Ảnh hưởng màu, vị và một vài tính chất khác của bia thành phẩm
Trang 35Hình 3.17: Máy nghiền búa
3.1.2.4 Mức độ nghiền nguyên liệu
Độ mịn của bột nghiền có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu suất thu hồi và chất lượng dịch đường Bột nghiền được nhà máy kiểm tra thường xuyên bằng cách lấy khoảng 150–200 gam mẫu và dùng các rây phân loại tiêu chuẩn để đánh giá mức độ nghiền
Bảng 3.11: Thành phần bột khô
Số hiệu rây Độ dày lưới
(mm)
Độ rộng lỗ rây (mm)
Trang 36Bảng 3.12: Tiêu chuẩn bột khô của nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây
(Nguồn: Tài liệu quản lí chất lượng công ty bia Sài Gòn)
3.1.3 Quá trình đường hoá
3.1.3.1 Mục đích của quá trình đường hoá
Trong quá trình nảy mầm, malt đại mạch chứa một lượng chất hoà tan nhưng hàm lượng rất thấp, phần còn lại là các đại phân tử không tan như tinh bột, protein… Quá trình đường hoá là quá trình chuyển tinh bột thành đường làm nguồn thức ăn cho nấm men để tạo ra rượu và CO2 Mục đích của quá trình đường hoá là tạo ra được càng nhiều chất chiết và chất lượng dịch đường cao Phần lớn các chất chiết được tạo ra nhờ các phản ứng enzym thuỷ phân
3.1.3.2 Hệ enzyme thuỷ phân tinh bột trong quá trình đường hoá
Enzyme amylase là enzyme thuỷ phân tinh bột thành đường Hệ enzyme amylase gồm nhiều loại như: α–amylase, β–amylase và γ–amylase (Nguyễn Thị Thu Thuỷ, 2006)
α–amylase (EC 3.2.1.1)
Enzyme α–amylase có khả năng phân cắt liên kết α–1,4–glycoside ở bất kì vị trí nào trên mạch tinh bột đã được hồ hoá và sản phẩm tạo thành gồm các dextrin có phân tử lượng thấp là chủ yếu, một lượng nhỏ maltose và glucose
Dưới tác dụng của enzyme α–amylase, amylose bị phân giải khá nhanh tạo thành oligosaccharide gồm 6–7 gốc glucose, các mạch bị phân cắt dần và bị phân giải chậm đến triosemaltose, maltose Sản phẩm thuỷ phân gồm: 87% maltose, 13% glucose Dưới tác dụng của enzyme α–amylase, amylopectin bị phân giải khá nhanh nhưng vì α–amylase không cắt được liên kết α–1,6–glycoside nên sản phẩm cuối cùng có khoảng 72% maltose, 19% glucose, dextrin phân tử thấp và isomaltose là 8%
β–amylase (EC 3.2.1.2)
β–amylase xúc tác thuỷ phân các liên kết α–1,4–glycoside trong tinh bột, glycogen,
Trang 37β–amylase được gọi là enzyme ngoại phân β–amylase phân giải 100% amylose thành
maltose, phân giải 54–58% amylopectin thành maltose Do mỗi nhánh của
amylopectin có từ 20–25 phân tử glucose nên sau khi thuỷ phân tạo 10–12 phân tử
maltose Khi tới liên kết α–1,4–glucoside gắn với liên kết α–1,6–glucoside, β–amylase sẽ ngưng tác dụng, phần saccharide còn lại là dextrin phân tử lớn β–limit
dextrin
γ–amylase (Glucoamylase) (EC 3.2.1.3)
So với β–amylase, γ–amylase bền với acid hơn nhưng lại kém bền dưới tác dụng của
rượu ethylic, aceton, không bền với ion kim loại nặng như Cu2+, Hg2+,…có trong nấm
mốc và một vài loại vi khuẩn Enzyme γ–amylase có khả năng xúc tác thuỷ phân cả
liên kết α–1,4–glycoside và α–1,6–glycoside trong tinh bột, glycogen, polysaccharide
đồng loại, cả maltose và các olygosaccharide kiểu maltose γ–amylase là enzyme
ngoại phân exo–enzyme γ–amylase thuỷ phân polysaccharide từ đầu không khử tuần
tự từng gốc glucose một Chúng không thuỷ phân được các dextrin vòng Khi thủy
phân tinh bột, cùng với việc tạo thành glucose còn có thể tạo thành olygosaccharide
Hình 3.18: Cơ chế tác động của hệ enzyme amylase
Protease: Enzyme protease xúc tác quá trình thủy phân protein Trong hạt nảy mầm
enzyme này thực chất bao gồm hai enzyme là proteinase và peptidase tác dụng kế tiếp
nhau Dưới tác dụng của chúng protein sẽ bị biến đổi như sau:
Protein albumose peptide axit amin
Trang 38Albumose là polypeptide phức tạp nhưng không có tính đông tụ (Lương Đức Phẩm, 2005)
3.1.3.3 Sơ đồ đường hoá
Malt và gạo được tiến hành đường hoá theo sơ đồ đường hoá (hình 3.19)
Nồi gạo Nồi malt
Hình 3.19: Sơ đồ đường hoá nguyên liệu của nhà máy bia Sài Gòn – Miền Tây
3.1.3.4 Một số quá trình xảy ra ở nồi nấu gạo
Gạo được hoà từ từ vào nước 300C, cho acid sulfuric và một nửa bồn malt lót vào nồi ngay khi xuống bột gạo Nồi gạo được gia nhiệt đến 720C trong 20 phút Giữ nhiệt độ nồi nấu gạo ở 720C, nhiệt độ thích hợp cho α–amylase hoạt động, trong 20 phút Nồi nấu gạo xảy ra quá trình dịch hoá Khi gia nhiệt nồi nấu gạo, một lượng tinh bột bị hồ hoá làm cho độ nhớt của nồi gạo tăng nhanh Độ nhớt tăng gây ảnh hưởng không tốt đến quá trình nấu gạo, có thể làm cháy khét, ảnh hưởng đến chất lượng và hư hỏng thiết bị Malt lót được cho vào nồi gạo (khoảng 25 kg) nhằm mục đích cung cấp enzyme α–amylase cho quá trình dịch hoá α–amylase phân cắt ngẫu nhiên phân tử tinh bột tại vị trí liên kết α–1,4–glycoside làm cho phân tử tinh bột giảm nhanh số gốc glucose và trở thành các dextrin mạch ngắn hơn Sự hình thành các dextrin mạch ngắn làm giảm nhanh độ nhớt của dịch cháo Nâng nhiệt lên 830C mất khoảng 5 phút và
(Phút)
Trang 39này là tiếp tục hồ hóa tinh bột gạo, ở nhiệt độ 830C tinh bột bị hồ hóa nhanh và triệt để hơn, ở cuối giai đoạn này dịch cháo sệt lại, độ nhớt tăng lên do hầu như toàn bộ emzyme có trong malt bị vô hoạt ở nhiệt độ 830C
Để tránh dịch cháo bị khét ta tiến hành hạ nhiệt độ xuống 720C lúc này ta ngưng cấp hơi và cho thêm 1,5 hl nước (nhiệt độ nước khoảng 500C), nhiệt độ trong nồi sẽ được
hạ từ từ cho đến khi nhiệt độ bắt đầu đạt khoảng 760C bắt đầu cho malt lót lần thứ hai (khoảng 25 kg) để tiếp tục cung cấp thêm enzyme thủy phân dịch cháo để giảm độ nhớt và tránh hiện tượng khét Giữ nhiệt trong khoảng 20 phút để quá trình xảy ra hoàn toàn hơn Sản phẩm của quá trình này chủ yếu là các dextrin mạch ngắn và một lượng nhỏ maltose, glucose
Từ 720C ta dùng hơi nóng tiếp để nâng nhiệt lên 1000C mất khoảng 20 phút và khi dịch sôi ta giữ nhiệt ở nhiệt độ này thêm 15 phút nữa Tác dụng của việc nâng nhiệt là
hồ hóa tiếp tinh bột còn sót, lợi dụng nhiệt độ cao để phá vỡ cấu trúc của tinh bột đã
hồ hóa, quan trọng là trong giai đoạn này nó còn tiêu diệt vi sinh vật tạp nhiễm còn sống sót đồng thời làm giảm độ nhớt dịch cháo để bơm qua nồi malt cho dễ dàng Nồi gạo được nâng lên 1000C nhằm hồ hoá hoàn toàn lượng tinh bột còn chưa được hồ hoá đồng thời nâng nhiệt độ nồi malt trong quá trình hội cháo
3.1.3.5 Một số quá trình xảy ra ở nồi nấu malt
Hoà trộn bột malt vào nước ở nhiệt độ 500C Đây là giai đoạn đam hoá, protein cao phân tử sẽ được thuỷ phân thành các đoạn peptid ngắn và acid amin Acid amin là nguồn thức ăn cung cấp đạm cho nấm men phát triển sinh khối, là một cơ chất của phản ứng maillard hình thành màu cho dịch đường Tỷ lệ peptid, acid amin, protein
Biểu đồ thể hiện các giai đoạn trong nồi gạo
Trang 40còn có vai trò quan trọng trong việc tạo và giữ bọt cho bia thành phẩm Giai đoạn
500C xảy ra quá trình thuỷ phân protein thành các peptide mạch ngắn và acid amin nhờ hệ enzyme protease Trong giai đoạn đạm hoá, nồi nấu malt được bổ sung CaCl2, cung cấp ion Ca2+ và ion Cl- cho dịch cháo, giúp tăng khả năng bền nhiệt của hệ enzyme amylase
Dịch cháo từ nồi gạo được bơm qua nồi malt Nhiệt độ của nồi malt sau khi hội cháo
là 650C, nhiệt độ thích hợp cho β–amylase hoạt động Sản phẩm của quá trình thuỷ phân tinh bột dưới tác dụng của β–mylase là đường maltose Maltose được nấm men
sử dụng trong quá trình lên men cắt mạch amylose và amylopectin từ đầu không khử tại vị trí của liên kết α–1,4–glycoside, mỗi lần thuỷ phân 2 phân tử glucose tạo ra đường maltose Đây là giai đoạn quan trọng trong quá trình đường hoá cũng như toàn
bộ quy trình sản xuất Nếu giai đoạn này đường hoá không đạt hiệu quả, hàm lượng maltose thấp sẽ ảnh hưởng đến độ lên men và vị của bia Giữ nhiệt độ 650C trong 20 phút, sau đó gia nhiệt nồi malt đến 750C Nhiệt độ 750C thích hợp cho α–amylase hoạt động α–amylase tiếp tục thuỷ phân phần tinh bột còn sót thành đường đơn, maltose,
và các dextrin mạch ngắn Giai đoạn 750C giúp thuỷ phân hoàn toàn tinh bột thành các chất hoà tan trong dịch đường, không còn tinh bột vì tinh bột ảnh hưởng đến chất lượng bia thành phẩm Nồi nấu malt được nâng lên 760C nhằm bù mất nhiệt trong quá trình bơm dịch đường qua máy lọc Trong quá trình lọc vẫn đảm bảo nhiệt độ thích hợp cho α–amylase tiếp tục hoạt động, tránh tuyệt đối còn tinh bột sót lại
3.1.3.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đường hoá
Chất lượng malt: Protein trong malt thường khác nhau Nếu hàm lượng acid amin
được tạo ra trong quá trình nảy mầm đủ cho nấm men sử dụng, tạo màu cho bia thì
Biểu đồ thể hiện các giai đoạn trong nồi malt